LIÊN KẾT
Suy niệm Tam Nhật Vượt Qua với các phụ nữ trong Tân Ước - Bài 6

Cập nhật ngày: 03/04/2018

Bài 6Đêm Vọng Phục Sinh

Những phụ nữ tuyên xưng đức tin

Chiều hôm qua chúng ta đã suy gẫm những phụ nữ đi theo Chúa Giêsu ngay từ khi bắt đầu sứ vụ. Họ đã đi theo Người cho đến cùng, nghĩa là cho đến lúc Chúa chịu chết trên thập giá và được mai táng. Chúng ta cũng đã lưu ý đến lối trình bày “liên hoàn” của các tác giả Tin mừng, nghĩa là các phụ nữ là những chứng nhân của cuộc tử nạn – an táng – và phục sinh của Chúa. Chúng ta sẽ trở lại đề tài này trong Thánh lễ ngày mai đặc biệt với bà Maria Magdala; còn đêm nay chúng ta chú ý các phụ nữ đã tuyên xưng đức tin. Lát nữa đây, chúng ta cũng sẽ tuyên xưng đức tin qua việc lặp lại những lời hứa khi lãnh bí tích Thánh Tẩy. Việc loan báo Tin mừng giả thiết niềm thâm tín gắn bó với Chúa Cứu thế: “Tôi đã tin cho nên tôi mới nói”. Chúng ta sẽ dừng lại cách riêng nơi ba nhân vật được kể lại trong Tin mừng thứ bốn, đó là: người phụ nữ Samaria, bà Marta, và bà Maria Bêtania.

I. Phụ nữ Samaria

Khi đọc Tin mừng thứ bốn, chúng ta nhận thấy khung cảnh của nó khác với Tin mừng nhất lãm. Thánh Gioan ít khi trình bày Chúa Giêsu xuất hiện giữa đám đông; Ngài thích những cuộc tiếp xúc cá nhân, để đối thoại. Điều này được nhận thấy ngay từ những chương đầu của tác phẩm: cuộc đối thoại với thân mẫu ở tiệc cưới Cana, với ông Nicôđêmô, với bà Samaria. Khung cảnh đối thoại giúp đi sâu vào nhiều điểm then chốt của đức tin. Trong cuộc đối thoại với bà Samaria, xem ra chủ đề quan trọng có liên quan đến đức tin là “Nước”: Đức Giêsu là Nước ban sự sống. Đó cũng là lối nhìn của Phụng vụ khi tuyên đọc bài này vào Chúa nhật thứ ba Mùa Chay (Năm A); hai Chúa nhật tiếp theo sẽ khai triển đề tái “Ánh Sáng” và “Sự sống lại”. Còn nhiều lối tiếp cận khác nữa, chẳng hạn như về sự thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật, một đề tài mà Chúa Giêsu muốn giải thích cho bà. Chúng ta chỉ muốn chú trọng đến cách thức Chúa nói chuyện với một người phụ nữ, ngoại đạo, ngoại tình. Đây là một sự xé rào quan trọng đối với xã hội thời đó, nhưng với kết quả là chị ta trở nên người sứ giả đầu tiên loan báo Tin mừng.

Để nắm bắt ý nghĩa của câu chuyện, chúng ta cần hiểu bối cảnh văn hóa xã hội đương thời, cách riêng là hoàn cảnh của nhân vật chính. Thứ nhất, các bà không được phép tiếp xúc riêng tư với nam giới. Khi khách đến nhà, các bà phải rút lui vào phòng riêng hoặc xuống bếp; còn bà này lại gặp gỡ một người đàn ông bên bờ giếng, là nơi hẹn hò của tình nhân. Thứ hai, người Do thái và người Samari là thù địch với nhau, về chính trị cũng như về tôn giáo (x. Lc 9,51; Ga 8,48). Hai bên không tiếp xúc với nhau. Người Galilê cố gắng tránh đi ngang qua xứ Samaria mỗi khi phải lên Giêrusalem (x. Mt 10,5). Cần phải biết bối cảnh đó thì mới hiểu được sự táo bạo của Chúa Giêsu khi ca ngợi người Samari nhân hậu cứu giúp một người lâm nạn (Lc 10,33), hoặc khi ghi nhận rằng chỉ có người Samari trong số 10 người được chữa khỏi bệnh phong trở lại tạ ơn Chúa (Lc 17,16). Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là Chúa gặp gỡ người phụ nữ này đang khi các môn đệ đi kiếm lương thực, và khi trở về thì họ ngạc nhiên không phải vì Chúa nói chuyện với một người Samari nhưng vì Chúa nói chuyện với một phụ nữ (câu 27). Ngoài ra, qua câu chuyện, chúng ta biết rằng bà này đã sống với năm người đàn ông mà không phải là chồng của bà. Có lẽ đây là mộtcách nói bóng nói gió để cho thấy rằng bà còn tệ hơn những người ngoại tình nữa!

Bất chấp những thành kiến ấy, Chúa Giêsu đã đối thoại với chị, không phải là chuyện thời sự (thời tiết nóng lạnh, giá cả hàng hóa) hoặc chuyện sức khỏe cá nhân, nhưng là câu chuyện thần học về đức tin. Đôi bên trân trọng lẫn nhau, và dám đề cập những câu chuyện hóc búa về tôn giáo; nhìn dưới viễn cảnh của thánh Gioan, đó là bàn luận về tiến trình của đức tin. Đức tin là một tiến trình, trải qua nhiều chặng. Chúa Giêsu khởi đầu từ một câu chuyện thực tế khi ngồi bên bờ giếng nước, tức là nước uống, rồi bước sang câu chuyện thờ phượng Thiên Chúa, để rồi đi đến thần học về Đấng Mesia. Một sợi chỉ liên kết tất cả các đề tài ấy với nhau là “ân huệ Thiên Chúa”, được gợi lên ngay từ lúc mở đầu: “Giả như chị nhận ra ân huệ của Thiên Chúa” (câu 10). Ân huệ ấy chính là ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến cho những ai biết đón nhận.

Chúa Giêsu không ngần ngại đàm đạo với người phụ nữ về những đề tài ấy, nghĩa là Người đã vượt lên trên thành kiến đương thời về phụ nữ. Đối lại, người phụ nữ nhận thấy mình được kính trọng, vì thế không ngần ngại gì bộc lộ hết tâm can, kể cả đời tư của mình. Chị sẵn sàng đặt mình trong tư thế học hỏi, tìm hiểu sự thật. Và chị đã được nghe sự thật: sự thật về tình trạng rối ren của mình, và sự thật về tình yêu Chúa dành cho chị.

Điều thú vị là hồi kết của câu chuyện. Chị ta đã đi vào làng kể lại cho đồng bào của mình rằng Đấng Mêsia đã tỏ mình cho chị. Và thánh Gioan ghi nhận rằng “nhiều người đã tin vào lời chị nói”. Chị trở thành người loan báo Tin mừng tiên khởi của Kitô giáo. Hôm nay là lễ Phục sinh, chúng ta vẫn nghĩ rằng bà Maria Magđala là người đầu tiên rao giảng Tin mừng, nhưng kỳ thực trước đó khá lâu, người phụ nữ Samaria đã đi loan báo Tin mừng về Đức Giêsu là Mêsia; hơn thế nữa, lời giảng của chị đã mang lại kết quả, vì có nhiều người tin theo lời của chị (câu 39.42).

II. Lời tuyên xưng của bà Marta

Mỗi lần nghe nói đến Marta, chúng ta liền liên tưởng đến câu chuyện hai người chị em đón tiếp Chúa tại nhà; và bà ta đã bị Chúa trách vì quá xao xuyến. Nhưng đó là trình thuật theo thánh Luca mà chúng ta đã suy gẫm trong Thánh lễ chiều thứ Năm. Tác giả của Tin mừng thứ bốn, ở chương 11, trình bày cho chúng ta một bức chân dung khác về bà Marta, khi kể lại chuyện ông Ladaro được Chúa cho sống lại.

Ngay từ những câu đầu tiên, tác giả đã giới thiệu khung cảnh, đó là các bà chị sai người đến thông tin cho Chúa biết là ông Ladaro “bạn của Chúa” đang bị bệnh (câu 3). Vài dòng kế tiếp, tác giả bình luận thêm rằng Chúa yêu thương ông cũng như các bà chị của ông (câu 5). Như vậy, câu chuyện xảy ra trong một cộng đoàn tình yêu. Chúng ta có thể hiểu từ ngữ này theo nghĩa tự nhiên (bạn hữu) hay theo nghĩa siêu nhiên cũng được (Chúa Giêsu gọi tất cả các môn đệ là bạn hữu, bởi vì Người đã mặc khải Chúa Cha cho họ: Ga 15,13-15). Điều quan trọng là cần có đức tin mới có thể nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Thiên Chúa tỏ lộ tình yêu bằng những đường lối không như chúng ta quan niệm, bởi vì (như mọi người điều biết), tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ qua thập giá của Đức Kitô, chứ không phải qua sự xuất hiện của một vị Mêsia oai hùng.

Bà Marta cũng cần phải trải qua một cuộc thanh luyện đức tin như vậy. Lúc đầu, bà nhắn tin cho Chúa là người bạn đang bệnh, và mong Chúa đến gấp để chữa. Ai ngờ, Chúa để cho người bạn chết rồi Ngài mới đến. Vinh quang của Chúa biểu lộ qua một tình thế xem ra vô phương cứu chữa dưới cái nhìn tự nhiên.

Bà đã có lý khi trách Chúa đến quá muộn: “Giả như Thầy ở đây thì chắc là em con không chết” (câu 21). Bà chưa hình dung được làm thế nào một người chết có thể sống lại đươc trước ngày tận thế (câu 22). Chính trong hoàn cảnh bi đát đó mà Chúa mới mặc khải một chân lý đức tin cho bà biết: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (câu 25-26). Bà Marta được mời gọi hãy chuyển từ lòng tin vào Chúa Giêsu dựa trên tình cảm bạn hữu tự nhiên, và kể cả theo lòng tin của đạo Do thái, để bước sang đức tin của mặc khải mới: tin vào Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Chúa hỏi bà: “Con có tin như vậy không?”

Bà đã đạt được hồng ân ấy, khi thốt lên lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, con tìn rằng Ngài là Đấng Mêsia, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (câu 27). Đây cũng là lời tuyên xưng của ông Simon Phêrô, được ghi lại trong Tin mừng nhất lãm: “Thầy là Đấng Mêsia (Kitô), Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16; x.Mc 8,29; Lc 19,20). Sau lời tuyên xưng ấy, Chúa Giêsu đã nói với ông rằng đây là một ân huệ mặc khải, chứ không phải suy tư tự nhiên đâu (Mt 16,17). Dĩ nhiên, ta cũng phải nói như vậy về bà Marta. Có điều là chúng ta thường chỉ trưng dẫn lời tuyên xưng của ông Phêrô, chứ không mấy khi nghĩ đến bà Marta, bởi vì chúng ta bị ám ảnh bởi chân dung của một phụ nữ chy lăn xăn trong bếp.

III. Bà Maria và hương thơm Tin mừng

Như vừa nói, mỗi lần nghe đến bà Marta, chúng ta vội nghĩ đến cảnh hai chị em đón tiếp Chúa Giêsu vào nhà: một bà ngồi nghe lời Chúa, một bà bận rộn với việc cơm nước. Tuy nhiên, đó là bức tranh của Luca (10,38-42). Sang đến Tin mừng Gioan thì ta có bức chân dung khác. Khi kể lại việc ông Ladaro được Chúa cho sống lại, bà Marta được giới thiệu như là một kẻ tuyên xưng đức tin. Bà Maria cũng xuất hiện trong chương 11, nhưng không có gì nổi bật: bà chỉ khóc và trách Chúa Giêsu đã đến muộn (câu 32); thế rồi không hiểu tại sao mà Chúa cũng khóc theo bà (câu 34). Nhưng bước sang đầu chương 12 (câu 1-8), thì bà Maria trở thành nhân vật chính của một hành động mang tính ngôn sứ, đó là xức dầu để báo trước cái chết và sự phục sinh của Chúa. Câu chuyện một phụ nữ xức dầu thơm lên đầu Chúa ở Bêtania cũng được thuật lại trong Matthêu (26,6-13) và Marco (14,3-9), tuy hai tác giả này không nêu rõ danh tánh. Nên biết là trong quá khứ, việc xức dầu này được đồng hóa với việc xức dầu của người phụ nữ tội lỗi được Luca nói đến ở chương bảy (7,36-50), vì thế bà ấy cũng được đồng hóa với người chị em của Marta và Ladaro, về sau sẽ đi truyền giáo ở Marseille và miền Nam nước Pháp.

Theo Tin mừng Gioan, hôm ấy Chúa Giêsu đến nhà bà Marta và dự tiệc, và lần này, nhiều người khác cũng hiện diện, trong số đó có ông Ladaro. Đang bữa ăn, bà Maria bước vào, mang một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá để xức chân cho Chúa và lấy tóc mình mà lau. Bà chẳng nói lời nào hết. Tại sao bà làm như vậy? Có thể đoán được là để tỏ lòng biết ơn Chúa vì đã cho em mình đã được hồi sinh. Nhưng Chúa lại hiểu cách khác, và giải thích cho những người hiện diện để bênh vực hành động của cô trước sự chỉ trích của ông Giuđa Iscariot. Ông nói: "Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo ?"… Chúa Giêsu trả lời : "Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu."

Có lẽ lúc đầu câu nói của Chúa chỉ muốn ca ngợi tình yêu không tính toán, không vị lợi của bà Maria, nhằm trả lời cho lời tố cáo phung phí. Nhưng bên cạnh đó, Chúa còn muốn gán cho nó một ý nghĩa tiên tri: sự xức dầu này tiên báo việc ngài sẽ chịu chết và mai táng. Việc xức dầu trên tử thi thuộc về nghi thức tẩm liệm theo phong tục Do thái.

Có nhà chú giải nêu bật một chi tiết khá thú vị. Thánh Gioan thuật lại rằng khi bà Maria xức chân cho Chúa Giêsu thì “cả nhà sực mùi thơm” (Ga 12,3). Trong chương trước (Ga 11,39), bà Marta nói rằng thân xác Ladaro trong mồ đã nặng mùi (hiểu là mùi thối); còn bây giờ, dầu thơm chạm đến thân xác Chúa Giêsu tỏa ra hương thơm: phải chăng đó cũng là một lối nói tiên tri về việc Chúa Giêsu chiến thắng sự chết, chiến thắng sự hủy diệt của thân xác trong mồ, như sẽ nói trong bài giảng của thánh Phêrô trong sách Tông đồ công vụ (Cv 2,24.27.31)?

Sau cùng, có lẽ cử chỉ của bà Maria còn mang thêm một ý nghĩa khác nữa: đó là bà trở thành dấu chỉ của cuộc đời hy sinh của Chúa Giêsu. Sang đến chương 13, thánh Gioan thuật lại việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, như là bài học về yêu thương và phục vụ trong cộng đoàn (Ga 13,14). Phải chăng bà Maria đã đi bước trước? Hơn thế nữa, cả cuộc đời của Chúa là một sự hy sinh vô vị lợi, không tính toán. Cử chỉ của bà Maria đã chẳng muốn nói lên điều đó sao?

Kết luận

Chúng ta đã học hỏi ba mẫu gương tuyên xưng đức tin và loan báo Tin mừng dựa theo thánh Gioan. Người phụ nữ Samaria đã mang Tin mừng cho dân ngoại ngay cả trước khi Chúa sống lại: đó là một cử chỉ ngôn sứ. Bà Marta đã tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu như là Mêsia, là Con Thiên Chúa; bà đã đi từ một tình cảm bạn hữu tự nhiên lên đến đức tin theo mặc khải Tân ước. Bà Maria Bêtania đã thực hiện một hành động ngôn sứ: bà làm chứng nhân cho cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô không bằng lời nói nhưng bằng hành vi trao hiến vô vị lợi. Cầu xin cho tất cả chúng ta cũng noi gương ấy, nhờ ánh sáng Chúa Phục sinh và trong sức mạnh của Thánh Linh tình yêu.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 

http://www.catechesis.net

Tin khác cùng loại
1 , 2 , 3 , 4
BÀI MỚI

ĐAN VIỆN XITÔ THÁNH MẪU THIÊN PHƯỚC
140/10 Trần Phú, Bãi Dâu, Phường 5, TP. Vũng Tàu
Tel: 0254.3832165 - Email: vanphongdvxtthienphuoc@gmail.com
Nhà Khách: 01684130157 || Nhà SX: 0909416264