ĐỂ TRỞ THÀNH TỔ PHỤ

11/12/2018

FM. Mai Thương

Bài viết này nhằm mục đích hòa chung vào niềm vui tạ ơn Chúa và Mẹ Maria nhân dịp kỷ niệm 100 năm (15/08/1918 – 15/08/2018) ngày thành lập Dòng Phước Sơn trên núi Phước Sơn, tỉnh Quảng Trị, do Cha Tổ Phụ Henri Denis, sau này đổi tên là Cha Biển Đức Thuận. Từ đó, ngài cũng là Tổ Phụ của Hội Dòng Xitô Thánh Gia tại Việt Nam với mười hai đan viện tự trị được thành lập một cách trực tiếp hay gián tiếp do bởi Nhà mẹ Phước Sơn.

“Để trở thành Tổ Phụ” một chủ đề khi mới nghe thoáng qua, người ta có cảm tưởng như một bài chuyên đề bàn về cách thức để trở thành nhà lãnh tụ như thể sách viết về thuật lãnh đạo của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Bài này cũng không nói về tiểu sử hay đời sống của Cha Tổ Phụ Hội Dòng Xitô Thánh Gia, hay bất cứ một đấng sáng lập nào, nhưng là viết về Tổ Phụ Apraham, đấng mà ba tôn giáo lớn trên hoàn cầu là Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo đều công nhận ngài là Tổ Phụ, xét về khía cạnh tương quan huyết thống hoặc xét về khía cạnh của niềm tin. Thánh Phaolô đã viết lên: “Apraham là cha của mọi kẻ tin…là Tổ Phụ chúng ta…trên đường Đức Tin” (Rm 8,11-12). Đặc biệt theo niềm tin của Kitô Giáo, Đức Kitô Đấng Cứu Chuộc nhân loại thuộc dòng dõi của ông Abraham khi xét theo bản tính nhân loại của Ngài (x. Gl 4,4-5) và cũng là Đấng làm trọn lời hứa của Thiên Chúa với Tổ Phụ Abraham (X. Lc 1,45-55).ài viết này nhằm mục đích hòa chung vào niềm vui tạ ơn Chúa và Mẹ Maria nhân dịp kỷ niệm 100 năm (15/08/1918 – 15/08/2018) ngày thành lập Dòng Phước Sơn trên núi Phước Sơn, tỉnh Quảng Trị, do Cha Tổ Phụ Henri Denis, sau này đổi tên là Cha Biển Đức Thuận. Từ đó, ngài cũng là Tổ Phụ của Hội Dòng Xitô Thánh Gia tại Việt Nam với mười hai đan viện tự trị được thành lập một cách trực tiếp hay gián tiếp do bởi Nhà mẹ Phước Sơn.

Vậy bài này sẽ trình bày một cách khái quát về Tổ Phụ Abraham, dưới khía cạnh ngài đã sống như thế nào và hành động làm sao để xứng đáng trở thành Tổ Phụ của một dân tộc đông vô số (x. St 17,5), một dòng dõi “nhiều như sao trên trời, như cát ngoài bãi biển” (St 22,17), và nhờ ngài mọi gia tộc trên mặt đất được chúc phúc (x. St 12,3).

Để trở thành Tổ Phụ, Abraham đã sống trong và nhờ niềm tin: chọn tôn thờ Thiên Chúa thay vì tôn thờ các thần “dân ngoại”; được Thiên Chúa kêu gọi ra đi về miền đất mà Ngài sẽ chỉ cho, miền đất sau này sẽ trở thành miền đất hứa và đất thánh cho dân được Chúa tuyển chọn, nơi mà Con Thiên Chúa sẽ xuống thế làm người. Trong cuộc sống đức tin, ông đã phải trải qua nhiều thử thách, mà thử thách lớn lao nhất và có tính chất chung cuộc là được Thiên Chúa kêu mời đem con độc nhất của mình hiến tế trên núi Morigia.

Suy niệm về Tổ Phụ Abraham là một cách gián tiếp để so sánh và đào sâu cuộc sống đức tin và dâng hiến của Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, để biết ơn và làm gương mẫu cho đời sống của các tu sĩ nam nữ, cách riêng cho các đan sĩ Xitô Thánh Gia tại Việt Nam, xét về khía cạnh đức tin và sống ơn gọi đan tu chiêm niệm. Có thể nói, theo một tỉ lệ nào đó, Cha Biển Đức Thuận cũng giống như Tổ Phụ Abraham, ngài là “cha của những người tin”. Ngài được Chúa kêu gọi đi đến vùng đất xa lạ chưa hề biết tới là Việt Nam, nhận phần đất này làm quê hương thứ hai, và nhận một tên mới là Cố Thuận (thuận theo Ý Chúa), rao giảng về Chúa cho dân tộc này; và sau cùng, lên núi Phước Sơn để sát tế “Isaác” – tức là từ bỏ con người “xác thịt” một cách triệt để, hầu tận hiến cho Chúa trong đời đan tu và chọn Chúa làm phần gia nghiệp.

Xin trình bày Tổ Phụ Abraham ba tiểu đề sau đây:

I.Ơn gọi làm Tổ Phụ

II.Đất Hứa, tôn giáo và dân tộc Do Thái

III. Trung kiên trong thử thách

     I. ƠN GỌI LÀM TỔ PHỤ

Đức Chúa phán với ông Abram: ‘Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất mà ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc lớn…” (St 12.1-2).

Quê hương ông Abram là thành Ua thuộc vùng Lưỡng Hà Địa. Cha của ông là Têra, hai người anh em là Nakho và Haran. Lót, con của Haran, gọi ông là chú. Vợ ông là Sara. Khi Chúa hiện ra với ông lúc ông đã bảy mươi lăm tuổi. Trước đó, mối tương quan của ông với Chúa như thế nào? Hiện ra với ông ở đâu? Vào lúc nào? Những tiểu tiết này Kinh Thánh không nói tới. Điều Kinh Thánh muốn nhấn mạnh là Lời Chúa kêu gọi Abraham ra đi, hứa ban đất cho ông và làm cho ông trở thành Tổ Phụ một dân tộc đông đúc. Thái độ của ông đối với Thiên Chúa như thế nào? Từ thái độ này sẽ giúp ta suy diễn ra đời sống tôn giáo của ông. Nó sẽ chi phối cuộc đời của ông và có ảnh hưởng sâu rộng trên lịch sử của dân tộc được tuyển chọn.

Thái độ này là sự vâng phục một cách nhanh chóng, không hồ nghi. Chúa kêu gọi và Abraham vâng nghe và thi hành ngay, khiến chúng ta liên tưởng đến thái độ vâng phục của một môn đệ kiểu mẫu trong Tu Luật Thánh Biển Đức: Lời Thầy phán được các môn đệ thi hành ngay không một chút chậm trễ (x. Tl 5,9).

Sự vâng phục mau chóng và không nghi ngại của Abraham cho phép chúng ta phỏng đoán ông đã có nhiều kinh nghiệm trong mối tương giao với Chúa.

Nhưng Thiên Chúa nào đã kêu gọi Abraham? Chúng ta đã quá quen thuộc với Kinh Thánh, nên không đặt vấn đề Thiên Chúa của Abraham là Đấng nào. Nhưng đối với Abraham không đương nhiên như thế. Kinh Thánh cho biết tổ tiên của Abraham là đa thần (x. Ds 24,2). Cho đến thời ông Têra là cha của ông Abraham, gia đình này mới chọn thờ Giavê là Thiên Chúa duy nhất, Tự Hữu, Hằng Sống (x. Xh 3,14), là Đấng dựng nên Trời Đất (x. St 1,26). Sự việc ông Têra rời bỏ quê hương để đi về phía Canaan (x. St 11,31) được giải thích, theo Angel Gonzalez trong tác phẩm Abraham Father of Believers, như là sự dứt khoát từ bỏ các thần gia tộc: “Thần của Nhà” (Lord of the House)[1], để tôn thờ Giavê Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa giao sự nghiệp phát triển tôn giáo (tôn thờ Thiên Chúa độc nhất) và phát triển gia tộc cho Abraham, và ông đã trung thành với sứ mạng này: ông tin vào Lời hứa của Thiên Chúa và thực hiện ý định của Người[2]. Thánh Stêphanô đã tuyên xưng trước thượng hội đồng Do thái: “Thiên Chúa hiển vinh đã hiện ra với ông Abraham, Tổ Phụ chúng ta, khi ông còn đang ở miền Mêxôpôtamia, trước khi ông đến ở Kharan” (Cv 7,2) Căn cứ vào câu nói của Thánh Stêphanô thì động lực chính của cuộc ra đi là do Abraham. Còn thân phụ của ông chỉ đóng vai trò tùy thuộc. Người cha không được kêu gọi, nhưng người con (Abraham) mới được Chúa kêu gọi và ban lời hứa. Bởi vậy, con thì tiếp tục đi tới, còn cha thì dừng lại tại Kharan.

Đối tượng lời Chúa hứa cho Abraham là ban đất để sinh sống và trở thành Tổ Phụ của một dân tộc lớn lao. Theo Thánh Bêđa lời hứa cho Abraham trở thành Tổ Phụ “nhờ người mà mọi gia tộc sẽ được chúc phúc,” (st 12,3) gồm hai khía cạnh: Tổ Phụ của dân tộc Israel, xét theo huyết tộc, và Tổ Phụ thiêng liêng của Hội Thánh, xét theo đức tin. Nói chính xác hơn, nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô, thuộc dòng dõi của Abraham, mà những kẻ tin được trở nên con cái của Thiên Chúa, và con cái thiêng liêng của Abraham (x. Gl 3,7; Cv 3,26). Như thế, Lời Chúa phán: “Ta sẽ cho tên tuổi của ngươi được nên lẫy lừng,” (St 12,2) là ám chỉ đến vai trò Tổ Phụ của Abraham đối với dân tộc Do Thái. Còn câu “nhờ ngươi mà mọi dân tộc được chúc phúc” (St 12.3) ám chỉ Đức Giêsu Kitô, một người thuộc dòng dõi Abraham, mà nhờ Đức Giêsu Kitô mà Thiên Chúa chúc lành cho muôn dân[3]

II.ĐẤT HỨA, TÔN GIÁO VÀ DÂN TỘC DO THÁI

Hãy rời bỏ xứ sở họ hàng và cha ngươi” (St 12,1).

Sự ra đi của Abraham mang ý nghĩa gì đối với ông? Đây là một cuộc giải phóng hay là sự từ bỏ? Trong cả hai trường hợp có ảnh hưởng gì trên dân tộc của ông và những người khác không?

Sách Midrash (Sách chép lại những lời chú giải về Kinh Thánh của các Luật sĩ Do Thái) kể chuyện về đời tư của Abraham như sau: ông xung đột với các thần và họ hàng ông. Cha của ông đã tố cáo ông về tội phá phách các ngẫu tượng. Người ta bắt ông ném vào lò lửa. Cũng như trường hợp của ông Daniel, Abraham ở trong lò lửa mà không bị đốt cháy. Haran tình nguyện thay thế cho anh mình, nhưng khi bị ném vào lò lửa, Haran đã bị lửa thiêu đốt mà chết[4]. Trong câu chuyện này Abraham được trình bày như là một người phản kháng lại với gia đình và môi trường ông đang sống trong vấn đề tôn giáo. Ông không tôn thờ các ngẫu tượng mà chỉ tôn thờ Giavê Thiên Chúa. Cuộc ra đi của ông có ý nghĩa như là một sự giải phóng khỏi các tà thần và của áp lực gia đình về vấn đề tôn giáo.

Abraham thuộc sắc dân du mục. Họ không sống ở nơi thành thị, tài sản của họ là đàn vật. Bởi vậy, họ cần đồng cỏ để nuôi thả chúng. Đương nhiên là họ mơ ước được sở hữu đất đai phì nhiêu để chăn thả đàn vật. Nếu có ai hứa cho họ đất đai, họ sẽ sẵn sàng đi đến đó[5]. Abraham được lời hứa, không phải của một phàm nhân nhưng là của Thiên Chúa ban đất đai và phát triển dòng dõi, đương nhiên là ông sẽ vâng phục và phấn khởi ra đi. Nhưng động lực thúc đẩy ông ra đi không chỉ có thế, nhưng chính yếu vì ông tin vào Thiên Chúa và lời hứa của Ngài. Bởi vậy, ông nhắm tới một mục đích cao hơn những mục đích trần gian và tầm thường của người dân du mục. Nói cách khác, niềm tin và hy vọng không dừng lại nơi bản thân ông nhưng là nhắm tới một dự phóng cho một dòng giống, cho một tương lai về lâu về dài, vì nhằm gây dựng dân Chúa chọn để thi hành chương trình cứu độ của Ngài.

Và ông đi đâu? Chúa có vẻ huyền bí khi nói về điểm đi tới cho Abraham: “Đi đến đất ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1). Chưa biết đích điểm mà ra đi thì thật là mạo hiểm. Thư gửi tín hữu Do Thái (x. Dt 11,8) và các nhà chú giải căn cứ vào câu này để nhấn mạnh và tán dương đức tin của ông. Thánh Augustino trong một bài giảng đã nhấn mạnh: “Chúng ta không tin vào Chúa dù chúng ta đã nhận được quá nhiều… còn Abraham ông tin ngay lập tức cho dầu chưa hề nhận được điều gì. Ngài chưa cho ông miền đất này (miền đất hứa) nhưng hứa cho dòng dõi của ông[6]. Đương nhiên là chúng ta tin vào Kinh Thánh, nhưng đằng khác chúng ta cũng có thể nghĩ tới đường lối làm việc thông thường của Thiên Chúa: Ngài vẫn luôn kêu mời sự cộng tác của con người. Trong trường hợp của Abraham Chúa đã chỉ cho hướng đi: về phía đất Canaan (x. St 11,31). Cụ thể là chọn vùng nào, thì thiết tưởng tùy sự thẩm định của Abraham.

Abraham không nguyên chỉ nhắm vào đất đai để sinh sống, nhưng còn hơn thế nữa, ông nhắm vào mục đích tôn giáo: tôn thờ Thiên Chúa ở những vùng đất xa lạ và làm cho người ta nhận biết Ngài. Chính vì mục đích này chi phối sự ra đi của Abraham. Có thể nói ông ra đi để truyền giáo, vì mỗi nơi ông đi qua, ông thường dựng bàn thờ để tôn thờ Thiên Chúa tại nơi đó và thiết lập vương quyền của Giavê Thiên Chúa trên các thần và cư dân xứ sở nơi đó. Hương thơm đức tin của Abraham quyện theo bước chân ông trên những vùng đất xa lạ (x. St 12, 7-8; St 13, 4; St 13, 18).

Dân tộc phát sinh từ Abraham sẽ là dân tộc của Giavê Thiên Chúa. Ngài lấy đất của “dân ngoại” mà ban cho họ. Qua Abraham, Ngài chiếm hữu những nơi đó để trở thành những nơi thánh, để dân Chúa biểu lộ niềm tin và tôn thờ Ngài. Tuy nhiên, những thần của đất Canaan vẫn tồn tài lâu dài trong vùng đất mà dân Chúa đến sinh sống, và nhiều lần làm cho họ lạc xa Thiên Chúa mà tôn thờ tà thần. Đây là tội “ngoại tình” mà các tiên tri luôn nhắc nhở và cảnh tỉnh dân Chúa.

Như vậy, Abraham đã thực hiện lời hứa của Chúa trên ba bình diện: tôn thờ Thiên Chúa, dân Chúa hứa phát sinh từ ông và đất hứa. Giavê là Thiên Chúa duy nhất của dân tuyển chọn ở trong vùng đất của Ngài. Và dân sống trong vùng đất hứa là dân của Chúa và dành riêng cho chương trình cứu độ của Ngài.

Abraham cũng là một con người bình thường. Trong một lúc, ông không thể tìm ra lộ trình để đi tới một cách dễ dàng. Quả thật, với con mắt phàm nhân, ông không thể thấy mục đích và con đường để đi tới. Bởi vậy ông không nhìn với con mắt tự nhiên của ông, nhưng nhìn với cặp mắt của Đấng đã ban lời hứa, cặp mắt của đức tin. Có thể nói, ông nhắm cặp mắt có giới hạn của con người và “nhìn” bằng “nhãn thần” của Thiên Chúa mà tiến bước về phía trước: “Đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” với thái độ hi vọng và đặt hết tin tưởng vào Thiên Chúa[7].

Quả thật, thư gửi tín hữa Do Thái nhận xét thật chí lý về Tổ Phụ Abraham: “Nhờ đức tin ông đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi, đến một nơi ông sẽ được nhận làm cơ nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11,8).

III. TRUNG KIÊN TRONG THỬ THÁCH

Giống như các mối tương giao khác, mối tương giao giữa Abraham và Thiên Chúa cũng có biến chuyển và thử thách. Abraham đã tỏ ra có lòng tin vào Thiên Chúa khi ông đối thoại với Người một cách thân mật như người bạn tâm sự với người bạn về số phận của hai thành phố Sôđôma và Gômôra (x. St 18,12-32). Ông cũng có lúc tỏ ra trong cử chỉ và thái độ không được tin tưởng cho lắm: “Ông cúi rạp xuống, ông cười và nghĩ trong bụng: đàn ông trăm tuổi mà có con được sao. Còn bà Sara đã chín mươi mà còn sinh đẻ được sao?” (St 17,17). Về phần Thiên Chúa, Ngài vẫn trước sau như một không thay đổi ý định. Ngài không ngần ngại nhắc thêm hai lần nữa lời hứa làm cho ông trở nên Tổ Phụ của một dân tộc đông vô số như bụi đất như sao trời (x. St 13,14-16;15,5). Chính Thiên Chúa đã đơn phương ký kết giao ước với Abraham (x. St 15,8-19). Quả thật, Thiên Chúa đã ban cho Abraham một người con là Isaác để làm người thừa tự chính thức khi ông đã xấp xỉ tiến tới tuổi một trăm và bà Sara đã chín mươi tuổi và không còn hiện tượng của một người phụ nữ có thể sinh sản (x. St 21,3; 18,11).

Xem ra Thiên Chúa còn muốn nhìn xem và biết rõ lòng tin của Abraham như thế nào, nên Ngài cần phải thử thách Abraham thêm một lần nữa trước khi đội lên đầu ông vòng nguyệt quế chiến thắng để tuyên dương ông là Tổ Phụ của một dân tộc đông vô số! Chúng ta có thể nhìn sự thử thách này dưới hai khía cạnh: khía cạnh của Abraham và khía cạnh của chính Thiên Chúa.

1.Về phía Thiên Chúa

Thiên Chúa và độc giả biết đây là một cuộc thử thác nhưng Abraham không biết điều này (x. St 22,1). Thiên Chúa yêu cầu Abraham dâng con làm lễ tế. Nhưng thực ra Ngài không muốn ông giết chết con của ông vì đó là điều Ngài ghê tởm (x. Lv 20, 2-5; 2V 3, 27). Nếu Abraham biết trước đây là một cuộc thử thách thì sự thử thách đó sẽ vô hiệu, và ông sẽ vâng theo lời truyền của Chúa một cách dễ dàng ở bên ngoài nhưng trong lòng chưa chắc đã biểu lộ một đức tin chân thành. Bởi vậy, Thiên Chúa cần phải thử thách để biết rõ mức độ tin tưởng của ông như thế nào (x. St 22.11): “Bây giờ ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa” (St 22,12)Câu này là của “Sứ Thần của Thiên Chúa” nói với Abraham. Sứ Thần được đề cập ở đây, không phải là một thiên thần thụ tạo, nhưng chính là Thiên Chúa. So sánh với trường hợp của Aga, nàng hầu của Sara: Sứ Thần của Thiên Chúa hiện ra với Aga (x. St 16,7). Sứ Thần nói ở đây cũng chính là Thiên Chúa hiện ra với nàng qua hình hài của nhân loại (x. St 16,13). Cũng tương tự như thế Sứ Thần của Thiên Chúa là chính Thiên Chúa ở những nơi khác của sách Sáng Thế: 21,17-19; 22,15-16; 31,11-13[8].

Kinh Thánh chép: “Sau các việc đó…Người phán: Hãy đem con của ngươi…mà dâng nó làm lễ toàn thiêu trên một ngọn núi mà ta sẽ chỉ cho” (St 20,2). Các bản dịch thường làm cho người ta có cảm tưởng đây là một mệnh lệnh cứng cỏi và khô khan của Thiên Chúa: “Hãy đem con của ngươi”. Thực ra, nếu căn cứ vào bản văn gốc của tiếng Hebrew, đây không nguyên là một mệnh lệnh nhưng còn là một lời yêu cầu. Có thể nói đây là lời khẩn khoản kêu mời Abraham. Bởi vì hầu như các bản dịch bỏ sót một tiểu từ trong bản văn Hebrew, nên đã làm cho bản dịch trở nên cứng nhắc. Tiểu từ đó là “na” (נָא) có hàm ý yêu cầu và khẩn nài. Bởi vậy, có bảng tiếng Anh dịch là “pray”: “Pray take your son…” có thể được chuyển dịch ra Việt ngữ là “yêu cầu đem con của ngươi…” Quả thật, lời Chúa nói với Abraham là một lời mời gọi thân tình như lời của người bạn thân nói với người bạn thân. Ngài kêu mời Abraham cộng tác để thi hành một việc hết sức quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn lao cho tương lai, không những cho dòng dõi ông mà còn cho vận mệnh của nhân loại. Bởi vì, Abraham là hình ảnh của Thiên Chúa Cha sẽ sát tế con một yêu dấu của Ngài trên đỉnh đồi Gôngôtha, Giêrusalem (Morigia) để cứu độ nhân loại.

Lời của Chúa không những kêu mời mà còn nhấn mạnh đến người con mà Abraham phải dâng làm của lễ, để không thể có một sự nhầm lẫn nào ở nơi Abraham: “Làm ơn đem con của ngươi, người con độc nhất, người mà ngươi yêu dấu, là Isaác” (St 22,2) (“Pray take your son, your only one, whom you love, Yitzhak)[9]. Các bản dịch thường dồn các từ ngữ của câu này thành ra: “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Isaác”. Tác giả Robert Alter, một người thông thạo ngôn ngữ Hebrew, cho rằng dịch như thế là một sự sai lầm và thiếu cân nhắc[10]. Theo ông, bản văn Hebrew diễn tả cách tỉ mỉ, rất đẹp, rất tinh tế và tình cảm khi kể đầy đủ mọi chi tiết.

Rabbi Rashi[11] đã giải thích câu này một cách đầy đủ ý nghĩa và sự tinh tế của nó, khi ông tưởng tượng ra một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và Abraham:

– Chúa nói: “Làm ơn đem con của ngươi!

– Abraham đáp lại: con có hai đứa con trai mà!

– Chúa khẳng định: “Người con độc nhất

– Abraham: người này (Ismaen) là con độc nhất của mẹ nó (Aga), và đứa kia (Isaác) cũng là đứa con độc nhất của mẹ nó (Sara)

– Chúa nhấn mạnh: “Đứa con mà ngươi yêu dấu.”

– Abraham: con yêu cả hai đứa.

– Chúa xác định: “Isaác!”

Xem ra Abraham vẫn muốn giữ lại đứa con yêu dấu còn lại của mình, đứa con thừa tự sinh ra trong tuổi già, con của người vợ chính thức. Trước đó, ông đã phải đau lòng đuổi Ismaen và mẹ nó là Aga đi rồi (x. St 16,5; 21,11-14)). Và khi Chúa kiên quyết xác định là Isaác mà ông phải hiến tế, lúc đó ông hết cựa quậy mà phải đem Isaác đi mà sát tế thôi.

Người phán: “Hãy đem con của ngươi…hãy đi đến xứ Morigia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi mà Ta sẽ chỉ cho”. Và Abraham đưa con của mình đi mất ba ngày đường mới tới nơi Chúa chỉ định…Chúng ta tự hỏi tại sao Ngài không chọn một nơi gần hơn để khỏi mất thời giờ đi lại, vừa đi vừa về phải mất sáu ngày trời? Có lẽ Thiên Chúa muốn Abraham thấm thía trong suốt ba ngày dài những mối lo âu, đau khổ và ray rứt với nhiều suy nghĩ trong đầu óc và con tim, khi phải hi sinh con một yêu dấu của mình. Nhưng đàng khác nói một cách chính xác hơn, Thiên Chúa đã dự liệu và chỉ định nơi chốn cho cuộc hiến tế này, nơi mà sau này sẽ được gọi tên là “núi Chúa sẽ liệu” (Morigia) (x. St 22,14). Abraham không thể nào hiến tế con của mình ở bất cứ một nơi tầm thường nào khác, nhưng phải hiến tế trên núi thánh của Chúa. Kinh Thánh nói rằng núi Morigia chính là một ngọn núi ở Giêrusalem, kinh thành của vua Đavít; và con vua Đavít là Salamon sẽ xây đền thánh ở đó (x. 2Sbn 3,1).

2.Về phía con người của Abraham

Điều nổi bật trong cuộc thử thách này là Abraham thinh lặng vâng phục Thiên Chúa. Ông đã âm thầm chấp nhận hoàn toàn những gì Thiên Chúa truyền dạy. Chúng ta chỉ thấy những động thái của ông: dậy sớm, bổ củi, dắt con lừa, đem theo hai người đầy tớ và con ông là Isaác, rồi lên đường. Không một lời thắc mắc với Chúa, không có ý kiến mà cũng không hỏi ý kiến của ai, kể cả bà vợ Sara của mình. Trong ba ngày đường, ông cứ lầm lủi tiến bước, không nói không rằng với đầy tớ và con của ông. Ông không hề thay đổi ý định, cũng không để mình bị chán nản và thất vọng mà thoái lui.

Thái độ của ông trong hoàn cảnh này ngược lại hẳn với một Abraham có tài ngoại giao, giỏi thương lượng hòa giải, hay can thiệp vào chuyện của người khác: giải quyết sự xung đột về người và tài sản cho cháu Lót (x. St 13), liên minh với các vua chúa (x. St 14), khéo léo ngoại giao với vua Avimelec, và mặc cả với chính Thiên Chúa về vấn đề của thành Gômôra và Sôđôma (x St 20).

Chỉ khi gần tới nơi, Abraham mới miễn cưỡng trả lời cho câu hỏi con mình và chỉ thị cho đầy tớ ở dưới chân núi chờ đợi. Đây là giờ phút quyết liệt, vì sắp tới sự kiện trọng đại, ông càng biểu lộ ra sự quyết tâm vâng phục, tin tưởng và phó thác của mình. Ông nói với đầy tớ: “Các anh ở lại đây…chúng tôi đi làm việc thờ phượng rồi sẽ trở lại với các anh”. Abraham có lừa dối các đầy tớ không? Vì nếu ông đã sát tế và thiêu xác con của mình rồi thì chỉ còn một mình ông trở lại thôi, làm gì có “[hai cha con] chúng tôi…”. Nhưng theo suy luận của Giáo phụ Origen, Abraham quả có nói thiệt. Với thế giá và tư cách của một Tổ Phụ không cho phép ông nói cho qua chuyện. Nhưng ông sẽ vâng theo lệnh Chúa để sát tế con mình vì ông tin tưởng “Thiên Chúa có quyền năng làm cho người chết sống lại[12]. Như thế, ông Abraham có thể nói chắc chắn với các đầy tớ rằng: “…Chúng tôi…sẽ trở lại”.

Isaác cũng thắc mắc với ông về con chiên để tế lễ, vì củi lửa đã có sẵn mà của lễ chẳng thấy đâu. Lúc này Abraham không thể nói lên sự thật làm đau lòng con mình, ông chỉ trả lời: “Chính Thiên Chúa sẽ liệu con à”. Căn cứ theo tư cách của Abraham, không cho phép người ta hiểu đây là một câu nói cho qua chuyện của người cha để tránh trả lời trực tiếp cho câu hỏi của người con. Nhưng đây là câu trả lời thật lòng của ông, vì ông vẫn tin rằng Thiên Chúa thật sự quan tâm đến điều lợi ích nhất cho ông và có cách giải cứu cho Isaác.

Quả thực ông nghiêm chỉnh thi hành lời Thiên Chúa truyền dạy: ông trói con lại, đặt lên đống củi và đưa dao lên để sát tế Isaác. Chính Thiên Chúa (Sứ Thần của Thiên Chúa) đã ngăn ông lại: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ” (St 22,12). Và này, “ông…thấy phía sau thì có con cừu bị mắc sừng vào bụi cây. Ông bắt lấy nó dâng làm của lễ toàn thiêu thay cho con mình” (St 22,13).

Sự tin tưởng và vâng phục của Abraham được Chúa biết đến khi Ngài phán xuống từ trời cao: “Bây giờ ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa” (St 22,12). “Kính sợ” được đề cập đến ở đây không phải là một cảm xúc, một thái độ sợ hãi nhất thời, càng không phải là thứ sợ hãi mà Thánh Gioan Tông Đồ nói là phải loại bỏ ra khỏi tình yêu (x. 1Ga 4,16). Đó là một thứ sợ hãi của kẻ nô lệ. Nói đúng hơn, cụm từ “kính sợ Thiên Chúa” nói lên sự tôn thờ Thiên Chúa của Abraham như người con tự do biểu lộ tâm tình đối với Thiên Chúa là Cha. Đó chính là hiệu quả sự vâng phục Thiên Chúa của Abraham (x. St 20,110).

KẾT LUẬN

Để trở thành Tổ Phụ, Abraham đã từ bỏ quá khứ ra đi đến một nơi đất khách quê người. Phần thưởng cho sự vâng phục của ông là được ban lời hứa và giao ước để ông được chiếm hữu đất đai và dòng dõi đông đúc. Qua cuộc thử thách trên núi Morigia, khi kiên vững trong lòng tin, ông được lại đứa con yêu quí, như thế, chức danh Tổ Phụ của ông lại được củng cố. Sau đó, Thiên Chúa nhắc lại lời hứa với ông một lần nữa cùng nội dung như trước (x. St 22,16-18). Trong lời hứa lần cuối cùng này với Abraham, Chúa nêu rõ lý do việc thi ân giáng phúc cho ông, cho dòng dõi của ông và qua ông mọi dân tộc cũng được chúc phúc: “Vì ông đã vâng lời Người” (St 22,18).

Động cơ sâu xa của sự vâng phục trọn vẹn nơi Abraham chính là đức tin của ông. Ông tin rằng Thiên Chúa sẽ có giải pháp và lối thoát cho tình trạng nan giải của ông. Nếu ông vâng lời sát tế con thì còn đâu dòng dõi của ông. Nếu ông không vâng lời thì tỏ ra thiếu tin tưởng và thiếu tư cách làm Tổ Phụ của dân được Chúa tuyển chọn. Nếu ông không tin thì ông mất luôn cả lòng mến và niềm hy vọng, vì yêu mới có tin và ngược lại. Sự thử thách chính yếu không ở tại Isaác, nhưng cốt yếu nằm tại nơi tình yêu và mối tương quan của Abraham với Thiên Chúa; Isaác chỉ là nhân tố của cuộc thử thách[13]. Qua cuộc thử thách này, Abraham nói lên lòng yêu mến và sự chọn lựa của mình: ông yêu mến Thiên Chúa trên mọi sự, và vì thế ông có thể hi sinh tất cả mọi thứ ngay cả chính con một yêu dấu của mình. Qua cuộc thử thách, nhờ đức tin mà ông làm đẹp lòng Thiên Chúa, và Thiên Chúa đã thấy được tấm lòng của Abraham đối với Ngài (x. St 24,12). Cũng trong cuộc thử thách này mà ông nhận ra một điều gì đó trong tương lai, khi ông nhận lại người con ấy như là một biểu tượng (x. Dt 11,19). Biểu tượng này được nền chú giải Kitô giáo không ngần ngại chỉ đích danh là chính Chúa Giêsu, con một Thiên Chúa sẽ là con chiên bị sát tế tại Giêrusalem (Morigia) để làm đẹp lòng Thiên Chúa Cha và nên căn nguyên chúc phúc cho nhân loại. Điều này được Chúa Giêsu xác nhận: “Ông Abraham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hi vọng được thấy ngày của tôi, ông đã thấy và đã mừng rỡ” (Ga 8,56).

Ông Abraham cũng là hình ảnh tiên trưng của Đức Maria, đấng được chúc phúc do bởi lòng tin. “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).

Suy niệm về Tổ Phụ Abraham như chúng ta vừa làm trên đây, là một cách gián tiếp để so sánh và đào sâu cuộc sống đức tin và dâng hiến của Cha Biển Đức Thuận, người cha kính yêu của chúng ta, nhân dịp kỷ niệm ngày ngài ‘sát tế’ bản thân mình trong đức tin và vâng phục Thiên Chúa trên Núi Phước như Tổ Phụ Abraham đã làm trên núi Morigia.

Noi gương Tổ Phụ Abraham, và Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, đan sĩ Xitô Thánh Gia cũng sẽ hiến tế con người của mình trong sự vâng phục và phó thác trong ơn gọi chiêm niệm đan tu Xitô Thánh Gia giữa lòng Giáo Hội và xã hội Việt Nam, miềm đất chúng ta được mời gọi rao giảng và làm chứng.


[1] Angel Gonzalez, Abraham Father of Believers, p. 19.

[2] Angel Gonzalez op.cit. p. 21.

[3] CCL. 118A: 169.

[4] Angel Gonzalez op.cit. p. 28.

[5] Sđd, p.28.

[6] St Augustine, Sermon 113 A.10, The Ancient Christian Commentary on Scripture, Old Testament, Vol II, p. 2.

[7] X.    Angel Gonzalez, op.cit p.60

[8] The New Interpreter’s Bible.

[9] The Schocken Bible, id.

[10] Robert Alter, Genesis, Chapter 22, p. 103.

[11] Id, p 103.

[12] Origen, Homilies on Genesis 8.5, Father of The Church, 71:140.

[13] The New Interpreter’s Bible Vol I, p. 500.


Liên quan khác