Suy niệm Tam Nhật Vượt Qua với các phụ nữ trong Tân Ước – Bài 2

27/11/2018

Bài 2: Sáng thứ Sáu Tuần thánh

Những Phụ Nữ Được Chữa Lành và Tha Thứ

Phụng vụ ngày thứ 6 tuần thánh mời gọi chúng ta suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và đồng thời ăn năn thống hối (thánh vịnh 50). Chúa đã chịu đau khổ để chữa lành những vết thương của chúng ta. Tin mừng đã kể lại nhiều phụ nữ được Chúa chữa lành và tha thứ. Chúng ta suy gẫm vài trường hợp điển hình, được chia làm hai nhóm: thứ nhất là ba người được chữa lành bệnh; nhóm thứ hai là người phụ nữ ngoại tình.

A. Những phụ nữ được chữa lành bệnh

Chúng ta chọn lọc ba trường hợp, trích từ ba tác giả khác nhau của Tin mừng Nhất Lãm: người phụ nữ xuất huyết (Mc), người phụ nữ còng lưng (Lc), người phụ nữ xứ Cananea (Mt)[1].

1/ Người phụ nữ xuất huyết (Mc 5,25-34)

Việc chữa lành bà được thuật lại trong cả ba tác phẩm Nhất Lãm, nhưng Marco có nhiều nét dí dỏm hơn cả. Người phụ nữ này phải chịu đựng hai cái khổ: ngoài cái khổ về thể chất, còn thêm cái khổ tinh thần vì bị loại trừ khỏi xã hội (tương tự như những bệnh nhân phong hủi). Tuy nhiên, bà tỏ ra can đảm, và dám đi ngược lại những luật cấm thời đó.

Câu chuyện được lồng chung trong bối cảnh Chúa Giêsu được mời đi chữa bệnh cho em bé con ông Giairo là trưởng hội đường. Cô bé lên 12 tuổi, còn bà này cũng mang bệnh từ 12 năm rồi. Bà đã tìm mọi cách để chữa bệnh, nhưng chỉ tiêu tiền cho các ông lang mà không được ích gì (tiền mất tật mang).

Chúng ta đã biết cách thức mà bà đến gần Chúa Giêsu: ra như cách trộm vụng, chứ không dám lộ diện. Một đàng bà biết là luật cấm giao tiếp với người khác, nhưng đàng khác bà cứ làm liều. Bà chạm tới áo choàng của Chúa, và bà đã được chữa lành nhờ sức mạnh toát ra từ Chúa Giêsu. Chúa quay lại và hỏi: “Ai đã chạm vào áo của tôi?” Các môn đệ tỏ ra kinh ngạc, bởi vì đám đông đang chen lấn, làm thế nào biết được ai đã chạm tới ngài!

Thật ra tuy câu chuyện này xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, nhưng cốt lõi của nó lại là một sự gặp gỡ rất riêng tư: bà cảm thấy mình được lành bệnh; Chúa cảm thấy một năng lực từ trong người phát ra. Tất cả diễn ra trong thâm tâm kín đáo giữa Chúa với bà, chứ người ngoài không thấy điều gì khác lạ. Các môn đệ chẳng hay biết gì, chỉ có đương sự mới cảm nghiệm mà thôi. Khi Chúa quay mắt nhìn vào bà; bà kinh hãi sụp lạy xuống thú lỗi (vì đã vi phạm luật). Nhưng thay vì trách móc, Người lại trấn an: “Này con, đức tin của con đã cứu con, hãy ra đi bình an, và con được lành”.

Chính đức tin vào Chúa Giêsu mang lại ơn chữa lành. Bà tin vào Chúa đến nỗi dám vi phạm luật cấm của đạo cũ. Chính thái độ tin tưởng và đón nhận ấy đã mang lại ơn chữa lành cho bà. Ơn Chúa mời gọi sự đón nhận về phía chúng ta. Thiết tưởng điều này cũng được áp dụng cho chúng ta hôm nay. Chúng ta đang cử hành ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho nhân loại qua thập giá của Đức Kitô. Nhưng liệu mỗi người có lãnh được ơn cứu độ ấy hay không?

2/ Người phụ nữ còng lưng (Lc 13,10-17)

Luca kể lại chuyện Chúa Giêsu chữa lành một phụ nữ còng lưng đã 18 năm vào một ngày sabat. Dựa theo quan điểm y học thời đó, tác giả cho rằng bệnh này là do ác thần gây ra. Bà này thật can đảm, bởi vì luật cấm các bà không được vào gian chính của hội đường: họ phải đứng ở cuối, hoặc ở một gian bên cạnh, có song chắn. Chúa Giêsu nhìn thấy bà, gọi lại và bảo: “Này bà (dịch sát bản văn là: người nữ ơi), bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!” Rồi Người đặt tay trên bà, tức khắc bà đứng thẳng lên được và tôn vinh Thiên Chúa.

Chúa gọi bà là “người nữ” (chứ không phải là “bà”, như đại danh từ). Ra như qua bà này, Người muốn ngỏ lời với tất cả các phụ nữ. “Đứng thẳng lên” có thể hiểu là trả lại nhân phẩm cho bà: xưa nay, bà đi khom lưng, bây giờ bà được yêu cầu hãy đứng thẳng, xứng hợp với tư cách của con người tự do (chứ không lom khom như thú vật hay như thái độ của một nô lệ).

Câu chuyện trở nên phức tạp khi ông trưởng hội đường phản đối vì việc chữa lành trong ngày sabat. Ông không dám nói trực tiếp với Chúa, mà chỉ nói trống rằng: “Ai muốn chữa bệnh thì đến hội đường vào những ngày khác”. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã bênh vực bà. Lý do không phải là vì ngày thường bà không thể tới hội đường được, nhưng bà này là con cháu Abraham, và xứng đáng được quan tâm (hơn là các thú vật mà người Do thái cởi trói để đưa đi ăn uống). Người phụ nữ này cũng cần được cởi trói khỏi ách nô lệ của tà thần.

Ngày nay, chúng ta không còn coi bệnh tật là hậu quả do tội lỗi gây ra, hoặc là do tác động của ma quỷ! Mỗi khi ai mắc bệnh, chúng ta kêu bác sĩ đến chữa, chứ không mời cha giải tội hoặc pháp sư. Quan niệm thời xưa thì khác, như chúng ta đã biết. Tuy vậy, sứ điệp của Tin mừng vẫn còn có giá trị: Chúa Giêsu là lương y của nhân loại; Người chữa lành cả những bệnh tật thân xác cũng như linh hồn. Sự tha thứ tội lỗi (mà chúng ta sắp nói) có thể coi như sự chữa lành linh hồn. Nhưng trường hợp đang bàn ở đây có lẽ gợi lên cho chúng ta một ý tưởng khác, đó là không phải về phía người phụ nữ còng lưng cho bằng về phía ông chủ hội đường: ông ta mới là người bệnh tâm thần, khi ông muốn loại trừ người khác nhân danh pháp luật cứng nhắc. Ông thiếu lòng cảm thương với đồng loại đau khổ. Phúc âm đã thuật lại rất nhiều trường hợp của những người Pharisiêu và kinh sư bị Chúa khiển trách: họ là những người mắc bệnh cứng lòng (trái tim cứng cỏi), và cần được chữa lành. Ai dám nói rằng chúng ta không mắc bệnh này?

3/ Người phụ nữ xứ Canaan

Câu chuyện thứ ba được Matthêu (15,21-28) kể lại tấm gương một phụ nữ cương quyết (Marco 7,24-30 cũng thuật lại chuyện này, nhưng Luca thì không nói đến). Bà là một người ngoại đạo. Bà xin Chúa thương cứu chữa con gái đang bị quỷ hành hạ.

Lúc đầu, Chúa không tỏ ra thiện cảm với bà (khác với trường hợp người phụ nữ còng lưng vừa nói trên đây). Người giả vờ không để ý đến bà. Nhưng bà cứ đi theo nằng nặc kể lể. Đến lượt các môn đệ phải năn nỉ xin Chúa giúp, kẻo bà cứ quấy rầy. Người trả lời: “Tôi chỉ được sai đến các chiên lạc của nhà Israel”. Theo học lý của dân Do thái, đấng Mêsia chỉ được phái đến cho nhà Israel. Thế nhưng bà này là người ngoại, cho nên không nằm trong kế hoạch ấy. Chúa Giêsu chỉ nhắc lại quan niệm cổ truyền, ra như để nhắc nhở các môn đệ về sự giới hạn của thành kiến.

Nghe vậy, bà không chịu thua, và sụp lạy khẩn nài: “Lạy Ngài xin giúp con”. Câu trả lời của Chúa thật là chua chát: “Không nên lấy bánh của con cái mà thảy cho chó con”. Lẽ ra bà phải tức giận lắm vì bị xúc phạm. Nhưng bà lấy lại lời của Chúa để vặn lại: “Quả đúng vậy, nhưng chó con cũng được ăn những mảnh vụn của bánh từ bàn rơi xuống”. Đến đây Chúa phải phục bà: “Này bà (phụ nữ), đức tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì được như vậy”.

Thế là bà được toại nguyện, nhờ đức tin mạnh mẽ. Chúng ta nhận thấy rằng lòng tin của bà thật là mạnh bởi vì bà đã kiên trì kêu xin bất chấp hai trở ngại: thứ nhất, lúc đầu Đức Giêsu xem ra phớt lờ, chẳng quan tâm đến lời xin của bà; thứ hai, Đức Giêsu nói cho bà biết rằng chưa đến lúc phải mang ơn cứu độ cho dân ngoại. Thế nhưng, bất chấp hai trở ngại đó, bà cứ nài xin. Lòng tin của bà thật là mạnh, và đáng được ca ngợi. Vài độc giả có thể phê bình thái độ của Đức Giêsu là cứng cỏi. Chúng ta có thể giải thích như sau: tuy kế hoạch cứu độ mang tính cách phổ quát, dành cho tất cả mọi dân, nhưng được thực hiện cách tiệm tiến. Đức Giêsu muốn giới hạn hoạt động của Người trong vùng đất dân Israel; sau khi sống lại, Người sẽ sai các tông đồ mang Tin mừng đến với muôn dân. Câu trả lời của Đức Giêsu diễn tả chương trình tiệm tiến đó; thế nhưng lòng tin của bà Canaan mạnh mẽ đến nỗi đã làm cho Chúa đốt thời gian, tương tự như lời khẩn nài của Đức Maria tại tiệc cưới Cana. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đọc câu chuyện theo một viễn tượng khác. Đức Giêsu đang thử thách lòng tin của bà, huấn luyện cho bà từ lòng tin sơ khởi tới đức tin trưởng thành hơn. Đức tin của bà được ca ngợi là mạnh mẽ, bởi vì bà vẫn giữ vững niềm tin kể cả khi Chúa xem ra thinh lặng. Đức Giêsu cũng sẽ trải qua cảm nghiệm ấy trên thập giá, khi thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Chính đức tin mạnh mẽ của bà mẹ đã cứu đứa con khỏi ma quỷ. Có lẽ đó là bài học mà các thánh sử muốn nói với chúng ta qua một người phụ nữ ngoại đạo.

B. Những phụ nữ được tha thứ

Bây giờ chúng ta chuyển qua nhóm thứ hai. Hôm qua chúng ta đã suy niệm người phụ nữ tội lỗi được Luca kể lại ở chương 7. Hôm nay chúng ta suy niệm người phụ nữ ngoại tình được Gioan kể lại ở đầu chương 8 (câu 1-11), nhưng có người cho rằng đoạn văn này là của Luca, dựa theo một vài thủ bản (chen vào chương 21, câu 38). Gioan còn kể lại một trường hợp nữa của phụ nữ tội lỗi, đó là người phụ nữ Samaria có 5 đời chồng, nhưng chúng ta để dành cho chiều thứ bảy (những phụ nữ tuyên xưng đức tin).

Câu chuyện người phụ nữ ngoại tình không còn xa lạ gì với chúng ta. Chúa Giêsu đang ở trong đền thờ, giảng dạy dân chúng. Các kinh sư và Pharisêu dẫn một phụ nữ bị bắt quả tang tội ngoại tình, để xin Chúa xét xử. Theo luật, bà phải bị ném đá. Nhưng Chúa không nói gì, chỉ cúi xuống, lấy tay viết trên đất.

Dĩ nhiên, khá nhiều giả thuyết đã được đặt ra liên quan đến nội dung của những chữ viết này: Chúa Giêsu đã viết gì? Thực ra, suốt đời Người chỉ giảng chứ không viết một lá thư hay một cuốn sách nào hết. Tại sao bây giờ Người lại viết: viết cái gì? Có phải nhắc lại các điều răn của Thiên Chúa không? Hay là kê khai danh sách các tội mà người đời quen phạm nhưng không nhận ra? Chẳng ai biết! Tiếc rằng Người chỉ viết một lần trong đời, nhưng lại viết trên cát, để cho gió cuốn đi hết.

Trở về bản văn. Các nhà lãnh đạo tỏ ra sốt ruột, yêu cầu Chúa lên tiếng. Người ngẩng đầu lên và nói: “Ai là người vô tội, thì lấy đá ném trước đi”. Và họ lần lượt rút lui, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chúa Giêsu không bênh vực tội của người phụ nữ. Nhưng Người trách tất cả những người mạnh miệng tố cáo tội lỗi người khác, mà không biết nhận ra tội của mình. “Chân mình thì lấm bê bê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người”. Hơn thế nữa, trong trường hợp này, xã hội tỏ ra bất công đối với phụ nữ. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình thì bị ném đá. Còn người kia thì sao? Bà đâu có phạm tội một mình? Tại sao chỉ mình bà chịu hình phạt?

Câu nói của Chúa Giêsu muốn nêu bật sự bình đẳng giữa người nam và người nữ, trong việc tốt cũng như việc xấu.

Kết luận câu chuyện. Rút cục chỉ còn lại bị cáo và Chúa Giêsu, bởi vì những người khác đã bỏ đi hết rồi. Người hỏi chị: “Họ đâu cả rồi? Không ai kết án chị sao”. Chị thưa: “Dạ không”. Và Chúa nói: “Tôi không kết án chị. Hãy ra về bình an, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Chúa không bênh vực tội của chị: tội là điều xấu. Nhưng chị là người đáng thương. Chúa thương chị, và Người khuyên chị đừng phạm tội. Điều này đã khiến thánh Augustinô phân biệt giữa “tội lỗi” và “tội nhân”. Ta phải ghét tội, nhưng phải yêu tội nhân, xét vì họ là con người.

Có người lưu ý rằng trong suốt cuộc tranh luận, Chúa Giêsu đã cúi xuống đất: xem ra đó là biểu tượng của việc Người đã từ trời xuống thế, để cứu vớt nhân loại, tiêu diệt tội lỗi. Sau đó, Người đã ngẩng đầu và đứng lên để nói lời tha thứ: đây là biểu tượng của cuộc Phục sinh, ban cho con người sức mạnh để chỗi dậy, và bắt đầu cuộc đời mới.

Chúng ta hãy đón nhận hồng ân Chúa ban: Người là Chúa của lòng khoan nhân, chứ không phải là quan tòa nghiêm khắc. Đồng thời chúng ta cũng hãy biết khiêm tốn nhìn nhận những thiếu sót của mình và thông cảm với người khác.

 


[1]Còn những trường hợp khác nữa: bà mẹ vợ ông Phêrô, con gái ông trưởng hội đường

* Ảnh minh họa: Tranh vẽ của Guercino năm 1621, https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C4%91%C3%A0n_b%C3%A0_ngo%E1%BA%A1i_t%C3%ACnh_(T%C3%A2n_%C6%AF%E1%BB%9Bc)

 

Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP

http://www.catechesis.net


Liên quan khác