MÔI TRƯỜNG TẠO SỰ BÌNH AN

21/12/2018

 

MÔI TRƯỜNG TẠO SỰ BÌNH AN

 

FM. Theophan Phạm Hữu Ái O.Cist


Bình an là hai từ mà khi nghe qua làm cho chúng ta có được một cảm giác rất nhẹ nhàng, thư thái và dễ chịu. Vì thế, ai cũng mong muốn được bình an và cầu chúc cho nhau điều tốt lành này. Tuy nhiên, để sống được hai chữ đó không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là trong thế giới hưởng thụ ngày nay. Tại sao? Có lẽ, vì chúng ta thiếu khao khát và thiếu động lực. Một khi không có động lực, sẽ không quyết tâm và chắt chiu những cơ hội mang lại bình an cho mình. Thêm vào đó, chúng ta thiếu một môi trường thích hợp để những mong ước và động lực trở thành hiện thực. Điều này thật đúng đối với cuộc sống thường nhật, nhưng cũng rất đúng cho đời sống tu trì, đặc biệt là đời sống Đan tu.
Như vậy, có khao khát, có động lực là cần thiết, nhưng chưa đủ, cần phải có một môi trường để thể hiện khao khát và động lực của mình. Trong đời thánh hiến, môi trường đó là gì? Thiết nghĩ không gì khác hơn là đời sống cộng đoàn.

I. CỘNG ĐOÀN, MÔI TRƯỜNG CỦA BÌNH AN

Cộng đoàn tu trì như là môi sinh và là môi trường mang đến sự bình an cho tu sĩ. Cộng đoàn vừa đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội, vừa rất khác với một xã hội dân sự, vì tuy mang những tính chất của một xã hội, nhưng nó siêu nhiên vượt trên mọi thực tại trần thế. Siêu nhiên vì không phải do con người tạo nên mà phát xuất từ Ba Ngôi Thiên Chúa và chính Đức Kitô qui tụ: “Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con” (Ga 15,16). Vì thế, cộng đoàn là môi trường của bình an, nhưng đồng thời cũng là môi sinh, nơi các tu sĩ sống và được phát triển, được mời gọi bảo vệ và xây dựng.
Theo cha Quirico T. Pedregosa: “Cộng đoàn là môi trường ưu tiên cho việc tăng trưởng và triển nở trong tình yêu”[1] , vì cộng đoàn tu trì không phải là sản phẩm do con người tạo nên nhưng được Đức Kitô quy tụ. Quy tụ để làm gì nếu không phải để “một số lớn các môn đệ nên một, như Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần, theo dòng thời gian, họ có thể đáp lại tình yêu của Chúa Cha, bằng cách yêu mến Người ‘hết lòng, hết dạ, hết sức’ (x. Đnl 6,5) và yêu anh em ‘như chính mình’ (x. Mt 22,39)”[2] .

Tông Huấn “Vita Consecrata” còn nhắc lại nguồn gốc sâu xa hơn của đời sống thánh hiến. Đó chính là Chúa Ba Ngôi. Theo đó, đời sống thánh hiến là “hình thức theo chân Chúa Kitô, mà cội nguồn luôn luôn là do Chúa Cha khởi xướng, mang dấu vết chính yếu của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần; điều đó cho phép biểu dương một cách hết sức linh động tính cách Ba Ngôi của đời sống Kitô giáo, là cuộc tham dự trước phần nào vào sự viên mãn cánh chung mà toàn thể Giáo Hội hướng đến”[3] . Thế mà, “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,16), nên “những người được thánh hiến được yêu cầu phải thật sự trở nên những chuyên gia của sự đoàn kết nhất trí và thực thi linh đạo của sự hiệp thông”[4] . Chính vì thế, thánh Benado có lý khi gọi cộng đoàn là “trường học Đức Ái”.Cha Quirico, bề trên giám tỉnh dòng Đa minh tại Manila lại sử dụng kiểu nói “Mái ấm của bạn hữu Chúa Giêsu trong sứ vụ”[5] . Cộng đoàn là “trường học Đức Ái”, là “mái ấm” vì Chúa Kitô vừa là Đấng qui tụ những ai Ngài mời gọi và liên kết họ bằng tình yêu, vừa là trung tâm của cộng đoàn và cũng là khuôn mẫu của tình yêu: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Theo nghĩa này, cộng đoàn phải là môi trường của bình an.
Tuy nhiên, trong đời thường giữa lý tưởng và thực tế vẫn còn là một khoảng cách xa vời, nên đôi khi thay vì tạo bình an, cộng đoàn trở nên ngột ngạt, bất an đối với một số tu sĩ. Hiện tượng này không phải đơn lẽ, nhưng vẫn thường xảy ra trong các cộng đoàn. Điều đó khiến người ta nghi ngờ và đặt lại vấn đề.
Thật ra, tự bản chất cộng đoàn là môi trường bình an, nhưng trong ý định của Thiên Chúa, Ngài không tạo nên một cộng đoàn khép kín; trái lại, cộng đoàn được mời gọi để trở thành “một linh đạo của sự hiệp thông”, để từ sự hiệp thông này “làm phát sinh hiệp thông và hiển thị như là sự hiệp thông truyền giáo”[6] . Nói cách khác, các tu sĩ được mời gọi nuôi dưỡng và xây dựng sự bình an để hướng đến một sự hiệp thông rộng lớn hơn. Lời mời gọi này là một sứ vụ thuộc bản chất của đời sống tu. Sứ vụ đó không gì khác hơn là tình yêu. Thế mà ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa, nơi đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa thì có bình an. Sứ vụ tình yêu không chỉ là mời gọi mà còn là bổn phận, vì những ai thuộc về Đức Kitô thì không còn sống cho chính mình, nhưng là sống như Đức Kitô đòi hỏi. Do đó, để cộng đoàn thật sự là môi trường bình an, tu sĩ phải là những người gìn giữ sự bình an.

II. NHỮNG YẾU TỐ TẠO SỰ BÌNH AN

Để gìn giữ bình an cần phải có con người bình an và môi trường tạo bình an. Môi trường sẽ không có nếu không có những nhân tố làm nên nó. Trong đời sống thánh hiến, Chúa Giêsu là trung tâm của cộng đoàn (x. Ga 15,16) và tu sĩ là những người được mời gọi để làm nên một cộng đoàn được thánh hiến nhằm thực hiện sứ vụ tình yêu như Đức Kitô đã thực hiện. Thế nhưng, sau Công Đồng Vaticano II, đời sống tu trì rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về ơn gọi. Cuộc khủng hoảng không phải vì số lượng ơn gọi giảm sút, nhưng có lẽ lòng khao khát theo Chúa Kitô đang có vấn đề. Các chuyên gia đã liệt kê và đưa ra những phân tích rất thuyết phục về khía cạnh chủ quan, cũng như khách quan. Tuy nhiên, theo Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI trong cuộc gặp gỡ với các bề trên tổng quyền nam tại Roma ngày 21.11. 2010, ngài nhấn mạnh đến ba trụ cột cần phải quan tâm trong việc canh tân đời sống tu trì là: Tin Mừng, đời sống huynh đệ và sứ vụ. Thiết tưởng đây cũng là ba yếu tố quan trọng để làm cho cộng đoàn trở thành môi trường tạo sự bình an.

Trước hết, cộng đoàn tu trì là cộng đoàn của Chúa Giêsu và cũng là cộng đoàn của các môn đệ, là những người nghe theo lời mời gọi Ngài và bước theo bằng việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm để trở “nên đồng hình đồng dạng với Ngài”. Xét trên bình diện xã hội, cộng đoàn tu trì cũng phải chịu sự chi phối bởi các quy luật giống như tất cả tổ chức xã hội dân sự khác. Tuy nhiên, có một điều rất khác biệt nằm ngay trong bản chất và nhiệm vụ của đời sống thánh hiến. Xét về bản chất, cộng đoàn tu trì mang tính cánh chung, “tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang của Nước Trời”[7] . Cộng đoàn này có nhiệm vụ đặc biệt “là duy trì nơi người chịu phép rửa ý thức sinh động về những giá trị căn bản của Tin Mừng” [8]. Do đó, Tin Mừng phải là nguồn mạch đầu tiên của linh đạo đời sống thánh hiến (x. VC số 94). Vì là nguồn mạch nên Tin Mừng phải là nền tảng và kim chỉ nam cho mọi quyết định, cũng như mọi hành động của cộng đoàn. Bởi thế, chúng ta có thể mạnh mẽ khẳng định rằng: đời sống thánh hiến mà thiếu chất “Tin Mừng”  thì không còn là đời sống thánh hiến; đời sống thánh hiến mà mọi quyết định không kín múc từ Tin Mừng thì chỉ còn là một tổ chức dân sự; đời sống thánh hiến không sống bằng chính sức mạnh của Tin Mừng thì không còn là một cộng đoàn yêu thương nữa. Đây là trụ cột thiết yếu làm nên bản chất của đời sống thánh hiến và cũng là nguồn nuôi dưỡng tạo sự bình an trong cộng đoàn.

Kế đến, đời sống huynh đệ được xem như trụ cột thứ hai nuôi dưỡng và mang lại sự bình an. Người ta sẽ không thể tưởng tượng nổi khi có một cộng đoàn sống đời thánh hiến mà không có tình huynh đệ, vì nó đi ngược với bản chất của cộng đoàn là “mái ấm bạn hữu của Chúa Giêsu” và là một gia đình thực sự. Vả lại, ơn gọi chính yếu của đời sống thánh hiến là truyền giáo. Thế mà, yêu thương nhau là cách thức truyền giáo hữu hiệu nhất, vì “cứ dấu này người ta nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con yêu thương nhau” (Ga 13,35). Tình yêu thương mà Chúa Giêsu mời gọi chính là tình yêu của Ngài dành cho các môn đệ, tình yêu bạn hữu (x. Ga 15,11-17); tình yêu của người Samaritano nhân lành với tâm lòng chân thành và nghĩa cử thiết thực, cụ thể, chứ không phải bằng lời, trên môi miệng như vị thượng tế hay các thầy thông luật. Tình yêu này không phải là một vòng tròn khép kín; nó cũng không hàm ý loại trừ bất cứ một ai, nhưng đón nhận tất cả trong sự khác biệt và tiến tới sự hiệp thông. Hiệp thông để nên một với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với nhau. Một khi nên một trong tình yêu, tu sĩ sẽ sống với chữ đồng: đồng tâm, đồng cảm và đồng khổ… để từ đó tiến đến chữ cùng hoà, trong sự hoà hợp và bình an. 
Trụ cột thứ ba chính là sứ vụ. Mỗi tu hội sống đời sống thánh hiến đều mang trong mình một sứ vụ. Sứ vụ đó chính là truyền giáo. Tuy nhiên, mỗi sứ vụ có một nét đặc thù, riêng biệt tuỳ theo ơn gọi và căn tính của mỗi hội dòng. Đôi khi người ta lầm tưởng sứ vụ là do sáng kiến của vị sáng lập, nhưng thật ra tất cả mọi sứ vụ đều xuất phát từ mầu nhiệm Thiên Chúa. Do đó, chỉ có một sứ vụ, là sứ vụ của Thiên Chúa, là tình yêu của Ngài đối với con người trên khắp cả vũ trụ và qua mọi thời đại. Sứ vụ đó đang được Thiên Chúa thực hiện và đang hoàn thành trong tình yêu của Ngài[9] . Vì thế, khi đề cập đến việc canh tân, Công Đồng Vaticano II nhắc nhở các tu sĩ phải sáng tạo để thích nghi với thời đại, nhưng luôn trung thành với tri ý của Đấng sáng lập. Lời nhắc nhở của công đồng soi rọi cho chúng ta một chân lý: mọi sáng kiến đều đến từ tình thương của Thiên Chúa và Ngài luôn đi trước Giáo Hội. Về phần mình, chúng ta là những cánh tay nối dài của Ngài để cho thế giới nhận ra tình yêu của Thiên Chúa cách thiết thực và hiệu quả nhất. Bởi thế, khi trung thành và sáng tạo trong sứ vụ là chúng ta đang góp phần làm cho sứ vụ trở nên một trụ cột vững chắc làm nền cho việc xây dựng một cộng đoàn là môi trường của bình an.

III. TRỞ NÊN MỘT CỘNG ĐOÀN, MÔI TRƯỜNG CỦA BÌNH AN

Cộng đoàn tu trì có nguồn gốc từ Chúa Ba Ngôi, nên tự bản chất nó là môi trường của bình an. Dầu vậy, trong ý định Thiên Chúa, cộng đoàn tu trì phải là nơi lan toả sự bình an và các tu sĩ phải góp phần vào việc xây dựng bình an trong cộng đoàn. Để lan toả, tu sĩ phải là khí cụ và con người của bình an. Trong đời sống thánh hiến, đặc biệt là đời sống đan tu, việc kiến tạo bình an hệ tại vào lòng khao khát tìm kiếm Thiên Chúa. Lòng khao khát đó sẽ mãnh liệt và đạt tới tuyệt đỉnh một khi chúng ta gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu bằng tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa (x. 1Ga 4,19). Một tình yêu được nuôi dưỡng trong đời sống thường nhật qua việc cầu nguyện và lao động. Đó là những nguồn động lực xây dựng cộng đoàn thành môi trường bình an.
Huấn thị về quyền bính và vâng phục của thánh bộ các tu hội đời sống thánh hiến và các tu đoàn tông đồ đã tái khẳng định: “Đời sống thánh hiến như một chứng từ của việc tìm kiếm Thiên Chúa” và “việc tìm kiếm dẫn đến kinh nghiệm bình an” (số 1). Cùng một ý tưởng, Thánh Phụ Biển Đức đã định nghĩa đời sống đan tu là một cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, như tâm tình của Vịnh gia: “Lạy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài” (Tv 27,8). Ngài mong muốn những ai dấn thân vào đời sống này phải là người thực tâm đi tìm kiếm Thiên Chúa của lòng mình (x. TL 58). Cuộc tìm kiếm không theo sở thích riêng tư, nhưng “tất cả đều được gọi để tìm kiếm điều gì đẹp lòng Thiên Chúa và vâng phục Người”[10] . Theo nghĩa này, Viện phụ và cộng đoàn không làm gì khác ngoài việc tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, trong đó Viện phụ là người được chọn “thi hành trách nhiệm đặc biệt trở thành dấu chỉ của sự hiệp nhất, và là người hướng dẫn trong việc tìm kiếm chung, vừa cá nhân vừa tập thể, việc thi hành ý Chúa”[11] .

Phần cộng đoàn, cần có khả năng lắng nghe và vâng phục trong tinh thần đối thoại để trên dưới đều một lòng, một ý tuân theo thánh ý Thiên Chúa.Như vậy, Viện phụ thực sự là nhân tố thiết yếu trong việc thực hiện “linh đạo hiệp thông” và Tu Luật đã diễn tả Viên phụ dưới hình ảnh của một vị chủ chăn tốt lành, khôn ngoan (x. TL 2), “nhiệt tâm sốt sắng nhưng không lo âu, khôn ngoan mà không sợ sệt” (TL 64). Ngài phải tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính Người luôn mãi (x. TL 2). Trong việc điều hành cộng đoàn, ngài phải có hai đức tính chủ chốt. Đó là đức cẩn trọng, mẹ các nhân đức và tấm lòng nhân hậu để anh em yêu mến hơn là sợ hãi (x. TL 2). Viện phụ được kỳ vọng cao không phải vì ngài, nhưng vì cộng đoàn. Cha thánh mong muốn Viện phụ phải điều khiển cộng đoàn như thế nào để mọi phần tử, dù họ yếu đuối hay mạnh mẽ, đều có thể an vui và hăng say tiến bước trên con đường thánh thiện và không một ai phải buồn khổ trong đời sống Đan tu (x. TL 31). Vì thế, ngoài hai chương đặc biệt (chương 2 và 64) dành cho Viện phụ thì hình ảnh Viện phụ còn được bàng bạc suốt toàn bộ Tu Luật. Có thể nói, thánh Biển Đức không chú tâm đến Viện phụ là ai, học thức uyên thâm thế nào, nhưng điều ngài ưu tư nơi “Viện phụ là một khoa học về Thiên Chúa và những điều thánh thiện rút ra bởi Kinh Thánh, một sự hiểu biết được soi sáng bởi những ánh quang của Ngôi Lời vĩnh cửu và sinh hoa kết trái nhờ Chúa Thánh Thần”[12] .

Hoa trái mà thánh Biển Đức mong muốn Viện phụ cần phải quan tâm đặc biệt đó là làm sao con cái mình phải trở nên những đan sĩ thực sự, nghĩa là người “không lấy gì làm hơn Chúa Kitô”; “không lấy gì làm hơn việc Chúa” và hoàn toàn kết hiệp với Chúa. Kết hợp mật thiết với Thiên Chúa trong tình yêu là trọng tâm của đời sống thánh hiến và nguồn lực để tất cả các tu sĩ sống trọn sứ vụ của mình là tìm kiếm Thiên Chúa và vâng phục ý Ngài. Nó là trọng tâm, vì cùng đích của đời sống thánh hiến là đạt tới Đức Ái hoàn hảo. Đức Ái hoàn hảo ở đây là gì nếu không phải là chính Thiên Chúa, Đấng là tình yêu. Vì thế, sự thánh thiện của người tu sĩ là ưu tiên số một của đời sống thánh hiến. Mặt khác, tu sĩ làm nên cộng đoàn; tu sĩ thánh thiện tạo nên những cộng đoàn thánh, cộng đoàn bình an. Chính vì thế, xuyên suốt Tu Luật thánh Biển Đức, minh nhiên hay mặc nhiên, thánh nhân đều đề cập đến những phương thế để nên thánh. Nên thánh là đích đến, nhưng cũng là môi sinh để trợ lực và làm tăng trưởng lòng khao khát tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa. Nó là chìa khoá để có được một cộng đoàn bình an.
Cuối cùng để kiến tạo cộng đoàn thành môi trường của bình an, tu sĩ phải tạo được một môi sinh bình an. Trong đời sống đan tu, ngoài đời sống huynh đệ hiệp thông trong cộng đoàn mà Viện phụ là một nhân tố đặc biệt, thánh Biển Đức nhấn mạnh đến trật tự trong đời sống cộng đoàn. Với những sinh hoạt trong cộng đoàn, ngài đã thiết lập rất chi tiết không phải để gây cản trở, nhưng để giúp các đan sĩ có một đời sống bình an và đạt tới “đỉnh cao đạo lý và nhân đức” (Tl 72). Ngoài ra, điều chính yếu đối với các đan sĩ là việc cử hành và sống tinh thần phụng vụ. Phụng vụ giúp cho đan sĩ thoát ra khỏi mình để giúp gặp gỡ được Thiên Chúa và qua Thiên Chúa để gặp gỡ được anh em. Vì thế, Ngài đã dành một vị trí đặc biệt cho phụng vụ trong sinh hoạt cộng đoàn. Có thể nói: đối với thánh Biển Đức phụng vụ là trung tâm của đời sống cộng đoàn, vì chính ở nơi đây cộng đoàn tìm được tiếng nói chung và sự hiệp nhất, cũng như đời sống huynh đệ được tăng triển mạnh mẽ. Đây cũng là điều mà các cộng đoàn trong thế giới hôm nay phải chú ý để tạo nên một môi sinh lành mạnh trong cộng đoàn sống đời sống thánh hiến.

KẾT

Một vị thánh đã nói: khổ giá lớn nhất chính là đời sống cộng đoàn, nhưng một đời sống hùng mạnh nhất, chắc chắn nhất cũng là đời sống cộng tu (x. TL 4). Hai bộ mặt này của cộng đoàn luôn song hành trong đời sống các tu sĩ. Việc lựa chọn khuôn mặt nào tùy thuộc phần lớn vào cách sống của các tu sĩ trong cộng đoàn. Nếu tu sĩ đón nhận Chúa Giêsu như là chủ của cộng đoàn thì họ sẽ có một cuộc sống an vui, đầy ắp tình yêu và bình an. Nếu tu sĩ nhìn cộng đoàn theo nhãn giới trần thế, chắc chắn sẽ có nhiều xáo trộn và sẽ cảm thấy ngột ngạt khi sống trong cộng đoàn của mình.
Là Đan sĩ, chúng ta được mời gọi để sống chung trong một đan viện và làm nên một cộng đoàn yêu thương, chỉ phụng thờ một mình Thiên Chúa. Chúng ta làm nên đan viện, nhưng chúng ta cũng cần đan viện, vì nơi đó chúng ta gặp gỡ được Thiên Chúa trong thinh lặng, qua đời sống cầu nguyện và phụng vụ; nơi đó, chúng ta cũng gặp được những người anh em vì tất cả đều được Chúa Giêsu mời gọi để làm nên “mái ấm bạn hữu” của Ngài. Đây là một ân huệ và cũng là lời mời gọi chúng ta phải kiến tạo cộng đoàn thành môi trường của bình an.


 

[1] Quirico T. Pedregosa, Tình yêu là sứ vụ, Anna Nguyễn thị ngọc Diệp chuyển dịch, Nxb Tôn giáo, 2012, tr 49 

[2] Huấn thị Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn số 1

[3] Tông huấn Đời sống thánh hiến số 14 

[4] Sdd số 46

[5] Quirico T. Pedregosa, Tình yêu là sứ vụ, Anna Nguyễn thị ngọc Diệp chuyển dịch, Nxb Tôn giáo, 2012, tr 49

[6]  Tông huấn Đời sống thánh hiến số 46

[7] Vat II, hiến chế Ánh sáng muôn dân số 44

[8] Tông huấn Đời sống thánh hiếnsố 33

[9] Quirico T.Pedregosa, Tình yêu là sứ vụ, Anna Nguyễn thị ngọc Diệp chuyển dịch, Nxb Tôn giáo, năm 2012, tr 81

[10] Huấn thị Quyền bính và vâng phục số 1

[11] Sdd số 1

[12] Dom Columba Marmion, Đức Ki-tô, lý tưởng của Đan sĩ, tập 1, tr 86

 

 

 


Liên quan khác