CON TRONG HỌ CHA TRONG CON

16/01/2019

 

Gioan Baptist Nguyễn Tiến Dũng O.Cist

Trong một giờ chầu Thánh Thể dịp đầu Năm Mới Đinh Dậu 2017, tôi thật sự bị đánh động bởi câu Lời Chúa được khắc chạm cách cẩn thận và sắc nét trên gian Cung Thánh Nguyện Đường Nhà Cha của Đan Viện Thánh Mẫu Phước Sơn. Chắc chắn đây không phải là lần đầu tiên gặp thấy câu Lời Chúa ấy, nhưng lần này bản văn Lời Chúa được ‘thếp vàng’ cách trang trọng đó đã gợi lên trong tôi một suy nghĩ sâu sắc và mời gọi tôi đọc lại cách chăm chú hơn trong tâm tình cầu nguyện. Bản văn Lời Chúa được trích trong Tin Mừng Thứ Tư đó là: “Con trong chúng, Cha trong Con để chúng hoàn toàn nên một” (Ga 17,23). 
Tuy nhiên, phải nói ngay rằng sự đánh động trong tâm hồn và lời mời gọi tính hiếu kỳ của tôi lúc này không chỉ đến từ những nét nghệ thuật trang trí hay kỹ năng khắc chạm trên gian cung thánh, nhưng đúng hơn nó đến từ chính nội dung sứ điệp mà câu Lời Chúa ấy muốn thông đạt: sứ điệp của một sự hiệp thông đa chiều, thâm sâu và trọn vẹn giữa Chúa Cha với Đức Giêsu, giữa Đức Giêsu với các môn đệ của Ngài. Sứ điệp hiệp thông từ câu Lời Chúa trên đây càng trở nên thiết thực và ý nghĩa hơn khi được đặt trong bầu khí chung của toàn thể Hội Dòng đang cùng nhau cầu nguyện, suy tư, học hỏi về Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, trong dịp chuẩn bị mừng Bách Chu Niên ngày Dòng Đức Bà Annam [1] (tiền thân của Hội Dòng Xitô Thánh Gia) được chính thức khai sinh trên Núi Phước, tỉnh Quảng Trị, thuộc Giáo Phận Huế. 
Quả thật, khi đọc lại cuốn Tin Mừng Thứ Tư trong tâm tình cầu nguyện, tôi đã rất ngạc nhiên và thích thú về những khái niệm, những hình ảnh, những dụ ngôn,… được thánh sử Gioan lặp đi lặp lại nhiều lần khi mô tả mối tương quan hiệp thông mang tính tất yếu và trọn vẹn giữa Đức Giêsu với Chúa Cha và giữa Đức Giêsu với các môn đệ của Ngài. Nhiều lần trong Tin Mừng Thứ Tư, với những kiểu nói mang tính biểu tượng cao đã được thánh sử Gioan sử dụng cách rất tinh tế để diễn tả mối tương quan thâm sâu giữa Đức Giêsu với Chúa Cha. Đó là mối tương quan hiệp thông trọn vẹn cả trong bản thể lẫn trong hành động: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,11); “Chúa Cha ở trong Thầy và Thầy ở trong Chúa Cha” (Ga 14,9-11); “Cha Ta hằng làm việc thì Ta cũng hằng làm việc luôn” (Ga 5,17), “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho” (Ga 15,1). Tương quan giữa Đức Giêsu với các môn đệ cũng được Tin Mừng Thứ Tư trình bày cách rõ ràng qua các hình ảnh đơn sơ và dễ hiểu được rút ra từ kinh nghiệm trong đời sống thường nhật của người dân Palestina đương thời, nhưng ý nghĩa của chúng thì thật là phong phú và sâu sắc: Hình ảnh ‘cây nho – cành nho’ (x. Ga 15,1tt) và hình ảnh ‘chủ chiên – đàn chiên’ (x. Ga 10,1tt). Ngoài ra, thánh sử Gioan còn cho thấy nét độc đáo của Tin Mừng Thứ Tư khi xác định tương quan hiệp thông giữa Đức Giêsu với các môn đệ là[2] mối tương quan ‘Thầy Trò’ và mối tương quan ‘Bạn Hữu’. 
Tất cả những khái niệm và hình ảnh đó đã nói lên bản chất sâu xa của một mối tương quan hiệp thông trọn vẹn giữa Đức Giêsu với Chúa Cha và giữa Đức Giêsu với các môn đệ: một mối tương quan hiệp thông đến mức ‘ở trong’ và ‘nên một’ với nhau. Cũng chính vì thế, trong một bối cảnh trầm lắng và thánh thiêng hơn mà chúng ta quen gọi là ‘Lời Nguyện Hiến Tế’, Đức Giêsu đã bày tỏ thao thức nồng cháy của Ngài là lo sao cho các môn đệ nhận thức rõ và được ở lại mãi trong sự hiệp thông với Ngài và với Chúa Cha. Ngài cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta … Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (17,21-23).

I – TƯƠNG QUAN HIỆP THÔNG GIỮA ĐỨC GIÊSU VỚI CHÚA CHA

Tương quan giữa Đức Giêsu và Chúa Cha được thánh Gioan trình bày trong Tin Mừng qua hình ảnh Ba Ngôi và trong tương quan Cha – Con. Đó là những mối tương quan hiệp thông hai chiều, sâu sắc và trọn vẹn.

1. Tương quan hiệp thông bản thể

Tương quan hiệp thông trong mầu nhiệm Ba Ngôi là mối tương quan ‘Đồng Bản Thể’. Chữ ‘đồng’ ở đây muốn nói lên một sự ngang bằng về bản tính giữa Đức Giêsu và Chúa Cha (và Chúa Thánh Thần) trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Trong mầu nhiệm này, tuy là Ba Ngôi Vị riêng biệt nhưng có cùng một bản tính Thiên Chúa[3] . Thật vậy, trong Lời Tựa của Tin Mừng Thứ Tư, thánh Gioan khẳng định: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Qua lời khẳng định này, chữ ‘đồng’ còn muốn diễn tả một sự ngang bằng trong hành động sáng tạo và quan phòng: “Thế gian đã nhờ Người mà có và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,10).
Trong cuộc đối thoại với tông đồ Philipphê, khi ông này năn nỉ Đức Giêsu, xin cho được thấy Chúa Cha: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”. Đức Giêsu đã trả lời với vị Tông Đồ này rằng: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không, thì hãy tin vì chính các việc kia vậy” (Ga 14,8-11). Qua câu trả lời này, Đức Giêsu như muốn hoàn toàn đồng hóa Ngài với Chúa Cha: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy. Vì vậy, ai thấy Thầy thì cũng là thấy Chúa Cha; tuy hai mà một (hai ngôi vị nhưng chỉ với một bản thể duy nhất)!
Như vậy, lời khẳng định trên đây giúp chúng ta thấy được rằng Đức Giêsu và Thiên Chúa Cha là một: một trong bản thể, trong ý hướng, trong hành động. Chính Đức Giêsu luôn ý thức về nguồn gốc, bản tính và cùng đích của Ngài: “Đức Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa” (Ga 13,3).

2- Tương quan hiệp thông Cha và Con

Ngoài tương quan ‘đồng bản thể’, trong những lần giáo huấn cho các môn đệ, Đức Giêsu còn cho thấy tương quan giữa Ngài và Thiên Chúa là mối tương quan Cha – Con. Thật vậy, tương quan Cha – Con giữa Chúa Cha và Đức Giêsu không dừng lại ở trật tự hay cấp bậc xã hội…, nhưng là một sự hiệp thông Ngôi Vị ở mức độ cao nhất. Từ ngữ ‘ở trong’ không ngừng được lặp đi lặp lại để nói lên thực tại này: “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11). Nói cách khác, tương quan theo cách thức ‘ở trong’ giữa Chúa Cha và Đức Giêsu không chỉ là một cách nói hay chỉ tồn tại trong ý tưởng, nhưng đây là sự hòa hợp và hòa quyện thật sự và trọn vẹn giữa hai Ngôi Vị: Ngôi Vị Cha và Ngôi Vị Con.
Trong một ngữ cảnh khác, Đức Giêsu còn mạc khải cho thấy tương quan Cha – Con giữa Ngài với Chúa Cha, khi Ngài cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12,27-28). Trong những lời hứa cuối cùng với các môn đệ trước khi bước vào cuộc thương khó, Ngài còn nói thêm: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12,26). Nhiều lần Đức Giêsu đồng hóa với Chúa Cha: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ anh em biết Người và đã thấy Người” (Ga 14,7).
Khi những người Do Thái hỏi Đức Giêsu: “Cha ông ở đâu?”, Ngài thẳng thắn trả lời cho họ rằng: “Các ông không biết tôi, cũng chẳng biết Cha tôi. Nếu các ông biết tôi, thì hẳn cũng biết Cha tôi” (Ga 8,19). Qua câu trả lời này, rõ ràng là Đức Giêsu đã muốn khẳng định tương quan hiệp thông giữa Ngài với Chúa Cha là mối tương quan của Cha – Con; một tương quan thân tình, gần gũi và cùng có một nguồn gốc, một sự sống.

3- Tương quan hiệp thông trong sứ vụ

Trong bài giảng Chống Lạc Giáo Ario vào thời của ngài, thánh Irênê đã trình bày rất chi tiết tương quan giữa Đức Giêsu và Chúa Cha là mối tương quan giữa người được sai đi thi hành sứ vụ (Đức Giêsu) và người sai đi (Chúa Cha)[4] . Thật vậy, trong chương mười hai của Tin Mừng Thứ Tư, Đức Giêsu đã thú nhận rằng: “Không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh[5] cho tôi phải nói gì” (Ga 12,49). Như thế, chúng ta có thể nói rằng, Đức Giêsu là ‘phát ngôn viên’ của Thiên Chúa Cha. Ở câu tiếp theo, Đức Giêsu còn cho biết mục đích và nội dung của việc sai đi mà Ngài đã đón nhận từ Chúa Cha là gì, khi nói: “Tôi biết: mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi” (Ga 12,50). 
Trong chương mười bốn của Tin Mừng Thứ Tư, Đức Giêsu khẳng định một lần nữa mục đích sứ vụ của Ngài rằng: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Đó chính là mục đích mà Thiên Chúa Cha đã nhắm tới khi sáng tạo con người. Thiên Chúa sáng tạo con người để con người tiếp tục cộng tác vào công trình sáng tạo và thông hiệp trong sự sống với Ba Ngôi (x. St 1,24-30). Đức Giêsu còn xác quyết: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34). Nói cách khác, Đức Giêsu là người ‘hiện thực hóa ý muốn’ của Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai phái Ngài đến thế gian.
Đức Giêsu còn cho thấy Chúa Cha là mẫu gương, là động lực và là điểm qui chiếu cho công việc của Ngài. Trong một cuộc đối thoại với những người Do Thái đang tra vấn Ngài, Đức Giêsu nói với họ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông: Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì Người Con cũng làm như vậy” (Ga 5,19). Có thể nói rằng những việc Đức Giêsu làm là vì Ngài đã thấy Chúa Cha từng làm trước rồi: “Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17). Đức Giêsu là người ‘họa lại hình ảnh trung thực’ của Thiên Chúa Cha, Đấng luôn hành động (x. Dt 1,3).

II – TƯƠNG QUAN HIỆP THÔNG GIỮA ĐỨC GIÊSU VÀ CÁC MÔN ĐỆ

Đề cập tới tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ, thánh sử Gioan đã sử dụng hai hình ảnh đơn sơ dễ hiểu trong đời sống thường nhật của người dân Palestina đương thời, nhưng ý nghĩa của chúng thì thật là sâu sắc: Hình ảnh ‘cây nho – cành nho’ và hình ảnh ‘chủ chiên – đàn chiên’. Ngoài ra, Thánh Sử còn nói đến tương quan ‘Thầy Trò’ và tương quan ‘Bạn Hữu’ giữa Đức Giêsu với các môn đệ.

1 – Hiệp thông giữa cây nho và cành nho

Khi mô tả tương quan giữa Đức Giêsu với các môn đệ, tác giả Tin Mừng Thứ Tư đặc biệt nhấn mạnh đến một dạng thức tương quan hiệp thông mang tính tất yếu và sống còn. Theo thánh sử Gioan, điều kiện tiên quyết và thiết yếu để trở thành môn đệ của Đức Giêsu là phải gặp gỡ và lưu lại với Ngài như các môn đệ đầu tiên: “Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy” (Ga 1,39). Kiểu nói ‘lưu lại’ hay ‘ở lại’ với Đức Giêsu trong Tin Mừng Thứ Tư, diễn tả một đời sống gắn kết thâm sâu mang tính sống còn như Ngài vốn ở trong Chúa Cha và kết hợp trọn vẹn với Chúa Cha: “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11).
Thật vậy, hình ảnh cây nho và cành nho được tác giả sử dụng như một minh chứng cụ thể và sống động cho mối tương quan hiệp thông thiết yếu và trọn vẹn giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Chính Đức Giêsu là cây nho đích thực, Cha Ngài là người trồng nho, các môn đệ là những cành nho cần phải thường xuyên kết nối với cây nho để sống và sinh nhiều hoa trái. Qua hình ảnh này, Đức Giêsu đã giải thích cho các môn đệ hiểu thế nào là kết hợp với Ngài và bằng cách nào sự sống nơi Ngài chuyển lưu qua họ, để giúp cho họ sinh hoa kết trái. 
Nhờ kết hợp với Đức Giêsu như cành nho kết hợp với cây nho, người môn đệ được tham dự vào chính bản tính và sự sống của Ngài, nhờ đó, họ cũng sẽ được hiệp thông sâu xa với Chúa Cha. Người nào lưu lại trong Đức Giêsu thì Ngài cũng sẽ lưu lại trong người ấy và người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái[6] . Sau đó, Ngài kết luận: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em sẽ không làm gì được” (Ga 15,5). 
Ngoài ra, Tin Mừng theo Gioan còn cho thấy mối tương quan lệ thuộc giữa cành nho với cây nho được củng cố thêm bằng tương quan giữa một thụ tạo và Đấng Tạo Thành. Trong lời tựa, thánh sử Gioan đã xác định: “Thế gian đã nhờ Người mà có” (Ga 1,10). Chữ ‘thế gian’ trong Tin Mừng Thứ Tư bao gồm tất cả vạn vật và con người. Nói cách khác, tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ cũng là tương quan giữa ‘Đấng Tạo Hóa và thụ tạo’; giữa Vị Thiên Chúa vô biên, quyền năng… và con người hữu hạn, thấp hèn. Không gắn kết với cây nho, cành nho sẽ khô héo; không gắn kết với Đức Giêsu, người môn đệ sẽ lụi tàn và trở thành vô dụng.

2- Hiệp thông giữa chủ chăn và đàn chiên

Cũng một cách thức như trên (cây nho và cành nho), hình ảnh chủ chăn và đàn chiên được Đức Giêsu sử dụng, trước hết, để ám chỉ tương quan giữa Ngài với các môn đệ, và sau đó, là tương quan giữa Ngài với mọi kitô hữu. Ngài quả quyết: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,14-15). 
Tuy nhiên, dù là tương quan với các môn đệ hay tương quan với tất cả mọi Kitô hữu, hình ảnh chủ chăn và đàn chiên được nói tới trong Tin Mừng Thứ Tư đều chú tâm đặc biệt đến mối tương quan hiệp thông giữa Đức Giêsu với từng cá nhân. Người Mục Tử biết chiên của mình từng con một, gọi tên từng con một, chăm sóc và bảo vệ chiên từng con một để đưa chúng vào cùng một đàn chiên và một chủ chăn; để dẫn chúng đến đồng cỏ xanh tươi, đến dòng suối mát trong. Về phần chiên thì sao? Mỗi con chiên cũng sẽ chỉ nghe tiếng chủ chăn, nhận ra tiếng chủ chăn, đi theo chủ chăn và đón nhận sự chăm sóc bảo vệ của vị chủ chăn của mình mà thôi, chứ không nghe và cũng không theo người lạ. Nhờ vậy, chiên sẽ được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,3-15). 
Động từ “biết” được thánh Gioan dùng ở đây mang một ý nghĩa đặc biệt. Mục Tử biết chiên không chỉ là cái biết của trí năng nhằm thu thập thêm những kiến thức sinh học trong cơ thể chiên, cũng không chỉ là biết đặc tính của chiên. Mục Tử biết chiên với cả trí lòng, bao hàm một sự nhận thức của cả con người[7] . Hơn nữa, cái biết trong Tin Mừng Thứ Tư còn bao hàm một sự hiệp thông đích thực và trọn vẹn giữa hai hữu thể, hai ngôi vị; bao hàm cả tương quan hòa hợp thể lý và tâm hồn[8] . Như vậy, việc chủ chăn biết chiên của mình và gọi tên từng con một và phần chiên thì nghe tiếng của chủ chăn, nhận ra tiếng chủ chăn và đi theo chủ, không đi theo người lạ là một sự hiểu biết toàn diện giữa hai thực thể, hai ngôi vị: ngôi vị Giêsu và ngôi vị môn đệ. Nói cách khác, đây là một sự hiệp thông sâu xa, một sự thông chia cùng một sự sống. 
Tương tự như thế, trường hợp của Nathanael được Đức Giêsu biết trước khi Philípphê gọi, lúc ông đang ngồi dưới cây vả, đã biến ông thành một con người hoàn toàn mới [9] . Nghĩa là chính cái biết của Đức Giêsu đã làm cho cái biết của Nathanael về bản thân ông và về Đức Giêsu nên hoàn hảo. Nhờ vậy, ông thốt lên: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ísraen!” (Ga 1,49); khác hẳn cái biết trước đó của ông về Đức Giêsu: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1,46).

3 – Tương quan hiệp thông giữa Thầy và trò

Tương quan “Thầy – trò” giữa Đức Giêsu và các môn đệ cũng là mối tương quan đặc biệt có ý nghĩa trong Tin Mừng Thứ Tư. Đức Giêsu đã không ngừng xác nhận nhiều lần tương quan “Thầy – trò” giữa Ngài với các môn đệ trong các bài giáo huấn cho các ông. Thật vậy, khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu đã xác nhận: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa” (Ga 13,13). 
Tuy nhiên, tương quan “Thầy – trò” ở đây không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ (thầy) và tiếp thu (môn đệ) một số kiến thức nhằm ‘nâng cấp’ hay để ‘cải thiện’ cuộc sống thể chất hay tinh thần của người môn đệ mà thôi. Trái lại, Thầy Giêsu đã vạch cho những ai đến học với Ngài một con đường sống, một cùng đích phải đạt tới, một phương cách duy nhất để đạt được cuộc sống mới trong Chúa Cha. Ngài quả quyết: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Ngoài ra, Thầy Giêsu còn thông truyền cho môn đệ một khả năng phi thường để thực thi công việc của Chúa Cha, như Ngài đã thực hiện: “Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (Ga 14,12).
Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng tương quan “Thầy – trò” giữa Đức Giêsu và các môn đệ là mối tương quan mở. Nghĩa là mối tương quan này không chỉ giới hạn cho những môn đệ của Đức Giêsu khi Ngài còn tại thế, nhưng nó còn được mở rộng cho mọi người, mọi nơi và mọi thời miễn là họ lắng nghe và tuân giữ Lời của Ngài, bước đi trên con đường Ngài đã đi và luôn gắn kết với Ngài như Ngài vẫn luôn gắn kết với Chúa Cha.

4 – Tương quan hiệp thông bạn hữu

Kinh Thánh Cựu Ước có ghi lại một vài mẫu gương rất đáng khâm phục về sự chân thật, lòng trung thành và quảng đại trong tình bạn của một số nhân vật trong Dân Chúa. Thật vậy, câu chuyện về những người bạn của ông Gióp đáng được trân trọng và thán phục. Khi nghe tin Gióp gặp tai họa, họ đã từ xa kéo đến chia buồn và an ủi ông. Khi nhìn thấy thân hình tiều tụy của Gióp, những người bạn này đã bật khóc; họ xé áo mình ra và rắc tro lên đầu. Họ ngồi xuống im lặng bên cạnh ông suốt bảy ngày đêm. Chính trong sự thinh lặng này, họ đã bày tỏ một sự liên đới hiệp thông tình bạn sâu sắc với ông Gióp. Đối với họ, sự hiện diện bên cạnh bạn hiền đáng giá hơn ngàn vạn lời nói (x. G 2,13tt).
Câu chuyện giữa vua Đavit và Gionathan cũng cho thấy giá trị của một tình bạn chân thành là thế nào. Đavit là người có nhiều bạn vì ông luôn sống chân tình và tử tế với những ai tiếp xúc với ông. Tuy nhiên, tình bạn giữa ông với Gionathan, con trai của vua Saul là đáng kể hơn cả. Mặc cho những mối đe dọa đến từ vua cha là Saul, Gionathan vẫn một lòng trung thành với Đavit. Ông tìm cách che chở và bảo vệ cho Đavit; đồng thời ông tạo điều kiện để Đavit được lên ngôi vua. Về phần mình, Đavit cũng một mực trung thành với bạn. Khi Gionathan chết, Đavit đã rất thương tiếc, ông khóc rằng: “Gionathan, anh hỡi, lòng tôi se lại vì anh! Tôi thương anh biết mấy! Tình anh đối với tôi thật diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ” (1Sm 2,1). 
Trong Tin Mừng Thứ Tư, tình bạn giữa Đức Giêsu và các môn đệ đã đạt tới một tầm mức mới, một gương mặt mới và hoàn hảo hơn rất nhiều. Bởi vì trong Tin Mừng Thứ Tư, tình bạn đích thực luôn phải có khởi điểm, động lực và cùng đích từ biến cố Nhập Thể của Con Thiên Chúa làm người: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Qua biến cố này, Thiên Chúa đã đến như một người bạn để đồng hành, thấu hiểu, chia sẻ thân phận và cuộc sống của con người cách toàn diện và trong mọi cung bậc của cuộc sống trần thế như một người bạn tâm giao đích thực, nhằm giải thoát và nâng họ lên một tầm mức mới: tầm mức con Thiên Chúa[10] .
Câu chuyện về tình bạn giữa Đức Giêsu với Matta, Maria và Ladaro cũng có những nét riêng, qua cách các Ngài đối xử thân tình và thẳng thắn với nhau: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (Ga 11,33). Trước tình cảnh đó, Đức Giêsu cũng đã khóc thương Ladaro, khiến mọi người chứng kiến đều phải thừa nhận: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!” (Ga 11,37). Quả thật vì thương bạn Ladaro, Đức Giêsu đã làm phép lạ để cứu bạn mình sống lại.
Cao điểm của tình bạn chỉ được tìm thấy trong chương 15 của Tin Mừng Gioan, khi Đức Giêsu quả quyết: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15,12-15). Đức Giêsu luôn là người chủ động đi bước trước trong việc kết bạn với các môn đệ, bởi vì Ngài ý thức giá trị và tầm quan trọng của tình bạn trong cuộc sống nhân sinh nói chung và trong việc thi hành sứ vụ tông đồ nói riêng: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 14,15).
“Hy sinh tính mạng vì bạn hữu” là việc Đức Giêsu đã làm để thanh tẩy con người và để chứng tỏ cho con người thấy rằng mối tương quan hiệp thông bạn hữu giữa Thiên Chúa và con người thật sâu đậm và mang tính cá nhân riêng tư [11] . Qua đó, Ngài cũng xác định một tiêu chí cho một tương quan hiệp thông tình bạn hoàn hảo. 
Để có được một tình bạn tốt lành và trung tín, chúng ta phải nuôi dưỡng mối liên hệ đó bằng sự chân thực, trung thành và tình yêu thương cách vô điều kiện và bền bỉ, biết chăm sóc và hy sinh cho nhau. Đó là thứ tình yêu như Đức Giêsu đã dạy và đã thực hành: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,12). Nói cách khác, tình yêu theo ‘phong cách Giêsu’ là tình yêu yêu vô vị lợi, yêu cả kẻ thù và yêu cho đến cùng.

5 – Tương quan hiệp thông sứ vụ

Tương quan hiệp thông sứ vụ giữa Đức Giêsu và các môn đệ là sự tiếp nối công việc mà Ngài đã nhận từ Thiên Chúa Cha, được thể hiện quan ba khía cạnh: nguồn gốc sứ vụ, nội dung sứ vụ và mục đích của sứ vụ ấy.

a. Nguồn gốc sứ vụ

Chính Đức Giêsu đã khẳng định một cách chắc chắn và rõ ràng rằng sứ vụ mà Ngài đã lãnh nhận từ Chúa Cha, thì bây giờ Ngài cũng trao lại cho các môn đệ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Chưa dừng lại ở đó, Đức Giêsu còn cho thấy rõ hơn tính duy nhất của sứ vụ này, khi khẳng định rằng: Ngài chỉ nói, chỉ dạy những gì do Chúa Cha truyền lệnh (x. Ga 12,49); Đức Giêsu nói với các môn đệ đúng như Ngài đã nghe Chúa Cha nói với Ngài (x. Ga 12,50). 
Nơi khác, Đức Giêsu còn cho thấy Chúa Cha là mẫu gương và cũng là đối tượng của công việc của Ngài: “Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17). Có lần, Ngài nói thêm: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34). Trong chương 17 thánh sử Gioan còn viết: “Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17,18).

b. Nội dung sứ vụ

Trước khi về trời, trong lúc trao sứ vụ cho Phêrô như là người đại diện cho tất cả các môn đệ khác, Đức Giêsu đã chất vấn vị Tông Đồ Trưởng một điều duy nhất, Ngài nói: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?”. Phêrô đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Thế rồi, Đức Giêsu trao sứ vụ cho Phêrô: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy” (Ga 21,15). 
Điều này cho thấy rõ rằng để có thể thi hành sứ vụ được trao, Đức Giêsu đòi Phêrô có một điều kiện, một điều kiện duy nhất: “Yêu mến Thầy”. Có lẽ chúng ta sẽ thắc mắc: tại sao Đức Giêsu không đòi Phêrô phải yêu mến chiên (anh em)? Câu trả lời thật đơn giản: ai yêu mến Thầy thì đương nhiên cũng sẽ yêu mến chiên (anh em, chi thể, cành nho) của Thầy. Đàng khác trong Thư Thứ Nhất, thánh Gioan đã khẳng định: “Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa. Ai nói rằng mình ở lại trong Người, thì phải đi trên con đường Đức Giêsu đã đi” (1Ga 2,4-6). Điều răn mới mà Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ không gì khác hơn là: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
‘Yêu như Thầy đã yêu’ có nghĩa là yêu cho đến cùng: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 15,12); ‘Yêu như Thầy đã yêu’ cũng có nghĩa là hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13); ‘Yêu như Thầy đã yêu’ còn có nghĩa là không loại trừ một ai và yêu cả kẻ thù: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6,27-28). 
Như thế, nếu nội dung của sứ điệp Tin Mừng mà người môn đệ có sứ mệnh loan báo là tình yêu, thì chính họ cũng phải là chuyên viên, là người đã cảm nhận và đang sống nhờ bởi tình yêu ấy[12] . Nói cách khác, yêu thương cũng chính là điều kiện tất yếu mà người môn đệ Đức Giêsu cần phải có để hiệp thông với Ngài và để chu toàn sứ vụ của Ngài trao phó: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

c. Mục đích sứ vụ

Như đã đề cập trong phần thứ nhất rằng mục đích của sứ vụ Đức Giêsu được Cha sai đến thế gian là để làm cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Thì ở đây chúng ta vẫn phải quả quyết rằng mục đích sứ vụ của người môn đệ cũng chỉ là tiếp tục sứ vụ của Thầy Giêsu: tham gia vào việc chăn dắt đàn chiên của Thầy (x. Ga 21,15). Thánh sử Gioan còn thêm: “Để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ Danh Người” (Ga 20,31).
Thánh Gioan còn xác định rõ hơn mục đích sứ vụ của người môn đệ là rao truyền sự sống yêu thương mà họ đã lãnh nhận, Ngài viết: “Chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1 Ga 1,2-4).

Thay Lời Kết

Đọc Tin Mừng Thứ Tư không ai có thể phủ nhận tương quan hiệp thông giữa Đức Giêsu với Chúa Cha và giữa Đức Giêsu với các môn đệ là mối tương quan hiệp thông sâu sắc nhất, toàn vẹn nhất và tuyệt đối nhất. Tương quan hiệp thông sâu xa, toàn vẹn và tuyệt đối ấy lại được diễn tả bằng những hình ảnh rất sinh động, gần gũi và cụ thể. Nhờ những cảm nghiệm sâu sắc của cá nhân về tương quan hiệp thông và cách mô tả sống động, thánh sử Gioan đã làm cho thực tại hiệp thông – vốn là một huyền nhiệm – trở thành dễ hiểu, dễ cảm nhận và dễ thực hành hơn. Tất cả như đã đụng chạm đến cuộc sống thường ngày của mỗi người Kitô hữu. Đó là mối tương quan mang tính ‘qui tâm’: xuất phát từ Chúa Cha qua Đức Giêsu đến vũ trụ vạn vật và sau cùng sẽ quy hướng về Chúa Cha như nguồn cội và cùng đích của vạn vật. 
Trong chiều hướng đó, những xác tín và giáo huấn của Giáo Hội về tương quan hiệp thông trong các cộng đoàn sống đời thánh hiến ngày càng trở nên ‘hữu hình’, rõ ràng và cụ thể hơn. Vì vậy, Huấn Thị ‘Đời Sống Huynh Đệ Trong Cộng Đoàn’, chỉ rõ: “Cộng đoàn tu trì, trong cơ cấu, trong những động lực, trong những giá trị riêng biệt của mình, làm cho hồng ân tình huynh đệ mà Đức Kitô đã ban tặng cho toàn thể Hội Thánh trở nên hữu hình cách công khai và không ngừng được mọi người nhận biết. Chính vì lý do này, cộng đoàn tu trì có bổn phận và sứ vụ hiệp thông huynh đệ sâu sắc, dấu chỉ và sự khích lệ cho tất cả các Kitô hữu [13] .
Nhưng đàng khác, đi từ tương quan hiệp thông giữa Đức Giêsu với Chúa Cha và giữa Đức Giêsu với các môn đệ như Thánh Gioan đã mô tả trên đây và được Giáo Hội quảng diễn thêm, chúng ta có thể rút ra một vài hệ luận, khả dĩ áp dụng trong đời sống chứng tá đức tin của các tu sĩ ngày nay về mối tương quan hiệp thông giữa những người môn đệ với nhau. 
1. Tương quan hiệp thông giữa những cành nho trong cùng một cây nho. Lời khẳng định của Đức Giêsu: “Thầy là cây nho, anh em là cành nho” đã xác định rõ rằng tương quan hiệp thông giữa các môn đệ là tương quan giữa những cành nho với nhau. Vì vậy họ phải đón nhận và chia sẻ cùng sức sống từ một ‘Thân Cây Nho Duy Nhất’. Như thế, khi một cành nho bị cắt lìa khỏi thân cây thì đương nhiên cũng sẽ bị chia lìa khỏi những cành nho khác. Ngược lại, khi nối kết với ‘Thân Cây Nho’ là Đức Kitô thì họ cũng sẽ nối kết với nhau, cùng sinh hoa kết trái 
Hình ảnh những con chiên trong cùng một đàn chiên, có cùng một chủ chăn cũng nói lên sự liên kết hiệp thông chia sẻ trách nhiệm, liên quan đến sự sinh tồn của nhau. Khi bị sói dữ tấn công, họ buộc phải cùng nhau chống đỡ, khi được dẫn tới đồng cỏ xanh tươi, tới dòng suối mát trong,… họ sẽ cùng nhau chia sẻ và cùng nhau thưởng thức sự ngọt ngào hạnh phúc ấy.
2. Tương quan hiệp thông giữa những người anh em trong gia đình có cùng một Cha. Đã là trong một gia đình, đương nhiên họ cùng xuất phát từ một nguồn gốc, một dòng máu và có cùng mong ước trở về cùng một nguồn cội. Khi đón nhận cùng một dòng máu, một sức sống thần linh từ Chúa Cha qua Chúa Giêsu, tất cả chúng ta sẽ có chung một mầm sống, cùng chia sẻ một sức sống… Vì vậy, chúng ta sẽ cùng ‘ở trong’ nhau như Đức Giêsu ở trong Cha và Cha ở trong Ngài. Đó là lý do để chúng ta có sự hiệp thông trọn vẹn, sự hiệp thông của anh em trong một gia đình, gia đình Hội Dòng, gia đình Thiên Chúa.
3. Tương quan hiệp thông của những người đón nhận và thi hành cùng một sứ vụ. Với tư cách cùng là Kitô hữu qua bí tích Rửa Tội, tất cả chúng ta đều đã đón nhận cùng một sứ vụ từ Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Vì thế, chúng ta có bổn phận phải thi hành sứ vụ đó cách tốt nhất. Hơn nữa, khi cùng chung chia ơn gọi thánh hiến trong cùng một Hội Dòng (đan tu Xitô Thánh Gia), chúng ta còn được đích thân Đức Giêsu tuyển chọn và mời gọi chia sẻ cùng một đoàn sủng của Đấng Sáng Lập. Đây là lý do chính yếu đòi hỏi những ai đã đón nhận đoàn sủng này phải có một tương quan hiệp thông chặt chẽ với Cộng Đoàn và Hội Dòng cách đặc biệt nhất.
Huấn Thị ‘Đời Sống Huynh Đệ Trong Cộng Đoàn’ đã chỉ rõ cho chúng ta rằng: “Những người gia nhập các cộng đoàn như thế phải có ơn gọi đặc biệt. Trong thực tế, các phần tử của một cộng đoàn tu trì được liên kết với nhau do một ơn gọi chung của Thiên Chúa phù hợp với đoàn sủng nguyên thuỷ, do việc cùng được Giáo Hội thánh hiến cách đặc biệt, do việc chung nhau đáp lại ơn gọi nhờ tham dự vào “kinh nghiệm của Thánh Thần” mà đấng sáng lập đã sống và trao lại, cũng như trong sứ vụ của đấng sáng lập trong lòng Giáo Hội[14] .
Ước mong rằng những gì thanh sử Gioan ghi lại trong Tin Mừng Thứ Tư, cùng với giáo huấn của Giáo Hội sẽ giúp mỗi người chúng ta ý thức và hăng say hơn trong việc nhận ra ý muốn của Đức Giêsu về sự hiệp nhất trong đời sống đức tin của người môn đệ Chúa trong hoàn cảnh mình đang sống. 
Những dòng suy tư đơn sơ trên đây, một đàng như muốn tóm kết lại những gì người viết đã gặp thấy, đã suy niệm và đã chiêm ngưỡng khi đọc cuốn Tin Mừng Thứ Tư. Đàng khác, đây cũng là một lời mời gọi tha thiết xin được gửi tới các anh chị em trong Hội Dòng để cùng đọc, cùng khám phá, cùng chiêm ngưỡng và cùng sống mối tương quan hiệp thông thiết yếu, sâu sắc nhưng cụ thể, mà mỗi người tu sĩ chúng ta cần phải nhận ra vai trò và chỗ đứng của mình trong tương quan hiệp thông với Đức Giêsu, với Thiên Chúa Cha và với anh chị em của mình, trong tư cách là những ‘chuyên viên hiệp thông’ như Đức Thánh Cha Phanxico hằng mong ước trong Sứ Điệp Mùa Chay năm 2017[15] . 
Đó cũng là lời mời gọi tha thiết nhất của Đức Giêsu dành cho tất cả chúng ta, những người được mời gọi thực hiện hóa mong ước của Chính Đức Giêsu: “Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con” (Ga 17,23).


 

 [1] Để chuẩn bị Mừng Bách Chu Niên (1918-2018), ngày Cha Tổ Phụ Henri Denis Biển Đức Thuận lập Dòng Đức Bà Annam (tiền thân Hội Dòng Xitô Thánh Gia), Hội Dòng Xitô Thánh Gia đã dành ba năm học hỏi về Cha Tổ Phụ. ‘Đan sĩ Xitô Thánh Gia sống Huyền Nhiệm Hiệp Thông’ là chủ đề của năm học hỏi thứ hai (2017).

[2] Trong bài viết này danh xưng ‘môn đệ’ sẽ được dùng theo nghĩa rộng, bao gồm: Nhóm Mười Hai, nhóm các môn đệ lúc Đức Giêsu còn tại thế, những người sống đời thánh hiến và các kitô hữu mọi thời.

[3] Chữ ‘đồng bản thể’ có vẻ như trừu tượng hơn chữ ‘đồng bản tính’, nhưng xét về ý nghĩa thì cụ thể hơn và đầy đủ hơn. x. GM Phaolo Bùi Văn Đọc, Giải Quyết Vấn Đề ‘Đồng Bản Thể’ hay ‘Đồng Bản Tính’, http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Phungvu/07DongBanTheHayDongBanTinh.htm

[4] X. Bài đọc II Kinh Sách, ngày Thứ Tư, Tuần I, TN.

[5] Việc bôi đen một số chỗ trong các đoạn trích Kinh Thánh là của người viết.

[6] X. Francis J. Moloney, S.D.B., The Gospel of John, Tủ Sách Sacra Pagina, Daniel J. Harington, S.J., Biên tập và xuất bản, vol. 4, Nxb. The Liturgical Press 1998, tr. 420-421.

[7] X. Xavier Léon-Dufour, Lettura dell’Evangelo Secondo Giovanni, San Paolo 1990, tr. 657.

[8] X. Yves-Maria Blanchard, La Bible Et Sa Culture, tr. 443-444.

[9] X. Xavier Léon-Dufour, Lettura dell’Evangelo Secondo Giovanni, San Paolo 1990, tr. 182-183.

[10] X. Xavier Léon-Dufour, Lettura dell’Evangelo Secondo Giovanni, San Paolo 1990, tr. 889.

[11] X. Xavier Léon-Dufour, Lettura dell’Evangelo Secondo Giovanni, San Paolo 1990, tr. 889.

[12] Francis J. Moloney, S.D.B., The Gospel of John, Tủ Sách Sacra Pagina, Daniel J. Harington, S. J., Biên tập và xuất bản, vol. 4, Nxb. The Liturgical Press 1998, tr. 424.

[13] Thánh Bộ Tu Sĩ, Huấn Thị Đời Sống Huynh Đệ Trong Cộng Đoàn, Ban hành 1994, số 2b.

[14] Thánh Bộ Tu Sĩ, Huấn Thị Đời Sống Huynh Đệ Trong Cộng Đoàn, Ban hành 1994, số 2c.

[15] X. Đức Thánh Cha Phanxico, Sứ Điệp Mùa Chay, ngày 1/3/2017.

 

 

 


Liên quan khác