THỨ HAI – Lu-ca 4,24-30
Chúa Giêsu Bị Từ Chối Tại Na-da-rét
Dưới đây là những bình luận về cha xứ trong một giáo xứ điển hình có tên là “Tu sĩ linh mục luôn luôn sai” được diễn tả như sau:
Nếu cha xứ bắt đầu thánh lễ đúng giờ, mọi người nói đồng hồ của ngài sai.
Nhưng nếu cha xứ đợi mọi người vào đông đủ, họ nói ngài chưa bao giờ đúng giờ.
Nếu cha xứ giảng quá lâu, họ nói rằng nhàm chán.
Nhưng nếu bài giảng của cha xứ quá ngắn, họ nói ngài không chuẩn bị. Nếu cha xứ yêu cầu quyên góp, họ nói ngài tham lam.
Nhưng nếu cha xứ không kêu gọi, họ nói ngài tự cao và lười biếng. Nếu cha xứ đến thăm các gia đình, họ nói ngài luôn thích ở ngoài.
Nhưng nếu cha xứ ở lại nhà xứ, họ nói rằng ngài không có thời gian dành cho họ.
Nếu cha xứ còn quá trẻ, họ nói ngài không có kinh nghiệm. Nhưng nếu cha xứ hơi lớn tuổi, họ nói ngài nên nghỉ hưu. Nhưng khi một cha xứ qua đời, không ai có thể thay thế ngài.
Tính cao ngạo, nhiễu khê và hay đòi hỏi người khác dường như là bản tính cố thủ của con người. Ngay cả những người xem ra không làm nên chuyện gì nhưng phê bình và yêu sách xem ra cũng không thua một ai!
Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã trở lại Na-da-rét và Ngài đang giảng trong hội đường. Người ta đã cho rằng, Ngài là người con trong làng nên có nghĩa vụ phải thực hiện phép lạ cho họ. Ưu tiên cho họ trước bất cứ ai hay bất cứ nơi nào khác, những người bệnh của họ nên được chữa lành trước. Nhưng Chúa Giêsu cho họ thấy rằng Ngài thực hiện mọi việc, không chỉ với họ mà còn với tất cả mọi người; rằng Chúa quan tâm đến tất cả mọi người không có sự thiên vị nào. Ngài đến trần gian với vai trò Đấng Cứu thế chứ không phải là một người làm vui cho họ như lời khẳng định: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”. Đó là trong tình huống người ta muốn dùng ý kiến đám đông để áp đảo Ngài, nhưng Ngài vẫn làm chủ mọi tình huống và chỉ cho họ thấy việc sai trái mà họ sắp làm. Việc ấy dường như là một bệnh di truyền từ thời cha ông của họ.
Chúa Giêsu đã trích dẫn các ví dụ của hai nhà tiên tri nổi tiếng: Ê-li-a, người đã làm phép lạ để nuôi sống một góa phụ ở Sa-rép-ta (1V 17,9) là người sống trong lãnh thổ ngoại giáo của miền Xi-đôn khi có nạn đói trên khắp Ít-ra-el; và Ê-li-sa, người đã thanh tẩy Na-a-man người xứ Sy-ri-a (2V 7,1.3) bị bệnh phong hủi mặc dù ông ta là người nước ngoài và có thể nói là kẻ thù. Và điều này làm những người nghe Ngài tức giận, vì họ muốn coi mình là độc quyền đối với Thiên Chúa. Họ đã phẫn nộ vì cho rằng họ là những người được Chúa chọn. Nhưng ở đây, Chúa Giêsu đã đặt tất cả họ lên cùng một cấp độ. Và như thế dân làng muốn tẩy chay Ngài. Có lẽ không có cái buồn nào hơn khi bị những người đồng hương từ chối, trong khi, đáng ra họ phải là những người hậu thuẫn vững chắc cho Người Con của xứ sở, đã ra đi nổi tiếng như cồn, và nay đem vinh quang về để công bố cho họ, một món quà vô cùng vĩ đại, đó là Tin Mừng cứu độ. Tệ hơn nữa, vì sự tức giận, người ta đã đuổi Ngài ra khỏi thành chỗ đỉnh núi cao với ý định đẩy Ngài xuống vách đá.
Qua đó cho thấy rằng, người ta chỉ muốn một Thiên Chúa đến để thực hiện ý họ, chứ không phải để ý Chúa được thực hiện. Việc đón nhận và thực thi thánh ý Chúa thật không dễ chút nào, vì con người ta đầy cao ngạo và độc đoán.
Cũng chẳng hơn gì những người dân làng Na-da-rét xưa, thường chúng ta yêu mến Thiên Chúa vì Ngài làm điều này điều nọ cho mình, khi ta muốn gì là Ngài đáp ứng ngay. Nếu không được như thế, chúng ta cũng sẽ tẩy chay Ngài cách nào đó. Như có những người chạy đến với các tà thần, bói toán, bùa ngải, hay cậy đến sức mạnh và thế lực trần gian để thỏa mãn ước muốn của mình. Thay vì lắng nghe và đón nhận thánh ý Chúa, người ta lại tìm cách đẩy Chúa ra khỏi cuộc đời của mình.
Ơn cứu độ là tình yêu nhưng không và là sáng kiến của Thiên Chúa dành cho con người chứ không phải do ý muốn của chúng ta. Muốn đón nhận được ơn cứu độ thì điều cần thiết là sự khiêm tốn lắng nghe và chấp nhận mọi thứ từ Thiên Chúa, từ Lời của Ngài. Khiêm tốn mới mở lòng đón nhận sự thật và sự thật sẽ giải phóng chúng ta. Amen.
ӷ
THỨ BA – Mát-thêu 18,21-35
Dụ Ngôn Tên Đầy Tớ Không Tha Thứ
Nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình, thì Chúa Cha cũng không tha thứ cho anh em.
Bác sĩ tâm thần nổi tiếng Tiến sĩ Karl Menninger10 từng nói rằng nếu ông có thể thuyết phục các bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần rằng tội lỗi của họ đã được tha thứ, 75% trong số họ có thể ra về vào ngày hôm sau!
Một trong những từ đẹp nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào là từ “tha thứ”. Trong tiếng Anh, tha thứ là động từ “To Forgive” nếu chia từ này ra hai phần “For = vì, bởi vì”, và phần còn lại là động từ “To Give = cho” có nghĩa là cung cấp cho ai đó một sự giải thoát khỏi sai lầm mà anh ta đã làm với bạn. Nó có nghĩa vì bạn đã từ bỏ bất kỳ quyền trả thù, vì đã cho rồi không còn tính đến nữa.
Theo đó, có năm loại tha thứ trong Kinh thánh.
Đầu tiên là sự tha thứ tội lỗi. Đây là sự tha thứ vĩnh viễn cho mọi tội lỗi của con người “Nhờ tin vào Đức Kitô, chúng ta sẽ được ơn tha tội và được hưởng phần gia tài cùng với các người đã được thánh hiến” (Cv 26,18). Và “Nhờ máu Thánh Tử đổ ra, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi” (Ep 1,7).
Thứ hai là sự tha thứ của người cha. Đây là sự phục hồi mối tương giao với Chúa sau khi chúng ta phạm tội. Các điều kiện có hai mặt: (a) xưng tội, “nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta.” (1Ga 1,9); (b) thực hiện tha thứ cho người khác (Mt 18,35).
Thứ ba là tha thứ cá nhân. Đây là sự phục hồi mối tương giao của chúng ta với những người khác. Điều này rất quan trọng vì Chúa Giêsu dạy rằng, chúng ta được tha thứ nếu chúng ta sẵn sàng tha thứ cho người khác (x. Mt 6,14-15).
Thứ tư là sự tha thứ xã hội. Đây là sự phục hồi mối tương giao của chúng ta với xã hội, (người phụ nhữ ngoại tình được tha thứ. Ga 8, 1-10). Đây có thể là một thái độ cá nhân hoặc cho phép chúng ta tham gia vào các chương trình cộng đoàn.
Thứ năm là sự tha thứ của Giáo Hội. Đây là sự phục hồi mối tương giao với Giáo Hội (2Cr 2,5-11). Sự tha thứ này giả định phạm kỷ luật của Giáo Hội. Mục đích của kỷ luật là phục hồi; và tha thứ dựa trên sự ăn năn sám hối và được phục hồi.
Và đối với người Do Thái tha thứ cho người khác không chỉ là nghĩa vụ phải hoàn thành mà còn là một phần của đời sống tôn giáo của họ. Như trong sách Huấn Ca đã viết: “Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi của bạn sẽ được tha” (Hc 28,2). Nhưng sự tha thứ có giới hạn đối với người khác. Như trong sách Gióp: “đó là tất cả mọi việc Thiên Chúa làm cho người ta hai lần rồi ba lần” (G 33,29). Hầu hết các nhà lãnh đạo Do Thái trong thời gian đó đề xuất rằng nó là quá đủ để tha thứ bốn lần. Người Việt Nam thì có câu, “Quá tam = Ba lần”.
Đó là lý do tại sao trong bài đọc Tin Mừng hôm nay, Thánh Phê-rô nghĩ rằng ông vượt quá sự dạy dỗ của các giáo sĩ, đưa ra một đề nghị tha thứ cho người khác bảy lần, một con số hoàn hảo cho người Do Thái; nó có nghĩa là hoàn thành như trong bảy ngày để tạo ra thế giới. Phê-rô nghĩ rằng ông đủ hào phóng và xứng đáng nhận được sự đánh giá cao từ Chúa Giêsu. Nhưng Ngài trả lời Phê-rô: Không phải bảy lần mà là bảy mươi lần bảy. Nói cách khác, Chúa Giêsu yêu cầu các môn đồ của Ngài tha thứ cho người khác không giới hạn và mọi lúc. Tha thứ là vấn đề của tình yêu và không phải là bao nhiêu lần.
Mặc dầu vậy, tha thứ là điều rất khó để thực hiện, đặc biệt là nếu chúng ta bị tổn thương do những rắc rối trong quá khứ, bị từ chối và sỉ nhục, nghi ngờ và mất lòng tin. Sự tha thứ bị tổn thương đặc biệt là khi nó được mở rộng cho ai đó không xứng đáng với điều đó; không muốn đón nhận nó; và có thể sử dụng sai nó (được ông chủ tha bổng vì món nợ khổng lồ nhưng lại bắt bạn mình nhốt tù vì một món nợ nhỏ xíu). Tha thứ cũng phải trả giá, đặc biệt là khi chấp nhận thay vì đòi đền bù cho việc làm sai trái của ai đó; giải phóng người khác thay vì trả thù để được công bằng; vươn tới trong tình yêu thay vì ràng buộc trong oán giận.
Nhưng tha thứ là nhu cầu sâu sắc nhất của con người, đồng thời là thành tựu cao nhất. Ta hãy giải phóng chính mình và người khác thông qua việc xưng tội và cầu nguyện. Để được giải thoát thực sự. Hãy dấn thân cho sự tha thứ chữa lành mà chúng ta và thế giới rất mong mỏi. Vì “chính lúc thứ tha là khi được tha thứ” (Thánh Phan-xi-cô Át-si-si). Tốt nhất là tha thứ và quên đi còn hơn là oán giận và giữ lại, nó sẽ tự gậm nhấm và giết chết chính mình.
Lạy Chúa, xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con. Amen.
ӷ
THỨ TƯ – Mát-thêu 5,17-19
Ai Tuân Hành Và Dạy Làm Như Thế, Thì Sẽ Được Gọi Là Kẻ Lớn.
“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.”
Chúa Giêsu đề cập đến loại luật nào trong Tin Mừng hôm nay?
Đó chính là Luật mà Môi-sê nhận được từ núi Sinai. Nó cũng áp dụng cho năm cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước (Ngũ Kinh) bao gồm Mười Điều Răn. Đối với người Do Thái, Luật là sự thể hiện đầy đủ và chính xác ý chí của Thiên Chúa; một hướng dẫn đầy đủ và an toàn về hành vi chi phối đời sống đạo đức, tôn giáo và thế tục của người Ít-ra-en. Chúa Giêsu đã lớn lên và trưởng thành như một người Do Thái sùng đạo và đã tuân giữ lề luật. Luật này cũng ảnh hưởng trực tiếp trên toàn bộ giáo huấn của Ngài cho dân bằng cách cụ thể Ngài đã tuân giữ và thi hành nó trong đời sống hàng ngày. Nhưng trong tình trạng áp dụng luật một cách sai lệnh của tầng lớp lãnh đạo lúc đó đã làm cho Chúa Giêsu phiền lòng, có những lúc Ngài rất gắt gao lên án những người đã đặt gánh nặng lên vai người khác mà đó không phải ý định của Thiên Chúa. Điều này mang đến sự nghi hoặc rằng Ngài sẽ xoá bỏ lề luật để thiết lập một đế chế mới. Trái lại, Chúa Giêsu khẳng định rất rõ rằng lề luật phải được thực hiện đúng với bản chất của nó như các giới răn và đặc biệt xuyên qua đời sống của Ngài.
Chúng ta cùng suy niệm về ba điều Chúa Giêsu nói về luật pháp:
Đầu tiên, “Thầy đến không phải để bãi bỏ mà để kiện toàn”. Thiên Chúa chuẩn bị cho dân của Ngài để được cứu thông qua luật pháp và các tiên tri. Và Chúa Kitô đến để kiện toàn, hoàn thiện và mang đến sự trưởng thành của luật pháp và các tiên tri, cho người ta sự giải thích đúng đắn. Ngài đặt trọng tâm của lề luật vào lòng thương xót chứ không phải là những chi tiết vụn vặt về mặt pháp lý; về tình yêu sâu rộng chứ không phải trên các chi tiết nhỏ nhặt hình thức; về cam kết chân thành tích cực chứ không cấm đoán bên ngoài. Và người ta tìm thấy khoảng mười lăm lần trong Phúc Âm của Thánh Mát-thêu, Chúa Giêsu đề cập đến việc Ngài đến để kiện toàn lề luật.
Thứ hai, “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời.”
Có một cách nhìn mới của giới trẻ ngày nay nói rằng: “Lề luật chính là trung tâm của sự đổ vỡ”. Tại sao họ khẳng định vậy? Có lẽ bởi vì do cách áp dụng luật của những người lớn như “phải làm cái này, không được làm cái kia!” mà không có một lời giải thích cho họ hiểu và chỉ chụp lên họ những quy tắc, đó là nguyên nhân xẩy ra xung đột đổ vỡ trong hạnh phúc gia đình do sự chủ quan của các bậc cha mẹ. Những quy tắc thì luôn có vẻ ngột ngạt vì chúng đối lập trực tiếp với con người tự nhiên. Nhưng để giữ luật và dạy cho con em mình cũng yêu mến luật thì cần có sự khôn ngoan uyển chuyển trong việc giữ và áp dụng, để sự hiểu biết được tăng phần yêu mến, giúp họ hiểu biết lợi ích của luật như: “mình giữ luật thì luật sẽ giữ mình”, xã hội này không có lề luật thì mọi sự sẽ diễn ra thật khủng khiếp… Cũng thế, luật và giới răn của Thiên Chúa không phải gánh nặng mà là con đường Thiên Chúa muốn chúng ta dùng để đến với Ngài, cách nhanh nhất và ngắn nhất miễn là chúng ta yêu mến và tuân giữ Mười Điều Răn, Tin Mừng, thập giá và giáo huấn của Giáo Hội.
Thứ ba, “Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.”. Luật đạo đức có “nguồn gốc từ Thiên Chúa và luôn tìm thấy nguồn gốc của mình trong Ngài”11. Thiên Chúa không phải là một nhà độc tài nhẫn tâm mà là một người Cha yêu thương, Ngài sẽ làm tốt nhất có thể cho chúng ta khi nói: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?” (Mt 7,9-10). Chúa Giêsu đặt ra câu hỏi bởi vì Ngài muốn cho ta biết Chúa Cha và luật pháp của Người chính là một dấu hiệu cho thấy Ngài yêu thương và chăm sóc chúng ta. Thiên Chúa không bao giờ ngừng mong muốn những gì thực sự tốt nhất cho con người. Thiên Chúa đã và sẽ luôn là tình yêu. Và kế hoạch của Ngài là chúng ta sẽ được ở bên Ngài mãi mãi.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con hiểu đúng và yêu mến các giới răn và Tin Mừng của Chúa, để qua việc trung thành thực thi đương lối của Chúa, sẽ dẫn chúng con đến kết hiệp nên một với Ngài muôn đời. Amen.
ӷ
THỨ NĂM – Lu-ca 11,14-23
Ai Không Đi Với Tôi Là Chống Lại Tôi
Có một nhận định về Satan của Thomas Brooks như sau: “Satan hứa hẹn những điều tốt nhất nhưng trả giá bằng những điều tồi tệ nhất. Hắn hứa hẹn danh dự và trả giá bằng sự ô nhục. Hắn hứa hẹn niềm vui và trả giá bằng nỗi đau. Hắn hứa hẹn lợi nhuận và thanh toán bằng thua lỗ. Hắn hứa hẹn sự sống và trả giá bằng cái chết.”
Chúa Giêsu thực hiện rất nhiều sự chữa lành và trừ tà cho nhiều người, giải phóng họ khỏi những áp bức và sự cầm giữ của tà thần. Nhưng một số nhà lãnh đạo Do Thái, trong Tin Mừng ngày hôm nay, đã phản ứng kịch liệt với sự chữa lành và trừ tà của Chúa Giêsu. Họ đã dùng những lời vu khống độc hại để bóp méo sự thật và chống đối Ngài. Không có gì tàn nhẫn và bất chính như vu khống. Họ luôn có xu hướng nghĩ điều tồi tệ nhất, và rất thường mọi người thích nghe những lời nhận xét xấu và xúc phạm hơn là ca ngợi tính tốt và trung thực của câu chuyện. Đôi khi chúng ta cũng phạm cái tội lỗi đặc biệt này. Vu khống nói xấu giết chết danh tiếng của người khác, đó cũng là tội rất nặng. Thế nhưng thỉnh thoảng chúng ta vẫn cách nào đó lặp lại tội này, đôi khi mình giết chết danh tiếng của người khác chỉ vì không thích một tách cà phê! Hay vì họ không phải là người mình thích, hoặc họ không cùng niềm tin tôn giáo…
Khi thấy Chúa Giêsu dùng quyền năng để giải phóng những người bị Sa-tan chiếm giữ, các nhà lãnh đạo Do Thái đã cho rằng Ngài liên minh với Sa-tan. Họ gán quyền năng của Ngài cho Sa-tan hơn là cho Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu chất vấn họ: “Bởi lẽ các ông nói tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ. Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông”. Lời chất vấn này như thể Chúa Giêsu đang nói với họ: Này, có một trong những ngón tay của bạn đang chỉ vào tôi nhưng hãy nhìn xem, ba ngón tay còn lại cũng đang chỉ vào bạn.
Đi xa hơn những chất vấn lương tâm, những câu hỏi gợi ý, Chúa Giêsu khẳng định “Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (c.23). Với Chúa Giêsu, phải có một thái độ dứt khoát, không thể trốn tránh quyết định; không thể lấp lửng chờ may rủi. Bởi vì có một cuộc chiến trong thế gian này luôn diễn ra giữa thiện và ác. Trong cuộc chiến này, không thể vẫn trung lập hoặc lúc bên này lúc bên kia. Nếu chúng ta từ chối đứng về phía Thiên Chúa, điều đó có nghĩa là, chúng ta chấp nhận hoặc đứng về phía Sa-tan. Mà chúng ta biết rằng cuối cùng Thiên Chúa sẽ chiến thắng trong cuộc chiến này. Vậy, tại sao ta cho phép mình đứng về phía thua cuộc? Nhưng làm thế nào để biết chắc ta đang đứng về phía Thiên Chúa? Nó có thể được hiển thị theo cách này:
Đầu tiên là nhờ sự vâng lời đối với Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng đã gặp phải sự chống đối của bản thân trong cuộc chiến đấu với Sa- tan khi Ngài bị đưa vào thử thách ở nơi hoang địa, ngay trước khi công khai sứ vụ của Ngài. Nhưng Ngài chiến thắng kẻ ác qua sự vâng phục theo ý muốn của Chúa Cha. Hãy theo gương Ngài. Cho dù, tiếng gọi của sự vâng phục là không dễ, bản năng con người muốn tự do, lựa chọn và làm những gì cảm thấy thích. Và trên quá trình sử dụng tự do, người ta đã từng lạm dụng nó để lựa chọn theo ý riêng, theo sự xúi dục của Sa-tan. Đó là giường mối của tội lỗi xâm nhập và gây thiệt hại cho con người về mặt tâm linh. Thế nên, sự vâng phục là cần thiết qua việc linh hướng của các linh phụ, các bề trên hợp pháp. Đó cũng là cách hữu hình cậy dựa vào Thiên Chúa, và vào Lời Ngài cũng như các Bí tích của Ngài trong sự hướng dẫn của Giáo Hội.
Thứ hai là lòng trung thành với Thiên Chúa. Luôn ý thức mình đang sống trong ân sủng và tình yêu của Ngài, sống trong niềm tin và sự tha thứ, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội tránh xa được những ganh ghét và sự vu khống cho người khác cũng như của người khác, tránh xa khỏi óc bè phái và kỳ thị, cô lập và loại trừ, thành kiến và chụp mũ người khác.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết nhìn nhận sự thiện hảo bởi Chúa, không thêm bớt gian manh và dụng ý xấu, nhưng luôn sáng suốt đón nhận sự thật, đón nhận được hoa trái của sự sống có thể đến từ bên ngoài Giáo Hội hữu hình. Để chúng con luôn đi trên đường chân thật là Chính Chúa. Để chúng con không bị lôi cuốn bởi sự lọc lừa của ma quỷ và của tính ích kỷ bản thân, nhưng luôn trung thành trong đường lối của Chúa là đường dẫn chúng con tới sự sống muôn đời. Amen.
THỨ SÁU – Mác-cô 12,28-34
Điều Răn Vĩ Đại Nhất
Một ngày sau khi tôi cử hành thánh lễ buổi sáng, một người phụ nữ đã tiếp cận tôi vì cô ấy muốn một lời khuyên. Theo sự trình bày rằng cô đã phạm tội nghiêm trọng vì đã vi phạm điều răn thứ ba của Thiên Chúa, rằng cô đã bỏ lỡ Thánh lễ Chúa nhật trước đó vì cô không thể rời bỏ con gái bị bệnh nặng vào ngày đó. Tôi trả lời: Này cô, cô sẽ phạm tội trọng nếu bỏ mặc con gái ốm yếu của mình để đi lễ mà không có ai chăm sóc cho con bé.
Tin Mừng hôm nay, qua câu hỏi của một kinh sư về điều răn nào là quan trọng nhất? Là một trong những người thông thạo sáu trăm mười ba giới luật trong Cựu Ước cùng với rất nhiều lời bình luận của các Rab-bi. Câu hỏi được đặt ra có thể là để kiểm tra và xem liệu Chúa Giêsu có hiểu đúng về lề luật không. Hoặc có thể vị kinh sư này cũng chân thành khi đặt câu hỏi, bởi vì thái độ mừng rỡ và trân trọng, cũng như ông đã phụ hoạ theo cách xác tín khi gặp được câu trả lời của Chúa Giêsu. “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”
Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tóm tắt cho ta ý nghĩa về luật pháp của Thiên Chúa và mục đích của nó. Ngài tóm tắt một cách đơn giản trong một chữ YÊU với hai chiều kích rõ ràng: chiều dọc là Thiên Chúa, và yêu với trọn vẹn con người của mình và chiều ngang là tha nhân, yêu như yêu chính mình. Như vậy, Tình yêu của Thiên Chúa đến trước và tình yêu của tha nhân được đặt nền tảng vững chắc trong tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng thánh Gio-an Tông Đồ lại cho ta thấy hành động của việc yêu thương tha nhân nói nên dấu chỉ của người có lòng yêu mến Thiên Chúa khi Ngài nói: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Hai chiều kích của giới răn Yêu như hoà quyện hỗ tương lẫn nhau. Vì thế, nếu vì phải chăm sóc cho cô con gái bệnh tật mà không thể đi lễ ngày chúa nhật thì việc làm đó đã chu toàn lề luật của Thiên Chúa. Trừ ra những người không thực sự có lòng yêu mếm mà thích nại vào những lý do không thực sự cần thiết đến độ phải ưu tiên hơn việc tuân giữ giới răn thứ ba. Chính Chúa Giêsu cũng đã rất hay chữa bệnh cho người ta trong ngày Sa-bát.
Chiều kích hàng dọc của giới răn YÊU Chúa Giêsu đã rút ra từ Sách Đệ Nhị luật 6,4: Điều này được gọi là Shema hoặc “Nghe đây!” Điều này rất quan trọng đối với người Do Thái vì đây là lời cầu nguyện buổi sáng và buổi tối của họ. Đối với họ đây là những lời để sống cũng như để chết. Đây là câu đầu tiên mà mọi đứa trẻ Do Thái nên ghi nhớ và lời cầu nguyện mà mọi người Do Thái giáo hy vọng sẽ có trên môi khi họ lâm chung.
Chiều kích hàng ngang của giới răn YÊU được Ngài rút ra từ Sách Lêvi 19,18: Yêu tha nhân là biểu hiện của tình yêu dành cho Thiên Chúa. Cả hai có một mối liên hệ mật thiết giao thoa với nhau tạo nên cây thập giá của Chúa Giêsu, dấu chỉ của ơn cứu độ.
Cây thập giá của Chúa Kitô chính là lời mời gọi của tình yêu và thúc đẩy chúng ta sống hai chiều kích của giới răn Yêu. Có thể cụ thể hoá qua ba cách sau:
Đầu tiên, Tình Yêu thông qua sự vâng lời. Chúa muốn chúng ta vâng lời Ngài. Cơ hội tuyệt vời để vâng lời Ngài là thực hiện những gì Ngài đã truyền dạy, trong tất cả những thăng trầm của tình yêu thập giá. Thiên Chúa không nhìn vào những hành động chúng ta có thể thực hiện, thay vào đó, Ngài nhìn xem liệu chúng ta có sẵn lòng phục tùng ý chí của mình theo ý muốn của Ngài không. Tình yêu đích thực được thể hiện bằng sự vâng lời.
Thứ hai, Tình Yêu thông qua việc bác ái. Người Công giáo chúng ta được mời gọi yêu Chúa hơn tất cả những người khác và do đó yêu tất cả mọi người như chính mình, không có sự thiên vị. Không ai có thể nói rằng mình yêu Chúa nếu không sống bác ái đối với những người xung quanh. Cây thập giá của Chúa Kitô không chỉ có chiều dọc mà thiếu chiều ngang. Yêu mến Thiên Chúa là triệt để và trên hết. nhưng chúng ta cũng được mời gọi yêu tha nhân: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta vậy” (Mt 25,40) Ngài cho thấy, tình yêu đích thực được thể hiện bởi lòng từ bi và việc làm bác ái.
Thứ ba, Tình Yêu qua kinh nguyện. Chúng ta được giáo lý của Giáo Hội Công Giáo số 2658 nhắc nhở rằng “tình yêu là nguồn cầu nguyện. Từ đó cho phép chúng ta đáp lại Thiên Chúa bằng cách yêu thương như Ngài đã yêu thương chúng ta”. Để yêu Chúa chúng ta cần vâng lời Ngài, cũng có nghĩa là yêu người khác như chính bản thân mình. Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng biết rằng, điều này là không thể nếu không có lời cầu nguyện. Vì cầu nguyện là điều kiện tốt nhất giúp chúng ta biến đổi ý muốn của mình trở nên giống ý muốn của Chúa Kitô. Yêu mến Chúa Kitô là trở nên giống Chúa Kitô. Để thực hiện thay đổi này không thể thiếu cầu nguyện. Như vậy người yêu mến hết lòng cũng sẽ thật lòng cầu nguyện. Và sống trong cầu nguyện cũng chính là sống với Thiên Chúa trong tình yêu. Và có thể những việc làm cụ thể nhiều người trong chúng ta không có cơ hội thực hiện, nhưng với tấm lòng yêu thương bác ái với tha nhân cách chân thực trong việc cầu nguyện cho họ thì làm được luôn và có thể thực hiện ở mọi nơi, mọi chỗ.
Xin dạy chúng con biết yêu Chúa và yêu mọi người bằng tất cả những gì mà chúng con có thể trong khả năng Chúa ban, không chờ đợi những sự viển vông, chờ trúng số mới giúp đỡ tha nhân, nhưng xin tình yêu đích thực của Chúa ngự vào trong tâm hồn và giúp chúng con luôn biết phải làm gì để đáp lại tình yêu đó. Amen.
ӷ
THỨ BẢY – Lu-ca 18,9-14
Dụ Ngôn Người Pha-ri-sêu và Người Thu Thuế
Một bài báo có tựa đề, “Làm thế nào để trở nên đáng tội nghiệp” đã viết: Khi chỉ nghĩ về bản thân. Nói về chính mình. Sử dụng đại từ nhân xưng ‘Tôi’ thường xuyên nhất có thể. Lấy chính mình làm gương soi mói ý kiến của người khác. Chăm chú nghe những gì mọi người nói về mình. Luôn hy vọng mình sẽ được đánh giá cao. Nghi ngờ, ghen tị và đố kị. Nhậy cảm với thái độ coi thường của người khác. Không bao giờ tha thứ cho một lời phê bình nào. Không tin ai ngoài chính mình. Khăng khăng giữ ý kiến riêng và tôn trọng nó. Đòi hỏi theo quan điểm của riêng mình về mọi thứ. Hờn dỗi nếu mọi người không biết ơn vì mình đã ủng hộ họ. Không bao giờ quên sự phục vụ nhỏ nào mà mình đã làm. Trốn tránh nhiệm vụ của mình nếu có thể. Làm ít nhất có thể cho người khác.
Người Pha-ri-sêu trong Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một người đáng tội nghiệp thế nào về sự kiêu hãnh. Anh ta đang liệt kê tất cả những thành tựu của mình, tự so sánh mình với người thu thuế mà theo ước tính của anh ta là thấp kém. “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia”. Đại từ nhân xưng mà anh luôn nói: ‘con’ hay ‘tôi’. Quả thật, rất khó để liên kết bản thân với những người khác vì tính tự hào bởi thái độ luôn kinh miệt hoặc tìm lỗi nơi người khác. Nếu ta trở nên tự cho mình là trung tâm và tự tìm kiếm chính mình, ta cũng sẽ trở nên quá tự hào và quá tự cao như người Pha-ri-sêu kia.
Mặt khác, người thu thuế là hình mẫu, không phải vì tội lỗi mà là sự khiêm tốn của anh ta. Chúa Giêsu nói: “Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng đấm ngực”. Đó là dấu hiệu của sự chấp nhận và thừa nhận sự không xứng đáng và tội lỗi của anh ta trước Chúa. Anh ta thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Và Chúa Kitô nói rằng người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi. Chúng ta, giống như người thu thuế, tất cả đều là tội nhân. Không ai trong chúng ta có thể tự biện minh hay tự cứu chuộc nếu không có ân sủng của Chúa.
Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu dạy về sự khiêm nhường mà những người môn đệ của Ngài phải thực hành:
Đầu tiên, khiêm nhường đặt mình trước sự vĩ đại của Thiên Chúa. Chứ không phải so sánh mình với người khác, vì so sánh mình với người khác chính là khởi đầu của mọi tính kiêu căng tự phụ. Chúa Giêsu muốn dạy rằng: người duy nhất chúng ta cần được so sánh là Thiên Chúa Cha. Đây là một công thức cho sự khiêm tốn. Ngài nói: “Hãy lên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Thánh Âu-gút- ti-nô cũng nhấn mạnh rằng có ba đức tính cần thiết cho sự thánh thiện hay hoàn hảo: khiêm nhường, khiêm nhường và khiêm nhường. Nếu muốn sống trong sự khiêm nhường, ta phải tập trung chú ý đến sự hoàn hảo của Thiên Chúa Cha chứ không phải nơi người khác.
Thứ hai, cầu nguyện với thái độ khiêm nhường chứ không phải là niềm tự hào. Một lời cầu nguyện khiêm nhường làm hài lòng Chúa. Đức Maria trong bài ca Magnificat đã nói: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”. Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng cho ta thấy, tại sao Thiên Chúa chấp nhận lời cầu nguyện của người này và từ chối lời cầu nguyện của người kia? Đó chính là khi người ta có thái độ coi thường và kinh miệt người khác, là lúc người ta đóng cánh cửa trái tim với Chúa. Người Pha-ri-sêu trong dụ ngôn hôm nay là điển hình, khi anh ta chủ yếu cầu nguyện với sự kiêu hãnh của chính mình và coi thường người khác. Trong khi đó, người thu thuế hạ mình xuống trước Chúa và cầu xin sự thương xót. Chúa nhậm lời cầu nguyện của người thu thuế bởi thái độ hối hận về tội lỗi của mình. Anh ta đã tìm kiếm Thiên Chúa bằng sự khiêm nhường hơn là với niềm kiêu hãnh.
Thứ ba, khiêm tốn đi đôi với lòng bác ái. Bản năng tự nhiên của chúng ta có xu hướng đánh giá người khác. So sánh bản thân với người khác và phá hủy danh tiếng của họ thông qua những lời chỉ trích, gièm pha hoặc vu khống. Nhưng ta quên rằng trong mắt của Thiên Chúa, Ngài muốn chúng ta phải có lòng bác ái đối với người lân cận. Hãy luôn nhớ rằng nơi Thiên Chúa không thể thiếu đức ái. Cũng vậy, thiếu đức ái thì không thể là một Kitô hữu đích thực.
Lạy Chúa, xin dạy con luôn biết nhìn lên Chúa là Đấng cao cả quyền năng, để chúng con biết khiêm tốn tận đáy lòng, biết đến với Chúa để cảm tạ và xin lòng xót thương vì biết mình hèn yếu. Đồng thời cũng biết cảm thông chia sẻ và tôn trọng mọi người trong tình bác ái huynh đệ. Amen.