TUẦN I THƯỜNG NIÊN
THỨ HAI TUẦN I THƯỜNG NIÊN- Mác-cô 1,14-20
Chúa Giêsu Kêu Gọi Các Môn Đệ Đầu Tiên
Ngày nay, một người thanh niên muốn đi tu để trở thành linh mục, phải trải qua một quá trình như sau: làm bài kiểm tra đầu vào, trắc nghiệm năng lực làm việc, phỏng vấn sơ bộ, đơn xin gia nhập chủng viện, thư giới thiệu từ cha xứ … Khi người ấy đã được chấp nhận, họ được đào tạo ở chủng viện trong nhiều năm bao gồm: học và nghiên cứu triết học bốn năm, thần học bốn năm, đi giúp xứ, làm mục vụ một năm, để họ được va chạm với thực tế khắc nghiệt của cuộc sống như đắm mình vào hoàn cảnh sống của con người, đặc biệt là ở những vùng sâu xa buồn tẻ và nhiều nơi khác. Điều này là để kiểm tra nếu họ có khả năng về thể chất, tinh thần, tâm lý và đạo đức. Sau khi vượt qua những quá trình này, họ được viết đơn xin Đức giám mục phong chức phó tế và sau ít nhất sáu tháng, họ có thể sẽ được phong chức Linh Mục nếu không có gì ngăn trở.
Dĩ nhiên các môn đệ của Chúa Giêsu không trải qua các quá trình như vậy khi họ được Ngài kêu gọi. Tin Mừng hôm nay, Andrê và Simon chỉ đơn giản là đang thả lưới xuống hồ trong khi Gia-cô-bê và Gio-an đang vá lưới thì Chúa Giêsu gọi họ, “Hãy đến, theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người ta”. Ngay lập tức họ để lại mọi thứ trên thuyền và đi theo Chúa Giêsu. Ngay lập tức, sẵn sàng và dứt khoát! Họ được đào tạo bởi chủng viện của Chúa Giêsu chỉ trong ba năm hoặc ít hơn.
Đoạn Tin Mừng về sự kêu gọi của các môn đệ đầu tiên, chúng ta có thể dừng lại ở ba điểm để suy nghĩ về ơn gọi của chính mình là Ki-tô hữu:
- Chúa Giêsu kêu gọi ta trong các hoạt động bình thường trong ngày của mình. Chúa Giêsu “thấy Simon và anh trai ông là Andrê đang thả lưới xuống biển; họ là ngư dân.” Họ đang làm việc theo thói quen hàng ngày của họ, Chúa Giêsu bước vào cuộc sống của họ một cách bất ngờ và gọi họ làm Tông Đồ của Ngài. Họ thưa ‘xin vâng’ vì họ mở lòng đón nhận và tin cậy Ngài. Với niềm tin yêu tín thác, chúng ta sẽ nghe tiếng gọi của Chúa Giêsu rõ ràng hơn và có thể thưa ‘xin vâng’ trong các hoạt động hàng ngày của mình đặc biệt trong cầu nguyện.
- Lời kêu gọi của Chúa Giêsu là khẩn cấp. Ngài nói: “Thời gian đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần kề, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Những lời của Chúa Giêsu truyền đạt ý thức cần thiết và đòi hỏi phải theo Ngài. Simon và Andrê cảm nhận được tầm quan trọng của thời điểm này, vì vậy không có thời gian để họ hợp lý hóa tình huống hoặc suy nghĩ lại về các lựa chọn của họ. Chúa Giêsu cần các môn đệ của Ngài bây giờ.
Chúa Giêsu thường gọi ta cách khẩn cấp. Cuộc gọi của Ngài dường như luôn đòi hỏi nhưng đầy tràn yêu thương. Ngài muốn ta đích thân trải nghiệm Ngài và Tin Mừng, đó chính là tiếng gọi bước vào tình yêu của Ngài. Cha Marcial Maciel (LC ngày 18 tháng 6 năm 1985) nói: “Đừng bị lừa dối, những người trẻ thân mến của tôi. Theo Chúa Ki-tô là khó khăn, khó khăn và tốn kém. Nhưng không có cách nào khác để hạnh phúc trong cuộc sống này.” Nói cách khác, như là lời thúc bách tự nội tâm: đừng trì hoãn, đừng trì hoãn.
- Theo Chúa Giêsu thường có nghĩa là thay đổi một số khía cạnh trong cuộc sống. Ngài kêu gọi chúng ta sám hối từ những thói quen, cách suy nghĩ và cách sống cũ để hoàn toàn tin tưởng và sống theo Lời của Ngài. Nếu ai thực sự sống theo yêu cầu của Lời Chúa, họ phải ở trong một chế độ chuyển đổi liên tục, bỏ lại cái tôi cũ trong quá khứ và sống theo bản ngã mới trong Chúa Giêsu Ki-tô hiện tại.
Có nhiều linh hồn đang chờ đợi sự cứu rỗi của Chúa Ki-tô. Ngài cần những người lưới cá sẽ quăng chài bằng Lời Chúa, kéo họ ra khỏi nước của thế gian là tình trạng tội lỗi và tập hợp họ lại. Nhiệm vụ này Ngài đặt trong tay chúng ta để qua đó, Ngài thực hiện những thành quả vĩ đại nhất.
Xin Chúa giúp chúng con biết đi ra khỏi những thói quen tầm thường, đón nhận lời kêu gọi của Chúa và yêu mến sứ mệnh Ngài muốn chúng con thực hiện; xin giúp chúng con biết đến để học với Chúa Giêsu Ki-tô và thực thi tốt mệnh lệnh của Ngài: “Hãy trở nên những kẻ lưới người ta”. Amen.
THỨ BA TUẦN I THƯỜNG NIÊN- Mác-cô 1,21-28
Chúa Giêsu Chữa Người Bị Quỷ Ám
“Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền”
Khi nhắc đến hai từ ‘thẩm quyền’ tôi nhớ đến một câu nói không rõ từ đâu: đã đề cập về hai quy tắc liên quan đến những người có thẩm quyền rằng: Quy tắc số 1: Ông chủ luôn luôn đúng. Quy tắc số 2: Khi ông chủ sai, hãy tham khảo quy tắc số 1.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu giảng dạy trong hội đường và người ta đã rất ngạc nhiên. Với hai lý do sau:
- Họ ngạc nhiên trước lời rao giảng của Ngài. Thánh Mác-cô nói hai lần rằng Chúa Giêsu nói với “thẩm quyền chứ không giống như những kinh sư,”. Đó là vì khi Chúa Giêsu nói lời của Thiên Chúa, Ngài nói không giống như bất kỳ ai nói về điều đó trước đây. Ngài nói chuyện với uy quyền. Khi các Ráp-bi giảng dạy, họ dựa trên các trích dẫn từ các cơ quan quyền lực trước đó. Các tiên tri thì rao giảng với tư cách được ủy quyền như: “Đây là Lời Chúa phán”. Chúa Giêsu giảng dạy không dựa trên uy quyền hay trích dẫn ở đâu đó, vì Ngài là uy quyền nhập thể, Ngôi Lời mang xác phàm. Khi Ngài nói, là Thiên Chúa nói. Khi Ngài ra lệnh ngay cả quỷ cũng tuân
Chúa Giêsu dạy với uy quyền bởi vì Ngài là Chân lý, là Thiện hảo và là Thiên Chúa. Ngài là Đấng có những lời ban sự sống đời đời. Ngài đã ở bên Chúa Cha từ muôn đời. Ngài đã đến để dạy con người đường đến Nước Trời. Còn chúng ta thì sao? Khi chúng ta rao giảng thì không làm cho người nào ngạc nhiên về những gì mình nói hết, vì có thể là do ta nói với sự sợ hãi hoặc nói vì để tìm kiếm sự ưu ái giống như một số chính trị gia tìm cách tăng số phiếu bầu. Cũng có thể ta đã không lắng nghe bằng trái tim của đức tin với thông điệp đơn giản rằng ‘Chúa Giêsu Ki-tô là Đường, Sự thật và Sự sống’? Hãy nói Sự thật để dẫn người ta đi vào con Đường Giêsu Ki-tô, Đường dẫn đến Sự Sống vĩnh cửu. Không phải đưa người khác vào những sáo ngữ, những con đường của riêng ta để nhằm cầu lợi, cầu vinh cho bản thân.
- Dân chúng ngạc nhiên về sự chữa lành của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chữa lành những người bị bệnh vì lòng trắc ẩn của Ngài đối với họ, vì Ngài yêu họ. Chúa Giêsu không bao giờ ngừng yêu thương con người. Ngài yêu ta nhưng sẽ không buộc ta phải yêu lại. Ngài yêu tội nhân nhưng ghét tội lỗi. Ngài sẵn sàng bị khiển trách bởi những người Pha-ri-sêu và kinh sư để chữa cho người đàn ông bị thần ô uế nhập trong ngày Sa-bát.
Chúa Giêsu ra lệnh cho ma quỷ và nó phải phục tùng, ma quỷ sợ uy quyền của Ngài. Chúng bị câm miệng bởi một lời đơn thuần từ Chúa Ki- tô. Thế nhưng người ta vẫn thường lo lắng và sợ rằng tội lỗi và quỷ dữ có thể kìm hãm mình mà không thể phá vỡ. Cũng như lo lắng rằng không thể sống theo những gì Chúa mong đợi. Tuy nhiên, Lời của Ngài làm cho quỷ dữ bỏ chạy ngay lập tức. Ngài có thể làm điều tương tự trong cuộc sống của chúng ta nếu ta thực sự đặt trọn niềm tin vào Ngài. Amen.
THỨ TƯ TUẦN I THƯỜNG NIÊN- Mác-cô 1,29-39
Chữa Lành Mẹ Vợ Ông Simon
Sách Huấn ca nói: “Con ơi, khi đau ốm, con chớ coi thường, nhưng hãy cầu xin Đức Chúa, Người sẽ chữa lành cho.” (Hc 38,9).
Trong Tin mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu chữa cho mẹ vợ ông Phê-rô. Điều này cho thấy các môn đệ của Chúa Giêsu tự do mang những rắc rối của họ đến với Ngài, vì họ thấy Ngài sẵn sàng và có thể gải quyết mọi khó khăn, phiền não hoặc bệnh tật mà họ gặp phải. Đó là lý do tại sao Simon Phê-rô đưa Đức Giêsu đến nhà của mình và mẹ vợ của ông ngay lập tức được chữa lành vì Chúa Giêsu nghe thấu ước nguyện của ông.
Thánh Giê-rôm, một vị Giáo phụ của Giáo hội thế kỷ thứ III nói rằng: Chúa Giêsu đã ở đây để dâng chính mình cho chúng ta; Ngài đứng giữa chúng ta nhưng chúng ta không nhận ra Ngài (x. Ga 1,26). Rằng nếu chúng ta không thể nắm lấy bàn tay của Ngài, chúng ta hãy phủ phục dưới chân Ngài. Nếu chúng ta không thể với đến được đầu của Ngài, chúng ta hãy rửa chân cho Ngài bằng nước mắt (Lc 7,38). Tội lỗi của chúng ta tỏa ra mùi kinh khủng nhưng nếu chúng ta ăn năn thì sẽ được Ngài biến thành nước hoa. Do đó, chúng ta hãy cầu xin Chúa nắm lấy tay mình vì: Ngay lập tức khi Ngài nắm lấy tay bà ấy, cơn sốt đã chấm dứt. (Mc 1,31)
Một trong những sự thật tuyệt vời nhất về đức tin là; Con Thiên Chúa Hằng Sống đã trở thành con người giống như chúng ta trong tất cả mọi thứ trừ tội lỗi (Dt 14,5). Vì Chúa Giêsu không đến để cứu các thiên thần mà là con người. Ngài không xuất hiện hoặc sinh ra trong một ngôi nhà sang trọng vương giả. Công Đồng Vatican II diễn đạt theo cách này: “Từ sự hiện thân của Ngài, Con Thiên Chúa đã hợp nhất chính Ngài trong một hình dạng với mọi người. Ngài làm việc với bàn tay con người, Ngài suy nghĩ bằng trí óc của con người, hành động bởi một sự lựa chọn của con người và tình yêu với một trái tim con người.” (GS số 22).
Một trong những lý do tại sao Ngài chữa cho mẹ vợ ông Phê-rô có thể là vì Ngài ý thức rõ trong lòng mình thấu cảm về người mẹ (Mẹ Maria) của mình thế nào. Ngài thấu cảm những gì mà vợ của Simon Phê-rô trông mong cho mẹ của mình, bởi vì Ngài cũng là một người con như chúng ta.
Hầu hết chúng ta khi găp chuyện chẳng may hoặc có vấn đề, ta tìm đến người có thể hiểu mình; ai đó có thể đánh giá cao cảm giác của mình; chia sẻ kinh nghiệm của mình với một người đã trải qua những trải nghiệm tương tự, ta sẽ thoải mái hơn nhiều so với việc nói chuyện với bất cứ ai không có kinh nghiệm như của mình. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu được sinh ra để cảm nhận những gì chúng ta cảm nhận, để trải nghiệm những gì chúng ta trải nghiệm, hãy thưa chuyện và chia sẻ với Ngài những cảm xúc và nỗi đau của chính mình.
Nhưng thật không may, không ít người chỉ đến với Chúa Giêsu để cầu xin, họ muốn Ngài thực hiện một cái gì đó cho mình, thay vì đến với Ngài với lòng yêu mến. Người ta muốn sử dụng Chúa Giêsu để thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình. Khi chúng ta bắt đầu coi Chúa là một chiếc lốp xe dự phòng, điều này làm cho mối quan hệ của ta với Ngài trở nên bi thảm. Tất cả chúng ta đều biết rằng chiếc lốp dự phòng thường không được chú ý cho đến khi chiếc xe bị xẹp lốp trên đường. Tương tự, một số người dường như quên Chúa khi cuộc sống tốt đẹp và dễ chịu, nhưng họ kêu cầu Chúa nhớ đến họ khi có bão tố là những vấn đề trong cuộc sống. Một số người có xu hướng quên Chúa cả ngày nhưng họ kêu cầu Chúa nhớ đến họ vào ban đêm. Nếu đây là trường hợp, thì tôn giáo đơn giản chỉ dành cho những người có vấn đề khủng hoảng. Thiên Chúa không phải là người được sử dụng trong những ngày bất hạnh. Ngài là người được yêu thương và nhớ đến mỗi ngày trong cuộc sống của ta, trong thời điểm tốt và trong thời điểm xấu, Thiên Chúa là Đấng để được yêu thương và phục vụ. Ngài luôn đồng hành và thấu hiểu những nhu cầu của con người. Nhưng Ngài cũng muốn ta quan tâm đến tha nhân, giới thiệu Ngài cho những người thân yêu để Ngài có cơ hội nắm lấy tay họ cũng như lắm lấy tay chúng ta để chữa lành mọi vết thương và bệnh tật của con người.
Lạy Chúa, xin hãy lắm lấy tay con để con không bao giờ lìa xa Chúa. Amen.
THỨ NĂM TUẦN I THƯỜNG NIÊN- Mác-cô 1,40-45
Chữa Lành Người Bị Phong Hủi
Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện người phong hủi cầu xin Chúa Giêsu nếu Ngài muốn xin chữa lành cho anh ta. Và ta thấy Chúa Giêsu rất sẵn lòng chữa lành, không phải từ xa mà bằng cách chạm vào người bệnh. Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu và người phong hủi đã được kể lại trong cả ba sách phúc âm nhất lãm (Lc 5,12-16; Mt 8,1-4; Mc 1,40-45). Theo Kinh thánh Cựu Ước, trong sách Lê-vi chương 13 mô tả về bệnh phong hủi, trong đó bao trùm một loạt các bệnh ngoài da và không phải là bệnh phong như chúng ta thấy ngày nay. Thời đó, bệnh phong hủi được xem như là sự ô uế tột cùng, bệnh nhân buộc phải cách ly khỏi cộng đồng để khỏi lây nhiễm cho người khác. Vì thế, bất cứ khi nào đi ra ngoài, người bệnh phải gõ mõ hoặc lắc chuông và miệng kêu to ‘ô uế, ô uế’ để mọi người có thể tránh xa họ. Đây là cách luật pháp lúc đó đã quy định. Và việc xác định người mắc bệnh phong hủi hay đã được khỏi thì chỉ có các tư tế chứng nhận, cho phép họ hòa nhập lại với cộng đồng sau một nghi lễ thanh tẩy chứ không phải các bác sĩ. Tuy nhiên, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu không ngại chạm vào người bị phong hủi để chữa lành cho anh ta. Sau khi chữa lành, mặc dù Chúa Giêsu vượt trên lề luật, nhưng Ngài không mâu thuẫn với lề luật. Thay vào đó, Ngài ra lệnh cho người được chữa lành tuân thủ luật pháp bằng cách đi trình diện với một vị tư tế để được hoà nhập lại cộng đồng.
Từ đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy chúng ta hai điều:
- Yêu thương từ xa xa thì không đủ: Bởi vì tình yêu đòi hỏi sự gần gũi. Không có chuyện yêu khơi khơi, gần cũng tốt và xa cũng được! Sự chữa lành đòi hỏi ta phải chạm vào, kết nối tiếp xúc tinh thần và thể lý. Những người làm việc giúp đỡ các bệnh nhân phát hiện ra rằng có loại khả năng chữa bệnh và phục hồi thực sự thông qua sự tiếp xúc của vật lý giữa con người với nhau. Bởi vì ta có thể gửi một thông điệp về sự trấn an và ở lại với nhau để xua tan cảm giác bị bỏ rơi, bị từ chối. Chưa kể đến ngày nay người ta phát hiện ra ở mỗi con người có một trường năng lượng có thể chuyển thông cho người khác. Nếu ở gần người có năng lượng tích cực đầy yêu thương thì người xung quanh cũng cảm thấy vui khoẻ và an bình hơn.
Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng tình yêu của Ngài không còn một khoảng cách nào nữa. Ngài đến gần người phong hủi, chạm vào anh ta và nói: “Tôi muốn, anh hãy được sạch!” Vì đối với Ngài, yêu thương từ xa là không đủ. Ngài cũng thể hiện tình yêu của Ngài bằng cách trở thành người như chúng ta để được ở gần và sống giữa mọi người. Qua đây giúp ta xét lại thái độ của mình khi tiếp xúc với những người bệnh tật về tâm thần và thể lý, đôi khi ta đứng từ xa xa vì sợ lây nhiễm, hay sợ mang tiếng xấu mà không dám dấn thân đến để chữa lành thể xác cũng như tâm hồn những người cần đến, cần ta mang Chúa đến cho họ. Là người môn đệ, nhưng ta còn xa vời với đường lối và hành động của Thầy Giêsu lắm! Vì tình yêu của ta chưa đủ lớn để xoá đi những khoảng cách.
- Niềm tin và sự can đảm của người phong hủi. anh ta không tỏ ra đáng thương để được Chúa Giêsu thể hiện lòng thương hại và lòng trắc ẩn. Nhưng là những hành động táo bạo của mình, việc xuất hiện đến gần đám đông của anh ta có thể sẽ bị ném đá đến chết theo luật định. Nhưng anh đã đến chặn đường Chúa Giêsu và xin chữa lành. Trong đời sống, đôi lúc có những nỗi đau dằn vặt trong im lặng, nhưng ta lại không muốn chia sẻ nó với những người sẵn sàng có khả năng gánh đỡ và cảm thông với mình, vì sợ, vì đánh mất lòng tin vào người khác, hay quá tự cao cho mình là đủ để rồi chấp nhận chìm đắm trong những vấn đề bế tắc của mình. Đôi khi có những điều xem ra hài hước, nhưng có những người thích ở trong căn bệnh phong hủi của tâm hồn để thoả mái lăn lộn với bùn nhơ, với bụi rậm mà không muốn đến với các Tư tế của Chúa để được sạch, để được công bố là trong sạch. Và người phong hủi hôm nay cho ta thấy rằng, không đủ và đúng để giữ im lặng khi ta ôm ấp nỗi đau khổ cho riêng mình. Người phong hủi là một người có nhu cầu và anh ta không bằng lòng chỉ chịu đựng một cách lặng lẽ. Anh ta đã kêu lên với Chúa trong lời cầu nguyện rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi sạch!”
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết học yêu thương như Chúa, yêu thương từ xa xa thì không đủ. Xin giúp chúng con sự can đảm như người phong cùi trong Tin Mừng hôm nay. Biết đến với Chúa cũng như với những thừa tác viên của Chúa, để được chữa lành mỗi khi cần thiết trong sự tín thác và cậy trông. Amen.
THỨ SÁU TUẦN I THƯỜNG NIÊN- Mác-cô 2,1-12
Sự Chữa Lành Một Người Bại Liệt
Martin Luther nói: “Hãy cầu nguyện như thể mọi thứ đều phụ thuộc vào Chúa, sau đó làm việc như thể mọi thứ phụ thuộc vào bạn.”
Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay dạy chúng ta về cầu nguyện như sau:
1. Cầu nguyện không phải là nói nhiều. Về việc cầu nguyện càng ít lời thì càng tốt. Các bạn của người bại liệt đưa anh đến với Chúa Giêsu. Đoạn văn không nói bất cứ điều gì về người bại liệt yêu cầu bạn bè của mình, rằng anh ta muốn được Chúa Giêsu chữa lành, hoặc bất kỳ lời nào đến từ bạn bè của anh ta, rằng họ sẽ đưa anh ta đến với Chúa Giêsu xin Ngài chữa lành. Tuy nhiên, ngay cả khi họ không nói lời nào với nhau, nhưng hành động khiêng người bại liệt đến với Chúa Giêsu là muốn anh ta được chữa lành và hành động đó chính là một lời cầu nguyện. Vì vậy, khi ta cầu nguyện, không cần quá nhiều lời để nói, điều ta cần là nhiều niềm tin vào Chúa. Nếu chúng ta cảm thấy rằng những lời cầu nguyện của mình dường như không được trả lời, điều này có thể là do chúng ta nói quá nhiều khi cầu nguyện nhưng niềm tín thác thì trống rỗng.
2. Khi cầu nguyện hãy để Chúa quyết định cho mình. Khi bốn người đàn ông mang người liệt đến với Chúa Giêsu, họ đã ngay lập tức rời đi. Như thể họ đang nói với Chúa Giêsu: Hãy chịu trách nhiệm, chúng tôi đã hoàn thành phần của mình. Đây là cách ta cần cầu nguyện là đặt vấn đề của mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, hãy để Ngài quyết định cho ta. Khi cầu nguyện, không nên đưa ra những chỉ dẫn cho Chúa về những việc cần làm mà không để cho Chúa có cơ hội quyết định.
3. Nhờ niềm tin của bạn bè, người bại liệt được chữa lành. Thông thường, khi Chúa Giêsu chữa bệnh cho ai, Ngài hay khẳng định rằng, chính đức tin của người đó là nền tảng cho sự chữa lành hoàn toàn. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, trong Tin mừng ngày hôm nay, đó không phải là đức tin của người bại liệt, đó là đức tin của bạn bè mà ‘tội lỗi của anh ta được tha thứ và được chữa khỏi.’ Chính đức tin của những người bạn của người bại liệt đã chạm đến Chúa Giêsu và lay động Ngài để người bệnh được chữa trị.
Đôi khi chúng ta quên mất một dạng đức tin đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mình, đó là dạng ‘đức tin của người khác’. Đức tin liên đới những con người với nhau và có thể san sẻ cho nhau, người mạnh có thể san sẻ hỗ trợ cho người yếu. Một khi đức tin của tôi yếu đi, tôi cần đức tin của bạn để hỗ trợ tôi, khi đức tin của bạn yếu đi, bạn cần đức tin của tôi để hỗ trợ bạn. Nhờ đức tin bền bỉ của thánh nữ Mo-ni-ca mà Giáo Hội có một vị thánh lớn như thánh Âu- gút -ti-nô? Cũng nhờ vào đức tin mà thánh Tê-rê-xa thành Li-di-ơ là một nữ tu sống trong bốn bức tường của tu viện nhưng cô trở nên một vị thánh quan thầy của tất cả các nhà truyền giáo.
Chúng ta không bao giờ biết những ảnh hưởng sâu rộng bởi đức tin của mình đối với người khác. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy rằng, Chúa Giêsu sử dụng đức tin của người khác để chạm vào cuộc sống của một người có thể có đức tin yếu.
Tất cả chúng ta đã nhận được những ân sủng từ niềm tin của bạn bè, cha mẹ, giáo viên, đồng nghiệp hay bạn đồng hành của mình. Nhưng ta có thường xuyên thông truyền nó cho người khác qua hành động như một trong bốn người bạn của người bại liệt hôm nay không? Làm thế nào thường xuyên đức tin của chúng ta là một nguồn ân sủng, sức mạnh và cảm hứng cho những người đang nghi ngờ hoặc đau khổ và thất vọng? Chúng ta muốn người khác thay đổi nhưng niềm tin đủ để có thể thay đổi người khác đó là mang họ đến với Chúa. Bằng nhiều hy sinh sức khoẻ, vất vả và thời gian để khiêng họ đến với Thiên Chúa, bằng đời sống cầu nguyện cho họ, tôi có dám dấn thân và hy sinh không?
Lạy Chúa, xin củng cố đức tin và giúp chúng con biết san sẻ niềm tin của mình cho những ai cần đến, như bốn người khiêng anh bại liệt đến với Chúa hôm nay. Amen.
THỨ BẢY TUẦN I THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 2,13-17
Tôi Không Đến Để Kêu Gọi Người Công Chính, Mà Để Kêu Gọi Người Tội Lỗi.
Có nhiều người tuôn đến với Chúa Giêsu, họ là những người bị coi là bỏ đi và không đáng tin, không có thiện cảm chút nào, chẳng hạn như: người què, người mù, người phong hủi, người vô gia cư. Cũng như: góa phụ và trẻ mồ côi, tội nhân công cộng như: gái mại dâm và người thu thuế tham nhũng. Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu kêu gọi Mát-thêu, một người thu thuế và là một trong những người bị khinh thường nhất làm môn đệ của Ngài. Những người bị khinh thường bởi vì họ là cộng tác viên của chính phủ La Mã, kẻ thù của người Do Thái và kiếm lợi nhuận bằng cách tống tiền thu thuế nhiều hơn những gì được yêu cầu theo quy định của La Mã. Do đó, người Do Thái chính thống từ chối kết giao với họ; từ chối cho hoặc nhận bất cứ thứ gì từ họ; từ chối cộng tác và tránh mọi hình thức giải trí với họ.
Chúa Giêsu nói với Mát-thêu: “Hãy theo Tôi.” Cũng những lời này, Chúa Giêsu dùng để gọi tất cả những người theo Ngài như chúng ta. Không có hai môn đệ nào có một xuất thân giống hệt nhau. Tất cả đến từ những hoàn cảnh khác biệt và tất cả đều có tính cách và tài năng khác nhau. Chúa Ki-tô kêu gọi những người theo Ngài trong số những người tội lỗi, thậm chí là những người tội lỗi nhất. Hãy nhìn vào Thánh Mát- thêu, ông là một người thu thuế và là kẻ đáng khinh bỉ nhất của các tội nhân (dưới cái nhìn của người Do Thái thời đó) và Chúa Giêsu đã chọn ông, Ngài nhìn xa hơn tội lỗi của ông. Ngài có thể chọn một người thánh thiện hơn nhưng Ngài đã chọn Mát-thêu. Ngài đã thấu suốt tận đáy lòng của ông cũng như thấy nơi ông một tinh thần quảng đại, khát khao hiểu biết và muốn sống chính trực.
Chính Chúa Ki-tô kêu gọi mỗi chúng ta, lời kêu gọi mà ngày nay được gọi phổ biến là ‘ơn gọi’. Ơn gọi là một viễn cảnh mà Thiên Chúa đã kêu gọi và trang bị cho mọi người để phục vụ Ngài thông qua công việc của họ trên thế giới và được Chúa mời gọi cộng tác vào công việc của Chúa.
Trong thực tế, Có nhiều tiếng nói khác nhau kêu gọi chúng ta đến tất cả các loại công việc khác nhau, vấn đề là làm thế nào để nhận ra một trong những giọng nói này là tiếng gọi của Thiên Chúa, chứ không phải là tiếng gọi của xã hội, của bản ngã hoặc tư lợi .
Dấu hiệu nhận biết tiếng gọi từ Thiên Chúa là con đường của thập giá. Ngài không hứa hẹn những vinh quang trần thế hoặc một con đường dễ dãi an nhàn cho môn đệ, nhưng là “Ai theo tôi hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá của mình mỗi ngày mà theo tôi”. Đó là con đường mà Đức Giêsu Ki-tô đã đi, vì Ngài không muốn ban cho các môn đệ của mình những vinh quang tạm bợ, nhưng là được đồng thừa tự với Ngài trong Vương Quốc của Chúa Cha. Đó là ơn gọi làm cho ta trở nên con cái của Thiên Chúa, được Ngài tạo dựng để thực hiện những việc tốt như những người có trách nhiệm trong vương quốc của Ngài (x. Ep 2,10). Đây là lời kêu gọi hoặc ơn gọi của chúng ta từ Thiên Chúa. Theo Kinh thánh, ơn kêu gọi của chúng ta là không thể thay đổi (Rm 11,29), được tập trung vào những thành tựu vĩnh cửu, không chỉ là những thứ tạm thời (Pl 3,13; 4,1).
Thiên Chúa gọi chúng ta đến nơi gặp gỡ ngập tràn niềm vui sâu thẳm với Ngài nơi chính sự yếu hèn của mình và nơi những người nhỏ bé, nghèo hèn nhất trong nhân loại. “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta hãy đem hạnh phúc đến với người khốn khổ nghèo hèn nhất của thế giới, những người bị coi thường và bị khinh rẻ nhất và cả những người tội lỗi nhất. Để trong Đức Ki-tô, không có cao thấp, sang hèn, tội nhân hay lương thiện mà tất cả đều được kêu gọi đến với Ngài để được biến đổi, qua Máu Thánh của Ngài sẽ thanh tẩy và biến đổi ta trở nên thánh và làm một với Người Con Chí Thánh của Chúa Cha.
Lạy Chúa, xin giúp con biết đáp lại lời kêu gọi của Chúa cách mau mắn như thánh Mát-thêu. Cũng như giúp chúng con biết học nơi thánh nhân, bằng cách dùng mọi khả năng Chúa ban để giới thiệu Chúa cho mọi người. Amen.