LIÊN KẾT WEBSITE
CÁC BÀI SUY NIỆM LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

Cập nhật ngày: 31/10/2018

LỄ CÁC THÁNH Lời Chúa: Kh 7,2-4. 9-14; 1Ga 3,1-3; Mt 5,1-12

Muc Luc

AI CŨNG CÓ THỂ NÊN THÁNH

THẾ NÀO LÀ THÁNH?

GIÁO HỘI KHẢI HOÀN

NOI GƯƠNG CÁC THÁNH

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

HÃY LÀ NGƯỜI TỐT

PHÚC THAY

NÀY LÀ DÒNG DÕI NHỮNG NGƯỜI TÌM CHÚA

AI CŨNG CÓ THỂ NÊN THÁNH

 

 

Lễ Các Thánh Nam Nữ

Mt 5,1-12a

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đám đông, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

- Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Hứa làm cơ nghiệp.

- Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an.

- Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả.

- Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.

- Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa.

- Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

- Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.

“Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời”.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã tôn phong Mẹ Têrêxa Calcutta lên hàng Chân phúc mà ta quen gọi là Á thánh.

Mẹ Têrêxa là một nữ tu nhỏ bé người nước Nam Tư cũ. Mẹ sang Ấn Độ với một mục đích duy nhất là phục vụ người nghèo.

Đến Ấn Độ, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt Mẹ đó là có nhiều người nằm hấp hối bên lề đường. Khi chết thì xác bị vất vào đống rác như xác một con thú vật. Cảm thương những người hấp hối tủi nhục, Mẹ đã mở một căn nhà chuyên thu nhận những người sắp chết ngoài đường về, săn sóc họ, tắm rửa cho họ, an ủi họ, kính trọng họ để cho họ được chết như một con người.

Thương cảm những người nghèo nên có gì Mẹ Têrêxa đem hết cho họ. Bản thân Mẹ cũng chỉ sống như một người nghèo. Trong phòng của Mẹ chỉ có một chiếc giường, một bàn viết, một chậu nước và một ngọn đèn nhỏ.

Việc Đức cố Giáo Hoàng tôn phong Mẹ Têrêxa lên hàng Á thánh cho chúng ta thấy rằng ai cũng có thể nên thánh được.

Thật vậy, Mẹ Têrêxa là một phụ nữ bình thường. Học hành cũng vừa phải, không có những học vị cao. Mẹ cũng không làm những việc lớn lao phi thường hay những phép lạ kinh thiên động địa. Mẹ chỉ làm những việc nhỏ bé khiêm nhường âm thầm đó là phục vụ những người hấp hối nghèo khổ, không nhà cửa, không người thân thích.

Việc Mẹ Têrêxa được phong thánh làm ta nhớ đến thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Thánh nữ là một vị thánh lớn được nhiều người tôn kính. Cũng như Mẹ Têrêxa, thánh nữ không làm những việc phi thường vĩ đại. Thánh nữ chỉ là một nữ tu trong dòng kín. Quanh năm suốt tháng cầu nguyện. Thánh nữ cũng không sống lâu ở đời. Chỉ 24 tuổi đời. Và chỉ sống trong nhà dòng được 9 năm. Thánh nữ không làm chức vị gì lớn trong dòng, chỉ là một nữ tu tầm thường. Công việc hằng ngày của thánh nữ là đọc kinh cầu nguyện, quét dọn nhà dòng, giặt giũ quần áo. Tóm lại là những công việc tầm thường.

Vậy nhờ đâu mà hai vị thánh cùng mang tên Têrêxa lại trở thành những vị thánh lớn được mọi người tôn kính và yêu mến.

 Thưa vì các ngài có một bí quyết đó là làm những việc bé nhỏ tầm thường với lòng yêu mến Chúa tha thiết. Thánh nữ Têrêxa hài đồng Giêsu nói: Việc làm của ta ví như hạt sương chẳng có giá trị gì. Nhưng tình yêu của Chúa giống như ánh sáng mặt trời. Ánh sáng mặt trời chiếu vào hạt sương tầm thường làm cho hạt sương óng ánh như hạt ngọc. Việc làm nhỏ bé với tình yêu mến Chúa sẽ có giá trị to lớn.

Việc hai vị thánh mang tên Têrêxa được làm thánh cho ta thấy ai trong chúng ta cũng có thể nên thánh được. Vì nên thánh không phải là làm những việc to lớn. Chỉ cần chu toàn bổn phận hằng ngày với lòng yêu mến Chúa là đủ. Quét nhà, nấu cơm, rửa bát, học bài đều trở thành những việc có giá trị nếu ta làm tất cả vì lòng yêu mến Chúa.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị nói với chúng ta: Anh chị em đừng sợ nên thánh. Hãy dám nên thánh. Chúa đã mời gọi chúng ta: “Các con hãy nên thánh như Cha các con là Đấng Thánh”. Chúa mời gọi vì Chúa biết chúng ta có thể nên thánh. Xuyên qua cuộc đời hai thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu và Mẹ Têrêxa Calcutta, ta nhận thấy việc nên thánh là vừa tầm tay mọi người.

Mừng lễ các thánh hôm nay, trong đó có các bậc tổ tiên ông bà cha mẹ chúng ta. Chúng ta hãy noi gương các ngài: nên thánh bằng chu toàn những công việc bổn phận hằng ngày với lòng yêu mến Chúa.

Để nhắc nhớ mình phải nên thánh, Mẹ Têrêxa đã ghi trên năm đầu ngón tay câu này: Tôi muốn trở nên thánh. Chúng ta hãy bắt chước Mẹ, ngày nào cũng nhắc đi nhăc lại trên năm đầu ngón tay: Tôi muốn trở nên thánh.

Ứơc nguyện nên thánh của chúng ta thế nào cũng được Chúa thương chúc phúc vì trong mối phúc thứ 4 Chúa đã nói: “Phúc cho ai khao khát nhân đức trọn lành, vì họ sẽ được no thoả”.

Lạy Chúa, con muốn nên thánh, xin hãy giúp sức cho con. Amen.

Về mục lục

 

THẾ NÀO LÀ THÁNH?

 

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Ngày xưa khi còn nhỏ tôi thường nghe nói các thánh là những người được Chúa ban cho những ơn rất đặc biệt để có thể gìn giữ mình. Thế nên, có rất  nhiều chuyện li kỳ mà các cụ thích kể về các ngài như chuyện vị thánh nọ mới sáu tháng tuổi, đã biết kiêng bú mẹ vào thứ sáu hàng tuần, hoặc 5, 6 tuổi đã sống “thanh khiết” đến nỗi không dám nhìn mặt mẹ mình (!). . . Chuyện kể về các thánh xem ra cũng ly kỳ như những truyện huyền thoại về thánh Gióng ăn cơm mãi không no, rồi vươn mình thành người phi thường  .  . .!
Thực ra, các thánh không phải là những người phi thường hay khác thường. Các thánh đều là những người cũng từng phải can đảm nỗ lực vượt qua cám dỗ của dòng xoáy danh lợi thú để trung kiên với giáo huấn của Chúa. Các thánh có khi cũng từng sa ngã nhưng quan yếu là các ngài dám đứng lên làm lại cuộc đời.

Sách khải huyền cho thấy các thánh hằng hà sa số luôn tô điểm cho vườn hoa Giáo Hội đủ mầu đủ sắc. Các Ngài là những người sống quanh ta, bên cạnh ta, có khi họ là những bà con thân thuộc trong gia đình ta. Các ngài đã biết dệt đời mình trong máu Con Chiên cứu chuộc để trở nên tinh tuyền hơn. Vì con đường nên thánh là con đường của mọi người con Chúa, là con đường mà Chúa Giê-su bảo rằng: “anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”.

Thế nên, thánh Augustinô đã nói một câu để đời: “Ông kia bà nọ nên thánh, tại sao tôi lại không?”. Chúa mời gọi mọi người nên thánh. Các thánh là những người đã đi trước chúng ta, đã dám gọt dũa, đục đẽo, loại bỏ những gì không cần thiết để càng lúc càng giống Chúa Kitô Giêsu. Các ngài đã đi con đường tám mối phúc để mong trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Và hôm nay, các ngài đã cùng với vô số thiên thần chúc tụng ngợi khen Chúa trên thiên đàng.

Hôm nay trong sự hiệp thông cùng các thánh chúng ta chúc tụng Chúa là Thiên Chúa đã thương tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Người. Chúa ban cho chúng ta hồn thiêng bất tử để ta được sống trong sự sống thần linh của Chúa, được hợp cùng các thánh để tôn vinh Thiên Chúa. Đồng thời cũng là dịp nhắc nhở chúng ta phải nên thánh. Người ky-tô hữu phải nên hoàn thiện như Chúa Cha là Đấng hoàn thiện.

Nhưng xem ra nên thánh không phải dễ, vì con người vốn thích chiều theo tính xác thịt. Con người thường tìm sự dễ dãi cho bản thân. Đó là lý do con người thường lầm lỗi, yếu đuối và hay sa đi ngã lại trong tội lỗi. Đôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng khi sửa mình mãi mà không được.

Hãy yên tâm. Hãy tin tưởng. Vì Chúa Giê-su đã nói: đối với loài người thì không thể nhưng đối với Thiên Chúa lại dễ dàng. Chính Chúa sẽ ban ơn trợ giúp để chúng ta canh tân sửa đổi, vì ơn Chúa luôn đủ cho ta, và quyền năng Chúa sẽ hiển trị trên sự yếu hèn của ta.

Xin cho chúng ta luôn tin vào tình thương của Chúa để đứng dạy sau những lầm lỗi. Xin cho chúng ta luôn cậy trông vào ơn Chúa để hòan thiện mình nên thánh mỗi ngày. Amen

Về mục lục

.

GIÁO HỘI KHẢI HOÀN

Trầm Thiên Thu

Thánh Phaolô nói: “Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4:5-6). Giáo hội duy nhất nhưng có ba thành phần: Giáo hội Khải hoàn (các thánh vinh hiển), Giáo hội Đau khổ (các linh hồn nơi luyện ngục), và Giáo hội Chiến đấu (những người trên đường lữ hành trần gian). Ba thành phần của Giáo hội được gọi là “các thánh cùng thông công”.

Ngày đầu tiên của Tháng Cầu Hồn là ngày mừng kính chư thánh hiển vinh, nói lên tính thông công đó.

Thánh Gioan Tông đồ kể lại thị kiến: “Tôi thấy một thiên thần mang ấn của Thiên Chúa hằng sống, từ phía mặt trời mọc đi lên. Thiên thần ấy lớn tiếng bảo bốn thiên thần khác, là những vị được quyền phá hại đất liền và biển cả, rằng: ‘Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta’. Rồi tôi nghe nói đến con số những người được đóng ấn: một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en” (Kh 7:2-4). Con số 144.000 nghĩa là rất nhiều, chứ không mang nghĩa “số đếm” như cách tính của loài người.

Thánh Gioan kể tiếp: “Sau đó, tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: ‘Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta’. Tất cả các thiên thần đều đứng chung quanh ngai, chung quanh các Kỳ Mục và bốn Con Vật. Họ đều sấp mặt xuống, phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô rằng: “Amen! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời. Amen” (Kh 7:9-12).

Một trong các Kỳ Mục lên tiếng hỏi Thánh Gioan: “Những người mặc áo trắng kia là ai vậy? Họ từ đâu đến?” (Kh 7:9-13). Thánh Gioan trả lời: “Thưa Ngài, Ngài biết đó”. Vị ấy bảo: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7:13-14).

Các thánh là những người đã chịu trăm cay ngàn đắng lúc sinh thời, nhưng các ngài vẫn kiên tâm bền chí, đặc biệt là các ngài đã “giặt sạch” và “tẩy trắng” chiếc áo của mình trong chính Máu Cứu Độ của Đức Kitô. Thật tuyệt vời biết bao!

Tác giả Thánh Vịnh nói: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư. Nền trái đất, Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông’ (Tv 24:1-2). Thiên Chúa là Đấng tác sinh muôn loài, là Đấng toàn năng và cực thánh. Thiên Chúa như thế, vậy “ai được lên núi Chúa và ai được ở trong đền thánh của Người?”. Đơn giản thôi, Thánh Vịnh trả lời ngay: “Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối” (Tv 24:4). Những ai như vậy sẽ “được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng” (Tv 24:5). Quả thật, đây mới chính là “dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm Thánh Nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp” (Tv 24:6).

Các thánh là những người đã quyết tâm thực hành Thánh Luật của Thiên Chúa, thực hiện tới cùng, thực hiện tới chết. Chắc chắn các ngài đã cảm nghiệm được sự ngọt ngào của tình yêu, của lòng Chúa thương xót.

Chúng ta đã biết Chúa, được tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy, tức là chúng ta đều là những “người trở về từ cõi chết”, được tắm gội trong suối Máu và Nước tuôn trào ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta phải cố gắng noi gương các thánh. Thánh Gioan nói: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người” (1 Ga 3:1). Chuyện ngỡ chỉ có trong mơ tưởng!

Thật khó mà tin được, và đôi khi người ta không muốn tin, nhưng Thánh Gioan xác định rằng “thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”. Vô cùng lạ lùng, thật là mầu nhiệm, đúng là phép lạ! Chúng ta đang là tôi tớ, là nô lệ, là tội nhân, thậm chí là đang chết, thế mà lại được sống lại và được làm con cái Chúa. Những người không có niềm tin Kitô giáo thực sự đúng mức thì không thể nào tin được. Thảo nào người ta bảo các Kitô hữu là ảo tưởng!

Thánh Gioan nhắc lại và giải thích: “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy. Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Kitô thì làm cho mình nên thanh sạch như Người là Đấng thanh sạch” (1 Ga 3:2-3). Sự thật minh nhiên, nhưng đầu óc “bã đậu” của phàm nhân chúng ta lúc này không thể hiểu hết, trí tưởng tượng “dỏm” của chúng ta cũng không thể hình dung ra được!

Thiên Đàng là cõi phúc, không phải là cõi thiên thai mà Lưu Nguyễn lạc vào xưa kia hoặc như những cõi bồng lai tiên cảnh trong truyện cổ tích, mà là Nước Trời, Vương Quốc Thiên Chúa. Trình thuật Mt 5:1-12 nói về Bát Phúc (Tám Mối Phúc Thật, Bài Giảng Trên Núi). Đây là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Thiên Quốc do Chúa Giêsu soạn thảo, là Đệ Nhất Tuyên Ngôn so với bất kỳ Bản Tuyên Ngôn nào của các quốc gia trên thế giới. Bản Tuyên Ngôn này ngắn nhất, ít điều khoản nhất, nhưng lại chính xác nhất và “độc đáo” nhất.

Bản Tuyên Ngôn Thiên Quốc này đã được chính Chúa Giêsu đọc công khai trước bàn dân thiên hạ. Có điều khác lạ là khi đó Chúa Giêsu ngồi chứ không đứng với dáng vẻ trịnh trọng như bất kỳ một vị nguyên thủ quốc gia nào, còn các môn đệ đứng gần bên. Chả giống ai. Thế mới thật, thế mới tự nhiên, thế mới thân thiện, không cần “ra vẻ” chi cho mệt! Chúa Giêsu “quá đã”! Ngài điềm đạm và dõng dạc tuyên bố:

  1. Phúc thay ai có tâm hồn NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.
  2. Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
  3. Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
  4. Phúc thay ai KHÁT KHAO nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
  5. Phúc thay ai XÓT THƯƠNG người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
  6. Phúc thay ai có TÂM HỒN TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
  7. Phúc thay ai XÂY DỰNG HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
  8. Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Chúa Giêsu cũng chẳng văn hoa bóng bẩy, không cầu kỳ, dùng lời lẽ bình dị, ai cũng có thể hiểu. Nghe rất sướng lỗ tai! Cuối cùng, Ngài còn nói thêm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11-12).

Các thánh đã anh dũng chiến đấu không hề nao núng, ngoan cường tới cùng, mỗi người mỗi vẻ, nên đã đạt được mục đích: Ơn Cứu Độ.

Lạy Thiên Chúa, xin cho chúng con biết noi gương các thánh mà trung kiên làm chứng về Chúa cho tới cùng, dù phải thiệt thòi cách nào và với mức độ nào. Xin chư thánh cầu thay nguyện giúp chúng con, xin phù hộ chúng con để chúng con can đảm theo sát gót các ngài mọi nơi và mọi lúc. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Về mục lục

.

NOI GƯƠNG CÁC THÁNH

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II có lòng tôn kính đặc biệt đối với các Thánh, nhất là các Thánh tử đạo. Ngài là vị Giáo hoàng đạt kỷ lục trong việc tôn phong các Thánh và Chân phước. Ngài tôn phong 1.322 Chân phước và 457 vị Hiển thánh, trong đó có 117 vị Thánh tử đạo Việt Nam và 120 vị thánh tử đạo Trung Hoa. Con số vị Thánh và Chân phước được Ngài tôn phong hơn tổng số các vị mà các Giáo hoàng tiền nhiệm của Ngài tôn phong trong vòng 400 năm trước đó.

Trong dọc dài lịch sử, Giáo hội đã tôn phong rất nhiều vị Thánh.Thế nhưng, so với vô vàn các thánh trên trời, thì những người được Giáo Hội tuyên phong Chân phước và hiển Thánh chỉ là con số rất nhỏ. Theo lời Sách Khải Huyền, các thánh trên trời là “một đoàn người đông đúc, không sao đếm nổi”, thuộc mọi dân, mọi nước, mọi ngôn ngữ. Các Ngài đang chúc tụng Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai và Con Chiên, là Chúa.

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Các Thánh. Đây là thành quả Ơn Cứu Độ của Chúa Kitô : “Lòng thương xót của Chúa trải rộng từ đời nọ đến đời kia”. Lời Kinh Tiền Tụng trong sách lễ Rôma cầu nguyện như sau:Vinh quang Cha rạng ngời nơi cộng đoàn các thánh. Và khi tuyên dương công trạng các ngài là Cha biểu dương chính hồng ân Cha ban. Cha dùng đời sống các ngài làm gương cho chúng con học đòi, bắt chước; Cha cho chúng con được chung phần gia nghiệp nhờ hiệp thông với các ngài; Cha phù trợ chúng con nhờ lời các ngài cầu thay nguyện giúp.

Như thế việc tuyên phong các thánh có mục đích:

– Tôn vinh Thiên Chúa: nếu các thánh là “thánh thiện”, “quyền năng” … thì Thiên Chúa càng quyền năng thánh thiện hơn biết chừng nào! Ðời sống các ngài phản ánh đời sống của chính Chúa, cho dù chỉ là một cách mờ nhạt.

– Nêu gương mẫu mực cho người Kitô hữu.

– Củng cố niềm hy vọng của chúng ta. Nếu các thánh là những con người cũng đầu đen máu đỏ như ta và cũng yếu đuối như bất cứ ai, nhưng nhờ biết cộng tác với ơn Chúa mà đã được hưởng một gia nghiệp vinh quang như thế, thì tại sao ta lại không thể được?

– Ðể các thánh cầu bầu cho ta trước mặt Chúa,và chắc chắn lời cầu bầu đó là rất hiệu nghiệm.

Lễ Các Thánh hằng năm nhắc nhở chúng ta rằng, lý tưởng làm thánh không dành riêng cho thành phần nào trong dân Chúa, nhưng hết thảy mọi người Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh như nhau.Nhiều người quen nghĩ rằng làm thánh là việc dành riêng cho các nhà tu hành, còn giáo dân thì làm sao có thể mơ tới lý tưởng cao cả ấy được? Quả thực, có một thời người ta đã lấy các vị đan sĩ, tu sĩ làm mẫu mực cho lý tưởng Kitô giáo, và ai ai trong Giáo hội, từ các giáo sĩ đến giáo dân cũng phải gắng sức xích lại gần mẫu mực ấy được chừng nào hay chừng ấy.Công đồng Vatican II đã nhắc lại rằng tất cả mọi thành phần Giáo Hội đều được mời gọi nên thánh, nhưng mỗi người tùy theo đấng bậc, tùy theo khả năng và hoàn cảnh riêng mà mang một vẻ thánh thiện riêng, khiến cho Giáo Hội được trau dồi bằng những vẻ đẹp muôn màu muôn sắc. Mẫu mực thánh thiện chỉ có một nhưng cách “hoạ lại” mẫu mực ấy thì thiên hình vạn trạng.Thánh Phanxicô đệ Salê đã nói một câu rất đẹp theo ý ấy: “Bất kỳ Chúa trồng bạn ở đâu, bạn hãy trổ những bông hoa đẹp nhất cho Người ở đó”.

Mỗi nơi có những điều kiện riêng, nơi ẩm nơi khô, nơi phì nhiêu nơi sỏi đá, nơi thấp nơi cao… mỗi đấng bậc, mỗi hoàn cảnh, mỗi tính tình cũng tương tự như thế. Chúa chỉ đòi hỏi ta ở chỗ nào thì tuỳ theo điều kiện cụ thể chỗ ấy mà trổ bông đẹp tức là nên thánh (Cố Lm Nguyễn Hồng Giáo ofm).

Chỉ mình Thiên Chúa mới là Đấng Thánh, còn con người được mời gọi trở nên thánh khi tham dự vào sự thánh thiện duy nhất của Thiên Chúa. Các Thánh được tuyên phong lên bậc hiển thánh bởi vì cuộc đời các ngài là một tấm gương phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Ai giống Đức Kitô, người ấy trở nên thánh thiện. Ai thực hiện những giá trị Tin mừng, người ấy trở nên thánh thiện. Một sự thánh thiện như thế rất có thể được thực hiện trong một đời sống rất bình thường. Giáo hội hướng tới một sự thánh thiện tỏa rộng, một hình thức thánh thiện vừa bình dân, vừa gần gũi lại vừa có thể được thực hiện cho hết mọi người, thay vì một hình thức thánh thiện chọn lọc, dành riêng cho một thiểu số. Đó là thành quả Ơn Cứu Độ của Chúa Kitô. Giáo Hội không phong thánh cốt để mà thờ, nhưng để tôn vinh Thiên Chúa, để khuyến khích chúng ta noi theo và bắt chước.

Lễ Các Thánh là lễ của niềm vui. Chúng ta vui mừng vì các thánh chính là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, những người thân yêu của chúng ta đã được hưởng nhan thánh Chúa. Lễ Các Thánh là lễ của niềm hy vọng. Các Thánh là những con người bình thường như chúng ta nhưng các ngài đã đạt tới hạnh phúc Nước Trời.

Con đường nên thánh được Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay là con đường Tám Mối Phúc Thật. Có thể quy tất cả tám đức tính ấy vào một đức tính căn bản là “Tâm hồn nghèo”. Người có tâm hồn nghèo là người:không màng đến và không cậy dựa vào tiền bạc của cải, danh lợi lạc thú trần gian, không ăn thua hơn thiệt đời này; chỉ ước ao sống tốt theo ý Thiên Chúa và được hưởng những ơn lành của Thiên Chúa. Vì căn bản hạnh phúc là có tâm hồn nghèo, nên có thể nói: hạnh phúc đích thực của người kitô hữu là từ bỏ hết những gì mình có để được lấp đầy bằng chính Chúa. Một cuộc sống khó nghèo đến tận cùng của Thánh Phanxicô Assisi đã làm cho thế giới hiểu được thế nào là phúc cho những người nghèo khó. Một cái chết thay cho người bạn tù mà Thánh Kolbe đã tự nguyện đón nhận đã trở thành một chứng từ hùng hồn về giới răn yêu thương của Đức Giêsu. Nhân loại mãi mãi trân trọng Mẹ Têrêxa Calcutta cũng như những ai sống nhiệt thành phục vụ, dấn thân sống Tin Mừng, bao dung hy sinh, xây dựng tình thương cho tha thân nhất là người cùng khổ.

Ngày Chúa nhật 18-10-2015, Giáo hội có thêm 4 vị hiển thánh mới. Đức Thánh Cha Phanxicô tôn phong đầu thánh lễ trọng thể tại Quảng trường thánh Phêrô, trong khuôn khổ Thượng HĐGM thế giới về gia đình.Đứng đầu danh sách là cha Vincenzo Grossi, người Italia, vị sáng lập dòng các nữ tử Oratorio, tiếp đến là Thánh Nữ Maria Đức Mẹ Vô Nhiễm, người Tây Ban Nha, mẫu gương bác ái; sau cùng là Ông Bà Louis Martin và Zélie Guérin, song thân của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu (vi.radiovaticana.va). Trong bài giảng lễ, Đức Thánh Cha Phanxicô nêu lên mẫu gương của các vị tân hiển thánh: “Những người nam và người nữ được tuyên thánh hôm nay không ngừng phục vụ anh chị em mình với với lòng khiêm hạ và bác ái trỗi vượt khi theo gương Thầy Chí Thánh. Thánh Vincent Grossi là một linh mục chánh xứ nhiệt thành, luôn chú ý tới nhu cầu giáo dân của ngài, nhất là những người trẻ. Đối với tất cả mọi người, ngài quan tâm đến việc bẻ bánh Lời Chúa, và do đó đã trở thành một người Samaritano nhân lành cho những người túng thiết nhất.Thánh Maria Đức Mẹ Vô Nhiễm đã tận hiến cuộc đời mình, bằng sự khiêm hạ tuyệt vời, để phục vụ cho những người bé mọn nhất trong chúng ta, nhất là các trẻ em nghèo và các bệnh nhân.Đôi vợ chồng Louis Martin và Marie-Azélie Guérin đã thực hành việc phục vụ Kitô giáo trong gia đình, “ngày qua ngày tạo ra môi trường của đức tin và tình yêu vốn nuôi dưỡng ơn gọi của những người con gái họ, trong đó có Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu… Các chứng tá rạng ngời của các vị tân hiển thánh truyền cảm hứng cho chúng ta kiên trì phục vụ anh chị em mình trong vui tươi, tin tưởng vào sự nâng đỡ của Thiên Chúa và sự bảo vệ từ mẫu của Mẹ Maria. Từ Thiên Đàng, giờ đây xin các ngài đoái xem và nâng đỡ chúng ta bằng lời chuyển cầu mạnh mẽ của họ”.

Mừng lễ Các Thánh Nam Nữ, chúng ta hân hoan chúc tụng các Thánh hạnh phúc trên Thiên đàng và xin các ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng ta nhận biết mình cũng được Chúa mời gọi nên thánh như các ngài, và cố gắng vươn lên giống như các ngài.

Nguyện xin các Thánh Nam Nữ giúp chúng con tập sống mỗi ngày, thăng tiến trên con đường trọn lành như lời mời gọi của Chúa Giêsu : các con hãy nên thánh như Cha trên trời là Đấng ThánhAmen.

Về mục lục

.

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

Lm. Nhân Tài

“Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

Hôm nay Giáo Hội hân hoan mừng lễ kính các thánh nam nữ trên thiên đàng, qua thánh lễ này chúng ta càng thấu hiểu hơn nữa về mầu nhiệm các thánh thông công của Giáo Hội, và khi suy niệm đến mầu nhiệm thông công này, chúng ta càng đặt niềm tin tưởng của mình vào Thiên Chúa và Hội Thánh hơn.

Các thánh là những con người, không ai có thể nên thánh nếu không đi qua cuộc sống làm người với những khổ đau, không đi qua đau khổ thì không thể trở thành một thánh nhân, bởi vì chính Đấng cứu chuộc nhân loại là Chúa Giêsu Kitô đã làm như thế: bị đánh đòn, bị đóng đinh vào thập giá và cuối cùng chết trên thập giá.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, khi còn sống ở thế gian các ngài cũng có tham sân si, cũng có kiêu căng, có giận hờn, có ghét ghen, có tham lam, có những tội lỗi mà chúng ta đã phạm hôm nay, nhưng các ngài biết cậy vào ơn Thiên Chúa và biết quyết tâm đứng lên cố gắng làm lại cuộc đời mình, biết chiến đấu với những cám dỗ để rồi hôm nay các ngài được hưởng phúc với Thiên Chúa và các thiên thần của Thiên Chúa trên thiên đàng.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, có vị đã từng làm vua, có vị đã từng làm quan lớn quan nhỏ, làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thấy giáo, làm nô lệ, có vị làm giáo hoàng, có vị làm giám mục, làm linh mục, phó tế, có các vị là nam nữ tu sĩ. v.v… nghĩa là các ngài đủ mọi thành phần giai cấp trong xã hội có những đời sống và hoàn cảnh khác nhau, nhưng các ngài đã có một mục đích để sống, đó chính là phải trở nên thánh, phải trở thành những bạn hữu của Thiên Chúa trong chính bổn phận của mình.

Các thánh nam nữ là những con người như chúng ta, nhưng các ngài đã biết thực hiện “Hiến Chương Nước Trời” tức là “Tám Mối Phúc” ngay tại trần gian này:

1) Các ngài giàu có nhưng đã sống tinh thần khó nghèo vì Nước Trời.

2) Các ngài bị người khác vu oan giá họa nhưng vẫn hiền lành với họ.

3) Các ngài đã chia vui với người vui và buồn với người buồn, nên được Thiên Chúa ủi an ngay khi còn ở đời này.

4) Các ngài mong muốn được trở nên người công chính, và sống công chính giữa một xã hội đầy mưu mô xảo trá, nên được Thiên Chúa cho thỏa lòng

5) Các ngài biết thương xót người, tức là biết động lòng trước cảnh thương tâm của người khác, nên được Thiên Chúa xót thương.

6) Các ngài sống trong danh vọng, sống giữa bụi trần với những đam mê của nó, nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong sạch, nên các ngài được nhìn thấy Thiên Chúa.

7) Các ngài đi đến đâu là đem bình an của Thiên Chúa đến nơi đó, các ngài được gọi là những người biết kiến tạo hoà bình, nên các ngài được gọi là con Thiên Chúa.

8) Các ngài bị bắt bớ, bị đánh đập, bị tra tấn, bì tù đày vì các ngài sống và tin vào Chúa Giêsu, Đấng sẽ ban Nước Trời cho họ, nên các ngài đã được Nước Trời làm của mình sau khi từ giã cõi đời tạm này.

Các thánh nam nữ đều là những con người như chúng ta, các ngài đã trở nên những thánh nhân, thì chúng ta cũng có thể trở nên thánh như các ngài, bởi vì nên thánh là đòi hỏi của Phúc Âm và là mục đích sống ở đời của chúng ta –người Kitô hữu.

Xin Mẹ Maria và các thánh nam nữ trên thiên đàng, cầu bàu cho chúng ta là những người đang trên đường đi về quê trời biết noi gương của các ngài, biết quyết tâm đổi mới cuộc sống của mình, biết đứng dậy khi ngã xuống trong tội, và biết phục vụ và tha thứ cho nhau trong tình yêu của Thiên Chúa.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Về mục lục

 

HÃY LÀ NGƯỜI TỐT

Lm. Jos. DĐH

Biết đứng, biết đi rồi biết chạy, biết phân biệt phải trái, tốt xấu, như thế đúng là dấu hiệu một tiến trình phát triển bình thường. Không làm điều xấu, gia tăng làm việc nghĩa việc thiện, hẳn ai cũng được nhắc nhớ chỉ bảo từ thuở nhỏ. Trèo cao ngã đau, câu tục ngữ ấy mời gọi người ta đừng mơ ước viển vông, đừng tham vọng lớn quá để rồi vỡ mộng, tan hàng, khổ đau, vì nói trước bước không tới. Bài học lý thuyết bao giờ cũng khô khan, tính nghiêm khắc nào cũng đáng sợ, việc làm tốt dù bé nhỏ đến đâu cũng gây được thiện cảm với những người xung quanh.

Khao khát của nhân loại là mọi nước mọi dân được chung sống trong hòa bình, ý tưởng của các vận động viên thi đấu, luôn nghĩ đến thành tích cao nhất. Giáo huấn của Chúa Giêsu trải rộng trong 33 năm tại trần thế, được qui về cụm từ “mến Chúa, yêu người”. Bài giảng trên núi của Chúa Giêsu thật rõ ràng và minh bạch, nhưng để “phúc” đến, ai cũng phải biết khao khát trở nên người tốt. Các Thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay, chắc chắn không phải các ngài sinh ra là thánh, đúng hơn các ngài chính là những vận động viên đã đạt thành tích sau những năm tháng tập luyện.

Mừng lễ hôm nay, không phải là lúc chúng ta suy tôn công trạng của các ngài, vì Chúa mới là Đấng thánh, Chúa chính là Đấng cứu độ trần gian, tất cả các thánh dù thánh thiện đến đâu cũng chỉ phản ánh đời sống thánh thiện của Chúa. Ai thực hiện bài giảng trên núi, hoặc biết sống giá trị của Tin mừng, người ấy sẽ nên giống Chúa Kitô và đáng được gọi là con Thiên Chúa. Khi đưa ra các mối phúc, Chúa Giêsu không nhằm đặt để chúng ta vào một khuôn mẫu nhất định, nhưng là kêu gọi mỗi người hãy để Chúa biến đổi nên xứng hợp với tình yêu thương của Chúa.

Người xưa nói rằng : tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu. Đúng là tu sửa, là học cái biết nơi cha mẹ tuy chưa hẳn là kho tàng kiến thức, nhưng cũng là một khối nặng kinh nghiệm. Mơ ước của bậc sinh thành là nhìn thấy con cháu có phần có phúc, phận làm con, ai chẳng muốn đáp đền công đức mẹ cha. Khi phác họa ra bước đường “tám mối phúc”, Chúa Giêsu không hứa hẹn suông, mà Chúa đã cho thấy phần thưởng trọng đại ở trên trời là có thật, đúng như câu tục ngữ : làm phúc được phúc, làm ơn được ơn.

Đức Khổng Tử khi dạy các học trò về con đường tới thành công : muốn sự nghiệp vững chắc đừng mong bằng phẳng dễ đi, vì không gặp phải chông gai, chí nguyện không thể kiên cường. Có danh có phận đâu phải chỉ là có chức tước bổng lộc, mà phải là một con người hoàn thiện, nếu tâm tính chưa được gọt giũa, sao dám gọi là thiện toàn. Để có được chữ “phúc” theo Chúa Giêsu là có Nước Trời, vì thế ai cũng phải là người tốt, biết sống, biết sử dụng điều kiện và năng lực của mình. Vẻ đẹp cuốn hút đâu phải do tài sắc, do lời nói mùi mẫm; “phúc thật” làm sao đến được với tâm hồn chưa có Chúa. “Nước Trời” chính là phần thưởng dành cho những ai đã sống giáo huấn về chữ “phúc” của Chúa Giêsu.

Nỗi ưu tư của đám đông dân chúng xưa kia là tìm kiếm Chúa Giêsu, có thể họ có mục đích khác nhau; Chúa Giêsu thì cho họ “tám mối phúc” dẫn đến “Nước Trời”, nơi con người hằng khao khát. Thánh ý của Chúa là ơn gọi nên thánh, là mỗi ngày mỗi lúc ta khám phá ra tình yêu của Chúa thôi thúc nơi lời nói việc làm, hầu được biến đổi nên giống Đức Kitô. Dù nghèo khó, hiền lành, dù đói khát sự công chính, hoặc có tâm hồn thanh sạch, có sẵn lòng chịu chết vì Chúa, chúng ta vẫn phải sống tình yêu thương trong ơn gọi của mình, ta mới hiểu thế nào là “phúc thật”.

Khi kêu gọi đám đông sống “các mối phúc”, hẳn Chúa không ca tụng đói nghèo, không tuyên dương các phần tử hiền như “cục đất” bảo sao cũng gật, nhưng mỗi người phải cải thiện dưới ánh sáng Tin mừng. Hãy là người tốt trong thinh lặng cảm thông, lắng nghe và cư xử với nhau trong tình yêu Chúa. Hãy là người tốt trong ý tưởng nên thánh, dù tâm hồn ta còn đầy bất xứng.

Hãy năng động với những lợi thế ta đang có : người nghèo ở quanh ta, người đau khổ ở gần ta, người ù lì, bất mãn đang đối nghịch với ta, nhưng ít ra họ vẫn là con Chúa, là đối tượng Thiên Chúa yêu thương. Từ xa xưa người ta vẫn công nhận : chim hay được xét đoán qua tiếng hót, người tốt được biết đến qua lời nói, việc làm. Hãy cứ chân thành với lời nói việc làm bổn phận của mình, còn bao nhiêu Chúa sẽ thực hiện. Amen.

Về mục lục

.

Điểm neoPHÚC THAY

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, hôm nay chúng ta cử hành trọng thể Thánh Lễ tôn kính các Thánh Nam Nữ, các thánh đã được Giáo Hội tôn phong và tất cả những người đang được phúc chia sẻ sự sống viên mãn của Thiên Chúa, cùng với Đức Ki-tô, trong đó, chắc chắn có ông bà tổ tiên và những người thân yêu của chúng ta trong đức tin, trong gia đình và trong đời sống dâng hiến. Bởi vì sách Khải Huyền nói về các thánh là: 
Một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. (Kh 7, 9)

Vì thế, chúng ta xác tín rằng, các ngài hằng ngày vẫn đang cầu bầu và đồng hành với chúng ta trên con đường hành hương tiến về nơi hằng phúc, để cùng xum họp với các ngài và những người thân yêu của chúng ta trong cung lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Và thật là ý nghĩa, khi trong Thánh Lễ mừng kính trọng thể các Thánh Nam Nữ hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại Lời Chúa công bố Các Mối Phúc. Bởi vì đó là con đường nên thánh, nghĩa là trở nên một với Đức Ki-tô, mà các thánh đã đi và chúng ta được mời gọi bước đi trên cùng một con đường hôm nay.

1. Khung cảnh (c. 1-2)

“Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần. Người mở miệng dạy họ”. Chúng ta hãy hình dung ra khung cảnh đầy ý nghĩa này:

– Xưa kia trên núi Sinai, Thiên Chúa ban Lời của Ngài qua trung gian Mô-se; và nhờ Lời của Ngài, một đám đông ô hợp, vô danh và nhỏ bé, trở thành dân riêng của Chúa: Thiên Chúa trở thành Đức Chúa của dân, dân trở thành dân tộc được tuyển chọn của Đức Chúa.

– Còn ở đây, Thiên Chúa ban Lời của Ngài qua Đức Giê-su, hiện thân của Lời Chúa, bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể. Và Lời của Người được ban cho tất cả mọi người, để qui tụ thành Dân Mới của Thiên Chúa, được tuyển chọn nhờ, với và trong Người.

Chúng ta hãy so sánh, khám phá và cảm nếm sự khác biệt: Mô-sê ban lời đến từ Đức Chúa, còn Đức Giê-suban lời nhân danh chính ngôi vị của mình. Trong những lời này của Tám Mối Phúc và của cả Bài Giảng Trên Núi (Mt 5-7), Đức Giêsu đặt chủ thể của mình vào chủ thể của Đấng ban Lời ở núi Sinai, Người bảy tỏ căn tính thần linh của mình. Như thế, từ núi này đến núi kia, biến cố mà Đức Giêsu tạo ra thật là lớn lao. Vì thế, chúng ta được mời gọi chú ý cách đặc biệt đến hành vi nói của Chúa: “Người mở miệng dạy họ, Ngài nói”. Hãy để cho đôi mắt và đôi tai của chúng ta dừng lại chiêm ngắm và đi vào chiều sâu của biến cố trung tâm này: “Ngài mở miệng dạy họ, Ngài nói”.

Biến cố này hoàn toàn khớp với dụ ngôn Người Gieo Giống: Người gieo giống đi ra gieo giống. Xin được hiểu và kinh nghiệm được trong tôi biến cố: nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa ra khỏi mình để thông truyền chính Ngài cho tôi qua lời nói. Bằng Lời, Ngài đã sáng tạo nên con người chúng ta có khả năng thông truyền bằng lời, và bây giờ, Ngài khởi đi từ cái chúng là, một tạo vật biết nói biết nghe, để đến gặp gỡ chúng ta. Chúng ta cũng được mời gọi đi cùng con đường lời nói để đi đến với Ngài: trong cầu nguyện và nhất là trong thời gian tĩnh tâm, chúng ta được mời gọi dành nhiều thời gian để lắng nghe Lời Chúa và sau đó tâm sự với Ngài, như một ngôi vị sống động và gần gũi.

Nơi Đức Giê-su Ngôi Lời của Thiên Chúa, lời và hiện hữu là một: Ngài nói điều Ngài là và Chúa là điều Ngài nói trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Xin cho điều chúng ta nói với Chúa và với nhau là chính chúng ta.

2. Tám mối phúc (c. 3-10)

a. Thân phận con người

Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, lời giảng dạy của Đức Giê-su được tổng hợp thành 5 bài giảng lớn, và bài giảng đầu tiên là Bài Giảng Trên Núi. Và lời đầu tiên của bài giảng đầu tiên, Đức Giê-su ngỏ với đám đông và các môn đệ là “Phúc thay…”, thay vì là lời cấm đoán , một mệnh lệnh, một lời lên án, hay một lời chúc dữ “khốn thay”. Trong cầu nguyện, chúng ta không cần suy niệm hết các mối phúc, chúng ta hãy dừng lại mối phúc nào chúng ta thích nhất, ấn tượng nhất, mời gọi nhất, chất vấn nhất, bởi vì đó chính là dấu chỉ của biến cố: hạt giống rơi vào chỗ đất tốt.

Chúng ta thường hiểu các mối phúc mà Đức Giê-su công bố là lý tưởng vừa cao vừa khó, mà mỗi người chúng ta phải đạt được để trở nên thánh, giống như các thánh nam nữ chúng ta mừng kính hôm nay. Tuy nhiên, các mối phúc không ở bên ngoài chúng ta và cũng ở cách xa chúng ta, nhưng các mối phúc mà Đức Giê-su công bố lại diễn tả chính căn tính đích thật của chúng ta, chính niềm khát khao sâu thẳm của chúng ta, chính niềm hạnh phúc bền vững của chúng ta.

– Thật vậy, Đức Giê-su nói: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Trong thân phận của con người, không ai trong chúng ta cảm thấy tự đủ trong cõi lòng mình; con người đến một lúc nào đó, đều cảm thấy mình nhỏ bé, mỏng manh, chóng qua, nghèo nàn tận căn về mọi phương diện, nhất là lúc mới sinh ra và sắp sửa lìa đời, trả lại sự sống cho Chúa.

– Đức Giê-su nói: “Phúc thay ai hiền lành”. Con người chúng ta vốn là hiền lành, chứ không phải là bạo lực hay thú tính; và sự hiền lành này đã được gieo nơi bản tính sâu xa của con người chúng ta; đó là điều mà chúng ta gọi là nhân tính. Bởi vì, con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa; mà Thiên Chúa thì hiền lành, vì Ngài là tình yêu.

– Đức Giê-su nói: “Phúc thay ai sầu khổ”. Ai trong chúng ta đã không một lần khóc lóc sầu khổ: khóc lóc sầu khổ cho thân phận sinh lão bệnh tử của mình, khóc cho số phận đầy thử thách, tai ương và bất hạnh, khóc và sầu khổ cho người khác, nhất là cho những người thân yêu, cho những người chịu thiệt thòi, bệnh tật, kém may mắn.

– Đức Giê-su nói: “Phúc thay ai khao khát nên người công chính”. Và ở trong sâu thẳm của tâm hồn, tất cả chúng ta đều khao khát nên công chính, thay vì ở trong sự bất chính, để có thể đón nhận ơn cứu độ Thiên Chúa ban. Nhưng rốt cuộc thì chính Thập Giá Đức Ki-tô làm cho chúng ta trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa, bởi vì chúng ta không thể tự mình làm cho mình trên nên công chính được.

Và cũng như thế đối với các mối phúc còn lại. Như vậy, chính thân phận con người của chúng ta, không thêm và cũng không bớt là một mối phúc, chứ không phải là mối họa, hay hình phạt, cho dù chúng ta có một thân phận như thế nào, bất hạnh như thế nào; thân phận của chúng ta là con đường dẫn chúng ta đến điều Chúa hứa ban trong các mối phúc, đó là: Nước Trời, Đất Hứa, ơn an ủi, ơn công chính, lòng thương xót và chính ngôi vị Thiên Chúa. Và để cho chúng ta tin tưởng và xác tín như thế, Đức Giê-su đã sống đến cùng thân phận con người, là chịu đóng đinh trên Thập Giá, để qua đó đi vào sự sống mới, sự sống Phục Sinh của Thiên Chúa Cha.

Và để hiểu thật đúng và thật sâu những lời này của Chúa, chúng ta được mời gọi nhìn ngắm chính cách hiện hữu của Chúa: Chúa nghèo thế nào trong tinh thần? Chúa hiền lành như thế nào? Chúa khóc lóc như thế nào: “Thiên Chúa của con, Thiên Chúa của con, Tại sao Ngài đã bỏ rơi con ? (Mt 27, 46); “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính” (Dt 5, 7). Và Đức Giê-su đói và khát sự công bình như thế nào? Vì Ngài đem sự công chính của Thiên Chúa đến cho con người, và Ngài mong mọi người đón nhận; và Ngài là sự công chính của Thiên Chúa.

Qua các mối phúc, Đức Giê-su qua lời nói và hành vi của Ngài, qua cách Ngài sống với Thiên Chúa và với con người, qua cách Ngài tương quan với thực tại, Ngài dẫn chúng ta về cái chúng ta là. Và cái chúng ta là, chính là một mối phúc. Ngược hẳn với điều loài người chúng ta vẫn nghĩ: điều chúng ta là, là một hình phạt. Và những gì Chúa hứa, chúng ta được mời gọi cảm nghiệm ngay hôm nay rồi.

b. Niềm vui và hạnh phúc

Khi sống các mối phúc, chúng ta được hứa ban Nước Trời, Đất hứa, ơn an ủi, lòng thương xót, được thấy Thiên Chúa và làm con Thiên Chúa. Nhưng vì các mối phúc không phải là những điều xa vời, cao siêu mà chúng ta phải cố vươn tới, nhưng diễn tả bản chất đích thật của con người, Vì thế, khi sống các mối phúc, chúng ta đã có kinh nghiệm ngay bây giờ niềm vui và hạnh phúc rồi. Thật vậy:

– Hạnh phúc biết bao, người nghèo khó trong tim, thay vì đầy những quyến luyến.

– Hạnh phúc biết bao người hiền lành, thay vì dữ tợn.

– Hạnh phúc biết bao người khóc thương, vì đồng cảm với người khác, thay vì dửng dưng vô cảm.

– Hạnh phúc biết bao người xót thương và bao dung, thay vì không lên án và không khoan nhượng.

– Hạnh phúc biết bao người có lòng trong sạch, thay đầy những điều nhơ uế.

– Hạnh phúc thay người phục vụ cho công bình và hòa giải, thay vì chuyên làm những điều bất chính và gây hấn.

– Hạnh phúc thay người đi theo Đức Ki-tô vì lòng mến, bất chấp khó khăn và bách hại, thay vì coi mình là trung tâm và chỉ biết sống cho mình.

Như thế, các mối phúc không chỉ nói cho chúng ta về hạnh phúc và phần thưởng Thiên Chúa sẽ ban ở đời sau, nhưng còn trình bày cho chúng ta một cách cách sống mang lại cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc ngay bây giờ, vì đó là lối sống phù hợp cách sâu xa với nhân tính của chúng ta.

3. Mối phúc đặc biệt (c. 11-12)

Ngoài Tám Mối Phúc, còn có một mối phúc đặc biệt ; đặc biệt, vì là mối phúc cuối cùng và được nói ở ngôi thứ hai “anh em”, diễn tả tương quan trực tiếp giữa Đức Giê-su và những người nghe, hôm qua cũng như hôm nay. Nhưng đặc biệt nhất là nguyên nhân của mối phúc: đó là “vì Thầy”. Chúng ta cần tự hỏi, “vì Thầy” có nghĩa là gì? Tại sao lại « vì Thầy » ? “Vì Thầy”, chúng ta thường chỉ hiểu ở mức độ thi hành sứ mạng, hay thực hiện một công việc mà chúng ta được giao phó, hoặc thực hiện một lựa chọn mà chúng ta xác tín là của Đức Kitô, hay xác tín là phù hợp với Tin Mừng của Ngài. Tuy nhiên, tại sao chúng ta lại thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu, tại sao chúng ta lại tìm thi hành ý Chúa ? Kinh nghiệm của các thánh nam nữ sẽ giúp chúng ta tại sao lại « vì Thầy ».

Đó chính là kinh nghiệm hiểu biết, yêu mến, và không chỉ ước ao đi theo, nhưng còn muốn trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, là kinh nghiệm chiêm ngắm ngôi vị của Ngài, và khi chiêm ngắm ngôi vị của Ngài như các Tin Mừng thuật lại cho chúng ta, chúng ta không thể không yêu mến Ngài và ước ao trở nên một với Ngài như các Thánh Nam Nữ. Như thế, đây chính là mối phúc được trở nên giống Đức Giêsu cách trọn vẹn, cả trong cách sống lẫn trong thân phận bị loại trừ, và cả ở trong niềm vui nữa: “anh em hãy vui mừng hớn hở”.

* * *

Đặt mối phúc đặc biệt này trong tương quan với tám mối phúc khác và trong tương quan với cả Bài Giảng Trên núi, chúng ta cũng nhận ra rằng Đức Giê-su công bố điều Ngài là: Ngài có tâm hồn nghèo khó, Ngài hiền lành, Ngài sầu khổ… Vì thế, để hiểu và sống lời của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm ngôi vị của Ngài, và khi chiêm ngắm ngôi vị của Ngài như các Tin Mừng thuật lại cho chúng ta, chúng ta không thể không yêu mến Ngài và ước ao trở nên một với Ngài như các Thánh Nam Nữ.

Về mục lục

.

NÀY LÀ DÒNG DÕI NHỮNG NGƯỜI TÌM CHÚA

 Huệ Minh

Ta vừa nghe tác giả sách Khải Huyền (được cho là Gioan) viết về viễn cảnh của ngày cánh chung như thế này : Tôi là Gioan đã nhìn thấy một thiên thần khác từ phía mặt trời mọc đi lên, tay cầm ấn Thiên Chúa hằng sống, và lớn tiếng kêu gọi bốn thiên thần được lệnh tàn phá đất và biển mà rằng: “Chớ có tàn phá đất, biển và cây cối trước khi ta đóng ấn trên trán những tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta”. Và tôi đã nghe biết số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel.

            Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: “Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Đấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên”.

            Rồi tất cả các thiên thần đến đứng chung quanh ngai vàng, và các trưởng lão cùng bốn con vật sấp mình xuống trước ngai mà thờ lạy Thiên Chúa rằng: “Amen! Chúc tụng, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, vinh dự, uy quyền và dũng lực cho Thiên Chúa chúng tôi muôn đời. Amen”. Rồi một trong các trưởng lão lên tiếng hỏi rằng: “Những người mặc áo trắng này là ai vậy? Và họ từ đâu mà đến?” Tôi đáp lại rằng: “Thưa ngài, hẳn ngài đã rõ”. Và người bảo tôi rằng: “Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên”.            Viễn cảnh mà Gioan nhìn thấy đó chính là Nước Thiên Chúa – nơi mà những người được tẩy áo trắng trong máu Con Chiên và từ đau khổ lớn lao mà đến. Những người đó, như Gioan nói đó chính là những con người đi trong đau khổ, đi qua đau khổ đời mình và nói cách khác là vác thập giá đời mình để đi theo Con Chiên và được Con Chiên cứu độ để hưởng vinh quang Thiên Quốc.

            Những người đau khổ nhuốm áo mình trong máu Con Chiên đó chính là các thánh nam nữ của Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính hôm nay.

            Họ, là những vị thánh tử đạo, ẩn tu, hiển tu, khổ tu … Và, trong đời sống thường này, họ là những người bình thường và hết sức bình thường và có khi tàm thường nữa. Thế nhưng, chỉ có điều khác chúng ta để được trở thành Thánh đó là vì họ đã kết hiệp là một sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, một sự bén rễ trong ân sủng phép rửa và trong mầu nhiệm vượt qua.

            Việc nên thánh trước tiên không phải là hoa trái của các nỗ lực của chúng ta mà do chính Thiên Chúa thánh hóa xuyên qua hoạt động của Thánh Thần của Ngài và xuyên qua việc trao ban sự sống của Chúa Kitô phục sinh.

            Các thánh không phải là « những anh hùng », nhưng là những con người đã hành động « cách nhân từ và yêu thương ». Đức ái là linh hồn của sự thánh thiện ! Nó tăng trưởng và sản sinh những hoa trái nơi các tín hữu, nhờ việc lắng nghe Lời Thiên Chúa, tham dự vào các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, vào việc cầu nguyện liên lỉ, sự từ bỏ, phục vụ huynh đệ và thực hành các nhân đức.

            Sự thánh thiện không gì khác hơn là đức ái được sống cách trọn vẹn.

            Ta bắt gặp tâm tình ở Thánh Vịnh 23 mà chúng ta hát đáp ca hôm nay sao hay quá :  

Này là dòng dõi những người tìm Chúa,

đây là những người mong bệ kiến Ngài,

một đời lòng ngay không hề gian dối,

giữa bao hận thù luôn sống mến yêu

 

Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài

làm chủ địa cầu cùng toàn thể dân cư

còn nền trái trất Ngài dựng trên biển cả

và đặt vững vàng trên mặt nước bao la …

 

Ai sẽ được trèo lên núi Chúa?

Ai sẽ được dừng bước trong thánh điện?

Đó là người có bàn tay vô tội và tâm hồn trong sạch,

không để lòng xuôi theo sự giả trá.

– Đáp.

 Người đó sẽ hưởng phúc lành của Chúa và lượng từ bi của Chúa,

Đấng giải thoát họ. Đấy là dòng dõi của những kẻ tìm Người,

những kẻ tìm tôn nhan Thiên Chúa của Giacóp.

Họ là những người như thế, họ là những người giữa bao hận thù vẫn sống mến yêu, họ tay sạch lòng thanh, họ không để lòng xuôi theo sự giả trá.

Và, Thánh là những người mà ta bắt gặp trong hình ảnh của những người mà được Chúa nói đến trong trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu. Những người chấp nhận đau khổ, thiệt thòi, bách hại vì Tin Mừng nghĩa là vì Chúa sẽ có phúc ở Nước Thiên Chúa và sẽ là công dân Nước Thiên Chúa. Nói chấp nhận cũng không đúng, phải nói là đón nhận, đón nhận tất cả những đau khổ, những trái ý trong cuộc sống thường ngày.

            Người thường vẫn nghĩ rằng thánh là những người xuất chúng siêu phàm nhưng thật sự có những vị thánh xuất thân từ những người bình thường và rất bình thường.

            Chúng ta vừa chứng kiến Đức Thánh Cha Phanxicô đã phong thánh cho cho đôi vợ chồng chân phước hết sức bình thường đó chính là cha mẹ của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

             Thánh Louis Martin (1823-1894): 

            Louis Martin sinh ngày 22 tháng 8 năm 1823 tại Bordeaux, nước Pháp. Thân phụ là Đại Úy trong đoàn quân pháo thủ bình giặc ở Tây Ban Nha. Năm 19 tuổi thanh niên Martin học nghề chữa đồng hồ. Năm 22 tuổi, xin đi tu, nhưng vì không theo nổi môn Latin, nên phải bỏ cuộc. Về nhà, Marin ra sức học Latin thêm 2 năm nữa, nhưng sau đó không thấy tiến bộ nên quyết định bỏ cuộc. Giấc mơ làm linh mục không thành, Martin đã mở một tiệm đồng hồ tại thị trấn Alencon miền Bắc nước Pháp, và thuộc phía Tây thành Paris. 

            Năm 35 tuổi, Louis Martin gặp Zélie Guérin, một thiếu nữ trẻ hơn chàng 8 tuổi làm nghề sản xuất dây giày. Lễ thành hôn Louis-Zélie được cử hành đơn giản ngày 13 tháng 7 năm 1858 tại nhà thờ Đức Bà Alencon. Một chi tiết nhỏ nhưng nói lên sự thánh thiện của cặp vợ chồng trẻ này là mấy tháng đầu họ đã sống với nhau như anh em. Nhưng sau hiểu được ý Chúa, thì cả hai lại sẵn sàng đón nhận những người con mà Chúa ban cho trong đời sống hôn nhân. Trong số 9 người con có 2 trai và 7 gái. Hai người con trai và hai người con gái đầu đã qua đời khi còn rất trẻ. Còn lại 5 người con gái, tất cả đều dâng mình làm nữ tu:    

            – Marie-Louise: Nữ tu Dòng Kín Lisieux.

            – Marie-Pauline: Bề trên Dòng Kín Lisieux.

            – Marie-Léonie: Nữ tu Dòng Thăm Viếng.(Án phong chân phước cho Léonie, cũng đã được mở ở cấp giáo phận vào ngày 24 tháng Giêng năm 2015 tại Lisieux).

            – Marie-Céline: Nữ tu Dòng Kín Lisieux.

            – Marie-Thérèse: Nữ tu Dòng Kín Lisieux. (Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu)

            Sau khi người vợ trẻ qua đời vào năm 1877, ông Marin lãnh lấy trách nhiệm dạy dỗ con cái. Trong số 5 người con gái, ba cô còn ở tuổi thiếu niên, riêng Céline lúc đó mới 8 tuổi, và gái út là Têrêsa mới lên 4. 

            Sau khi Bà Zélie qua đời, và theo lời khuyên của bà trước lúc lâm chung, ông Marin đã đem gia đình về Lisieux sống gần gia đình người em trai của bà trong trang trại Buissonnets với hy vọng các con nhận được sự giúp đỡ và an ủi của những người thân yêu. Ông nghỉ không làm nghề sửa chữa đồng hồ và dành trọn thời giờ chăm lo và giáo dục các con. 

            Trong sinh hoạt tông đồ, Ông tham gia hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn và là một hội viên rất nhiệt thành. Năm 1887, Ông đưa hai con gái út là Céline và Têrêsa đi du lịch một vòng Âu Châu, và trong dịp này, do sự khuyến khích của Ông, Têrêsa đã mạnh dạn xin với Đức Lêô XIII cho phép mình được vào tu dòng kín Camêlô khi mới được 15 tuổi. 

            Sau khi các con Ông lần lượt theo nhau vào tu Dòng Kín, Ông còn lại một mình sống âm thầm để chia sẻ con đường Thánh Giá của Chúa Cứu Thế. Năm 1887, Ông bị đột quỵ và chấn thương thần kinh. Ngày 12 tháng 12 năm 1889, Ông nghỉ bệnh tại Bon Sauveur, Caen. Ông phải điều trị 3 năm trong nhà dưỡng lão. Ngày 10 tháng 5 năm 1892, Ông đã được gia đình người em vợ đem về nhà chăm sóc cẩn thận. Thời gian này, Céline ngày đêm săn sóc ba cho đến khi Ông từ trần ngày 29 tháng 7 năm 1894. Sau khi Ông từ trần, cô cũng đã vào tu Dòng Kín Camêlô. 

            Thánh Zélie Guérin (1831-1877): 

            Sinh ngày 23 tháng 12 năm 1831, là người con thứ hai trong số 3 người con của một cựu chiến binh ở Alencon. Mẹ của Zélie Guérin nổi tiếng là người đàn bà khắc khổ và cứng rắn trong việc giáo dục con cái. Chị cả của cô dâng mình vào nhà tu và trở thành nữ tu. Cô muốn noi gương chị, xin vào dòng Chị Em Bác Ái Thánh Vinh Sơn, nhưng bị từ chối. 

            Sau khi biết mình không có ơn kêu gọi trong bậc tu trì, Zélie cầu xin Chúa cho mình một người chồng tốt, đạo đức để tâm giáo dục con cái nên người hữu ích cho Giáo Hội và xã hội. Bà cũng cầu xin Chúa ban cho mình có con, nhất là con trai để sau này dâng cho Chúa làm linh mục thừa sai rao giảng Tin Mừng. Lời cầu xin đã được Chúa nhận lời, và cuộc hôn nhân của Bà đã đem lại 9 người con, nhưng bốn người con đầu trong đó 2 trai và 2 gái đã qua đời trong tuổi thơ. Têrêsa là con út trong số 9 người con sau này được tôn phong Hiển Thánh, làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo và làm Tiến Sỹ Hội Thánh. Một vị tiến sĩ trẻ nhất trong 33 vị Tiến Sĩ của Giáo Hội, và là 1 trong 3 vị Nữ Tiến Sĩ.

            Bà Zélie qua đời ngày 28 tháng 8 năm 1877 khi vừa tròn 45 tuổi sau 5 năm chịu đựng do chứng bệnh ung thư.   

            Cha mẹ thánh nữ Têrêsa là những người hết sức bình thường nhưng đã nên thánh một cách phi thường bằng đời sống yêu thương, đón nhận thập giá giữa đời.

            Ngày hôm nay, chúng ta mừng các Thánh, chúng ta vui và tin tưởng vì lẽ ta cũng sẽ được trở nên thánh nếu như ta đi trọn vẹn con đường bác ái, yêu thương và gắn kết đời ta mật thiết với Chúa như các thánh đã từng sống. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày ta sống, ta diễn tả tình yêu thương đó với những người xung quanh, những người ta gặp gỡ.

Về mục lục

 

Tin khác cùng loại
BÀI MỚI
Ngày 12/11: Thánh Giô-sa-phát - Giám mục, tử đạo (khoảng 1580-1623)
ĐGH tiếp kiến Ủy ban Tòa Thánh về các Đại hội Thánh Thể quốc tế
Suy Niệm Chúa Nhật XXXII TN Năm B
CN XXXI - TN B: ĐẦU TƯ VÀO NƯỚC TRỜI (ĐỨC TGM GIUSE NGÔ QUANG KIỆT)
Ý cầu nguyện tháng 11 của Đức Thánh Cha: Cầu cho người di cư và tị nạn
CÁC BÀI SUY NIỆM LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 12
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 11
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 09
Video: Giáo Hội Năm Châu 29/10/2018:
Thư các nghị phụ gởi giới trẻ
Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật XXX TN B
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 10
Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 29 TN B & Khánh Nhật Truyền Giáo
Ngày 18/10: Thánh sử Luca, tác giả sách Tin Mừng thứ ba
Ngày 17/10: Thánh Inhaxiô thành Antiokia, giám mục tử đạo
ĐGH tôn phong 7 vị chân phước lên bậc Hiển Thánh
TIỂU SỬ 7 VỊ CHÂN PHƯỚC ĐƯỢC TUYÊN THÁNH NGÀY CHÚA NHẬT 14/10/2018
Các Bài Suy niệm Chúa Nhật 28 Thường Niên – B
Lễ Tạ ơn Bế mạc Năm Thánh 100 năm Xitô: LỊCH SỬ LÒNG THƯƠNG XÓT (ĐỨC TGM GIUSE NGÔ QUANG KIỆT)
ĐTC Phanxicô: Tình yêu trao tặng hỗ tương giúp vợ chồng trung thành trong hôn nhân
Lễ Đức Mẹ Mân Côi
Thánh lễ truyền chức Linh mục ngày 05/10/2018
Trực Tiếp Thánh Lễ Truyền Chức Linh Mục
Thư Mục vụ của HĐGMVN sau Hội nghị thường niên kỳ II/2018
ĐỨC GIÁO HOÀNG Công bố Tông Hiến mới về Thượng Hội Đồng Giám Mục
ĐTC Phanxicô: Cái mới của Tin mừng là biến đổi toàn thể con người chúng ta
ĐGH Phanxicô tiếp kiến 150 nữ Đan Sĩ dòng Biển Đức
CHÚA NHẬT XXIII TN - B: HÃY MỞ RA (Đức TGM GIUSE NGÔ QUANG KIỆT)
Đức Thánh Cha: Hãy lên án chính mình, đừng lên án người khác
Đức Mẹ sinh ngày nào?
Chúa Nhật 22 Thường Niên B - Canh tân tâm hồn – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Suy niệm Chúa Nhật 22 Thường Niên B– ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
Tượng Đức Mẹ Fatima được rước đến ĐHGT ở Panama vào tháng 01/2019
ĐTC Phanxicô: Đừng sống tương quan giả dối với Thiên Chúa
Đôi dòng cảm nghiệm về Thánh Lễ Tiên khấn của mười anh em trong cộng đoàn
Thánh Lễ Tiên Khấn Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Thiên Phước 10-08-2018
Đâu là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành
Ngưng lễ để giải tội được không?
Sự thật thú vị: theo giáo luật, mặt trăng cũng có một Giám Mục
Bạn biết gì về 4 sinh vật đại diện cho 4 Tác Giả Tin Mừng?
ĐTC phê chuẩn sửa lại Sách Giáo Lý: loại bỏ án tử hình
Ý nghĩa thiêng liêng và tôn giáo của Tấm Khăn liệm thành Turin
Linh mục có được phong thánh và gia vạ tuyệt thông cho ai không?



ĐAN VIỆN XITÔ THÁNH MẪU THIÊN PHƯỚC
140/10 Trần Phú, Bãi Dâu, Phường 5, TP. Vũng Tàu
Tel: 0254.3832165 - Email: vanphongdvxtthienphuoc@gmail.com
Nhà Khách: 01684130157 || Nhà SX: 0909416264