LIÊN KẾT WEBSITE
Thần Học Về Diaconatus - Chương VII

Cập nhật ngày: 27/03/2018

CHƯƠNG VII

TIẾP CẬN THẦN HỌC VỀ “DIACONATUS” THEO HƯỚNG ĐI CỦA CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II

 

Lối tiếp cận thần học về “diaconatus” theo hướng đi của công đồng Vaticanô II cần phải khởi đi từ những bản văn công đồng, khảo sát xem chúng được đón nhận như thế nào và sau đó, chúng được đào sâu trong những tài liệu Huấn quyền thế nào, tuy không nên quên rằng việc phục hồi tác vụ “diaconatus” trong giai đoạn sau công đồng được thực hiện không đồng đều, và nhất là, phải đặc biệt chú ý đến những ngập ngừng về đạo lý đàng sau các đề xuất mục vụ khác nhau. Ngày nay, còn nhiều khía cạnh khác về mặt học thuyết cần được làm sáng tỏ. Chương này sẽ cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề sau đây. Thứ nhất, xác định nguồn gốc và những căn nguyên khiến cho căn cước thần học và giáo hội học của tác vụ “diaconatus” (cả chuyển tiếp cũng như cố định) trở thành đầu đề tranh cãi (quaestio disputata) dưới một vài khía cạnh. Tiếp đến, phác thảo một nền thần học về tác vụ diaconatus có thể tạo ra một nền tảng chung và chắc chắc ngõ hầu gợi hứng cho một canh tân phong phú cho tác vụ này trong các cộng đoàn Kitô hữu.

 

I.  Những bản văn của Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền hậu Công đồng

Trong những bản văn đề cập cách minh thị về tác vụ diaconatus (x. SC 35,LG 20, LG 28, LG 29, LG 41, OE 17, CD 15, DV25, AG 15, AG 16), Công đồng Vaticanô II không chủ trương đưa ra một quyết định tín lý cho bất cứ vấn đề nào đang tranh cãi trong phòng họp, cũng không cung cấp một hệ thống đạo lý nào theo nghĩa chặt. Mối quan tâm thật sự của Công đồng là phục hồi tác vụ diaconatus cố định có thể được thể hiện bằng nhiều cách thức khác nhau. Có lẽ, đây là lý do giải thích tại sao, trong phần lớn các bản văn được đề cập, người ta có thể nhận thấy một vài sự bấp bênh về thần học, tùy thuộc vào nơi và bối cảnh mà diaconatus được đề cập. Trên bình diện những ưu tiên mục vụ cũng như những khó khăn khách quan về đạo lý, các bản văn Công đồng phản ánh những điểm nhấn thần học khác nhau và không dễ để có thể dung hòa.

Sau công đồng, tác vụ diaconatus là đối tượng của những tiến triển hay tham chiếu trong những văn kiện khác của Huấn quyền hậu công đồng như: Tự sắc Sacrum diaconatus ordinem của Đức Phaolô VI (1967); Tông hiến Pontificalis romani recognitio (1968); Tự sắc Ad pascendum của Đức Phaolô VI (1972); Codex luris Canonici (Bộ Giáo luật 1983); và Catechismus Catholicae Ecclesiae (Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo = GLCG 1992, 1997).229 Những văn kiện mới này khai triển những yếu tố nền tảng của Công đồng Vaticanô II và đôi khi cung cấp thêm những giải thích thần học, giáo hội học và mục vụ quan trọng; nhưng không phải tất cả chúng đều phát biểu từ cùng một lối nhìn, cũng không có cùng một cấp độ đạo lý như nhau.230 Vì lý do này, để thử đề ra một tiếp cận thần học theo đường hướng của Công đồng, nên lưu ý đến sự liên hệ giữa các bấp bênh về đạo lý và sự đa dạng của những lối tiếp cận thần học có thể nhận thấy trong các đề xuất hậu công đồng về tác vụ diaconatus.

II.  Những hàm ý trong tính bí tích của “diaconatus”

Như đã nói trên đây (xc. Chương IV), đạo lý chắc chắn và phù hợp với những thực hành của Giáo hội nhất là nhìn nhận rằng tác vụ “diaconatus” là một bí tích. Nếu phủ nhận tính bí tích, tác vụ “diaconatus” sẽ chỉ còn là một dạng tác vụ bắt nguồn từ Bí tích Thánh Tẩy, chỉ mang tính cách chức năng, và Giáo hội sẽ có một thẩm quyền quyết định to lớn trong việc phục hồi, bãi bỏ hoặc định hình cụ thể của tác vụ; nói cách khác, Giáo hội sẽ được tự do hành động lớn hơn là thẩm quyền được ban trên các bí tích do Chúa Kitô thiết lập. 231 Nếu phủ nhận tính bí tích của tác vụ “diaconatus” thì cũng xóa tan những lý do chính yếu khiến cho tác vụ này trở thành vấn đề tranh cãi về thần học. Thế nhưng, nếu phủ nhận như vậy thì sẽ ra khỏi hướng đi của Công đồng Vaticanô II đã vạch ra. Vì vậy, cần phải khởi đi từ tính bí tích của “diaconatus” để bàn luận những vấn nạn khác liên quan đến thần học về tác vụ này.

1. Bén rễ trong diaconatus của Đức Kitô

Vì là một thực tại bí tích, “diaconatus” rút cuộc phải được đặt nền tảng trên Đức Kitô. Được đặt nền tảng trên ân huệ của mầu nhiệm Ba Ngôi, Giáo hội không có thẩm quyền tự mình thiết lập các bí tích hoặc thông ban hiệu quả cứu độ cho chúng. 232 Diaconatus được đặt nền tảng trên Đức Kitô là một khẳng định cần thiết mang tính thần học. Hơn nữa, khẳng định ấy có thể giúp chúng ta hiểu những nỗ lực thần học khác nhau nhằm nối kết “diaconatus” cách trực tiếp với chính Đức Kitô (liên kết với sứ vụ của các Tông đồ,233 hay với hành động rửa chân trong bữa Tiệc Ly234). Nhưng điều đó không hàm ngụ là cần phải chủ trương rằng chính Đức Kitô đã trực tiếp thiết lập “diaconatus” như một cấp bậc bí tích. Giáo hội đã đóng vai trò quyết định trong việc xác định cụ thể tác vụ này. Điều này đã được ám tàng chấp nhận trong quan điểm (ngày nay chỉ còn là của một thiểu số) đồng hóa việc thiết lập Nhóm Bảy (xc. Cv 6, 1-6) với những diaconi tiên khởi.235 Những nghiên cứu kinh thánh và thần học cho thấy sự tiến triển phức tạp về các tác vụ và đoàn sủng cho đến lúc hình thành một cơ cấu gồm ba cấp: giám mục, linh mục và diaconus.236 Ngôn ngữ thận trọng của Công đồng Trentô (divina ordinatione) và công đồng Vaticanô II (divinitus institutum… iam ab antiquo)237muốn nói rằng không thể nào đồng hóa hoàn toàn hoạt động của Đức Kitô và của Giáo hội trong phạm vi các bí tích, cũng như nhìn nhận tính cách phức tạp của các dữ kiện lịch sử.

2. “Ấn tích” (character) bí tích của diaconatus và “sự họa hình” (configuration) Đức Kitô

Công đồng Vaticanô II không có lời tuyên bố minh nhiên nào về ấn tín bí tích của diaconatus; nhưng điều này lại gặp thấy nơi các văn kiện sau Công đồng đã thực hiện điều đó. Thật vậy, các văn kiện này nói đến “ấn tích không thể xóa nhòa” (character indelibilis) gắn liền với điều kiện của việc phục vụ vững bền (Sacrum diaconatus, 1967) hay là một “dấu ấn” (sigillum) không thể tẩy xóa, diễn tả sự đồng hình đồng dạng với Đức Kitô diaconus (GLCG, 1997).238 Đạo lý về “ấn tích” của diaconus phù hợp với tính bí tích của diaconatus và là một áp dụng minh nhiên cho điều mà công đồng Trentô (1563) đã tuyên bố về toàn thể Bí tích Truyền chức. 239 Đạo lý này dựa trên những chứng từ của truyền thống thần học;240 củng cố sự trung tín của Thiên Chúa đối với các ân huệ của Người, và hàm ngụ ý đặc tính không thể lặp lại của bí tích và tính bền vững lâu dài trong việc phục vụ Giáo Hội.241 Cuối cùng, đạo lý này mang lại cho diaconatus một nền thần học vững chắc, không thể rút gọn thành thực tại hoàn toàn có tính chức năng. Tuy nhiên, đạo lý này cũng gây ra một số vấn nạn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn nữa về phương diện thần học. Chẳng hạn, Lumen Gentium số 10 khẳng định rằng sự khác biệt giữa chức tư tế phổ quát của người Kitô hữu và chức tư tế thừa tác là “theo bản chất, chứ không chỉ theo mức độ mà thôi” (essentia, non gradu tantum): làm thế nào áp dụng lời khẳng định này cho diaconatus?242 Trong khi vẫn duy trì tính duy nhất của Bí tích Truyền chức, làm sao có thể làm sáng tỏ hơn nữa nét đặc thù của ấn tích diaconatus trong mối tương quan khác biệt với ấn tích linh mục và ấn tích Giám mục? Cần sử dụng những phương pháp nào để phân biệt theo lối biểu tượng sự đồng hình đồng dạng (họa hình) với Đức Kitô riêng cho mỗi cấp?

Công đồng Vaticanô II không sử dụng từ “họa hình”, nhưng sử dụng những thuật ngữ đơn giản hàm ngụ trong tính bí tích.243 Công đồng cũng nói đến sự tham gia đặc biệt vào sứ vụ và ân sủng của vị Thượng Tế.244 Trong Tự sắc Ad pascendum (1972), diaconus cố định được coi như một dấu chỉ hay một bí tích của chính Đức Kitô.245 Sách GLCG(1997) sử dụng từ “họa hình” và nối kết ý nghĩa từ này với đạo lý về ấn tích.246 Như vậy, chúng ta nhận thấy một sự tiến triển xa hơn các bản văn Công đồng, hệ luận của mối liên hệ trực tiếp giữa diaconus với Đức Kitô do hiệu năng của bí tích Truyền chức thánh. Nhưng tầm quan trọng của điều này còn cần được xác định.

3. Hành động của diaconus có phải là “hiện thân của Đức Kitô là đầu” (in Persona Christi [Capitis]) không?

Thuật ngữ “in persona Christi (Capitis)” được sử dụng trong các bản văn Công đồng Vaticanô II theo nhiều cách khác nhau. Thuật ngữ này được sử dụng khi tham chiếu đến thừa tác vụ giám mục, hoặc được xét cách toàn diện hoặc trong một trong số các chức năng riêng biệt;247 đặc biệt nó được áp dụng tác vụ Thánh Thể của chức tư tế thừa tác xét như sự biểu lộ cao nhất của tác vụ,248 bởi vì việc chủ sự và truyền phép Thánh Thể thuộc về thẩm quyền độc hữu của tác vụ này.249 Viễn tượng còn được mở rộng hơn trong những bản văn khác, nơi mà thuật ngữ có thể bao gồm toàn bộ hoạt động thừa tác của linh mục như hiện thân của Đức Kitô là Đầu, hay ám chỉ những chức năng đặc thù riêng biệt khác.250 Tuy nhiên, trong các bản văn Công đồng, không khi nào minh thị áp dụng thuật ngữ này cho những chức năng của tác vụ diaconatus. Thế nhưng, thuật ngữ ấy lại xuất hiện trong các văn kiện hậu Công đồng.251 Đó là nguồn gốc của những lập trường khác biệt giữa các nhà thần học hiện nay (cách riêng liên quan đến vai trò thay mặt Đức Kitô là “Đầu”), bởi vì thuật ngữ này mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong các văn kiện của Huấn quyền và trong các quan điểm thần học.

Nếu thuật ngữ này được áp dụng cho toàn thể Bí tích Truyền chức, xét như là một sự tham dự đặc biệt vào bộ ba nhiệm vụ (munus) của Đức Kitô, thì có thể khẳng định rằng diaconus cũng hành động với tư cách hiện thân Đức Kitô là Đầu “in persona Christi (Capitis)” (hoặc một lối diễn tả tương đương về một “sự hiện thân” đặc biệt của Đức Kitô trong tác vụ diaconus), để cấu thành một cấp bậc của Bí tích này. Ngày nay, nhiều thần học gia theo khuynh hướng này, vì nó phù hợp với tính bí tích của “diaconatus” và được sự hậu thuẫn bởi một số văn kiện Huấn quyền và một vài khuynh hướng thần học. Trái lại, những nhà thần học khác, vì chỉ dành thuật ngữ này cho các chức năng của “tư tế” mà thôi, đặc biệt là chức năng chủ sự và truyền phép Thánh Thể, nên không chấp nhận áp dụng cho diaconus, và tìm thấy sự hậu thuẫn vững chắc cho ý kiến này trong phiên bản cuối cùng của Sách GLCG(1997).

Thật vậy, trong ấn bản cuối cùng của GLCG, số 875, thuật ngữ “in persona Christi Capitis”không được áp dụng cho những chức năng phục vụ của diaconus.252 Trong trường hợp này, thẩm quyền hành động in persona Christi Capitis” dường như chỉ dành riêng cho các giám mục và linh mục. Phải chăng điều này có nghĩa là loại trừ vĩnh viễn? Các quan điểm thần học không thống nhất về điều này. Một cách nào đó, số 875 của GLCG trở về với ngôn ngữ của Lumen Gentium 28a, Presbyterorum Ordinis 2c (thừa tác vụ linh mục) và Lumen gentium 29a (về ba sự phục vụ). Mặt khác, những bản văn khác của GLCG dường như áp dụng thuật ngữ này cho toàn bộ Bí tích Truyền chức, 253 tuy vẫn nhìn nhận vai trò ưu tiên cho các giám mục và linh mục.254 Như vậy, ta thấy có nhiều khuynh hướng khác nhau, phản ánh những quan điểm thần học khác nhau về tác vụ diaconatus, rất khó có thể hòa hợp. Và giả như chấp nhận rằng tác vụ “diaconatus” như một hành động “in persona Christi (Capitis)”là chính xác về mặt thần học, thì vẫn còn phải làm sáng tỏ: đâu là đặc trưng của cách thức làm hiện thân Đức Kitô, hầu phân biệt với tác vụ giám mục và tác vụ linh mục.

4Phải chăng “In Persona Christi Servi” (hiện thân Đức Kitô Tôi tớ) là nét đặc trưng của tác vụ diaconatus?

Một cách thức để thực hiện điều vừa nói là nêu bật khía cạnh “phục vụ” và coi việc tượng trưng Đức Kitô “Người Tôi Tớ” như là nét đặc trưng hay một yếu tố phân biệt của tác vụ diaconatus. Khuynh hướng này xuất hiện trong các văn kiện gần đây255 và trong một vài nghiên cứu thần học. Tuy nhiên, nhiều vấn nạn nảy lên, không những chỉ vì bất cứ tác vụ nào cũng hàm ngụ tư tưởng phục vụ, nhưng bởi lấy đó làm tiêu chuẩn đặc thù cho tác vụ diaconatus. Liệu có thể tách rời “lãnh đạo” và “ phục vụ” nơi Đức Kitô thành ra hai cách thức tượng trưng khác biệt không? Đức Kitô, Đức Chúa, vừa là Tôi Tớ Tối Cao và tôi tớ của mọi người.256 Các tác vụ của giám mục257 và linh mục, ngay chính trong phận sự chủ tọa và thay mặt Đức Kitô là Đầu, là Mục Tử và là Lang Quân của Giáo hội, cũng làm hiển hiện Đức Kitô là Tôi Tớ, 258 và đòi hỏi phải được thi hành như các công tác phục vụ. Vì thế nếu tách riêng khía cạnh Đức Kitô Tôi Tớ để làm tiêu chuẩn phân biệt tác vụ diaconatus thì quả là không ổn. Xét vì cần xem việc phục vụ như là đặc tính chung cho tất cả mọi tác vụ chức thánh,259 cho nên phải xét xem việc phục vụ mang tầm quan trọng ưu tiên và sâu sắc như thế nào trong tác vụ diaconatus. Để tránh những lối sử dụng thay đổi thần học không cân xứng, ta cần phải đồng lúc nắm giữ tính duy nhất của ngôi vị Đức Kitô, tính duy nhất của bí tích truyền chức thánh và tính duy nhất của các hạn từ tượng trưng Đức Kitô (“đầu”, “tôi tớ”, “mục tử”, “lang quân”).

5Đâu là những “chức năng” đặc trưng của Diaconus?

Theo Vaticanô II và những văn kiện sau Công Đồng, những chức năng được gán cho các phó tế thì rất nhiều và đa dạng trong những lĩnh vực khác nhau, hay theo như Lumen Gentium số 29a “in diaconia liturgiae, verbi et caritatis”. Trong những văn kiện này, không thấy suy tư gì về việc các nhiệm vụ và chức năng này có thể được thi hành (như hiện nay xảy ra ở nơi nhiều cộng đoàn) do các Kitô hữu không được phong chức diaconus. Theo Ad gentes 16f, dường như vốn có “tác vụ thực sự của chức phó tế” trước khi được truyền chức; và, việc truyền chức sẽ chỉ là củng cố, kết hợp chặt chẽ hơn với bàn thờ, và cấp ban một hiệu lực bí tích lớn hơn. 260 Sự nhận xét này cho thấy những hoài nghi của một số người liên quan đến tính bí tích của diaconatus. Làm thế khẳng định tính bí tích này nếu nó không cấp ban một quyền hành (“potestas”) cụ thể nào tương tựng như chức linh mục và giám mục? Cũng sự nhận xét như thế đã trở thành lý do mà một số Giáo hội địa phương đưa ra để bào chữa cho sự ngờ vực và từ chối việc thiết lập tác vụ diaconatus cố định: “tại sao cần phải truyền chức nếu cùng những chức năng ấy đã có thể được thi hành bởi những người giáo dân và những tác vụ giáo dân, có khi còn hữu dụng và khéo léo hơn nữa? Như vậy chúng ta gặp phải một vấn đề thần học mang theo những hệ quả thực tế và mục vụ mà Công đồng Vaticanô II đã không đối diện minh nhiên, và cần được giải quyết trong viễn tượng của một Giáo hội học hiệp thông (xc. phần IV, dưới đây). Ước mong của Công đồng là đặt nền tảng bí tích cho mọi quyền hành thánh thiêng “potestas sacra” trong Giáo hội: vì thế Công đồng đã không thấy là cần thiết phải nại đến sự phân biệt cổ truyền giữa “quyền thánh chức” và “quyền tài phán” 261. Dù vậy, sự phân biệt này lại tái xuất hiện trong các văn kiện hậu Công đồng.262 Có lẽ những ngập ngừng ấy giải thích sự tồn tại của vấn đề: có điều gì một diaconus “có thể làm” mà một giáo dân không thể làm được?

III.  Diaconatus trong viễn tượng của chức Giám mục như “sự viên mãn của bí tích truyền chức”

Vaticanô II đã khẳng định rõ ràng và xác thực về tính bí tích của giám mục, xem đó như là “sự viên mãn của bí tích truyền chức” (LG 21b).263 Lời khẳng định này đã lật ngược viễn tượng, khiến cho sự “viên mãn” của chức giám mục không tước mất sự kiên vững riêng của chức linh mục và diaconatus, như thể ý nghĩa duy nhất của hai chức này chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho chức giám mục. Trong việc tham dự của họ vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô và sứ vụ cứu rỗi, các linh mục cộng tác với giám mục và lệ thuộc vào các ngài trong việc thực thi tác vụ mục tử.264 Dưới đây chúng ta xét xem có thể hiểu thần học về tác vụ diaconatus như thế nào dưới nhãn giới ấy.

1. Tính duy nhất của Bí tích Truyền Chức Thánh

Tính duy nhất của bí tích Truyền chức thánh có thể được coi như thuộc về gia sản thần học chung, và ngay từ lúc (thế kỷ XII và những thể kỷ tiếp theo) vấn đề được đặt ra liên quan đến tính bí tích của các cấp độ khác nhau của bí tích truyền chức thánh.265 Công đồng Vaticanô II vẫn duy trì tính duy nhất này khi nói về các cấp bậc khác nhau, gồm cả diaconatus, trong đó thừa tác vụ Giáo hội được thực thi.266 Các văn kiện hậu công đồng đi theo cùng quan điểm ấy. Những khó khăn nảy sinh không phải từ việc khẳng định tính duy nhất ấy, nhưng từ đường lối thần học áp dụng để biện minh nó. Theo đường lối cổ truyền, tính duy nhất này được biện minh bởi mối tương quan với bí tích Thánh Thể, tuy vẫn tôn trọng những thể thức khác nhau tùy theo từng cấp độ.267 Vaticanô II đã thay đổi các viễn tượng và cách phát biểu. Từ đó nảy sinh sự cần thiết phải tìm kiếm một đường lối khác để biện minh. Một đường lối như thế có thể lấy khởi điểm của việc suy tư từ chức giám mục như là “viên mãn” của bí tích Truyền chức thánh và làm nền tảng của tính duy nhất.

2. “Chân dung” và “căn cước” của tác vụ diaconatus

Có một lối hiểu thần học về tác vụ chức thánh như là “phẩm trật”, được duy trì nơi Công đồng Vaticanôo II và trong các văn kiện tiếp theo. Lối hiểu này268 dẫn đến đạo lý về các “cấp bậc” khác nhau của bí tích truyền chức. Ở đây các diaconi cấu thành cấp “thấp” so với giám mục và linh mục. 269 Tính duy nhất nội tại của bí tích truyền chức làm cho mỗi một cấp bậc tham dự theo cách thức của mình (suo modo) trong bộ ba nhiệm vụ (“munus”), trông mô hình từ trên đi xuống, trong đó cấp bậc cao hơn bao gồm và vượt trội hơn toàn bộ thực thể và các chức năng của cấp bậc thấp hơn. Sự tham dự theo lối phẩm trật và cấp độ trong cùng một bí tích làm cho diaconus thành tác viên lệ thuộc vào giám mục và linh mục.

Sự khó khăn trong việc trình bày một “chân dung” (profile) và “căn cước” (consistency) cho tác vụ diaconatus (cố định) dựa theo mô hình phẩm trật đã khiến các tác giả đề nghị những khuôn mẫu diễn giải khác. Rõ ràng xem ra không phù hợp với các bản văn Công đồng khi coi chức giám mục, linh mục và phó tế như ba bí tích hoàn toàn riêng biệt, cạnh kề và ngang nhau. Tính duy nhất của bí tích truyền chức thánh sẽ bị rạn nứt nghiêm trọng, và khó lòng nhận ra chức giám mục như là sự “viên mãn” của bí tích này. Vì lý do này, một vài lối tiếp cận thần học đương thời muốn trở về truyền thống của các nguồn cổ điển và nghi lễ của việc truyền chức, trong đó diaconatus được trình bày như là ad ministerium episcopi. Sự tham chiếu trực tiếp và gần gũi của diaconatus vào tác vụ của giám mục270 làm cho các diaconus minh nhiên trở thành những cộng sự viên của giám mục: điều đó hàm ngụ rằng các diaconi có khả năng thi hành những công tác ở phạm vi ở trên các giáo xứ và cấp giáo phận.

Trong viễn tượng ấy, vẫn còn giải thích minh bạch hơn mối tương quan giữa diaconatus (cố định) với tác vụ linh mục. Theo một số người, các linh mục và các diaconi đứng ở cùng cấp đối xứng so với sự “viên mãn” của bí tích được thành hình nơi tác vụ giám mục. Điều này được tỏ rõ ở nơi thực hành cổ xưa của việc truyền chức (một diaconus có thể được thụ phong giám mục mà không cần thiết phải trải qua chức linh mục, và một giáo dân có thể trở thành linh mục mà không cần phải qua diaconatus271). Những dữ kiện lịch sử này cần được ghi nhớ khi phác họa chân dung giáo hội học của diaconatus ngày nay. Tuy nhiên, dường như không phù hợp với thần học khi loại bỏ diaconus khỏi mọi hình thức trợ giúp và cộng tác với các linh mục,272 và đặc biệt với toàn thể “linh mục đoàn”.273 Nhân tiện, giả thiết một “tập đoàn diaconi” xung quanh giám mục, như là một biểu thị của “ordo diaconorum” tương tự như “tập đoàn linh mục” (presbyterium)274 đòi hỏi một nghiên cứu thần học sâu hơn nữa. Các bản văn Công đồng và hậu Công đồng trên thực tế không nói gì về tính khả thi này.275Mặt khác, một vài tham luận thần học- mục vụ đương thời nhấn mạnh rằng viễn tượng về một tập đoàn các diaconi sẽ góp phần củng cố cho chân dung giáo hội học mà tính bền vững của một thừa tác vụ đòi hỏi.276

3. Việc đặt tay “non ad sacerdotium” […]

Theo Hiến chế Lumen Gentium số 29a, các diaconi lãnh nhận việc đặt tay “non ad sacerdotium, sed ad ministerium”. Về điểm này, Vaticanô II quy chiếu về các bản văn như Statuta Ecclesiae antiqua,277 với công thức vẫn còn giữ nguyên cho đến thời nay trong cuốn Nghi thức giáo chủ (Pontificale Romanum).278 Tuy nhiên, công thức bắ nguồn từ Traditio Apostolica (thế kỷ II-III), trong đó có một yếu tố không được lấy lại trong các bản văn của Công đồng: “in ministerio episcopi”.279 Việc giải thích ý nghĩa chính xác của diễn ngữ này là điểm còn đang tranh cãi trong thần học hiện hành về tác vụ diaconatus.280 Trước hết chúng tôi sẽ bàn đến điều xem ra đã bị loại trừ trong công thức (hạn từ “sacerdotium”); sau đó, chúng tôi sẽ đề cập đến điều dường như được khẳng định (mỗi tương quan với tác vụ “ministerium”). Tác vụ diaconatus không phải là “ad sacerdotium”. Phải giải thích sự loại bỏ này như thến nào? Theo nghĩa hẹp hơn, chức “tư tế” thừa tác (sacerdotium ministeriale) theo truyền thống được nối kết với quyền truyền phép Thánh Thể và tế lễ: “conficiendi eucharistiam”,281 “offerendi sacrificium in Ecclesia,282 hoặc “consecrandi verum corpus et sanguinem Domini”.283 Qua nhiều thế kỷ, dựa trên sự nối kết chặt chẽ giữa chức tư tế và Bí tích Thánh Thể, người ta đặt nền tảng cho đạo lý về sự ngang hành bí tích giữa giám mục và linh mục xét như là “tư tế”, chẳng hạn cả hai dâng lễ tế, 284 và sự khác biệt giữa đôi bên chỉ dựa trên quyền tài phá mà thôi. 285 Đó cũng là lý do tại sao mà các diaconus không được truyền chức ad sacerdotium, bởi vì họ không được năng quyền để chủ sự và truyền phép Thánh Thể hữu hiệu, là điều da dành riêng cho các tư tế. Phải chăng sự hạn chế này cũng hàm ý loại trừ tác vụ diaconatus khỏi chức tư tế sacerdotium hiểu theo nghĩa bớt chật hẹp hơn? Thực vậy, Vaticanô II đã đặt mối tương quan giữa chức tư tế thừa tác và bí tích Thánh Thể trong một bối cảnh rộng hơn: bối cảnh của một Giáo hội học đặt trọng tâm ở bí tích Thánh Thể được xem như là “totius vitae christianae fons et culmen”(nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô hữu) 286 và bối cảnh của chức tư tế thừa tác với mối tương quan cấu thánh đối với Thánh Thể được bắt nguồn một “potestas sacra” (quyền hành thánh thiêng) rộng lớn hơn, kể cả trong tương quan với những “munera” (nhiệm vụ) 287 thừa tác khác. Nếu loại trừ diaconatus hoàn toàn khỏi “chức tư tế” được hiểu theo tất cả mọi ý nghĩa của từ ngữ này, thì lúc ấy cần phải xét lại tính duy nhất của bí tích truyền chức thánh vốn được quan niệm như là “chức tư tế thừa tác hoặc phẩm trật” (xc. LG 10b), cũng như việc sử dụng những phạm trù “tư tế” như là đặc tính diễn tả bí tích. Nên ghi nhận những khuynh hướng khác biệt trong các bản văn của Công đồng, trong sự tiến triển sau công đồng và những cố gắng để nghiên cứu thần học về diaconatus.

Một đàng, những bản văn của Vaticanô II đề cập minh thị diaconatus thì không áp dụng cho tác vụ này các phạm trù của chức tư tế, nhưng chỉ áp dụng các phạm trù phục vụ.288 Đường hướng này cũng còn được tuân giữ trong ấn bản cuối cùng của Sách GLCG, khi phân biệt rõ ràng bên trong bí tích truyền chức duy nhất, giữa một mức độ của sự tham dự tư tế (giám mục và linh mục) và một mức độ của việc phục vụ (diaconus), và loại trừ việc áp dụng thuật ngữ “sacerdos” cho diaconus.289 Mặt khác, khi phát biểu từ viễn tượng bí tích Truyền Chức duy nhất, dường như Vaticanô II coi phạm trù “tư tế” mang tính bao hàm tất cả và mở rộng phạm trù này vượt trên sự phân biệt giữa “sacerdotium” và “ministerium”. Đó là trường hợp của Lumen Gentium 10b, khi khẳng định rằng có một sự khác biệt về bản chất và không chỉ về cấp độ giữa chức tư tế phổ quát của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hoặc phẩm trật.290 Cũng vậy, khi bàn về linh đạo của các hàng ngũ khác nhau trong Lumen Gentium41d, Công đồng dường như gán một vai trò trung gian cho các diaconi trong toàn bộ các thừa tác vụ khác nhau (cần lưu ý rằng ở thời điểm này, vẫn còn các “chức nhỏ”, cho họ được tham dự cách riêng biệt vào sứ vụ và ân sủng của vị Thượng Tế.291 Về phần mình, Bộ giáo luật 1983, ở các điều 1008-9, liệt kê các diaconi trong hàng “những thừa tác viên thánh” (sacri ministry): do sự thánh hiến, các diaconi có khả năng chăm sóc dân của Thiên Chúa và thi hành “theo cấp bậc của mình” (pro suo quisque gradu) các chức năng giảng dạy, thánh hóa và cai quan in persona Christi Capitis.292

Như vậy, không lạ gì khi thấy rằng những nỗ lực sau Công đồng để hiểu rõ tác vụ diaconatus theo thần học đã được đánh dấu bởi những căng thẳng nảy sinh từ chỗ tác vụ này được bao hàm hay bị khai trừ khỏi các phạm trù tư tế. Bao lâu diaconatus chỉ là bước chuyển tiếp tới chức linh mục, sự căng thẳng xem ra có thể chấp nhận được. Kể từ lúc diaconatus thiết lập như thực tại cố định, và bắt đầu phát triển trong nhiều Giáo hội,293 thì những căng thẳng thần học trở nên rõ rệt hơn và phát triển thành hai khuynh hướng khác nhau.

Dựa trên nền tảng về tính duy nhất của bí tích truyền chức thánh, và xác tín rằng mình vẫn trung thành với các văn bản Công đồng và hậu công đồng, một vài tác giả nhấn mạnh tính duy nhất của bí tích và áp dụng cho diaconatus những nguyên lý thần học có giá trị cách cân xứng cho ba cấp độ của bí tích này. Tuy với đôi ba khác biệt về điểm nhấn, họ chủ trương rằng diaconatus nên được hiểu và mô tả cách khải quát như sacerdotium ministeriale seu hierarchicum (xc. LG 10b); điều này phù hợp với ngôn ngữ được sử dụng trong truyền thống cổ xưa của Giáo hội.294 Theo hướng lập luận này, diaconatus là một thực tại bí tích hàm ngụ một sự khác biệt essentia, non gradu tantum (cf LG 10b) so với chức tư tế phổ quát của các tín hữu. Do đó, lời tuyên bố rằng diaconatus là “non ad sacerdotium” sẽ chỉ loại trừ những gì có liên hệ đến việc truyền phép Thánh Thể (và bí tích Hòa giải).295 Nhưng bởi vì được xếp trong bí tích truyền chức duy nhất và vì mối tương quan đặc biệt của nó thừa tác vụ Thánh Thể, cũng như vì ý nghĩa của “tư tế” theo nghĩa rộng bao gồm các nhiệm vụ (munera) giảng dạy và quản trị, và bởi vì sự tham dự cách đặc thù vào trong sứ vụ và ân sủng của vị Thượng Tế, cho nên diaconatus vẫn nên bao gồm vào trong “chức tư tế thừa tác hoặc phẩm trật”, phân biệt khỏi “chức tư tế phổ quát” của các tín hữu.

Đối lại, một vài khuynh hướng khác cực lực nhấn mạnh đến sự khác biệt được diễn tả bởi công thức non ad sacerdotium, sed ad ministerium. Theo một lập luận trái ngược lại với ý kiến vừa trình bày trên đây, những tác giả này có khuynh hướng muốn loại bỏ tất cả những ý tưởng hoặc từ ngữ “tư tế” khỏi khái niệm về diaconatus. Đồng thời, họ nhấn mạnh sự khác biệt này như một bước quyết định để vượt qua việc tư-tế-hóa (sacerdotalization) bí tích Truyền Chức. Theo họ, bí tích này bao gồm ba cấp độ, trong đó hai cấp (giám mục và linh mục) thuộc về “sacerdotium” và cấp còn lại (diaconatus) chỉ là “ad ministerium”. Nhờ vậy người ta tránh được cách hiểu thần học về diaconus như là một linh mục với thẩm quyền bị hạn chế. Đồng thời, điều này cho phép nhận ra sự kiên định và căn cước riêng của tác vụ diaconatus như là một thừa tác viên của Giáo hội. Tuy nhiên, vẫn cần phải xác định căn tính của diaconus dưới ánh sáng của Lumen Gentium 10b, bởi vì, xét như thực tại bí tích, diaconatus không thể được đồng hóa với các chức năng, công tác và tác vụ đặt nền trên bí tích rửa tội.

4. "... Nhưng nhắm đến tác vụ (của Giám mục)- sed ad ministerium (episcopi)"

Một vài nghiên cứu thần học- mục vụ về diaconatus (cố định) xem nét đặc trưng của cụm từ “in ministerio episcopi”296 như nền tảng để khẳng định rằng diaconatus có một liên kết trực tiếp với tác vụ giám mục.297 Tuy vẫn duy trì sự liên kết này,298 Vaticanô II làm nhẹ bớt ảnh hưởng của cụm từ này vốn có trong Traditio Apostolica bằng cách khẳng định rằng diaconatus chỉ nhắm đến tác vụ “ad ministerium”, nghĩa là diaconatus là một sự phục vụ dân chúng được thực thi trong lãnh vực phụng vụ, lời và việc bác ái, trong mối hiệp thông với giám mục và linh mục đoàn (presbyterium).299 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh chiều kích phục vụ này cho dân Thiên Chúa.300 Tuy nhiên, khi cần định rõ phạm vi thần học của thuật ngữ “ad ministerium (episcopi)” và khả năng hội nhập của diaconatus vào tác vụ thừa kế các tông đồ, cách nào đó họ quay lại với những bất đồng ý kiến đã được nhắc trên đây. Về điểm này, các bản văn Công đồng và hậu công đồng cũng tỏ ra ngập ngừng.

Dưới ánh sáng của Lumen Gentium 20 và 24a, người ta khẳng định rằng các giám mục là người kế vị các tông đồ để nối dài sứ mệnh tông đồ đầu tiên này cho đến tận thế.301 Nhưng Lumen Gentium 28a dường như cũng bao gồm các diaconi trong hàng kế vị nối dài sứ vụ của Đức Kitô trong sứ vụ của các Tông đồ, trong sứ vụ của các giám mục và trong sứ vụ của tác vụ Giáo hội.302 Sách GLCG định nghĩa bí tích Truyền Chức trong ba cấp độ như là “bí tích của tác vụ tông đồ”.303 Dựa trên những bản văn ấy, mặc dù có vài thay đổi về hạn từ (tác vụ “giáo hội” và “tông đồ”) 304diaconatus có thể được xem như một thành phần của sứ vụ kế vị các tông đồ. Điều này sẽ nhất quán với tính duy nhất của bí tích truyền chức thánh, với nền tảng cuối cùng của bí tích ấy nơi Đức Kitô và với sự tham dự của các diaconi theo cách thức riêng biệt vào trong sứ vụ mà các tông đồ và những người kế vị đã lãnh nhận từ Đức Kitô.305

Tuy nhiên, kết luận này không được chấp nhận bởi những người vẫn muốn duy trì việc phân biệt giữa “sacerdotium” và ministerium” như là một sự khác biệt phẩm chất, và nhấn mạnh tầm quan trọng của những sửa đổi cuối cùng của sách GLCG số 1154 (nơi mà hạn từ “sacerdos” chỉ dành riêng cho các giám mục và các linh mục). Họ coi sự sửa đổi này như thể vượt lên những gì đã được nói cho tới lúc ấy và phải được xem như điểm tham chiếu quan trọng cho sự phát triển trong tương lai. Sứ vụ tông đồ được hiểu như sự tiếp nối “diaconia” của Đức Kitô, là điều không thể nào tách khỏi “chức tư tế” của Người: việc hiến tế cuộc đời mình cấu thành sự phục vụ diaconal của Người để cứu độ thế giới. Theo nghĩa này, “diaconia” hay việc phục vụ cấu thành đặc trưng của các nhiệm vụ (munus) của các mục tử (giám mục) của Dân Thiên Chúa,306 và có lẽ không thích đáng khi trình bày các diaconi như những người thừa kế đặc biệt của chiều kích phục vụ diaconal của tác vụ này. Tác vụ diaconatus nên được nhìn nhận là tông đồ xét theo nền tảng, chứ không phải xét theo bản chất thần học. Điều này ra như muốn nói rằng tác vụ tông đồ nên được giới hạn cho “các tư tế”307 (giám mục và linh mục) mà thôi, còn các diaconi sẽ là thành phần của tác vụ “giáo hội”308, và do đó, nên được xem như là những cộng tác viên trợ giúp tác viên kế vị các tông đồ, và nói một cách chặt chẽ, các diaconi không phải là một thành phần toàn vẹn (parte integrante) của tác vụ kế vị các tông đồ.

5. Tác vụ Diaconatus như một chức năng làm trung gian hay là “chức ở giữa”?

Những lần can thiệp tại phòng họp Công Đồng và các ghi nhận của Ủy ban đạo lý của Công Đồng đã quy cho tác vụ diaconatus cố định một chức năng làm trung gian hay cầu nối giữa hàng giáo phẩm và dân chúng.309 Mặc dù ý tưởng này không được giữ lại trong bản văn chung quyết của Công Đồng, nhưng một cách nào đó nó vẫn được phản ánh trong một cách lập luận của Lumen Gentium, số 29: bản văn nói về các diaconi (ở cuối chương III) như là cấp bậc cuối cùng trong hàng giáo phẩm, ngay trước khi đề cập chủ đề các giáo dân ở chương IV. Tiến trình này cũng được áp dụng trong Ad Gentes, số 16. Thuật ngữ “chức ở giữa” (medius ordo) chỉ được minh thị áp dụng cho tác vụ diaconatus cố định trong Tự sắc Ad Pascendum (1972) và được trình bày như một cách thức để diễn đạt những mong ước và ý định đã đưa tới Công Đồng Vaticanô II.310 Ý tưởng này phổ biến rộng rãi trong thần học đương thời và tạo nên những cách khác nhau trong quan niệm về chức năng trung gian này: trung gian giữa giáo sĩ và giáo dân, giữa Giáo Hội và thế giới, giữa phụng tự và đời sống thường ngày, giữa các công tác bác ái và bí tích Thánh Thể, giữa trung tâm và vùng ngoại biên của cộng đoàn Kitô hữu. Dù thế nào đi nữa, ý tưởng này cần được thần học giải thích chính xác hơn.

Sẽ là một sai lầm thần học nếu coi tác vụ diaconatus như một “chức ở giữa” (medius ordo) theo nghĩa là một thứ thực tại (bí tích?) nằm giữa các tín hữu được rửa tội và các tín hữu có chức thánh. Tác vụ chức diaconatus thuộc về bí tích Truyền Chức Thánh là một học thuyết chắc chắn. Theo thần học, diaconus không phải là một người giáo dân. Công Đồng Vaticanô II coi diaconus là một thành phần của hàng giáo phẩm và Giáo Luật cũng đề cập đến diaconus như “thừa tác viên có chức thánh” (sacer minister) hay “giáo sĩ” (clericus).311 Hẳn nhiên diaconus có thực hiện một số công việc trung gian nào đó, nhưng thật là không chính xác theo thần học nếu biến các công tác này thành lối cách diễn tả bản chất thần học hoặc đặc trưng của tác vụ diaconatus. Mặt khác, không thể che giấu nguy cơ khi định nghĩa tác vụ diaconatus theo thần học và mục vụ như là “chức ở giữa” (medius ordo), bởi vì chức vụ ấy sẽ duyệt chính và đào sâu thêm khoảng ngăn cách thay vì xóa bỏ

Việc làm sáng tỏ ý niệm theo thần học không có ngụ ý một sự phủ nhận hoàn toàn tất cả mọi chức năng trung gian về phía diaconus. Nhiều chứng cứ trong truyền thống Giáo Hội đã xác nhận ý tưởng ấy. 312 Một cách nào đó, nó được phản ánh trong quan điểm Giáo Hội học mà Giáo Luật hiện hành (1983) quy cho các diaconus giữa sứ mạng của người giáo dân và sứ mạng của các linh mục. Một mặt, các diaconi (cố định) sống giữa trần thế với lối sống của một giáo dân (mặc dù cũng có thể có một tu sĩ lãnh tác vụ diaconatus cố định) và hưởng một vài thứ “nhân nhượng” mà các giáo sĩ và linh mục không (luôn luôn) được thi hành. 313 Mặt khác, có một vài chức năng mà các diaconi và các linh mục được thi hành như nhau, khác biệt với các giáo dân.314 Điều đó không có nghĩa là các diaconi có thể thi hành cách đầy đủ tất cả các chức năng thuộc về các linh mục (như bí tích Thánh Thể, Thống hối, Xức dầu bệnh nhân). Tuy nhiên, đừng kể vài trường hợp ngoại lệ, trên nguyên tắc thì điều được Giáo Luật đặt ra cho “các giáo sĩ” nói chung cũng được áp dụng cho các diaconi (xem các điều 273 và tiếp theo).

IV.  Tác vụ Diaconatus trong một “Giáo hội học Hiệp Thông”

Mặc dù dựa trên các bản văn của Công Đồng, điều được mang danh là “Giáo hội học hiệp thông” đã phát triển cách chuyên sâu hơn vào thời điểm Thượng hội đồng Giám Mục năm 1985.315 Nhờ Giáo hội học ấy, người ta hiểu rõ ràng hơn về Giáo Hội như một “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (xem LG 1,9) mà nguồn mạch và khuôn mẫu cho tất cả động lực cứu độ được tìm thấy trong sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi. Diaconia là việc hiện thực khuôn mẫu này trong lịch sử. Bây giờ, chúng ta tìm cách kết nạp căn tính bí tích của tác vụ diaconatus vào trong diaconia chung của toàn thể Dân Thiên Chúa.

1.Các nhiệm vụ (munera) của diaconatus: những chức năng khác nhau và thứ tự ưu tiên của chúng

Lumen Gentium, số 29a, liệt kê và giải thích các chức năng của tác vụ diaconatus trong lãnh vực phụng vụ (trong đó có những công tác mà diaconus chủ sự), lời giảng, và bác ái được nối kết với các công tác quản trị.316 Ad Gentes số 16f đi theo một trình tự khác: tác vụ về Lời Chúa, về việc cai quản các cộng đoàn và về việc bác ái.317 Đến lượt Sacrum Diaconatus nêu ra mười một công tác, trong đó tám việc thuộc về lãnh vực phụng vụ (đứng đầu danh sách) mặc dù đôi khi chúng có đặc tính của các công việc bổ khuyết. Các công tác bác ái xã hội được thực hiện nhân danh hàng giáo phẩm, và cũng bao gồm bổn phận khích lệ việc tông đồ giáo dân.318 Giáo Luật bàn chi tiết hơn về các quyền hạn và nhiệm vụ dành riêng cho các phó tế; trong số đó nên ghi nhận khả năng các diaconi có thể tham gia vào việc chăm sóc mục vụ (cura pastoralis) của giáo xứ. 319 Qua việc tham chiếu các bản văn Công Đồng Lumen Gentium số 29, Sacrosantum Concilium số 35 và Ad Gentes số 16, Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo đưa ra một danh sách quen thuộc liên quan đến đời sống phụng vụ (trong đó đề cập rõ ràng đến việc trợ giúp các Giám mục và linh mục), đời sống mục vụ, và những công tác bác ái và xã hội.320 Văn kiện Ratio Fundamentalis trình bày tác vụ diaconatus như là thực hành ba “nhiệm vụ” (munera) dựa theo quan niệm “Diaconia”, được liệt kê theo thứ tự munus docendimunus sanctificandi (với Bí tích Thánh Thể là khởi điểm và đích điểm), và munus regendi (trong đó bao gồm công tác bác ái như là đặc trưng nhất của tác vụ diaconatus)321. Văn kiện Directorium lấy lại bộ ba diaconia của Lumen Gentium số 29, mặc dù có thay đổi thứ tự (Lời Chúa, phụng vụ, bác ái). Với thứ tự này, tác vụ về Lời Chúa được coi như chức năng chính yếu của diaconus; tác vụ về phụng vụ được đánh giá như sự trợ giúp cho tác vụ linh mục, và tác vụ bác ái được coi như một cách thức khác biệt trong việc tham dự vào các công tác mục vụ của giám mục và của các linh mục.322

Nói chung, các chức năng khác nhau được gán cho tác vụ diaconatus (cố định) trong các bản văn Công Đồng và sau Công Đồng có nguồn gốc từ truyền thống phụng vụ cổ xưa, từ các nghi thức truyền chức và các nghiên cứu thần học. Các chức năng này cũng được mở rộng cho các hoàn cảnh và nhu cầu mục vụ đương thời, mặc dù trong trường hợp ấy, ta thấy các văn kiện tỏ ra dè dặt. Nhìn chung, các chức năng của diaconus được cấu trúc trong khung của bộ ba “diaconia” hay bộ ba “munus”. Trong các văn kiện và trong nhiều khảo luận thần học, những công tác bác ái chiếm một vị trí ưu tiên; 323 tuy nhiên, nếu coi những công tác bác ái này như là nét đặc trưng cho tác vụ diaconatus thì sẽ có vấn đề, bởi vì chúng cũng là trách nhiệm riêng của các giám mục và linh mục, mà những trợ tá của họ là các diaconi. Hơn nữa, các chứng tá từ truyền thống Giáo Hội mời gọi kết nạp ba chức năng này vào một tổng thể. Trong viễn tượng này, có thể nêu lên những điểm nhấn khác nhau trong hình ảnh tác vụ của diaconus. Tác vụ này có thể được nhấn mạnh đến hoặc vào việc bác ái, hoặc vào phụng vụ, hay việc loan báo Tin Mừng; tác vụ này có thể được thực hiện hoặc trong một việc phục vụ được gắn kết trực tiếp với giám mục hoặc được thực hiện trong phạm vi của giáo xứ; cũng có thể đồng thời duy trì diaconatus cố định và diaconatus hoặc quyết định chỉ một dạng thức mà thôi. Sự khác biệt như thế có thể còn được duy trì bao lâu nữa? Điều này tùy thuộc không chỉ vào quan điểm thần học tác vụ diaconatus, mà còn tùy vào tình trạng thực tế tại các Giáo Hội địa phương khác nhau.

2. Sự hiệp thông trong các tác vụ đa dạng

Cách thức cụ thể mà tác vụ diaconatus được thực thi trong những môi trường khác nhau cũng sẽ góp phần vào xác định căn tính tác vụ nó, bằng cách điều chỉnh lại, nếu cần, một khung cảnh Giáo Hội trong đó các mối liên hệ với tác vụ của giám mục hầu như không có; và một khung cảnh trong đó hình ảnh của linh mục được đồng hóa với toàn bộ các chức năng tác vụ. Ý thức sống động rằng Giáo Hội là “hiệp thông” sẽ góp phần cho sự tiến triển này. Tuy nhiên, các câu hỏi thần học liên quan đến “quyền hành” đặc thù của tác vụ diaconato khó lòng tìm được giải đáp nếu chỉ thuần túy dựa vào đường lối thực nghiệm. Không phải tất cả mọi người đều xem vấn nạn này là một khó khăn không thể giải quyết được. Vì thế, người ta nhận thấy nhiều đề xuất khác nhau của thần học hiện nay tìm cách đem lại cho tác vụ diaconatus một bản chất thần học vững chắc, sự chấp nhận của Giáo Hội và sự tín nhiệm trong mục vụ.

Có một số người lại xem vấn đề “quyền hạn” chỉ có một tầm quan trọng tương đối. Theo họ, đặt vấn đề ấy làm trọng tâm sẽ là một sự giản lược, và sẽ làm biến dạng ý nghĩa đích thực của tác viên có chức thánh. Mặt khác, nhận định đã có từ lâu rằng một giáo dân có thể thi hành các nhiệm vụ của diaconus đã không ngăn cản tác vụ này trên thực tế được xem như một bí tích dưới hết mọi phương diện. Hơn nữa, thật không thể nào dành riêng việc thực thi một vài chức năng nào đó cho các giám mục và linh mục, ngoại trừ hợp quyền cử hành Thánh Thể (potestas conficiendi eucharistiam),324 bí tích Hòa Giải325 và phong chức giám mục.326 Vài tác giả khác lại phân biệt một bên là điều thuộc về sự thi hành thông thường và bình thường của một số chức năng được gán cho diaconus, và bên kia là điều có thể được xem như sự thi hành ngoại thường các chức năng ấy về phía các Kitô hữu,327 được ấn định bởi các nhu cầu mục vụ hay trong trường hợp khẩn cấp, kể cả lâu dài. Một sự loại suy có thể nhận thấy nơi năng quyền bình thường và thông thường của Giám mục về bí tích Thêm sức (điều mà linh mục cũng có thể thi hành) 328 và việc phong chức linh mục (điều mà theo vài chỉ dụ của giáo hoàng, xem ra đã được thi hành thi hành bởi các linh mục trong các trường hợp ngoại lệ).329

Sau cùng, một số tác giả lại nêu nghi vấn: liệu một tín hữu không có chức thánh thi hành cũng các “nhiệm vụ” (munera) theo cùng một cách thức và cùng một công hiệu cứu độ tương tự như một diaconus có chức thánh hay không? 330 Diaconus thi hành các “nhiệm vụ” riêng của chức thánh dưới ánh sáng đặc thù của “diaconia”. Mặc dù bề ngoài cũng là những chức năng được thi hành bởi một tín hữu không có chức thánh, nhưng nhân tố quyết định là cái diaconus “là” chứ không phải là cái diaconus “làm”: hành động của diaconus thể hiện sự hiện diện đặc biệt của Đức Kitô – là Đầu và Tôi Tớ – thuộc về ân sủng bí tích, thuộc về sự đồng hình đồng dạng với Người, và chiều kích cộng đồng và công khai của các công tác được thi hành nhân danh Giáo Hội. Nhãn giới đức tin và thực tại bí tích của tác vụdiaconatus có thể giúp khám phá và khẳng định tính độc đáo của nó, không phải là trong tương quan với các chức năng, nhưng là với bản chất thần học và tính biểu tượng đại diện của nó.

KẾT LUẬN

Từ quan điểm về ý nghĩa thần học và vai trò trong Giáo Hội, tác vụ diaconatus đưa đến một thách đố cho ý thức và thực hành trong Giáo Hội, nhất là do những vấn nạn mà tác vụ này vẫn còn đặt ra ngày hôm nay. Về các diaconi, nhiều chứng tá của Truyền thống đã nhắc nhở rằng Chúa Giêsu đã chọn những cử chỉ phục vụ khiêm hạ để diễn tả và hiện tại hóa về thân phận người tôi tớ morphe doulou (Pl 2,7), mà Người đã đảm nhận nhắm đến sứ mạng cứu độ. Một cách cụ thể, tác vụ diaconatus được hình thành nhằm hỗ trợ cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài, những người tự xem mình như là những tôi tớ theo gương Đức Kitô. Tác vụ diaconatus được Công Đồng Vaticanô II tái lập như là một tác vụ cố định, là để đáp ứng đặc biệt các nhu cầu cụ thể (xem LG 29b) hoặc để trao ban ơn bí tích cho những ai đã thực hiện các chức năng của diaconus (AG số 16f). Nhưng công việc xác định những nhu cầu và chức năng này cách rõ ràng hơn trong các cộng đoàn Kitô hữu vẫn còn phải tiến hành, mặc dù đã có nhiều kinh nghiệm phong phú, sau Công Đồng, do các Giáo Hội địa phương đã đón nhận tác vụ diaconatus cố định trong sinh hoạt mục vụ của mình.

Trong ý thức hiện nay của Giáo Hội, chỉ có một bí tích Truyền Chức Thánh duy nhất. Lấy lại giáo huấn của Đức Piô XII,331 Công Đồng khẳng định sự duy nhất này và xem chức Giám mục, linh mục và diaconatus được bao gồm trong đó. Theo quyết định của Đức Phaolô VI, duy chỉ ba tác vụ có chức thánh này cấu thành hàng giáo sĩ.332 Tuy nhiên, liên quan đến diaconatus, Công Đồng chỉ nói cách thận trọng về “ân sủng bí tích”. Sau Công Đồng, Đức Phaolô VI333 và Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (số 1570) dạy rằng, do việc truyền chức, diaconus nhận được ấn tích của bí tích Truyền Chức Thánh. Giáo Luật số 1008 tuyên bố rằng ba tác vụ thánh được thi hành nhân danh Đức Kitô là Đầu (in persona Christi Capitis)334. Tiếp theo Lumen Gentium số 29, đã quy cho diaconus việc cử hành trọng thể bí tích Thánh Tẩy (xem SC số 68), Giáo Luật điều 861 khoản 1 xác nhận rằng mỗi người trong ba tác vụ thánh này đều là tác viên thông thường của bí tích ấy; Giáo Luật điều 129 nhìn nhận rằng tất cả những ai đã lãnh nhận chức thánh đểu hưởng quyền hành cai quản (potestas regiminis).335

Mặt khác, sự khác biệt giữa các tác vụ tư tế với tác vụ diaconus cũng được nhấn mạnh. Lời tuyên bố của Công Đồng rằng diaconus được truyền chức “không phải để làm tư tế, nhưng để phục vụ”, đã được tiếp nhận vào nhiều văn kiện khác nhau của Huấn quyền hậu Công Đồng. Rõ ràng hơn nữa, sách Giáo Lý Hội Thánh Công giáo số 1554 phân biệt trong cùng một sự truyền chức (ordinatio): cấp độ tham dự chức tư tế của Đức Kitô (gradus participationis ministerialis sacerdotii Christi) của chức Giám mục và linh mục; và cấp độ phục vụ(gradus servitii) của chức diaconatus. Thật vậy, do bản chất của cách thức tham dự vào một sứ mạng duy nhất của Đức Kitô, tác vụ diaconatus thực hiện sứ mạng này theo phương cách của một việc phục vụ trợ giúp. Đó là hình ảnh sống động của Đức Kitô, Tôi Tớ trong Giáo hội”(icona vivens Christi servi in Ecclesia), nhưng vẫn duy trì một ràng buộc cơ cấu với tác vụ tư tế để trợ giúp cho tác vụ này (xc. LG 41). Không phải bất cứ việc phục vụ nào cũng được quy cho diaconus trong Giáo Hội: việc phục vụ của diaconus thuộc về bí tích Truyền Chức Thánh, xét như một sự cộng tác chặt chẽ với Giám mục và các linh mục, trong việc hiện thực tác vụ duy nhất của sứ mạng Đức Kitô. Sách GLCG số 1554 trích lại lời thánh Inhaxiô thành Antiôkia: “Mọi người hãy kính trọng các diaconi như Đức Giêsu Kitô, cũng như kính trọng Giám mục là hình ảnh Chúa Cha, và các linh mục như thượng nghị viện của Thiên Chúa và như hội đồng các Tông Đồ. Bởi vì không có họ thì không thể nói đến Hội thánh.” 336

Liên quan đến việc truyền chức diaconatus cho phụ nữ, nên ghi nhận hai yếu tố quan trọng đã nổi bật từ những điều đã trình bày:

1. Các diaconissa được đề cập đến trong Truyền thống của Giáo Hội nguyên thủy – dựa theo nghi thức thiết lập và các chức năng được thi hành – thì không thể đồng hóa cách đơn thuần và thuần túy với các diaconi (nam giới).

2. Sự duy nhất của bí tích Truyền Chức Thánh,- trong sự phân biệt rõ ràng giữa một bên là các tác vụ của Giám mục và các linh mục với một bên là tác vụ của diaconus-, được nhấn mạnh nhiều bởi Truyền thống Giáo Hội, đặc biệt trong đạo lý của Công Đồng Vaticanô II và giáo huấn hậu công đồng của Huấn quyền.

Dưới ánh sáng của những yếu tố đã được nêu bật trong bài nghiên cứu thần học- lịch sử này, việc tuyên bố có thẩm quyền đối với vấn đề này thuộc về tác vụ biện phân mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong Giáo Hội của Người.

Ở bên trên tất cả các vấn đề nảy do tác vụ diaconatus, nên nhớ lại rằng sau Công Đồng Vaticanô II, sự hiện diện tích cực của tác vụ này trong đời sống Giáo Hội đã nảy sinh một ý thức sống động hơn về giá trị của việc phục vụ trong đời sống Kitô hữu, để nhớ lại mẫu gương của Đức Kitô.

229 Xc. AAS 59 (1967): 697-704; AAS 60 (1968): 369-73; AAS 64 (1973): 534-40; Codex Iuris Canonici (Città del Vaticano, 1983); Catechismus Catholicae Ecclesiae (Città del Vaticano, 1997).

230 Đây là trường hợp của hai văn kiện định hướng gần đây: Congregatio de Institutione Catholica / Congregatio pro Clericis, Ratio fundamentalis institutionis diaconorum permanentium và Directorium pro ministerio et vita diaconorum permanentium (Città del Vaticano, 1998). Theo Đức Hồng y Pio Laghi, tài liệu Ratio fundamentalis là một tài liệu "di ordine eminentemente pedagogico e non dottrinale" và, theo Đức Hồng y Dario Castrillon, tài liệu Directorium "intende presentare linee pratiche." L’Osservatore Romano, March 11, 1998, pp. 6-7.

231 "Christus, 'sedens ad dexteram Patris' et Spiritum Sanctum in Suum effundens corpus, quod est Ecclesia, iam operatur per sacramenta a Se instituta ad Suam gratiam communicandam.... Efficaciter gratiam efficiunt quam significant propter Christi actionem et per Spiritus Sancti virtutem", CCE n.1084.

232 "Sunt efficacia quia in eis Ipse Christus operatur: Ipse est qui baptizat, Ipse est qui in Suis agit sacramentis ut gratiam communicet quam sacramentum significat. ... Hie est sensus affirmationis Ecclesiae: sacramenta agunt ex opere operato ... , i.e., virtute salvifici operis Christi, semel pro semper adimpleti", CCE n.1127f.

233 Xc. CCE n. 1536: "Ordo est sacramentum per quod missio a Christo Ipsius Apostolis concredita exerceri pergit in Ecclesia usque ad finem temporum: est igitur ministerii apostolici sacramentum. Tres implicat gradus: Episcopatum, presbyteratum et diaconatum."

234 Đối với việc áp dụng cho các diaconus đoạn văn về việc rửa chân, xc. Didascalia 16, 13 (trans. E. Nau [Paris, 1912], 135f) và H. Wasserschleben, Die irische Canonensammlung (Leipzig, 1885), 26: "Diaconus [fuit] Christus, quando lavit pedes discipulorum": cf. K. Rahner - H. Vorgrimmler, Diaconia in Christo (Freiburg, 1962), 104. Gần đây, W. Kasper đề xuất cách nhìn trong việc rửa chân và trong những lời của Đức Giêsu ở Ga 13,15 "die Stiftung des Diaconats", "Der Diacon in ekklesiologischer Sicht angesichts der gegenwärtigen Herausforderungen in Kirche und Gesellschaft" in Diaconia 32/3-4 (1997): 22. Trong thực tế, tài liệu Didascalia 3, 13 trích dẫn toàn bộ đoạn văn ở Mc 10,43-45 liên quan đến các diaconi. Về phần mình, thánh Inhaxiô Antiochia cho rằng các diaconi được ủy thác với “việc phục vụ của Đức Giêsu Kitô” (Magn. 6, 1) và thánh Polycarpô hô hào họ để bước đi trong con đường chân lý của Đức Chúa, Đấng trở nên "diakonos" của tất cả mọi người (Phil. 5, 2).

235 Cuộc tranh luận của các nhà chú giải hiện nay về việc xem Cv 6,1-6 như nguồn gốc của tác vụ diaconatus bắt đầu từ các bản văn giáo phụ: Thánh Irenaeus (Tk. II), Adv. haer. 1, 26, 3; 3, 12, 10 xem việc truyền chức của “nhóm Bảy” như khởi đầu của tác vụ diaconatus; Thánh Gioan Kim Khẩu (khoảng năm 400), In Acta Apost. 14, 3 (PG 60, HSf.) không xem “nhóm Bảy” là các diaconi, mặc dù ngài giải thích nhiệm vụ của họ như một việc truyền chức và một sự chia sẻ trong sứ vụ tông đồ. Ý kiến thứ hai này được chấp nhận tại Công nghị Trullo (692), một công nghị có uy tín của một công đồng hoàn vũ đối với Giáo hội Chính thống; xc. Concilium Quinisextum, can. 16 (Mansi, 11:949; ed. Joannou, 1/1, 132-34).

236 Sự phân biệt thành ba cấp độ hay ba bậc xuất hiện rõ ràng trong giai đoạn hậu Tông đồ, có lẽ lần đầu tiên với tác phẩm Ad Trail. 3, 1 của thánh Ignaxiô Antiochia. Về vấn đề này, xc. E. Dassmann, Ämter und Dienste in der frühchristlichen Gemeinden (Bonn, 1994); E. Cattaneo, I ministeri della Chiesa antica: Testi patristici dei primi tre secoli (Milan, 1997).

237 "Sic ministerium ecclesiasticum divinitus institutum diversis ordinibus exercetur ab illis qui iam ab antiquo Episcopi, Presbyteri, Diaconi vocantur", LG 28a, tham chiếu về công đồng Trento, DS 1765 ("in Ecclesiae ordinatissima dispositione plures et diversi essent ministrorum ordines ... ab ipso Ecclesiae initio") và DS 1776 ("hierarchiam, divina ordinatione institutam, quae constat ex episcopis, presbyteris et ministris").

238 "Non tamquam merus ad sacerdotium gradus est existimandus, sed indelebile suo charactere ac praecipua sua gratia insignis ita locupletatur, ut qui ad ipsum vocentur, ii mysteriis Christi et Ecclesiae stabiliter inservire possint", Paul VI, Sacrum diaconatusAAS 59 (1967): 698. "Diaconi missionem et gratiam Christi, modo speciali, participant. Ordinis sacramentum eos signat sigillo ('charactere') quod nemo delere potest et quod eos configurat Christo qui factus est 'diaconus', id est, omnium minister", CCE 1570. "Prout gradus Ordinis sacri, diaconatus characterem imprimit et specificam gratiam sacramentalem communicat. Character diaconalis est signum configurativum-distinctivum animae modo indelebili impressum", Ratio fundamentalis, số 7. Theo mức độ mà điều1008 của Bộ giáo luật đề cập đến tác vụ diaconatus, có thể coi như khẳng định ấn tín không thể xóa nhòa của tác vụ này.

239 "Quoniam vero in sacramento ordinis, sicut et in baptismo et confirmatione, character imprimitur, qui nee deleri nee auferri potest: merito sancta Synodus damnat eorum sententiam, qui asserunt, Novi Testamenti sacerdotes temporariam tantummodo potestatem habere, et semel rite ordinatos iterum laicos effici posse, si verbi Dei ministerium non exerceant." Công đồng Trento, DS 1767.

240  Xx. St. Thomas Aq, In IV Sent, d. 7, q. 2 ad 1; STh III, q. 63, a. 3.

241 mặc dù không minh thị đề cập đạo lý về ‘ấn tích” đối với tác vụ diaconatus, nhưng văn kiện Directorium (số 21) tuyên bố: "Sacra Ordinatio, semel valide recepta, numquam evanescit. Amissio tamen status clericalis fit iuxta normas iure canonico statutas."

242 Văn kiện Directorium (số 28) nói về sự “khác nhau theo yếu tính” giữa tác vụ của diaconus ở bàn thờ và tác vụ của các thừa tác viên phụng vụ khác; tuy nhiên, tài liệu này đưa ra một tham chiếu không phải đến LG số10, nhưng đến LG số 29: "Constat eius diaconiam apud altare, quatenus a sacramento Ordinis effectam, essentialiter differre a quolibet ministerio liturgico, quod pastores committere possint christifidelibus non ordinatis. Ministerium liturgicum diaconi pariter differt ab ipso ministerio sacerdotali."

243 "Gratia sacramentali roborati", LG 29a; "(...) gratiam sacramentalem diaconatus", AG 16f.

244 "Missionis autem et gratiae supremi Sacerdotis peculiari modo participes sunt inferioris quoque ordinis ministri, imprimis Diaconi, qui mysteriis Christi et Ecclesiae servientes", LG 41d.

245 «Diaconatus permanens ... signum vel sacramentum ipsius Christi Domini, qui non venit ministrari, sed ministrare", Paul VI, Ad pascendumAAS 54 (1972): 536.

246 Tham chiếu đến LG số 41 and AG số 16, Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1570 viết: "Diaconi missionem et gratiam Christi, modo speciali, participant. Ordinis sacramentum eos signat sigillo ('charactere') quod nemo delere potest et quod eos configurat Christo qui factus est 'diaconus', id est, omnium minister." Trong khi đó, tài liệu Ratio (các số 5. 7) gắn kết sự họa hình với việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần và đồng hóa việc họa hình với Đức Kitô như là Tôi Tớ của mọi người: "Diaconatus confertur per peculiarem effusionem Spiritus (ordinatio), quae in recipientis persona specificam efficit configurationem cum Christo, Domino et Servo omnium ... is (diaconus) enim, prout unici ministerii ecclesiastici particeps, est in Ecclesia specificum signum sacramentale Christi servi... . Character diaconalis est signum configurativum-distinctivum animae modo indelebili impressum, quod sacro ordine auctos configurat Christo."

247 Tính bí tích của chức giám mục hàm ý rằng "Episcopi, eminenti ac adspectabili modo, ipsius Christi Magistri, Pastoris et Pontificis partes sustineant et in Eius persona agant", LG số21b; ở những chỗ khác, những công thức tương tự được sử dụng như: "Episcopi sententiam de fide et moribus nomine Christi prolatam", LG số25; "potestas qua, nomine Christi personaliter funguntur", LG số 27; "munus in ipsius nomine et potestate docendi, sanctificandi et regendi", AA số 2b; "oves suas in nomine Domini pascunt", CD lib.

248 Trong LG số 10b, liên quan đến sự khác biệt theo yếu tính giữa chức tư tế phổ quát của các tín hữu và chức tư tế thừa tác, Hiến chế nói về chức tư tế thừa tác như sau "potestate sacra qua gaudet, populum sacerdotalem efformat ac regit, sacrificium eucharisticum in persona Christi conficit illudque nomine totius populi Deo offert"; ngược lại , LG số 28a tuyên bố về các linh mục "suum vero munus sacrum maxime exercent in eucharistico cultu vel synaxi, qua in persona Christi agentes ... unicum sacrificium ... repraesentant"; tương tự PO 13b khẳng định rằng "praesertim in Sacrificio Missae, Presbyteri personam specialiter gerunt Christi."

249 Sự nối kết của cụm từ "in persona Christi" với quyền độc hữu của các tư tế để thánh hiến Thánh thể đã được nhấn mạnh trong các tài liệu hậu Công đồng: Thượng hội đồng năm 1971 tuyên bố rằng "solus sacerdos in persona Christi agere valet ad praesidendum et perficiendum sacrificale convivium", Ench. Vat. 4, 1166; lá thư của Bộ giáo lý Đức Tin, Sacerdotium ministeriale, 1983, nhấn mạnh rằng "munus tarn grave conficiendi mysterium eucharisticum adimplere valeant [episcopi et presbyteri] ... ut ipsi ... non communitatis mandato, sed agant in persona Christi", AAS 75 (1983): 1006; điều này cũng được nhắc lại trong Bộ giáo luật năm 1983: "Minister, qui in persona Christi sacramentum Eucharistiae conficere valet, est solus sacerdos valide ordinatus", điều 900, 1.

250 "Presbyteri, unctione Spiritus Sancti, speciali charactere signantur et sic Christo Sacerdoti configurantur, ita ut in persona Christi Capitis agere valeant", PO số 2c; lối diễn tả tương đương trong PO số 12a cũng theo đường hướng ấy: "omnis sacerdos, suo modo, ipsius Christi personam gerat". Toàn bộ tác vụ tư tế được gồm tóm trong những tham chiếu của sắc lệnh AG số 39a ("Presbyteri personam Christi gerunt ... in triplici sacro munere") và LG số 37a ("illos, qui ratione sacri sui muneris personam Christi gerunt"); trong SC số 33a, tác vụ tư tế được cụ thể hóa qua việc chủ sự buổi cử hành Thánh thể: "Immo, preces a sacerdote, qui coetui in persona Christi praeest, ... dicuntur". Những tài liệu hậu công đồng: Evangelii nuntiandi, Đức Phaolô VI áp dụng công thức này cho sứ vụ Tin Mừng hóa: "Cum Episcopis in ministerium evangelizationis consociantur ... ii qui per sacerdotalem ordinationem personam Christi gerunt", EN số 68, Ench. Vat. 5, 1683; Đức Gioan Phaolô II sử dụng nó khi đề cập đến sứ vụ đặc biệt của việc hòa giải trong bí tích Sám Hối: "Sacerdos, Paenitentiae minister ... agit 'in persona Christi'", Reconciliatio et Paenitentia (1984), số 29; theo Pastores dabo vobis (1992), linh mục thay mặt Đức Kitô là Đầu, Mục tử và Lang quân của Giáo Hội: "connectuntur cum 'consecratione', quae eorum propria est eosque ad Christum, Ecclesiae Caput et Pastorem configurat; vel cum 'missione' vel ministerio presbyterorum proprio, quod eos habiles efficit et instruit ut fiant 'Christi Sacerdotis aeterni viva instrumenta' et ad agendum provehit 'Ipsius Christi nomine et persona'", 20; "Presbyter, per sacramentalem hanc consecrationem, configuratur Christo Iesu quatenus Capiti et Pastori Ecclesiae", 21; "Sacerdos ergo advocatur ut sit imago vivens Iesu Christi, Ecclesiae sponsi: remanet ipse quidem semper communitatis pars ... , sed vi eiusdem configu-rationis ad Christum Caput et Pastorem, ipse presbyter positus est in eiusmodi relatione sponsali erga propriam communitatem", 22.

251 Bộ giáo luật 1983 áp dụng công thức này đến toàn bộ bí tích Truyền chức thành và do vậy, cũng áp dụng đến tác vụ diaconatus: "Sacramento ordinis ... consecrantur et deputantur ut, pro suo quisque gradu, in persona Christi Capitis munera docendi, sanctificandi et regendi adimplendi, Dei populum pascant. Ordines sunt episcopatus, presbyteratus et diaconatus", điều 1008-9. Một lần can thiệp của ĐTC Gioan Phaolo II dùng từ ngữ “in persona Christi” như áp dụng vào ý tưởng Tôi tớ, xc. chú thích số 255 dưới đây. Tài liệu Chỉ dẫn Directoriumphát hành năm 1998  thích công thức “nhân danh Đức Kitô” khi đề cập đến tác vụ Thánh Thể của diaconus ("nomine ipsius Christi, inservit ad Ecclesiam participem reddendam fructuum sacrificii sui", 28) và trong tương quan với công việc bác ái “the diaconia of charity” ("Vi sacramenti Ordinis diaconus ... munera pastoralia participat ... quae participatio, utpote per sacramentum peracta, efficit ut diaconi Populum Dei inserviant nomine Christi", 37).

252 "Ab Eo [Christo] Episcopi et presbyteri missionem et facultatem ('sacram potestatem') agendi in persona Christi Capitis accipiunt, diaconi vero vim populo Dei serviendi in 'diaconia' liturgiae, verbi et caritatis", CCE 875.

253 «per ordinationem recipitur capacitas agendi tamquam Christi legatus, Capitis Ecclesiae", CCE 1581; "sacramento ordinis, cuius munus est, nomine et in persona Christi Capitis, in communitate servire", CCE 1591; "In ecclesiali ministri ordinati servitio, Ipse Christus, Ecclesiae suae est praesens, quatenus Caput Sui corporis", CCE 1548.

254 "Per ministerium ordinatum, prasertim Episcoporum et presbyterorum, praesentia Christi, tamquam Capitis Ecclesiae, in communitate credentium, visibilis fit", CCE 1549.

255 Chẳng hạn,  Ratio fundamentalis nhấn mạnh đến việc họa hình của diaconus đồng thời với "cum Christo, Domino et Servo omnium" và xem đây như là "specificum signum sacramentale Christi Servi", số 5. Về phần mình, Đức Gioan Phaolô II, tuyên bố (16/3/1985): "II diacono nel suo grado personifica Cristo servo del Padre, partecipando alia triplice funzione del sacramento dell' Ordine", Insegnamenti 8/1, 649.

256 Bản văn tương tự của thánh Polycarpô, Ad Phil 5, 2 (ed. Funk, 1:300), mà Hiến chế LG 29a và Ratio (số 5) áp dụng cho các diaconi, xem Đức Kitô như Đức Chúa và người Tôi tớ (minister): "Misericordes, seduli, incedentes iuxta veritatem Domini, qui omnium minister factus est."

257 Liên quan các Giám mục, LG  (số 24°) tuyên bố: "Munus autem illud quod Dominus pastoribus populi sui commisit, verum est servitium quod in sacris Litteris 'diaconia' seu ministerium significanter nuncupatur (cf. Acts 1:17 and 25; 21:19; Rom 11:13; 1 Tim 1:12)."

258 xc. Pastores dabo vobis (số 21): "Christus est Ecclesiae Caput, sui scilicet Corporis. 'Caput' est eo quidem novo et sibi proprio modo, 'servum' scilicet significandi, prout ab Ipsius verbis evincitur (Mk 10:45).... Quod servitium seu 'ministerium' plenitudinem sui attigit per mortem in cruce acceptam, id est per totale sui donum, in humilitate at amore (Phil 2:7-8).... Auctoritas autem Christi Iesu Capitis eadem est ac Ipsius servitium, donum, totalis deditio, humilis atque dilectionis plena, erga Ecclesiam. Idque in perfecta erga Patrem oboedientia. Ille enim, unicus verusque est afflictus et dolens Domini Servus, idemque Sacerdos et Hostia seu Victima."

259 Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo(số 876) khẳng định: "Intrinsece coniuncta naturae sacramentali ministerii ecclesialis est eius indoles servitii. Ministri etenim, prorsus dependentes a Christo qui missionem praebet et auctoritatem, vere sunt 'servi Christi' ad imaginem Christi qui libere propter nos 'formam servi' (Phil 2:7) accepit. Quia verbum et gratia quorum sunt ministri, eorum non sunt, sed Christi qui ilia eis pro aliis concredidit, ipsi libere omnium fient servi."

260 "Iuvat enim viros, qui ministerio vere diaconali fungantur ... per impositionem manuum inde ab Apostolis traditam corroborari et altari arctius coniungi, ut ministerium suum per gratiam sacramentalem diaconatus efficacius expleant": AG 16f.

261 Công đồng Vaticanô II không sử dụng thuật ngữ "potestas iurisdictionis" (quyền tài phán) và chỉ trong PO 2b, Công đồng nói về quyền chức thánh "sacra ordinis potestas". Tuy nhiên, trong Nota explicativa (số 2), của Hiến chế LG, Công đồng khẳng định về việc thánh hiến giám mục giám mục: "In consecratione datur ontologica participatio sacrorum munerum, ut indubie constat ex Traditione, etiam liturgica. Consulto adhibetur vocabulum munerum, non vero potestatum, quia haec ultima vox de potestate ad actum expedita intelligi posset. Ut vero talis expedita potestas habeatur, accedere debet canonica seu iuridica determinatio per auctoritatem hierarchicam. Quae determinatio potestatis consistere potest in concessione particularis officii vel in assignatione subditorum, et datur iuxta normas a suprema auctoritate adprobatas. Huiusmodi ulterior norma ex natura rei requiritur, quia agitur de muneribus quae a pluribus subiectis, hierarchic e ex voluntate Christi cooperantibus, exerceri debent." Về những cách giải thích khác nhau về quyền hành thánh thiêng "potestas sacra", xc. P. Kramer, Dienst und Vollmacht in der Kirche: Eine rechtstheologische Untersuchung zur Sacra Potestas-Lehre des II. Vatikanischen Konzils (Trier, 1973), 38f.; A. Celeghin, Origine e natura della potestà sacra: Posizioni postconciliari (Brescia, 1987).

262 Bộ giáo luật (điều 966) phân biệt giữa « quyền chức thánh” (potestate ordinis) và “năng quyền để thi hành” (facultate eandem exercendi).

263"Docet autem Sancta Synodus episcopali consecratione plenitudinem conferri sacramenti Ordinis, quae nimirum et liturgica Ecclesiae consuetudine et voce Sanctorum Patrum summum sacerdotium, sacri ministerii summa nuncupatur", LG 21b. Bản Tường trình đạo lý hiểu thuật ngữ được sử dụng ở đây (plenitudo sacramenti) như là "totalitas omnis partes includens", AS 3/1, 238. LG 41b coi các giám mục như là "ad imaginem summi et aeterni Sacerdotis, Pastoris et Episcopi ... ad plenitudinem sacerdotii electi".

264 "Presbyteri, quamvis pontificatus apicem non habeant et in exercenda sua potestate ab Episcopis pendeant, cum eis tamen sacerdotali honore coniuncti sunt et vi sacramenti Ordinis, ad imaginem Christi, summi atque aeterni Sacerdotis ... consecrantur, ut very sacerdotes Novi Testamenti. Muneris unici Mediatoris Christi (cf. 1 Tim 2:5) participes in suo gradu ministerii.... Presbyteri, ordinis Episcopalis providi cooperatores eiusque adiutorium", LG 28.

265 xc. Nhiều trích dẫn trong L. Ott, Das Weihesakrament, HbDG 4/5 (Freiburg, 1969). Công đồng Trentô (xc. DS 1763-78) bàn đến bí tích truyền chức khởi đi tính duy nhất của nó, cũng như trường hợp của bí tích Thánh tẩy và Thêm sức (xc. DS 1767).

266 "Sic ministerium ecclesiasticum divinitus institutum diversis ordinibus exercetur ab illis qui iam ab antiquo Episcopi, Presbyteri, Diaconi vocantur": LG 28a.

267 xc. Thomas Aquinas, STh III, Supplementum q. 37, a. 2, responsio: "Distinctio ordinis est accipienda secundum relationem ad Eucharistiam. Quia potestas ordinis aut est ad consecrationem Eucharistiae ipsius, aut ad aliquod ministerium ordinandum ad hoc. Si primo modo, sic est ordo sacerdotum."

268 Xc. LG số 10b: "sacerdotium ministeriale seu hierarchicum"; Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo xếp đạo lý về tác vụ Giáo hội dưới tiêu đề "Hierarchica Ecclesiae constitutio" được đề cập trong các số 874-896.

269 "In gradu inferiori hierarchiae sistunt Diaconi", LG 29a. Với bãi bỏ các cấp bậc khác do Tự sắc Ministeria quaedam (1972), tác vụ diaconatus trong thực tế trở thành cấp bậc thấp nhất.

270 Directorium (số 8) nói minh nhiên về sự tham dự (participatio) vào sứ vụ của Giám mục: "Fundamentum obligationis consistit in ipsa participatione ministerii episcopalis, quae per sacramentum Ordinis et missionem canonicam confertur." Sau đó, số 11, cảnh báo việc có thể đánh mất "relatio directa et inmediata, quam quilibet diaconus cum proprio episcopo habere debet".

271 Xc. M. Andrieu, "La carrière ecclésiastique des papes et les documents liturgiques du Moyen-Âge", RevScRel 21 (1947): 90-120.

272 Về mối tương quan với các Giám Mục, Ratio fundamentalis (1998), số 8, nói đến sự « lệ thuộc » trong việc thi hành chức năng ; còn đối với các linh mục thì các văn kiện nói đến một « tương quan đặc biệt »: "Diaconi, cum ecclesiasticum ministerium in inferiore gradu participent, in sua potestate exercenda necessario ex Episcopis pendent prout plenitudinem sacramenti habentibus. Praeterea, necessitudinem peculiarem cum presbyteris ineunt, quippe in communione quorum ad populum Dei serviendum sunt vocati."

273  "[Diaconi] Populo Dei, in communione cum Episcopo eiusque presbyterio, inserviunt", LG 29a. Áp dụng các quyết nghị của Công đồng, Tự sắc Sacrum diaconatus, số 23, nhấn mạnh đến sự phục tùng quyền bính của giám mục và linh mục: "Quae omnia munera in perfecta cum episcopo eiusque presbyterio communione exsequenda sunt, videlicet sub auctoritate episcopi et presbyteri, qui eo loci fidelium curae praesunt." Tài liệu Caeremoniale Episcoporum ... , Typ. Pol. Vat. 1985, số 24, nói về các diaconi: "Spiritus Sancti dono roborati, Episcopo eiusque presbyterio adiumentum praestant in ministerio verbi, altaris et caritatis."

274 Các diaconi không thể làm thành viên của hội đồng linh mục; (xc. LG 28;  CD 27; PO 7; và CIC, điều 495, 1). Điều này được xác nhận bởi Directorium, số 42: "Nequeunt tamen esse membra consilii presbyteralis, quia ipsum exclusive presbyterium repraesentat."

275 Directorium năm 1998 (số 6) nhắc đến “tình huynh đệ bí tích” nối kết các diaconi, tầm quan trọng của mối dây đức ái, lời cầu nguyện, sự hiệp nhất và cộng tác, sự thíc hợp của các cuộc gặp gỡ nhau, nhưng không nói gì về khả năng để tạo thành một "ordo diaconorum" (hàng ngũ), và tài liệu cảnh giác những nguy cơ của não trạng nghiệp đoàn "corporativismus", trong quá khứ đã đưa đến sự tan rã của tác vụ diaconatus cố định: "Diaconi, vi ordinis accepti, fraternitate sacramentali inter se uniti sunt. ... Praestat ut diaconi, consentiente Episcopo et ipso Episcopo praesente aut eius delegato, statutis temporibus congregentur.... Ad Episcopum loci spectat inter diaconos in dioecesi operantes spiritum communionis alere, evitando ne ille 'corporativismus' efformetur, qui praeteritis saeculis tantopere ad diaconatum permanentem evanescendum influxit."

276 "Specifica vocatio diaconi permanentis stabilitatem in hoc ordine supponit. Fortuitus igitur transitus ad presbyteratum diaconorum permanentium, non uxoratorum vel viduorum, rarissima exceptio semper erit, quae admitti non poterit, nisi graves et speciales rationes id suadeant": Directorium, 5.

277 LG (số 29a) đưa ra một tham chiếu đến Constitutiones Ecclesiae Aegypciacae 3, 2 (ed. Funk, Didascalia 2, 103); Statuta Eccl. Ant. 37—41 (Mansi, 3:954) (nhưng thực ra được lấy từ Statuta Eccl. ant. 4 [Mansi, 3:951]). Bản văn của tài liệu Statuta 92 (4), CChr SL 148, 181, viết rằng: "Diaconus cum ordinatur, solus episcopus, qui eum benedicit, manum super caput illius ponat, quia non ad sacerdotium sed ad ministerium consecratur."

278 xc. Pontificalis Romano-Germanicum (950), vol. 1 (Citta del Vaticano, 1963), 24. Trong Pontificale Romanum hiện hành (ed. typ. 1968, 1989), người ta đọc thấy những lời như sau: "Sứ vụ của diaconus là trợ giúp cho Giám mục và các linh mục của ngài [episcopo eiusque presbyterio adiumentum] trong việc phục vụ lời, phục vụ bàn thờ và công việc bác ái" (lời ngỏ mở đầu của giám mục); diaconus được truyền hức nhằm phục vụ Giáo Hội [ad ministerium Ecclesiae]" và trợ giúp hàng tư tế [in adiutorium ordinis sacerdotalis]" (những câu hỏi của giam mục dành cho những người chuẩn bị tiến chức). Lời nguyện thánh hiến nhớ lại việc các Tông đồ đã “chọn bảy người nam để giúp họ trong việc phục vụ hằng ngày”. Nên ghi nhận là trong trường hợp truyền chức linh mục, câu hỏi được đặt ra là “con có muốn trở thành một linh mục, người cộng tác với các Giám mục trong hàng tư tế, để phục vụ và hướng dẫn dân Thiên Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần” không.

279 Phiên bản la tinh (L) viết: "In diacono ordinando solus episcopus imponat manus, propterea quia non in sacerdotio ordinatur, sed in ministerio episcopi, ut faciat ea quae ab ipso iubentur."Trad. Apost. (ed. B. Botte), SCh 11(2) (Paris, 1968), 58.

280 Lối giải thích mà Ủy ban Công đồng đưa ra cũng gây ra tranh cãi: "Verba desumuntur ex Statutis Eccl. Ant.... et significant diaconos non ad corpus et sanguinem Domini offerendum, sed ad servitium caritatis in Ecclesia ordinari", AS 3/8, 101.

281 "Et utique sacramentum nemo potest conficere, nisi sacerdos, qui rite fuerit ordinatus", Công đồng Lateranô IV (1215), DS 802; xc. Trad. Apost. 4.

282 "Forma sacerdotii talis est: 'Accipe potestatem offerendi sacrificium in Ecclesia pro vivis et mortuis' ", Công đồng Firenze (1439), DS 1326.

283 Công đồng Trentô (1563), DS số 1771; xc. tương tự trong DS số 1764: "Apostolis eorumque successoribus in sacerdotio potestatem traditam consecrandi, offerendi et ministrandi corpus et sanguinem eius, nee non et peccata dimittendi et retinendi."

284 "Distinctio ordinis est accipienda secundum relationem ad Eucharistiam. Quia potestas ordinis aut est ad consecrationem Eucharistiae ipsius, aut ad aliquod ministerium ordinandum ad hoc. Si primo modo, sic est ordo sacerdotum. Et ideo, cum ordinantur, accipiunt calicem cum vino et patenam cum pane, potestatem accipientes consecrandi corpus et sanguinem Christi" : St. Thomas,STh III, Suppl. q. 37, a. 2, resp.

285 "Episcopatus non est ordo, secundum quod ordo est quoddam sacramentum ... ordinatur omnis ordo ad eucharistiae sacramentum; unde, cum Episcopus non habeat potestatem superiorem sacerdote quantum ad hoc, non erit episcopatus ordo" :St. Thomas, In IV Sent, d. 24, q. 3, a. 2, sol. 2.

286 LG số11a. Tuyên bố về giá trị trung tâm của Thánh thể được lặp lại nhiều lần.. xc. PO 5b ("in Sanctissima ... Eucharistia totum bonum spirituale Ecclesiae continetur"), UR 15a ("celebrationem eucharisticam, fontem vitae ecclesiae et pignus futurae gloriae"), CD 30f ("ut celebratio Eucharistici Sacrificii centrum sit et culmen totius vitae communitatis christianae").

287 "Sacerdos quidem minister ialis, potestate sacra qua gaudet, populum sacerdotalem efformat ac regit, sacrificium eucharisticum in persona Christi conficit illudque nomine totius populi Dei offert": LG 10b.

288 Xc. SC 35d (tác viên có thẩm quyền, nghĩa là bao gồn các diaconi), LG 20c ("adiutoribus .. . diaconis"), LG 28a ("ministerium ecclesiasticum ... Diaconi"), LG 29a ("ad ministerium"), LG 41d ("ministri, imprimis Diaconi"), OE 17 ("institutum diaconatus"), CD 15a ("diaconi, qui ad ministerium ordinati"), DV 25a ("clericos omnes ... qui ut diaconi"), AG 15i ("munera . . . diaconorum"), AG16a, f ("salutis ministros in ordine ... Diaconorum ... ordo diaconatus").

289 "Doctrina catholica, in liturgia, Magisterio et constanti Ecclesiae explicita praxi, agnoscit duos gradus participationis ministerialis exsistere sacerdotii Christi: Episcopatum et presbyteratum. Diaconatus ad illos adiuvandos atque ad illis serviendum destinatur. Propterea verbum sacerdos designat, in usu hodierno, Episcopos et presbyteros, sed non diaconos. Tamen doctrina catholica docet gradus paiticipationis sacerdotalis (Episcopatum et presbyteratum) et gradum servitii (diaconatum) conferri, hos omnes tres, actii sacramentali qui 'ordinatio' appellatur, id est, sacramento Ordinis": CCE 1554. Văn kiện Ratio fundamentalis (số 4 và 5) cũng tránh áp dụng những từ ngữ “tư tế” cho các diaconi: "Ad eius [cuiusque ministri ordinati] plenam veritatem pertinet esse participatio specifica et repraesentatio ministerii Christi ... manuum impositio diaconum non est 'ad sacerdotium sed ad ministerium', id est non ad celebrationem eucharisticam sed ad servitium ... is [diaconus] enim, prout unici ministerii ecclesiastici particeps, est in Ecclesia specificum signum sacramentale Christi servi."

290 "Sacerdotium autem commune fidelium et sacerdotium ministeriale seu hierarchicum, licet essentia et non gradu tantum differant, ad invicem tamen ordinantur; unum enim et alterum suo peculiari modo de uno Christi sacerdotio participant": LG 10b.

291 "Missionis autem et gratiae supremi Sacerdotis peculiari modo participes sunt inferioris quoque ordinis ministri, imprimis Diaconi": LG 41d. Khi trưng dẫn đoạn này, CCE (1570) thay thế thuật ngữ "supremi Sacerdotis" bằng "Christi": "Diaconi missionem et gratiam Christi, modo speciali participant."

292 "Sacramento ordinis ex divina institutione inter christifideles quidam charactere indelebili quo signantur, constituuntur sacri ministri, qui nempe consecrantur et deputantur ut, pro suo quisque gradu, in persona Christi Capitis munera docendi, sanctificandi et regendi adimplentes, Dei populum pascant": điều 1008. "Ordines sunt episcopatus, presbyteratus et diaconatus": điều 1009. Bộ giáo luật năm 1983 sử dụng thuật ngữ "sacri ministri" để ám chỉ những tín hữu lãnh nhận việc truyền chức thánh. Một mặt, các thuật ngữ hơi mập mờ so với Công đồng Vaticanôô II, và không trích dẫn LG số29; mặt khác, mặc dù đã có việc giới hạn "pro suo gradu", nhưng lối diễn tả này đi xa hơn những bản văn chính thức của Công đồng Vaticanô II trong việc áp dụng quan niệm về "in persona Christi Capitis" cho tác vụ diaconatus.

293xc. Các dữ kiện trong chương VI.

294 xc., chẳng hạn Tertullianô, De exh. cast. 7, 5 (CCh SL 319, 94), nơi mà các Giám mục, linh mục và diaconi cấu thành "ordo sacerdotalis" hay "sacerdotium"; Lêo I, Ep. 12, 5; 14, 3f. (PL 54, 652, 672f.), các subdiaconi được thêm vào "ordo sacerdotalis"; Optatus of Milevis, Contra Parmen. I, 13 (SCh 412, 200), đối với ông này các diaconus tạo nên thành phần của hàng tư tế thứ ba ("Quid diaconos in tertio, quid presbyteros in secundo sacerdotio constitutos?"); cũng như thánh Hieronimo, Ep. 48, 21 (CSEL 54, 387): "Episcopi, presbyteri, diaconi aut virgines eliguntur aut vidui aut certe post sacerdotium in aeternum pudici."

295Xc. Công đồng Trentô, DS 1764.

296 Xc. Chú thích 279 trên đây.

297 CCE (số 1569), khi trích dẫn công thức của Traditio và LG 29, nhấn mạnh sự kiện là duy chỉ giám mục đặt tay trên diaconus lúc truyền chức như là dấu chỉ của mối dây ràng buộc với ngài: "Pro diacono ordinando, solus Episcopus manus imponit, ita significans diaconum in muneribus suae 'diaconiae' Episcopo speciatim annecti."

298 "Episcopos . .. qui munus ministerii sui, vario gradu, variis subiectis in Ecclesia legitime tradiderunt", LG 28.

299 "Gratia etenim sacramentali roborati, in diaconia liturgiae, verbi et caritatis Populo Dei, in communione cum Episcopo eiusque presbyterio, inserviunt", LG 29. The Directorium (22) speaks of assistance given to "bishops" and "priests": "Sic diaconus auxiliatur et inservit episcopis et presbyteris, qui semper praesunt liturgiae, praevigilant super doctrinam et moderantur Populum Dei."

300 “Trong bản văn cổ kính này, từ ‘ministerium’ được xác định như là ‘phục vụ Giám mục’; công đồng đặt điểm nhấn này trên việc phục vụ dân Thiên Chúa”,ĐGH Gioan Phaolô II, Insegnamenti 16/2, 1000.

301"Inter varia ilia ministeria quae inde a primis temporibus in Ecclesia exercentur, teste traditione, praecipuum locum tenet munus illorum qui, in episcopatum constituti, per successionem ab initio decurrentem, apostolici seminis traduces habent. ... Proinde docet Sacra Synodus Episcopos ex divina institutione in locum Apostolorum successisse, tamquam Ecclesiae pastores", LG 20; "Episcopi, utpote apostolorum successores, a Domino ... missionem accipiunt", LG 24a. Cũng theo nghĩa này, xc. DS 1768, 3061; CCE 1555.

302 "Christus, quern Pater sanctificavit et misit in mundum (Jn 10:36), consecrationis missionisque suae per Apostolos suos, eorum successores, videlicet Episcopos participes effecit, qui munus ministerii sui, vario gradu, variis subiectis in Ecclesia legitime tradiderunt. Sic ministerium ecclesiasticum divinitus institutum diversis ordinibus exercetur ab illis qui iam ab antiquo Episcopi, Presbyteri, Diaconi vocantur": LG 28a.

303 "Ordo est sacramentum per quod missio a Christo Ipsius Apostolis concredita exerceri pergit in Ecclesia usque ad finem temporum: est igitur ministerii apostolici sacramentum. Tres implicat gradus: Episcopatum, presbyteratum et diaconatum": CCE 1536.

304 Xc. Thuật ngữ "chức tư tế thừa tác hay phẩm trật" trong LG 10b.

305 "Apostolis eorumque successoribus a Christo collatum est munus in ipsius nomine et potestate docendi, sanctificandi et regendi" : AA 2b; cf. LG 19a.

306 "Munus autem illud quod Dominus pastoribus populi sui commisit, verum est servitium quod in sacris Litteris 'diakonia' seu ministerium significanter nuncupatur" : LG 24a.

307 Xc. Công đồng Trentô, DS 1764 ("Apostolis eorumque successoribus in sacerdotio potestatem traditam consecrandi"), DS 1771 ("sacerdotium visibile et externum"), DS 1765 ("tarn sancti sacerdotii ministerium ... ministrorum ordines, qui sacerdotio ex officio deservirent"), DS 1772 ("alios ordines, et maiores et minores, per quos velut per gradus quosdam in sacerdotium tendatur").

308 Xc. LG 29a.

309 Chẳng hạn, Đức Cha P. Yu Pin nghĩ rằng các diaconi cố định có thể thi hành một chức năng "pontis seu mediationis inter hierarchiam et christifideles", AS 2/2, 431; một cách tương tự, Ủy ban của Công Đồng đón nhận ý kiến là các diaconi đã kết hôn có thể tạo ra một thứ « cầu nối » (quasi pontem) giữa hàng giáo sĩ và dân chúng AS 3/1, 267.

310"Concilium denique Vaticanôum II optatis et precibus suffragatum est, ut Diaconatus permanens, ubi id animarum bono conduceret, instauretur veluti medius ordo inter superiores ecclesiasticae hierarchiae gradus et reliquum populum Dei, quasi interpres necessitatum ac votorum christianorum communitatum, instimulator famulatus seu diaconiae Ecclesiae apud locales Christianas communicates, signum vel sacramentum ipsius Christi Domini, qui non venit ministrari, sed ministrare." ĐGH Phaolô VI, Ad pascendum, p. 536.

311 "Per receptum diaconatum aliquis fit clericus et incardinatur Ecclesiae particulari vel Praelaturae personali pro cuius servitio promotus est" : CIC can. 266; xem thêm các cann. 1008-9, được lấy lại trong Directorium (1988), số 1: "Per impositionem manuum et consecrationis precem ipse minister sacer et hierarchiae membrum constituitur. Haec condition ipsius statum theologicum et iuridicum in Ecclesia determinat."

312 xc. Trad. Apost. 4, 8, 21, 24 (chức năng cầu nối giữa Giám mục và các Kitô hữu); STh III, q. 82, a. 3 ad 1 ("diaconi sunt inter sacerdotes et populum").

313 Bởi vậy, họ có thể kết hôn (điều 281,3), họ không buộc phải mặc y phục giáo sĩ (điều 284) hay không được giữ những chức vụ công trong lĩnh vực dân sự (điều 285,3) hoặc không được quản lý tài sản trần thế; họ có thể làm những công việc kinh doanh và thương mại (điều 286) và tham gia tích cực vào trong các đảng phái chính trị và các nghiệp đoàn (điều 287,2; xc. điều 288). Về vấn đề này, xin coi những giải thích rõ hơn trong tài liệuDirectorium số 7-14.

314 Chẳng hạn: khả năng thi hành quyền quản trị hay quyền tài phán do chức thánh (điều 129); đảm nhận giữ những chức vụ mà việc thi hành đòi quyền thánh chức hay quyền quản trị trong Giáo Hội (điều 274, 1) tuy họ không thể làm Tổng đại diện hay Đại diện Giám mục (điều 475); các diaconi có thể được đặt làm thẩm phán Giáo phận (điều 1421, l) và thậm chí là thẩm phán duy nhất (điều 1425, 4); họ cũng có thể ban cấp một vài sự miễn chuẩn (điều 89; 1079, 2), hay nhận năng quyền để chứng hôn (điều 1111,1); họ là những thừa tác viên thông thường của bí tích Thánh Tẩy (điều 861, 1), và trao Mình Thánh (điều 910, 1) và tác viên thông thường trưng bày Mình Thánh (điều 943); họ có thể giảng khắp nơi (điều 764) và bài giảng lễ được dành riêng cho họ như dành riêng cho các linh mục (điều 767, 1).

315 Xc. Zukunft aus der Kraft des Konzils: Die ausserordentliche Bischofssynode 1985Die Dokumente mit einem Kommentar von W. Kasper (Freiburg, 1986); W. Kasper, Kirche als Communio, in Theologie und Kirche (Mainz, 1987), 272-289.

316 "In diaconia liturgiae, verbi et caritatis Populo Dei .. . inserviunt ... fidelium cultui et orationi praesidere ... caritatis et administrationis officiis dediti", LG 29a. Ủy ban Công đồng làm sáng tỏ điều này như sau: "Indicantur officia diaconorum in primis modo generali, brevi sed gravi sententia, in triplici campo, scilicet 'in diaconia liturgiae, verbi et caritatis': quod deinde magis specificatur per 'caritatis et administrationis officia'", AS 3/1, 260. Điểm nhấn đến chiều kích bác ái cũng được Ủy ban giải thích chung quanh công thức "non ad sacerdotium, sed ad ministerium": "significant diaconos non ad corpus et sanguinem Domini offerentes, sed ad servitium caritatis in Ecclesia ordinari", AS 3/8, 101.

317 "Iuvat enim viros, qui ministerio vere diaconali fungantur, vel verbum divinum tamquam catechistae praedicantes, vel nomine parochi et episcopi dissitas communitates Christianas moderantes, vel caritatem exercentes in operibus socialibus seu caritativis, per impositionem manuum inde ab Apostolis traditam corroborari et altari arctius coniungi, ut ministerium suum per gratiam sacramentalem diaconatus efficacius expleant": AG 16f.

318 "Ubi sacerdos deest, Ecclesiae nomine matrimoniis celebrandis assistere et benedicere ex delegatione episcopi vel parochi ... funeris ac sepulturae ritibus praeesse … praesidere, ubi sacerdos non adest ... caritatis et administrationis officiis atque socialis subsidii operibus, Hierarchiae nomine, perfungi ... apostolica laicorum opera fovere et adiuvare": Sacrum diaconatus, 22 (AAS 59,1967,701s.).

319 Về các công tác được ủy thác cho họ và các vấn nạn phát sinh bởi điều 517, 2, xc. chương IV trên đây, các chú thích số 162-63.

320 Khi đề cập đến các diaconi, Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo chỉ nói đơn giản: "Ad diaconos pertinet, inter alia, Episcopo et presbyteris in mysteriorum divinorum celebratione assistere, maxime Eucharistiae, eamque distribuere, Matrimonio assistere idque benedicere, Evangelium proclamare et praedicare, exsequiis praesidere atque se diversis caritatis consecrare servitiis": CCE số 1570. Khi minh thị bàn đến tác vụ diaconatus cố địnhqua việc trích dẫn AG số16, Sách GLCG tái xác nhận rằng thật là thích hợp và hữu dụng để ban bí tích truyền chức cho "viros qui in Ecclesia ministerium vere diaconale explent sive in vita liturgica et pastorali sive in operibus socialibus et caritativis": CCE số 1571.

321 "Ad munus docendi ... quidem elucet ex libri Evangelii traditione, in ipso ordinationis ritu praescripta. Diaconi munus sanctificandi impletur ... quo pacto apparet quomodo ministerium diaconale ex Eucharistia procedat ad eandemque redeat, nee in mero servitio sociali exhauriri possit. Munus regendi denique exercetur per deditionem operibus caritatis ... peculiari habito ad caritatem, quae praeeminentem diaconalis ministerii notam constituit": Ratio, 9.

322 «Diaconi proprium officium est Evangelium proclamare et Verbum Dei praedicare ... quae facultas oritur e sacramento.... Ministerio Episcopi et, subordinate, ministerio presbyterorum, diaconus praestat auxilium sacramentale, ac proinde intrinsecum, organicum, a confusione alienum.... Opera caritatis, dioecesana vel paroecialia, quae sunt inter primaria officia Episcopi et presbyterorum, ab his transmittuntur, secundum testimonium Traditionis Ecclesiae, servis ministerii ecclesiastici, hoc est diaconis": Directorium, 24, 28, 37.

323 Chẳng hạn: "Itaque Diaconatus in Ecclesia mirabiliter effloruit simulque insigne praebuit testimonium amoris erga Christum ac fratres in caritatis operibus exsequendis, in ritibus sacris celebrandis atque in pastoralibus perfungendis muneribus." ĐGH Phaulô VI, Ad pascendum, p. 535.

324 Xc. Các chú thích 249, 281, 282 trên đây.

325 Xc. Chú thích 283 trên đây.

326 LG 21b ghi nhận cách ngắn gọn rằng: "Episcoporum est per Sacramentum Ordinis novos electos in corpus episcopale assumere."

327 Chẳng hạn: "Minister ordinarius sacrae communionis est Episcopus, presbyter et diaconus. Extraordinarius sacrae communionis minister est acolythus necnon alius christifidelis ad normam can. 230, 3 deputatus": CIC, can. 910.

328"Confirmationis minister ordinarius est Episcopus; valide hoc sacramentum confert presbyter quoque hac facultate vi iuris communis aut peculiaris concessionis competentis auctoritatis instructus": CIC, can. 882.

329 LG (26c) xem các Giám mục là "dispensatores sacrorum ordinum", trong khi Bộ giáo luật CIC điều 1012 tuyên bố rằng "sacrae ordinationis minister est Episcopus consecratus"; xc. tương tự tại DS 1326 và 1777. Tuy nhiên, vấn nạn được nêu lên bởi một vài văn kiện Giáo hoàng dường như ban cho một linh mục năng quyền để ban tác vụ diaconatus (cf. DS 1435) và thậm chí đến chức linh mục (cf. DS 1145, 1146, 1290) xem ra không được giải quyết về mặt đạo lý.

330 Ratio fundamentalis (số 9) tuyên bố: "Ministerium diaconale distinctum est exercitio trium munerum, ministerio ordinato propriorum, in specifica luce diaconiae."

331Constitutio apostolica Sacramentum ordinis, art. 4-5 (DS 3857-3861). Về việc đặt tay và lời nguyện thánh hiến xc., ĐGH Grêgoriô IX, Ep. Presbyter et diaconus ad episc. Olaf de Lund (DS 826; cf. 1326).

332 Ministeria quaedamAAS 64 (1972) 531.

333 Sacrum diaconatus, AAS 59 (1967) 698.

334 Ủy ban thần học quốc tế đã được thông báo rằng đang có dự án duyệt lại điều luật này nhằm phân biệt các tác vụ tư tế với các tác vụ diaconalis. (Chú thích của người dịch: do tự sắc Omnium in mente, ngày 20/6/2009, ĐTC Bênêđictô XVI đã sửa lại hai điều 1008 và 1009. Cách riêng điều 1009 có thêm một khoản 3 như sau: “ Những ai được đặt vào chức giám mục và linh mục thì lãnh nhận sứ vụ và năng quyền hành động trong cương vị Chúa Kitô – in persona Christi – Thủ lãnh; những ai được đặt vào chức diaconus lãnh nhận sức mạnh để phục vụ Dân Chúa qua tác vụ Phụng vụ, Lời Chúa và Bác ái”).

335 Xc P. Erdö, "Der ständige Diakon: Theologisch-systematische und rechtliche Erwägungen", in AKathKR 166 (1997): 79-80.

336 T. Inhaxiô Antiokia, Ad Trall 3, 1; SCh 10 bis, 96.

 

http://www.catechesis.net

Tin khác cùng loại
BÀI MỚI
Ngày 12/11: Thánh Giô-sa-phát - Giám mục, tử đạo (khoảng 1580-1623)
ĐGH tiếp kiến Ủy ban Tòa Thánh về các Đại hội Thánh Thể quốc tế
Suy Niệm Chúa Nhật XXXII TN Năm B
CN XXXI - TN B: ĐẦU TƯ VÀO NƯỚC TRỜI (ĐỨC TGM GIUSE NGÔ QUANG KIỆT)
Ý cầu nguyện tháng 11 của Đức Thánh Cha: Cầu cho người di cư và tị nạn
CÁC BÀI SUY NIỆM LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 12
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 11
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 09
Video: Giáo Hội Năm Châu 29/10/2018:
Thư các nghị phụ gởi giới trẻ
Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật XXX TN B
Dấu Ấn Tình Yêu Vol 10
Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 29 TN B & Khánh Nhật Truyền Giáo
Ngày 18/10: Thánh sử Luca, tác giả sách Tin Mừng thứ ba
Ngày 17/10: Thánh Inhaxiô thành Antiokia, giám mục tử đạo
ĐGH tôn phong 7 vị chân phước lên bậc Hiển Thánh
TIỂU SỬ 7 VỊ CHÂN PHƯỚC ĐƯỢC TUYÊN THÁNH NGÀY CHÚA NHẬT 14/10/2018
Các Bài Suy niệm Chúa Nhật 28 Thường Niên – B
Lễ Tạ ơn Bế mạc Năm Thánh 100 năm Xitô: LỊCH SỬ LÒNG THƯƠNG XÓT (ĐỨC TGM GIUSE NGÔ QUANG KIỆT)
ĐTC Phanxicô: Tình yêu trao tặng hỗ tương giúp vợ chồng trung thành trong hôn nhân
Lễ Đức Mẹ Mân Côi
Thánh lễ truyền chức Linh mục ngày 05/10/2018
Trực Tiếp Thánh Lễ Truyền Chức Linh Mục
Thư Mục vụ của HĐGMVN sau Hội nghị thường niên kỳ II/2018
ĐỨC GIÁO HOÀNG Công bố Tông Hiến mới về Thượng Hội Đồng Giám Mục
ĐTC Phanxicô: Cái mới của Tin mừng là biến đổi toàn thể con người chúng ta
ĐGH Phanxicô tiếp kiến 150 nữ Đan Sĩ dòng Biển Đức
CHÚA NHẬT XXIII TN - B: HÃY MỞ RA (Đức TGM GIUSE NGÔ QUANG KIỆT)
Đức Thánh Cha: Hãy lên án chính mình, đừng lên án người khác
Đức Mẹ sinh ngày nào?
Chúa Nhật 22 Thường Niên B - Canh tân tâm hồn – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Suy niệm Chúa Nhật 22 Thường Niên B– ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
Tượng Đức Mẹ Fatima được rước đến ĐHGT ở Panama vào tháng 01/2019
ĐTC Phanxicô: Đừng sống tương quan giả dối với Thiên Chúa
Đôi dòng cảm nghiệm về Thánh Lễ Tiên khấn của mười anh em trong cộng đoàn
Thánh Lễ Tiên Khấn Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Thiên Phước 10-08-2018
Đâu là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành
Ngưng lễ để giải tội được không?
Sự thật thú vị: theo giáo luật, mặt trăng cũng có một Giám Mục
Bạn biết gì về 4 sinh vật đại diện cho 4 Tác Giả Tin Mừng?
ĐTC phê chuẩn sửa lại Sách Giáo Lý: loại bỏ án tử hình
Ý nghĩa thiêng liêng và tôn giáo của Tấm Khăn liệm thành Turin
Linh mục có được phong thánh và gia vạ tuyệt thông cho ai không?



ĐAN VIỆN XITÔ THÁNH MẪU THIÊN PHƯỚC
140/10 Trần Phú, Bãi Dâu, Phường 5, TP. Vũng Tàu
Tel: 0254.3832165 - Email: vanphongdvxtthienphuoc@gmail.com
Nhà Khách: 01684130157 || Nhà SX: 0909416264