SUY NIỆM LỜI CHÚA NGÀY TRONG TUẦN, TUẦN II MÙA VỌNG- LM M. Basilio Nguyễn Văn Phán

05/12/2022

THỨ HAI TUẦN II MÙA VỌNG – Lu-ca 5,17-26

Chữa Lành Một Người Bại Liệt

 

Ý nghĩa của NIỀM TIN là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời trong sự tín thác vào Thiên Chúa.

Tin Mừng ngày hôm nay, một nhóm người muốn cứu người thân bị bại liệt, đã khiêng anh ta đến với Chúa Giêsu. Họ biết rằng họ không thể chữa trị cho anh ta nhưng họ có thể đưa anh ta đến với Chúa Kitô. Nhóm người này đã tin tưởng , tín thác vào Chúa Giêsu. Không gì ngăn cản được họ ngay cả khi phải dỡ mái nhà thả người bại liệt xuống và tin chắc rằng Chúa Giêsu sẽ chữa lành anh ta.

Niềm tin dẫn đến hành động, đó là bài học cho chúng ta những người môn đệ Chúa Kitô. Mặc dù không thể cứu các linh hồn nhưng chúng ta có thể là những người cộng tác mang các linh hồn đến với Chúa Kitô. Đó là khi ta thúc dục một người đi lễ hoặc xưng tội hay khi ta làm gương về việc lành, hoặc giới thiệu cho người khác về Chúa Kitô.

Đối lại, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư ngồi đối diện với Chúa Kitô chứng kiến Ngài đang chữa lành bệnh. Trước đó họ đã thấy nhiều phép lạ hơn nhưng vì lòng đố kỵ ganh ghét, họ không tin vào Chúa Kitô. Phép lạ này tới phép lạ khác nhưng đã không làm thay đổi suy nghĩ của họ. Chúa Giêsu quyết định làm một phép lạ để họ tin vào Ngài, bằng cách chữa người bại liệt và thể hiện quyền năng của Ngài để tha thứ tội lỗi, vì bệnh tật là dấu hiệu của tội lỗi theo quan niệm của người Do Thái. Giáo lý của họ trước đây đã được dạy rằng tội lỗi là nguồn gốc của mọi bệnh tật và sự tha thứ tội lỗi là nền tảng duy nhất để phục hồi sức khỏe cho người bệnh. Nhưng những người Pha-ri-sêu và các kinh sư vẫn không đón nhận Ngài.

Trước sự cứng lòng và chậm tin đó, khi người bại liệt được đưa đến xin chữa trị, nhìn thấy đức tin của những người đã mang người bệnh đến với mình, Chúa Kitô đã đáp lại họ và nói với người bại liệt: “Tội lỗi của anh đã được tha thứ.” Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bắt đầu xì xào tỏ vẻ phản đối. Nhưng, để chứng minh rằng Ngài có quyền tha thứ tội lỗi, với một tình yêu mãnh liệt dành cho người bại liệt: Ngài chữa lành cho anh ta ngay trước sự chứng kiến của mọi người.

Chúa Kitô sẽ luôn ở đó để chữa lành và đưa ta đến gần Ngài hơn nhờ bí tích hòa giải, Ngài thể hiện tình yêu sâu thẳm của mình bằng cách tha thứ tội lỗi của chúng ta.

Thế nhưng, ta có muốn trở nên giống Chúa trong sự tha thứ không? Tôi nghe một người phụ nữ nói: “Tôi đã tha thứ cho cô ấy. Tôi đã nói những lời đó và không muốn lặp lại. Tôi thậm chí đã ôm cô ấy, vì tin vào Nước Trời, cô ấy còn muốn gì hơn nữa.” Ta biết loại tha thứ mà chị ta phân phát là sự tha thứ kỹ thuật. Chị đã tha thứ từ ý chí và lý trí nhưng trái tim vẫn giữ mối hận và vẫn đòi công lý cho nó. Điều cần thiết trong việc tha thứ là xua tan đi sự xúc phạm mãi mãi, và giải thoát người khác bằng cách tha thứ tận đáy lòng.

Khi tha thứ thực sự, ta không chỉ giải thoát cho người khác mà còn giải phóng chính mình khỏi những căn bệnh hiểm nghèo mà đã được khoa học chứng minh, khi không tha thứ, chúng ta có thể mắc những chứng bệnh có nguồn gốc xuất phát từ cảm xúc như bệnh về tâm lý hoặc bệnh thể chất, trong các tài liệu y khoa hiện nay. Nhiều nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa các bệnh như ung thư và viêm khớp là kết quả từ cảm giác giận dữ, hận thù và sự cay đắng. Vì vậy, ta hãy xin Chúa ban cho mình một đức tin vững mạnh để có thể làm theo những gì Ngài làm, đó là tha thứ tận đáy lòng. Là ước ao chữa lành mọi bệnh tật tâm hồn và thể xác của tha nhân cũng như của chính mình.

Cuối cùng, chúng ta hãy suy gẫm những lời này của George Herbert: “Không thể tha thứ cho người khác, chính là phá vỡ cây cầu mà ta phải vượt qua nếu muốn đến được thiên đàng; vì mọi người đều cần được tha thứ.” “Xin tha cho chúng con, như chúng con cũng tha, kẻ có nợ chúng con”. Amen.

 

THỨ BA TUẦN II MÙA VỌNG – Mát-thêu 18,12-14

Dụ Ngôn Con Chiên Lạc 

Ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn của Chúa Giêsu về con chiên lạc là gì?

Những người chăn chiên thường đếm chiên của họ vào cuối ngày để xen có con nào bị lạc không. Vì bản chất chiên là sống theo bầy đàn, một con bị cô lập có thể nhanh chóng trở nên hoang mang và thậm chí là bấn loạn. Vì thế, khi một con chiên bị lạc người chăn sẽ rất lo lắng, và anh ta sẽ rất vui sướng nếu tìm lại được con chiên lạc mà đem nó về lại đàn.

Qua hình ảnh của người chăn chiên, Chúa Giêsu muốn nói với ta rằng: Thiên Chúa sẽ không bao giờ dừng lại trong việc tìm kiếm một con người lạc lối do tội lỗi. Ngài không bao giờ bỏ rơi bất cứ ai vì bất kỳ lý do gì. Ngài luôn ra đi và tìm lại những gì đã mất, không bao giờ thoái lui trong việc tìm kiếm chúng ta là những tội nhân lầm lạc. Ngài luôn tìm kiếm ta bởi vì Ngài yêu thương mỗi một người đến mức Ngài thậm chí còn mạo hiểm để chín mươi chín người tốt lại mà đi tìm người lầm lạc; kẻ tội lỗi và đưa họ trở lại với đàn chiên. Thật ra, Thiên Chúa không bao giờ mạo hiểm với bất kỳ ai vì sự thật của vấn đề là tất cả chúng ta đã đi lạc khỏi Ngài. (x. Tv 14), Thánh Phao-lô khẳng định: Tất cả đã lạc lối, tất cả đều băng hoại! Rằng: “Người người đã lìa xa chính lộ, chỉ biết theo nhau làm chuyện suy đồi; chẳng có một ai làm điều thiện, dẫu một người cũng không” (Rm 3,12).

Nhưng ai là người lạc lối, tại sao một người trong chúng ta đi lang thang hoặc rời khỏi đàn chiên, là Giáo Hội?

Tất nhiên ta có tự do và ý chí, có quyền lựa chọn hoặc là ở lại trong Giáo Hội hoặc rời xa. Mặc dầu vậy, nhưng ta biết rằng sự lỗi lầm không chỉ ở nơi một cá nhận bên ngoài đàn chiên mà còn có thể xẩy ra ngay trong lòng Giáo Hội. Con số chín mươi chín vẫn đang ở trong đàn là Giáo Hội nhưng đã không thực sự sống như con cái của Thiên Chúa. Nhiều khi vô tâm, ta có thể đẩy những người lầm lạc đi tới chỗ diệt vong, loại trừ những thành viên có vấn đề nhất ảnh hưởng xấu tới Giáo Hội, cho họ là những thành phần không xứng đáng. Nhưng trong con mắt của Thiên Chúa thì không ai là không xứng đáng, Ngài đến để cứu vớt những con chiên lầm lạc.

Một lý do khác khiến người ta đi lang thang hoặc rời khỏi Giáo Hội cũng có thể là do sự hách dịch và tự hào, thái độ và những lời nói gây tổn thương của không ít người trong chúng ta. Vì vậy, dụ ngôn này không chỉ nói về người chăn, là Thiên Chúa, mà còn nói về mỗi người chúng ta cách này hay cách khác đã đã khiến ai đó rời bỏ đàn chiên, rời bỏ Giáo Hội. Vậy chúng ta sẽ làm gì bây giờ?

Những gì chúng ta sẽ làm là chờ đợi và chuẩn bị đón Chúa trong mùa Mùa Vọng này và cụ thể hãy là những Kitô hữu dấn thân. Khi người ta dám dấn thân trên đường lối của Chúa họ sẽ không thấy nhàm chán mà còn gặp được nguồn hạnh phúc thực sự. Những Kitô hữu dấn thân thực sự trong cầu nguyện, trong việc làm từ thiện… Họ đạt được hạnh phúc hơn rất nhiều so với số đông còn lại. Và đương nhiên họ sẽ không tự đánh mất mình trong số đông của những người không nhận biết Chúa và sẽ không rơi vào tình trạng lạc lối. Hãy sống cho đúng với bản chất của một Kitô Hữu, không đánh mất chính mình.

Như Billy Graham phát biểu: “Khi mất của cải, không có gì mất; khi sức khỏe bị mất, một cái gì đó bị mất; khi nhân cách bị mất, tất cả đã mất.” Vì thế, nếu không trung thành với nhân phẩm của một Kitô Hữu, ta có thể đánh mất tất cả và bị lạc xa Thiên Chúa vĩnh viễn.

Lạy Chúa, khi con bị lầm đường lạc lối, xin dẫn con về trong đàn chiên của Ngài và giúp con biết sống trung thành trong đường lối thánh chỉ của Ngài. Amen.

 

 

THỨ TƯ TUẦN II MÙA VỌNG – Mát-thêu 11,28-30

Sự Hiền Lành Nổi Bật Nơi Chúa Kitô

 Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập đến ‘ách’ và ‘nghỉ ngơi’. Ngài nói: “Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng,” nhưng “Hãy mang lấy ách của tôi vì ách tôi thì êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng.” Sự nghỉ ngơi và ách mà Chúa Giêsu muốn nói tới là gì? Và làm thế nào để có thể biết được ách đó tốt cho ta? Trong tiếng Hy Lạp, từ ‘nghỉ ngơi’ có nghĩa là đổi mới và làm mới hoặc làm cho phù hợp. Nghỉ ngơi ở đây không có nghĩa là hứa hẹn rằng gánh nặng sẽ được cất đi hoặc ta sẽ không còn mệt nhọc nữa. Nhưng được nghỉ ngơi với Ngài hứa hẹn cho ta sự đổi mới và làm cho mạnh mẽ hơn trong hành trình cuộc sống này.

Mặt khác, từ ‘ách’ là một cây gỗ cong được gắn trên cổ của con trâu con bò với mục đích ràng buộc chúng với lưỡi cày để chúng có thể cày ruộng, hay với xe cộ để chúng giúp người kéo xe… (x. Ds 19,2). Trong tiếng Do Thái, từ này cũng được sử dụng theo nghĩa bóng để chỉ sự ràng buộc chặt chẽ những người nô lệ, sự phiền não, sự khuất phục, phục tùng, kỷ luật, nghĩa vụ và vâng phục (x. Lv 26,13). Ách của luật pháp, của đế chế, của các điều răn của Thiên Chúa. Nhưng nó cũng đề cập đến cuộc sống tự do trong sự phục tùng Thiên Chúa. Trong Tân Ước, từ ‘ách’ cũng được sử dụng để biểu thị sự quy phục (x. Mt 11,29.30).

Chúa Giêsu mời gọi ta đến với Ngài vì ách của Ngài là “êm ái” và gánh của Ngài “nhẹ nhàng”. Vì Ngài ban cho ta một vương quốc mới về sự công chính, bình an và hoan lạc. Trong vương quốc của Ngài, tội lỗi không chỉ được tha thứ mà còn được xóa bỏ và sự sống đời đời được tuôn trào cho mọi công dân. Đây không phải là một vương quốc chính trị mà là một vương quốc về tinh thần. Ách của vương quốc của Chúa Kitô, Vương quyền của Ngài là con đường của sự sống, giải phóng chúng ta khỏi gánh nặng tội lỗi, khỏi sự áp lực của tội và những tác hại của ham muốn trần tục dẫn đến sự chết.

Thế nên, đáp lại lời mời của Chúa Giêsu, đến với Ngài, đi uống cà phê với Ngài, để được làm mới tinh thần với Ngài hoặc điểm tâm với Chúa, nếu cuộc sống của ta cảm thấy mệt mỏi và trở nên nặng nề. Đón nhận lời mời này không có nghĩa là ta sẽ không còn gặp khó khăn và thử thách. Nhưng Chúa Giêsu làm cho tất cả những gánh nặng có một ý nghĩa mới. Đến với Ngài, ta có thể đối mặt với bất kỳ thử thách nào vì Ngài   ở bên, nâng đỡ, hướng dẫn và ban cho chúng ta sức mạnh; giúp chuyển hướng cuộc sống, an ủi ta từ tất cả các hình thức của gánh nặng cuộc đời. Đón nhận lời mời gọi của Chúa Giêsu vì Ngài thấu hiểu, đã trải nghiệm những gì đã và đang xẩy đến trong cuộc sống của kiếp nhân sinh.

Công Đồng Vatican II nhắc ta về sự thật này: “Bởi sự nhập thể, Con Thiên Chúa đã hợp nhất chính mình với mọi người. Ngài làm việc với bàn tay con người, Ngài suy nghĩ bằng tâm trí con người, hành động theo lựa chọn của con người và yêu thương bằng trái tim con người” (GS số 22).

Lời mời gọi trong Tin Mừng hôm nay của Chúa Giêsu là một thông điệp tuyệt vời cho mỗi người trong Mùa Vọng này, đặc biệt là nhiều người đang bận rộn với những điều không thực sự quan trọng của cuộc sống, và sáng chế ra vô số những kế hoạch không cần thiết để chúng chiếm giữ tâm trí của mình.

Chuyện kể rằng, sứ giả của Satan đã hỏi Satan về việc phải làm gì với loài người để đánh cắp thời gian của họ khỏi Thiên Chúa. Satan trả lời: “Cám dỗ họ tiêu xài, tiêu xài, tiêu xài, sau đó, mượn, mượn, mượn. Thuyết phục các bà vợ đi làm và các ông chồng đi làm 6 hoặc 7 ngày một tuần, 10 đến 12 giờ mỗi ngày, để họ có thể đủ tiền chi tiêu cho lối sống phóng khoáng của họ. Giữ họ khỏi dành thời gian cho con cái. Chẳng mấy chốc, áp lực công việc sẽ đè bẹp đời sống gia đình và người ta sẽ không còn thời gian đến với Chúa nữa.”

Vậy, thật tốt đẹp và khôn ngoan khi biết tạm dừng một lát, dành thời gian ở với Chúa, làm mới tinh thần với Ngài. Và sau đó tự hỏi mình; thái độ của tôi đối với khó khăn là gì? Tôi có biết đến với Chúa trong cầu nguyện cũng như học hỏi Lời Ngài, để Ngài biến đổi nó nên nhẹ nhàng và êm ái không?

Lạy Chúa, xin giúp con biết tìm đến và trao vào tay Chúa gánh nặng của cuộc đời, để chúng con được đổi lấy ách êm ái và nhẹ nhàng của Chúa; là chính Chúa và tuân giữ Lời Ngài. Amen.

 

THỨ NĂM TUẦN II MÙA VỌNG – Mát-thêu 11,11-15

Chúa Giêsu Làm Chứng Về Gio-an Tẩy Giả

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khen ngợi thánh Gio-an Tẩy giả. Ngài nói trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Nhưng lời khen ngợi được theo sau bởi cụm từ gây sửng sốt này mà Chúa Giêsu nói về Gio-an, “nhưng kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”. Lời khẳng định này có ý nghĩa gì?

William Barclay đã chú giải đoạn văn Phúc Âm này: “Điều còn thiếu ở Gio-an là ông ấy đã không được chứng kiến khi thấy tình yêu của Chúa Giêsu dành cho loài người lúc Ngài biểu lộ ra trên Thập giá.” Ông nói thêm rằng: “Chiều sâu đầy đủ của tình yêu Thiên Chúa là điều mà Gio-an không bao giờ có thể trải nghiệm hoặc biết được”. Theo nghĩa này, chúng ta may mắn hơn Gio-an bởi vì ngay cả những Kitô hữu nhỏ nhất cũng đã trải nghiệm Thánh giá của Chúa Giêsu và có thể cảm nếm được tình yêu của Chúa sâu sắc hơn. Đây thực sự là một món quà vô tận của Thiên Chúa cho chúng ta.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không nói rằng chúng ta nhất thiết phải cao trọng hơn Thánh Gio-an. Vâng, ta có thể được ban phước nhiều hơn Gio- an nhưng điều đó sẽ không có ích gì nếu không đánh giá cao tình yêu mà Chúa đã thể hiện cho ta thấy. Một trong những cám dỗ nguy hiểm là sự quá quen với các phúc lành của Chúa. Khi người ta nhận được nhiều phước lành và quá quen với chúng đến nỗi những ơn ấy không thể tác động đến họ nữa. Ví dụ như người ta hay chỉ trích, kêu ca và hay phàn nàn mặc dù họ đang sống ở một nơi bình an, có đủ mọi tiện nghi cần thiết và rồi người ta không thấy đó là ân sủng của Thiên Chúa để cảm tạ tri ân.

Cũng thế các Kitô hữu đang ngụp lặn trong thời ân sủng của Thiên Chúa nhưng họ vẫn có thể phàn nàn kêu ca đủ điều! và ước ao mình có thứ khác. Điều có thể chắc chắn rằng nếu Chúa ban cho người ta tất cả những gì họ cầu xin, thì cuối cùng người ta cũng sẽ phàn nàn về điều đó. ‘Quen quá hóa nhàm’ hay ‘có voi đòi tiên’ là đặc tính cố thủ của con người, và rồi khi đã quen với phước lành của mình, người ta cũng sẽ không bao giờ có thể hài lòng.

Thánh Gio-an có một vai trò trong kế hoạch của Chúa về sự cứu rỗi của chúng ta. Thánh nhân đã hoàn thành nó một cách anh hùng. Ngài đã chuẩn bị tâm hồn để gặp gỡ Chúa Giêsu và chỉ cho người ta con đường đến với Thiên Chúa mặc dù ngài đã chưa bao giờ được trải nghiệm trong đời. Ngài kêu gọi người ta thay đổi tâm hồn, thay đổi lối sống, thay đổi thái độ đối với Thiên Chúa và đồng loại.

Thánh Gio-an Tiền Hô cũng kêu gọi thay đổi không chỉ bằng lời thú nhận tội lỗi của mình với các linh mục, hay thốt ra vài lời cầu nguyện hoặc tỏ vẻ một vài sự sùng kính mến yêu của mình với Thên Chúa, hay vì ta đã được rửa tội mà cho rằng ta là người Công giáo thì không đủ. Ngài kêu gọi người ta thực hành bác ái, chia sẻ thức ăn và quần áo, thành thật, công bằng và liêm khiết. Đây chính xác là những gì Chúa Giêsu yêu cầu sau này.

Thánh Gio-an Tẩy Giả là gương mẫu của sự khiêm nhường. Khi mọi người đến với ngài để lắng nghe lời giảng dạy, Gio-an có thể tuyên bố rằng ông là Đấng Thiên Sai, và thực sự khán giả của ngài cũng trông chờ điều đó. Nhưng không, Gio-an nói rằng ông thậm chí không xứng đáng để cởi dây quai dép cho Chúa Giêsu. Ông chỉ là người chuẩn bị con đường cho Chúa Giêsu. Và khi nhìn thấy Đấng Cứu Thế, ông chỉ vào Ngài và nói: “Kìa, Con Chiên của Thiên Chúa.” đồng thời cho phép những môn đệ của ông đi theo Ngài. Một trong số họ là Thánh Anrê đã trở thành một trong những tông đồ của Chúa Giêsu.

Henri Frederic Amiel nói: “Sự khiêm tốn thực sự là sự hài lòng”.

Lạy Chúa. Xin giúp con biết bằng lòng với chính những gì mình có, không sống ảo, không chờ để được người đời tôn vinh nhưng tất cả là để cho sự thật, ân sủng và vinh quang của Thiên Chúa như thánh Gio-an Tẩy Giả xưa. Amen.

 

THỨ SÁU TUẦN II MÙA VỌNG – Mát-thêu 11,16-19

Đức Giêsu Phán Đoán Về Thế Hệ Của Ngài

Trong đoạn thứ hai của một lá thơ được viết bởi một cô gái trẻ đã tự tử. Có lẽ nếu những người xung quanh cô đã thể hiện một chút tình yêu hơn và đã chú ý đến cô nhiều hơn, cái chết của cô có thể được ngăn chặn. Đoạn thơ ấy viết:

Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời không phải là chết mà là bị lãng quên. Bị bỏ lại trong cát bụi sau một thành tích tuyệt vời khác.

Để không bao giờ nhận được một cuộc gọi từ một người bạn, chỉ cần nói: “hi = chào”.

Khi bạn tỏ cho ai đó những suy nghĩ sâu thẳm nhất của mình và họ cười vào mặt bạn.

Vì bạn bè luôn quá bận rộn để an ủi trong khi bạn cần ai đó nâng đỡ tinh thần.

Khi có vẻ như người duy nhất quan tâm đến bạn là chính bạn.

Đứng trước tình cảnh vô tâm của dân chúng, họ chẳng thèm để ý đến lời Gio-an Tiền hô cũng như Lời Chúa để sửa đổi, thậm chí còn tìm cách dìm hàng để đưa mình lên, thích được người ta chú ý, thích lấy mình làm trung tâm. Nên Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã so sánh thế hệ này như những trẻ con. Thiên Chúa đã làm tất cả những gì có thể, nhưng người Do Thái từ chối, không tin, không chấp nhận, không thay đổi và không hề hợp tác.

Thiên Chúa đã gửi Gio-an Tẩy Giả và sau đó là Đức Giêsu. Qua hai cách sống khác biệt Gio-an sống một cuộc sống khắc khổ trong hoang địa; gần như kỳ lạ trong mắt người Do Thái, vì ngài không ăn uống theo cách thông thường và được cho là người bị quỷ ám. Trong khi Chúa Giêsu không rời bỏ lối sống thông thường của người Do Thái; Ngài ăn và uống với mọi người, ngay cả với những người bị xã hội ruồng bỏ, nhưng Ngài được gọi là tay ăn nhậu. Không có cách tiếp cận nào có thể làm hài lòng người Do Thái để có thể gợi lên một sự thay đổi trong niềm tin và lối sống của họ. Họ chỉ muốn trở nên những đứa trẻ, chỉ biết khiển trách người khác không chịu hành động theo ý muốn và những trò trẻ con của chính họ.

Vậy còn thế hệ ngày nay, chúng ta có mở ra cho Thánh Linh của Thiên Chúa, và để cho Ngài thổi gió Thánh Linh của Ngài vào nơi Ngài muốn không? Ta có cởi mở với nhiều thay đổi và bất ngờ mà Chúa mang đến trong cuộc sống của mình, trong nhà thờ và trên thế giới không? Thật ra, Chúa đang kêu gọi chúng ta thay đổi để tốt hơn và luôn biết thuận theo tất cả những thay đổi mà Ngài đã ban khi Lời của Ngài đến trong cuộc đời chúng ta.

Làm thế nào giúp ta có thể thay đổi đích thực theo đúng thánh ý của Thiên Chúa?

Đầu tiên, ta phải cầu nguyện, xin ân sủng Thánh Linh của Thiên Chúa giúp biện phân cái gì là tốt, cái gì là hoàn hảo và cái gì là thánh thiện, vì ở giữa dòng đời này, nhiều khi bị đảo lộn giữa những giá trị với nhau, đôi khi những cái tạm bợ được đề cao và cái vĩnh cửu bị xem thường, việc cơm áo gạo tiền, việc ăn uống được xem như đẳng cấp, như những người Do Thái xưa đã đem ra để đánh giá Đức Giêsu và Gio-an Tẩy giả, mà không nhận ra giá trị đích thật của ơn cứu độ đang ở giữa họ. Có khi nào qua kiểu cách ăn xài mà ta đánh giá người khác không đúng với phẩm giá mà Thiên Chúa nhìn về họ không?

Muốn có một cái nhìn đúng và đặc biệt nhìn ra giá trị của ơn cứu độ xẩy đến hàng ngày xuyên qua những con người mà ta gặp gỡ, thì phải yêu mến con người của Giêsu Kitô. Một khi đã yêu Ngài, ta sẽ thay đổi, ngay cả khi điều đó là sự đau đớn cho bản tính con người thì điều đó cũng không thành vấn đề. Vì ta không còn sống cho những gì mình muốn, nhưng quan tâm tìm kiếm những gì mình yêu thích. Đây là tình yêu, là những gì làm cho một người hạnh phúc. Vì nó làm thỏa mãn người mình yêu và muốn làm mọi sự cho người yêu như chính Đức Giêsu đã làm cho chúng ta. Trở nên giống người mình yêu, nên một với Đức Kitô. Đây chính là cùng đích mà Thiên Chúa đã tạo ra con người.

Suy tư về việc thay đổi để làm cho thế hệ của mình nên tốt đẹp hơn, Leo Tolstoy đã có nhận định: “Mọi người đều nghĩ đến việc thay đổi nhân loại và không ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình.”

Thomas a’Kempis có lời khuyên: “Đừng nóng giận vì bạn không thể xếp đặt người khác như những gì bạn muốn ở nơi họ, trong khi bạn không thể làm cho chính mình những gì mình muốn.”

Lạy Chúa Giêsu, xin biến đổi con để tâm hồn và thể xác con luôn có cái nhìn của Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, qua mọi người mà con gặp gỡ, để con nhận ra Chúa đang yêu thương họ cũng như yêu thương con, nhận ra bàn tay của Chúa nơi họ để trong mọi lúc con luôn thấy Chúa hiện diện qua mọi tạo vật của Ngài mà ca ngợi tán dương. Xin ban Thánh Linh của ngài biến đổi con luôn nhìn đời bằng đôi mắt của Chúa. Amen.

 

THỨ BẢY TUẦN II MÙA VỌNG – Mát-thêu 17,9a.10-13

Câu Hỏi Về Ngôn Sứ Ê-li-a

Chuyện kể rằng: một nhóm học sinh trung học đang trang trí khán phòng của trường để chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Họ cảm thấy cây thánh giá dường như không phù hợp với mùa Giáng Sinh, họ đang tìm cách gỡ nó ra khỏi tường. Trong khi đó, một giáo viên của họ, Ngài cũng là một linh mục, bước vào. Ngài đã cố thuyết phục những học sinh giữ lại cây thánh giá. Và giải thích cho họ hiểu “Lý do tại sao Đức Giêsu Kitô sinh ra là để chết trên thập giá.”

Có vẻ như không phù hợp để ta vui cười khi một trong những người thân của mình đã chết. Và dường như không phù hợp để ta nói về cuộc vượt qua và cái chết của Chúa trong mùa Giáng Sinh. Nhưng ta không thể quên rằng; không thể tách thập giá ra khỏi sự ra đời của Đức Giêsu. Vì Thập Giá không phải là dấu hiệu của sự sỉ nhục mà là dấu hiệu của vinh quang. Đức Giêsu được sinh ra để cứu chúng ta khỏi bất cứ điều gì xấu xa.

Tin Mừng Mát-thêu 17,1-13 cho chúng ta biết về sự kiện biến hình trên núi của Đức Giêsu trước sự chứng kiến của ba môn đệ là Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an. Có ông Mô-sê và tiên tri Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.

Tiếp sau sự kiện đó là bài Tin Mừng hôm nay. Khi ba môn đệ từ trên núi xuống, Chúa Giêsu cấm họ không được nói với ai, cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết. Đây là một bí mật của Đấng Thiên Sai, và lúc này Đức Giêsu không muốn ai khác biết về điều đó. Và chỉ sau cái chết và sự Phục Sinh của Chúa, Phê-rô đã viết về sự việc này trong 2 Pr 1,16-18:

Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến”. Tiếng đó chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người.

Chứng kiến sự biến hình của Thầy Giêsu dường như gây ấn tượng rất lớn với các môn đệ về thực tế rằng Đức Giêsu thực sự là Đức Kitô, Đấng cứu thế. Tuy nhiên, họ còn rất phân vân về những điều được tiên báo trong Cựu Ước nên đã hỏi Đức Giêsu rằng: “Sao các kinh sư nói rằng ông Ê-li-a phải đến trước?” Họ tin chắc rằng Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a đã báo trước, nhưng họ hiểu rằng Ê-li-a sẽ trở lại trước Đấng Mê-si-a. Điều đó đã được báo trước trong Ma-la-ki 3,23-24 “Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi Ngày của ĐỨC CHÚA đến, ngày trọng đại và kinh hoàng. Nó sẽ đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu và đưa tâm hồn con cháu trở lại với cha ông, kẻo khi Ta đến, Ta sẽ đánh phạt xứ sở đã bị án tru diệt.”. Vì vậy, nếu Đức Giêsu thực sự là Đấng Cứu Thế, thì tiền hô của Ngài là ai?

Khi Gio-an Tẩy Giả rao giảng và làm phép rửa, người ta cũng đã chất vấn ông là ai, có phải là Ê-li-a không? Ông nói: “không phải.” họ hỏi tiếp: “Ông có phải là một ngôn sứ chăng?” Ông đáp: “Không.” (Ga 1,21). Tuy nhiên, Gio-an đã đến với tinh thần và sức mạnh của Ê-li-a. Điều này được sứ thần Gáp-ri-en loan báo khi truyền tin cho ông Za-ca-ri-a trong Tin Mừng Lu-ca 1,17 đã nói: “Được đầy Thần Khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.

Nếu dân Ít-ra-el đã chấp nhận và tin rằng Gio-an Tẩy Giả đã đến với tinh thần và sức mạnh của Ê-li-a, thì ông sẽ hoàn thành vai trò của Ê-li-a. Như Đức Giêsu nói: “Và nếu anh em chịu tin lời tôi, thì ông Gio-an chính là Ê-li-a, người phải đến” (Mt 11,14). Tất nhiên, họ đã không đón nhận được sự thật về việc Gio-an là ai. Vì sự từ chối của họ đối với Gio-an và với Chúa Kitô, họ vẫn tiếp tục chờ đợi Ê-li-a (hoặc một nhà tiên tri có cùng chí hướng khác) đến để chuẩn bị cho Chúa đến. Còn Đức Giêsu đã khẳng định cho ta: “Nhưng Thầy nói cho anh em biết: ông Ê-li-a đã đến rồi và họ không nhận ra ông, nhưng đã xử với ông theo ý họ muốn. Con Người cũng sẽ phải đau khổ vì họ như thế.” (Mt 17,12).

Tại sao người Do Thái vẫn tiếp tục chờ mặc dù điều đó đã đến, phải chăng họ không thể lĩnh hội được những gì Đức Giêsu đã giảng? có lẽ không phải thế, vì họ được xem là một dân tộc được tuyển chọn và nổi tiếng về thông minh. Nhưng điều Gio-an Tiền Hô và Đức Giêsu giảng không phải là điều họ trông chờ. Họ trông chờ hình ảnh của một Ê-li-a bất bại, một Mê-si-a mạnh mẽ đánh dẹp vạn quân và làm cho dân tộc họ trở nên bá chủ hoàn cầu. Vì thế họ đã không lĩnh hội được ơn cứu độ của Chúa.

Trong mùa vọng, nếu ta chỉ trông chờ một Đấng sẽ sinh ra cho nhân loại theo ý riêng và theo sự hiếu chiến của mình ta sẽ thất bại. Vì Đấng cứu độ đến chỉ là một trẻ sơ sinh yếu đuối đặt nằm trong máng cỏ hôi tanh nơi hang bò lừa mà thôi. Chỉ những ai có tâm hồn đơn sơ và nghèo khó như các mục đồng mới có thể diện kiến được Ngài.

Lạy Chúa, xin biến đổi lòng trí chúng con, để chúng con có thể đón nhận được Chúa nơi những gì là tầm thường nghèo hèn và nhỏ bé nhất trong cuộc sống hàng ngày. Amen.

 


Liên quan khác