SUY NIỆM TUẦN IV THƯỜNG NIÊN – LM M. Basilio Nguyễn Văn Phán

13/02/2023

THỨ HAI TUẦN VI THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 8,11-13

Sao Thế Hệ Này Lại Xin Một Dấu Lạ?

 

Chuyện kể rằng: Hamburg, một người Đức, tổ chức một buổi hòa nhạc ở Luân-đôn, nghệ sĩ vi-ô-lông Fritz Kreisler rảnh được một giờ trước khi thuyền của anh ra khơi. Anh lang thang vào một cửa hàng bán nhạc cụ, chủ của cửa hàng xin phép được xem cây vĩ cầm mà Kreisler đang mang. Sau đó anh ta bỏ đi và trở về cùng với hai cảnh sát viên, một trong số họ nói với nghệ sĩ vi-ô-lông, “Bạn đang bị bắt giữ.”

Kreisler nói: “bắt tôi để làm gì?” người cảnh sát nói: “Vì bạn đang có cây đàn vi-ô-lông của Fritz Kreisler,” Nghệ sĩ trả lời: “Tôi là Fritz Kreisler.” Nhưng cảnh sát nói: “Bạn có thể đưa cây đàn cho chúng tôi. Hãy đi cùng chúng tôi đến nhà ga”.

Khi thuyền Kreisler sắp ra khơi, không còn thời gian để giải thích thêm. Kreisler yêu cầu đưa lại cây vi-ô-lông của mình và chơi một bản nhạc mà anh ta nổi tiếng. “Bây giờ các ông đã hài lòng chưa?” ông hỏi: và cảnh sát đã chấp nhận thả ông! (Trích từ: Today in the Word, 22 tháng 12, 1992).

Làm thế nào để nhận ra dấu hiệu tốt nhất? Người dân thời Chúa Giêsu mong đợi rằng sự xuất hiện của Đấng Thiên Sai sẽ được kèm theo những dấu hiệu, những điều kỳ diệu để minh chứng về sứ mệnh của Ngài. Đó là lý do tại sao những người Pha-ri-sêu trong Tin Mừng hôm nay xin một dấu lạ. Thực ra, trong tâm trí của họ đã định kiến rằng Đức Giêsu là một Mê-si-a giả tạo, bởi vì trong quá khứ đã có những người giả tạo tự xưng mình là Mê-si-a để thu hút những người theo họ. Ý định của họ là vạch trần sự giả trá nơi Đức Giêsu như các tiên tri giả trước đó, và việc đòi dấu lạ là cách lật mặt lạ, thậm chí, hy vọng làm mất hoàn toàn uy tín và khiến Ngài mất đi sự ủng hộ của đám đông.

Nhưng Đức Giêsu từ chối yêu sách của họ, nghĩa là thực hiện dấu lạ để tự chứng minh rằng Ngài là Đấng Thiên Sai. Bởi vì những phép lạ mà Ngài đã làm cho đến tận bây giờ cũng đủ chứng minh điều đó. Họ cần tiếp nhận điều họ đã thấy và đã nghe nếu họ là những người đang chân thành tìm kiếm chân lý. Nơi khác Đức Giêsu đã từng nói với những người Do Thái cứng lòng tin: “Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi.” (Ga 10,25-26).

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay cho ta gặp lại khuôn mặt nhiễu khê của chính mình nơi những người Pha-ri-sêu. Mỗi khi gặp những điều trục trặc trong đời sống và có nhiều vấn đề khó hiểu, thậm chí vượt ra ngoài sự tính toán của mình. Ta thường cầu xin Chúa cho những dấu chỉ, những phép lạ nhằm xua tan những nghi ngờ trong tâm trí. Ta không cầu xin để có thêm lòng tin để hiểu về những gì mà Thiên Chúa đã làm trên cuộc đời mình, để cảm tạ Chúa và hiểu hơn về ý định màu nhiệm của Ngài trên cuộc đời, mà trái lại chỉ muốn Thiên Chúa phải thực thi những yêu sách nhiễu khê của ta. Nếu Ngài không thực hiện những yêu sách đó thì cho rằng Ngài không thương, không thực sự là một Thiên Chúa quyền năng, thậm chí dẫn đến mất cả niềm tin.

Tôi nhớ đến một câu chuyện khá buồn của một người đàn ông mà tôi quen biết, anh ta đã có hơn 60 năm tin Chúa và là một con chiên ngoan đạo, chưa hề bỏ lễ Chúa nhật hay sống ngoài lề luật Chúa. Con trai duy nhất của anh lại là một tu sĩ sắp khấn trọn đời trong một dòng tu. Thế nhưng biến cố ập tới, vợ anh bị bệnh nan y nhiều năm, anh cầu xin mãi mà không thấy Chúa tỏ cho dấu hiệu nào! Ánh đã khẳng định là Thiên Chúa không có thật, nên đã không đi nhà thờ cũng như không cầu nguyện nữa, đồng thời cũng đóng cửa lòng không muốn nghe bất kỳ ai nói về Chúa hoặc nhắc đến Chúa trước mặt anh nữa!

Quả thật, có những lúc trí khôn của con người không hiểu nổi những gì Chúa muốn. Ngài muốn biểu lộ chính Ngài theo những cách khác nhau, trong những tình huống khác nhau để ta có thể tin vào Ngài hơn và tín thác vào Ngài hơn. Và niềm tin này là một món quà, là ân sủng của Thiên Chúa ban, nó chỉ có thể nhận được trong sự khiêm tốn và vâng phục. Đức thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II nói: “Chúng ta không thể tự mình chiêm ngưỡng dung nhan của Chúa chỉ bằng những nỗ lực của mình, nhưng bằng cách cho phép ân sủng dẫn dắt chúng ta.” Sự phát triển và tăng trưởng đức tin của chúng ta vào Chúa Ki-tô là “kinh nghiệm của sự im lặng và cầu nguyện.” (TMA, số 30).

Và Chúa cũng muốn tôn trọng sự tự do của con người. Ngài ban cho ta đủ ánh sáng để chấp nhận sự thật một cách tự do và chỉ đủ bóng tối để từ chối sự thật nếu ta không muốn nó. Chúa không muốn ta là những con rối để bị dật giây, bị điều khiển. Ngài muốn chúng ta là con trai và con gái của Ngài. Có lý trí, ý chí, tự do và ân sủng. Ngài không làm theo yêu sách của những người Pha-ri-sêu, thực hiện những điềm thiêng dấu lạ, vì Ngài không muốn làm những điều ngoạn mục để như một chiếc dây thừng sỏ mũi mà dắt chúng ta đi như những con rối. Nhưng chúng ta hoàn toàn tự do tin tưởng và đón nhận ánh sáng từ Ngài hay vẫn tiếp tục đi trong bóng tối của thế gian.

Lạy Chúa, mỗi hơi thở, mỗi nhịp tim, mỗi giây phút chúng con sống là một điềm thiêng dấu lạ lớn lao của Chúa rồi. Xin mở mắt chúng con biết nhìn nhận tình thương của Chúa trong cuộc đời mình và biết tạ ơn Chúa không ngừng. Amen.

ӷ

 

THỨ BA TUẦN VI THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 8,14-21

Anh Em Phải Coi Chừng Men Pha-ri-sêu Và Men Hê-rô-đê

 

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cảnh báo các môn đệ của Ngài cảnh giác với men của người Pha-ri-sêu và Hê-rô-đê. Nhưng các ông đã không hiểu ý của Ngài. Men là loại bột được dùng để nhào với bột thông thường và có khả năng lên men toàn bộ khối bột, khiến nó phát triển, nhân lên, thay đổi tính chất và kết cấu của nó. Luật của Do Thái đã nghiêm cấm việc sử dụng men trong tất cả các lễ vật toàn thiêu được dâng lên Thiên Chúa (Lv 2,11). Đối với họ, lên men, theo nghĩa luôn lý là một dấu hiệu của tội ác ảnh hưởng tinh vi đến cuộc sống của con người. Lên men cũng là một hình ảnh của sự hư hỏng và sự đồi bại của tâm hồn, và là sự băng hoại về luôn lý đạo đức (x. Mt 16,6; Mc 8,15). Chúa Giêsu cảnh báo các môn đệ tránh đường lối của người Pha-ri-sêu và Hê-rô-đê, những người tìm kiếm ý định của riêng họ hơn là ý muốn của Thiên Chúa; họ là những người chống lại Chúa Ki-tô. Đây có thể là ý nghĩa của men (men xấu) của người Pha-ri-sêu và Hê-rô-đê. Men xấu có thể dẫn đến ảnh hưởng xấu mà một người có thể gây ra trong môi trường xung quanh, đặc biệt là khi có sự liên kết giữa những mục nát của cái vỏ chính nghĩa, quyền lực và thế gian, sự không trung thực và giả hình (xấu xa cố tỏ ra tốt: ở vùng quê, khi bắt được một tên trộm, người ta thấy chính những kẻ hay ăn trộm mà chưa bị bắt lại đánh đập tên ăn trộm vừa bị bắt quả tang nhiều nhất) để ngụy tạo. Chúng ta phải cẩn thận với đặc tính đơn thuần của lòng tốt, phải cố gắng chân thành trong nỗ lực của mình để tạo ra một ảnh hưởng tốt trong môi trường xung quanh.

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể chống lại những men Pha-ri-sêu và Hê-rô-đê?

Trước tiên, biết từ chối ảnh hưởng xấu xa của người khác. Một cựu chủng sinh, từng làm thư ký riêng cho giám đốc của một công ty lớn. Anh chia sẻ với tôi kinh nghiệm của bản thân về sếp của mình trong một chuyến công tác. Một lần, anh đi cùng ông chủ của mình cho một hội nghị kinh doanh và khi họ đến địa điểm, trong khách sạn, anh được ông chủ nói rằng mỗi đêm anh sẽ ở với một cô gái điếm. Nhưng bạn tôi đã từ chối để làm điều đó. Ông chủ nói với anh ta rằng ông ấy sẽ đuổi việc anh ta. Những gì bạn tôi đã làm là đã chọn thà không có việc làm và không một xu dính túi hơn là một kẻ đồng lõa với hành động vô đạo đức này. Anh ta nộp đơn rút khỏi công ty và đã nghỉ việc với tư cách là thư ký riêng của Giám đốc.

Chúng ta sẽ phải hy sinh công việc, vị trí và thậm chí cả cuộc sống của chính mình nếu những người khác dần dần ảnh hưởng đến ta về những cách tham nhũng và không trung thực của họ. Đây là quyết định không dễ dàng nhưng nó không phải là không thể. Nó đòi hỏi cách dứt khoát và quyết liệt.

Thứ đến, hồi tưởng lại để hiểu. Đức Giêsu nhắc nhở các môn đệ của Ngài bằng cách nhắc cho họ nhớ lại những phép lạ mà Ngài đã thực hiện: việc làm cho bánh hóa nhiều. Điều này giải thoát các môn đệ khỏi mối quan tâm hẹp hòi về sự sai lầm của con người tự nhiên, giúp họ đặt mọi thứ vào một viễn cảnh siêu nhiên. Ta không được dễ dàng quên những gì Thiên Chúa đã làm cho mình và không được nghi ngờ những gì tốt lành Ngài hứa sẽ làm cho ta. Mỗi ngày, tôi có dành một ít thời gian để hồi tưởng lại những điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã làm cho tôi, như những phép lạ mà Ngài đã thực hiện trong cuộc sống, để đặt Vương quốc của Ngài lên hàng đầu trong đời sống đức tin của tôi không?

Chúa Giêsu cảnh báo các môn đệ về men xấu: men của người Pha-ri- sêu là niềm tự mãn và của Hê-rô-đê là sự dâm loàn. Ngài kêu gọi chúng ta lan tỏa vào thế gian bằng men tốt, men đức tin mà ta đã được đón nhận, để men tình yêu của Đức Ki-tô ngự trị trong trái tim và tâm trí của tất cả mọi người xung quanh. Điều này đòi hỏi người Ki-tô hữu phải cố gắng chân thành trong nỗ lực của mình bằng một con người chính trực, trung thực và thánh thiện và không thiếu nhiệt huyết của sự hy sinh trong tin yêu và phó thác, mới có thể cảm hóa được những người chung quanh.

Xin giúp chúng con tránh xa con đường tội lỗi là lòng tự kiêu và đam mê trần thế. Xin đổ tràn tâm trí chúng con Thần Khí tình yêu của Chúa, để chúng con cảm được hạnh phúc và bình an trên con đường theo Chúa. Amen.

ӷ

 

THỨ TƯ TUẦN VI THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 8,22-26

Chữa Lành Người Mù Ở Bết-xai-đa

 

Ngày xửa ngày xưa, một ổ bánh mì rơi ra từ một chiếc xe tải bánh và khi nó rơi xuống đất, một mảnh vụn vỡ ra. Ba con chim sẻ nhìn thẳng vào mảnh vụn và sà xuống để chiếm lấy nó, và chúng bắt đầu chiến đấu để dành miếng bánh.

Cuối cùng, một trong những con chim sẻ đã thành công trong việc tìm kiếm mảnh vụn trong cái mỏ của nó và bay đi, hai con chim sẻ khác đuổi theo trong cuộc truy đuổi dữ dội. Một cuộc chiến trên không điên cuồng diễn ra cho đến khi vụn bánh hoàn toàn được tiêu thụ.

Điều duy nhất những con chim sẻ này nhìn thấy là vụn bánh. Không con nào nhận thấy ổ bánh vẫn còn nằm trên mặt đất. Hàng ngày chúng ta chiến đấu vật vã với những nhu cầu rất tầm thường cho những nhu cầu tối cần của mình trong khi sự giàu có thực sự của cuộc sống không được chú ý và thoát khỏi tầm tay. (từ: The Daily Encounter).

Mù đôi khi được người Do Thái coi là một hình phạt cho sự bất tuân (1Sm 11,2). Và nó cũng biểu thị sự thiếu hiểu biết đối với những điều thuộc tâm linh (Is 6,10; 42,18). Người Do Thái bị buộc phải đối xử với người mù bằng lòng trắc ẩn và sự quan tâm cách đặc biệt (Lv 19,14). Tin Mừng hôm nay, người ta dẫn đến với Chúa Giêsu một người mù và nài xin Người sờ vào và chữa cho anh ta. Ngài cầm lấy tay người mù đưa ra khỏi làng và tiến hành các bước chữa lành.

Trong trường hợp này, ta thấy việc Chúa Giêsu chữa lành người mù cách tiệm tiến: Tầm nhìn của người mù không được phục hồi một lần nhưng theo từng giai đoạn. Trước tiên, Chúa Giêsu đưa anh ta ra khỏi làng, Người nhổ nước miếng vào mắt, đặt tay trên anh và hỏi anh thấy gì không, anh ta chỉ thầy người ta mờ mờ như những cây cối di chuyển. Lần hai, Người đặt tay lên mắt anh thì anh thấy tỏ tường mọi sự. Ở đây ta không khỏi thắc mắc, tại sao Chúa Giêsu đầy quyền năng, Ngài chỉ phán một lời là bệnh tật biến mất, thế nhưng Ngài lại phải thực hiện những cử chỉ và từng bước trên anh mù một cách tiệm tiến? Thưa, có lẽ vì phép lạ này xẩy ra ở làng Bết-xai-đa nơi mà dân chúng rất cứng lòng tin mặc dù họ đã chứng kiến nhiều phép lạ Chúa đã thực hiện ở đây. Tin Mừng thánh Lu-ca 10,13 đã nói nên điều này: “Khốn cho các người, hỡi Kho-ra-dim! Khốn cho các ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì từ lâu họ đã mặc áo vải thô, ngồi trên tro tỏ lòng sám hối rồi”. Có lẽ người mù cũng là một trong số dân trong làng nên việc chữa lành qua các bước tiệm tiến là để củng cố lòng tin của anh ta. Ngài phải đặt tay đến lần thứ hai để mở con mắt tâm linh, để anh ta được thấy rõ toàn diện từ trong tâm hồn đến ngoài thể lý. Đây cũng là lý do để ta hiểu tại sao sau khi anh mù được sáng mắt, Ngài lại cấm anh ta đi vào làng. Tin Mừng không thấy Chúa cấm anh ta đi loan báo đặc ân chữa lành của Chúa đã làm cho anh với những người khác, nhưng không phải với dân làng Bết-xai-đa. Vì rất có thể đức tin mới chớm nở của anh sẽ bị người ta làm cho mù trở lại. Hoặc vì dân này cứng lòng tin nên họ không có diễm phúc được chứng kiến thêm phép lạ này, hay có tường thuật lại cho họ thì cũng vô ích, vì dân này thích ngồi trong bóng tối hơn là đón nhận ánh sáng. Không đón nhận Tin Mừng và không tỏ lòng sám hối đó là một dạng bóng tối của tâm linh, phải chăng đó là một dạng mù còn tệ hại hơn so với mù về thể chất? Vâng, chắc chắn vậy, vì đó là sự mù quáng của trái tim và của tâm hồn.

Qua việc Chúa Giêsu chữa lành người mù, ta có thể dừng lại ở ba điểm để suy ngẫm:

Thứ nhất, người mù không tự mình đến với Chúa Giêsu. Người mù được người khác giúp đỡ để đến với Chúa Giêsu để được Ngài chạm đến và chữa lành. Những người này xin Chúa Giêsu chữa cho người mù. Nói cách khác, Thiên Chúa sử dụng người khác để mang lại sự cứu rỗi cho chúng ta. Chúng ta có cho phép Chúa sử dụng chúng ta để đưa ai đó trở lại với Ngài không?

Thứ hai, việc chữa bệnh cho người mù qua từng tiến độ: Quá trình chữa lành không xảy ra ngay lập tức. Vì vậy, bài học cho chúng ta là; không phải những người chúng ta mang đến cho Chúa Giêsu để chữa lành thể xác hoặc tinh thần sẽ được chữa lành cùng một lúc. Cũng giống như thánh Mônica, bà đã cầu nguyện cho việc trở lại của con trai bà là thánh Augustinô trong một thời gian dài 18 năm. Và chỉ sau đó, thánh Augustinô đã được hoán cải sang đức tin Công Giáo. Ta có nản lòng khi người mà mình cầu nguyện không thay đổi từ ngày này sang ngày khác không? Ta có đủ kiên nhẫn và cho phép Chúa Giêsu làm công việc của Ngài không?

Thứ ba, Chúa Giêsu nói với người mù đừng quay trở lại làng hoặc nói với anh ta: “Hãy đi và đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Có điều gì mà Chúa Giêsu không muốn người mù được chữa lành phải nhìn thấy? Chúa Giêsu không muốn bởi vì khi con mắt thể lý được sáng mà lại đi vào vũng lầy của bóng tối tâm linh như dân làng Bết-xai-đa thì thật khốn lắm thay! Cũng vậy, khi ta bị mù quáng bởi những cám dỗ của thế gian rồi rơi vào bóng tối của tội lỗi. Chúa vẫn ở đó từng bước cứu chữa và dắt ta ra khỏi bóng tối của cuộc đời qua việc đón nhận các bí tích, đặc biệt bí tích hoà giải. Nhưng sau khi được tha thứ, được chữa lành mà không biết tránh xa những cạm bẫy nguy hiểm. Lao vào trung tâm lây nhiễm vi-rút Corona thì rất có nguy cơ tệ hại hơn và có thể mất cả tính mạng nữa. Vì vậy, hãy tỉnh thức và cầu nguyện (Mc 14,38) để không rơi vào cám dỗ, không tự lao mình vào bóng tối của trần gian.

Lạy Chúa, xin cho con được thấy, xin dẫn dắt con đi trong ánh sáng chân lý đức tin của Ngài. Amen.

ӷ

 

THỨ NĂM TUẦN VI THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 8,27-33

Người Ta Nói Thầy Là Ai?

 

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?” Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.” Sau đó Ngài lại hỏi chính các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phê-rô trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô.”

Chúng ta biết rằng, Đấng Ki-tô là cách gọi theo ngôn ngữ Hy Lạp hay Đấng Mê-si-a là theo ngôn ngữ Do thái có nghĩa là Đấng được sức dầu. Cũng có nghĩa là Đấng Cứu Thế mà các tiên tri đã loan báo, Đấng sẽ đến cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu không phủ nhận tước hiệu Thiên Sai của Ngài là Đấng muôn dân đang trông chờ nhưng ở đây ta thấy, tai sao Chúa Giêsu lại cấm ngặt các môn đệ không cho họ nói với ai về Người? Có một số nhà chú giải thánh kinh cho rằng: “đây là bí mật Thiên Sai”… nhưng thực ra cũng có thể hiểu cụ thể trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, những người Do-Thái đang khao khát trông chờ một Đấng Mê-si-a đến để giải thoát họ khỏi ách thống trị của đế quốc La-Mã, chứ họ không trông chờ một Đấng Mê-si-a như Ngài. Người ta muốn Ngài phải là một nhà chính trị, là một ông vua đại tài đứng lên cầm quân giải phóng dân tộc. Còn Đức Giêsu, Ngài đến để giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết đời đời chứ không phải để vì một nhóm lợi ích nhỏ nào, hay một thế lực trần gian nào.

Không chỉ có người Do Thái hiểu sai về Đấng Mê-si-a mà ngay cả các môn đệ thân tín của Ngài cũng không thể hiểu Đấng Mê-si-a như thế nào. Một Phê-rô, vừa tuyên xưng ‘Thầy là Đấng Ki-tô’ xong, đã nhẩy xổm lên cản mũi kỳ đà khi được nghe Thầy tỏ cho biết về sứ vụ đau khổ của Đấng Ki-tô là gì. Đến độ Chúa Giêsu phải mắng ông: “Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Quả thật hai luồng tư tưởng mà không gặp nhau thì có nói ra cũng chẳng ai hiểu chi! Chỉ có thêm phiền toái là đàng khác! Đó có lẽ là lý do mà Chúa Giêsu không muốn các môn đệ nói với ai về sứ vụ Mê-si-a của Ngài trước thời hạn, hay cách nào đó Ngài biết rõ, vào thời điểm này có nói cũng chẳng ích gì cho người ta, vì chính Ngài không giống như Đấng mà hiện tại người ta đang trông chờ! Vì một Đấng Me-si-a đến giải thoát theo nghĩa thế tục – chính trị thì không phải là đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa.

Qua bài Tin Mừnghôm nay, chúng ta cũng có thể học theo Chúa Giêsu để đặt câu hỏi với những người thân của mình xem sao nha! Có thể người thân là vợ hoặc chồng, là cha mẹ hay con cái hoặc những người bạn thân thiết của nhau, ta thử đặt câu hỏi: “anh ơi, em ơi, con ơi, hay bạn thân ơi, người ta nói tôi là ai?”

Có lẽ chúng ta sẽ nhận được rất nhiều câu trả lời thú vị. Có thể câu trả lời là: cô là bà chủ tiệm. Anh Là ông chủ nhà hàng, là một kỹ sư, là một sinh viên, hay là một người giúp việc, là một nhân viên văn phòng, cũng có thể là một mụ chua ngoa hay là một tay côn đồ đáng xa lánh…

Và rồi chúng ta lại bắt chước Chúa mà hỏi tiếp: vợ ơi, chồng ơi, cha mẹ ơi, các con ơi, hay bạn thân ơi. Chính anh, em, cha, mẹ, con, hay bạn thân làm ơn nói cho tôi biết tôi là ai? À, câu hỏi này ta phải làm một cách hết sức nghiêm túc như Chúa Giêsu đã làm và có lẽ rất nhiều câu trả lời thú vị mà ta sẽ nhận được, thậm chí cả những hành động nữa: có thể người chồng đến đưa tay sờ vào trán của vợ và ân cần hỏi; “hôm nay em bị làm sao vậy? có cần đi bác sĩ không?” hay “Ồ! Em là cục nợ của anh mà cả đời anh không bao giờ trả hết!” hay “Ồ! Bạn là ai ư! Đến tuổi này còn độc thân thì bạn tự biết rồi!” hoặc “Mẹ là ai à, cho phép con nói thật nha; mẹ là người số một trong nhà này chuyên gây chiến với ba và luôn ồn ào” hay “chồng à! Anh là người em yêu nhất trên đời nhưng cũng mang đến cho em nhiều đau khổ nhất!”…

Và rồi nếu có cả một ngàn câu trả lời ngọt ngào hay chua chát thì thực sự người ta cũng không thể nói chính xác cho chúng ta biết mình là ai! và cũng có thể nói, ngay cả chính chúng ta cũng không thực sự biết mình là ai! Có khi nào chúng ta tự hỏi chính mình: “Tôi là ai” chưa? Tôi là ai trong cõi đời này? Có thể tôi là một người thành đạt, có thể tôi là kẻ ăn xin, có thể tôi đang làm tổng thống, có thể tôi đang làm ô xin cho người ta, có thể tôi đang làm giám đốc một công ty, có thể tôi đang làm anh nhân viên bảo vệ hay phu quét rác, có thể tôi là một tu sĩ, linh mục hay giám mục… tất cả cái tôi đang làm và tôi nghĩ rằng tôi đang là đều không phải là một câu trả lời cuối cùng làm thỏa mãn cho mình, vì ta không phải được sinh ra để rồi làm ông này bà nọ là xong. Có một số người dễ hài lòng với những gì mình đang có và tự coi cái đó đang là chính họ nhưng đến tận cùng của cuộc đời thì họ nghĩ mình là ai?

Có lẽ câu chuyện sau đây gợi ý cho ta câu trả lời:

Có một người mới qua đời đi đến cửa thiên đàng, ông gõ cửa và có tiếng của Thiên Chúa vọng ra hỏi: “Ngươi là ai?” Người ấy thưa, con tên là Trần Văn T… là một thầy giáo dạy ở trường đại học quốc gia. Thiên Chúa lại hỏi, “Ngươi là ai?” ông ta lại giải thích, nhà con ở thành phố Sài Gòn gần nhà thờ Đức Bà và con đến đó đi lễ mỗi chúa nhật. Ta không hỏi nhà người ở đâu, ta hỏi người là ai? Con là người chồng của bà Y và có ba đứa con, tất cả đã được con lo cho chúng ăn học thành công, một đứa làn thầy giáo, và hai đứa làm bác sĩ… cứ tiếp tục như thế đến khi không còn biết trả lời làm sao nữa thì câu hỏi vẫn cứ vang lên: “Ngươi là ai?” Và cuối cùng, người đàn ông này không biết mình là ai! Đành trả lời: “Con không biết.” Thiên Chúa nói: “Vậy nhà ngươi hãy trở về trần gian mà tu tập để tìm hiểu xem mình là ai, vì ở đây không có chỗ cho kẻ không biết mình là ai!”

Ông ta trở về trần gian và bắt đầu tu tập, suy ngẫm về cuộc đời, khám phá ra rất nhiều những gì mà ông từ trước tời giờ không hề quan tâm tới, đó chính là thế giới nội tâm của chính mình.

(câu chuyện nếu dừng ở đây chúng ta cũng chẳng biết người đàn ông này đã ngộ ra được cái gì! đúng không?) nhưng rất may, câu chuyện còn viết tiếp.

Một ngày kia ông được Chúa gọi về, đến gõ cửa Thiên đàng, ông cũng nghe được giọng nói quen thuộc ngày nào hỏi: “Ngươi là ai?” qua một chút bối rối và hồi hộp, ông liền thưa: “Con chính là Ngài.” Và lạ thay, cửa thiên đàng bỗng mở tung, nhạc hội tưng bừng hân hoan đón ông vào và Lời Chúa vang lên: “Hãy vào mà chung hưởng niềm vui và hạnh phúc với Chủ ngươi.” Đó cũng là niềm vui được kếp hợp nên một với Thiên Chúa.

Qua câu chuyện có lẽ mỗi người chúng ta đã có câu trả lời cho chính mình: “Tôi là ai” rồi. Vì chúng ta biết rõ mình đang mang Danh hiệu nào. Một danh xưng vô cùng cao quý đó là Ki-tô Hữu, Tôi là Ki-tô Hữu, là người có Chúa Ki-tô, hay tôi là hiện thân của Chúa Ki-tô. Vì Chúa Ki-tô đã cho phép tôi được nên một với Ngài qua bí tích thanh tẩy và đặc biệt qua bí tích Thánh Thể mỗi khi tôi ăn Thịt và uống Máu Ngài. Và Ngài đã từng cầu nguyện cho tôi cùng với Chúa Cha rằng: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để chúng nên Một trong Chúng Ta là Một.” Đức Giêsu không chỉ cầu nguyện để cầu nguyện, nhưng lời cầu nguyện của Ngài chính là mạc khải cho tôi biết; Ngài đã cho phép tôi được nên một trong Ngài và trong Thiên Chúa Cha của Ngài. Chiêm niệm điều này làm cho ta không khỏi cảm động đến rưng rưng, vì tình yêu của Thiên Chúa quá cao vời và ngài đã làm cho con người. Nhưng, nhìn lại một chút, có khi nào người ta nhận ra Chúa Ki-tô trong tôi không vậy ta? “Người ta nói tôi là ai vậy?” và “tôi nghĩ mình là ai đây?” và tôi thực sự đang là ai đây? Khi tôi đặt mình trước tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Amen.

 

 

THỨ SÁU TUẦN VI THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 8,34-9,1

Những Điều Kiện Để Theo Đức Giêsu

 

Trong tạp chí Những Người Dẫn Đường (Tập 11, Số 1), với chủ đề “Người Môn Đệ của Giáo Hội” đã nói: “Một môn đệ phải là người đang ở lại trong Lời, yêu thương người khác, trổ sinh hoa trái và đặt Chúa Ki-tô lên trên hết”.

Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã yêu cầu các môn đệ điều mà xem ra rất cứng cỏi, không ai lại dùng những lời như vậy để chiêu mộ các môn sinh. Ngài đã triệu tập dân chúng và công bố: “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (8,34). Ba từ mệnh lệnh để ta nhớ: Từ bỏ chính mình, vác thập giá và đi theo. Đó là ba điểm then chốt làm nên một người môn đệ của Chúa Ki-tô. Đó là người tin vào giáo huấn của Chúa Ki-tô, dựa vào hy tế của Ngài, thấm nhuần tinh thần của Ngài và bắt chước gương sống của Ngài. (Mt 10,24; Lc 14,26.27.33; Ga 6,69).

  1. Từ Bỏ Chính Mình. Chúa Giêsu tuyên bố rất rõ ràng rằng để theo Ngài, phải chối bỏ chính bản thân mình. Tự chối bỏ chỉ trở nên có ý nghĩa nếu được đi kèm với tình yêu nồng nàn và quảng đại dành cho Chúa Ki- tô. Điều này ngụ ý vâng lời Thiên Chúa chứ không theo cách riêng của ta. Chúa Giêsu cũng yêu cầu người môn đệ sẵn sàng đánh mất mạng sống mình vì người khác, điều này nói nên rằng ta không chỉ sống cho chính mình nữa. Vì thế, nếu ước muốn theo Chúa Ki-tô không bùng cháy trong lòng thì thập giá ta phải mang theo trở nên rất nặng nề và không thể chịu đựng nổi. Vậy, tôi có quyết tâm theo Ngài không?
  2. Vác Thập Giá Của Chính Mình.

Thập giá nói lên những đau khổ, người môn đệ phải hiểu lời mời gọi của Chúa như thế nào?

Trong cuốn sách Mô hình của Đức Tin. Kinh Thánh Đời Sống Tâm Linh Cho Thời Đại Chúng Ta, Carlos Valles đã nói:

Đau khổ có thể làm suy yếu đức tin, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng như vậy. Nó thậm chí có thể củng cố đức tin và dẫn người ta tới gần gũi hơn với Thiên Chúa, nó có thể làm dịu đi cơn thịnh nộ và làm sâu sắc thêm cuộc sống, và nó thường là một liệu pháp huyền nhiệm của tâm hồn cô đơn của con người. (tr. 99).

Vậy thập giá của chúng ta là gì? thường thì ta sẽ lập một danh sách những thử thách, khó khăn và gian khổ mà mình gặp phải trong cuộc sống. Nhưng thực sự thập giá của chúng ta là gì?

Cha Domie Guzman (tạp chí Sabbath ngày 16 tháng 5 năm 2008) nói rằng:

Thập giá của chúng ta là Thánh giá Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta vác. Thánh giá chúng ta được yêu cầu vác là Thánh giá chúng ta phải theo Chúa Giêsu. Do đó, Thập giá của chúng ta là một khó khăn hay thử thách duy nhất mà chúng ta phải chịu đựng trong lúc này, như một dấu hiệu cho sự trung tín và cam kết của chúng ta đối với Chúa Giêsu, với Giáo hội và Tin Mừng của Ngài. Những gian khổ hoặc khó khăn khác có thể do chúng ta hoặc những người khác gây ra do hậu quả của những lựa chọn và ưu tiên sai lầm của chúng ta hoặc sự quấy rối thuần túy do con người tạo ra và không bởi ý muốn của Chúa.

  1. Đi Theo Ngài nghĩa là người môn đệ tập trung đôi mắt và trái tim vào Chúa và thánh ý của Ngài. “Hãy theo ta”, lời mời gọi dẫn chúng ta đi theo bước chân của Chúa Ki-tô trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Nó có nghĩa là ôm lấy thập tự giá và mang nó một cách yêu thương, leo lên Núi Sọ mỗi ngày bên cạnh Chúa Giêsu. Thập giá là thẻ nhập học của các môn đồ, vé lên máy bay của họ, và là chìa khóa mở ra cổng trời, nơi Ngài đã đi vào.

Cuối cùng, người môn đệ của Chúa Giêsu phải xác tín rằng: Cuộc sống không có Chúa Giêsu là cô đơn, bất an, đầy nghi ngờ, trống rỗng. Nhưng cuộc sống có Chúa Giêsu thật sống động, đầy cảm hứng, tràn đầy hy vọng và nhiệt huyết. Và chỉ đồng hành cùng với Ngài ta mới có thể từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mỗi ngày mà đi theo Ngài mà thôi.

Lạy Chúa, thập giá là đau khổ nhưng cũng là nguồn vinh quang vì nó được mang danh Ngài. Xin giúp con biết tử bỏ chính mình là những tham vọng trần thế, để hân hoan vác thập giá trong danh của Chúa mà vững tâm bước đi theo Ngài. Thập giá sẽ trở nên thánh giá vì có Ngài luôn ở bên. Amen.

ӷ

 

THỨ BẢY TUẦN VI THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 9,2-13

Chúa Giêsu Biến Hình

 

Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu biến hình, có ba môn đệ cùng ở với Ngài và có tiếng Thiên Chúa Cha phán với các ông: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.” (c.7).

Sự biến hình của Chúa Giêsu ở đây không chỉ là hình thức bên ngoài, không phải chỉ là một sự chuyển đổi chỉ trên bề mặt. Thánh Mác-cô đã sử dụng ngôn ngữ Hy Lạp để mô tả sự biến đổi (transformation) của Chúa Giêsu đồng nghĩa với từ biến hình (metamorphosis), có nghĩa là hình dạng của Chúa Giêsu đã được thay đổi giống như một con bướm chui ra từ con nhộng và trở thành một con vật trưởng thành.

Elisabeth Elliot trong cuốn sách ‘Giữ trái tim thầm lặng’, đã truyền tải cùng một thông điệp: “ngày tận cùng của con sâu bướm là ngày Đấng Tạo Hóa cho nó trở thành con bướm.” Trong thân phận con người, chúng ta chỉ thấy sự không hoàn hảo ở mặt trái của một tấm thảm mà Thiên Chúa dệt trong cuộc sống của mình. Điều mà chúng ta cho là ‘bi thảm – điều kinh hãi nhất có thể xảy ra,’ hy vọng một ngày nào đó chúng ta sẽ xem thấy, đó là lý do tuyệt vời cho vẻ đẹp và sự độc đáo của cuộc sống của chúng ta và của gia đình mình (Tr. 29-30).

Chúa Giêsu biến hình là một điềm báo của thiên đàng hoặc của sự phục sinh. Ngài đang nói với các môn đệ rằng: Đừng hoảng sợ, vì sau Cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, vinh quang phục sinh của Ngài sẽ đến.

Cuối cùng mọi thứ sẽ ổn thôi. Nói cách khác, biến hình là một sự trấn an của Chúa Giêsu đối với các môn đệ đang bị dao động.

Nhìn vào Chúa Ki-tô phục sinh và được tôn vinh trong thân xác hiển vinh, Thiên Chúa Cha ra lệnh cho các môn đệ ‘hãy vâng nghe lời Ngài’. Hãy cố gắng giống như Ngài, rập theo khuân của Ngài và chính Ngài là hình mẫu của chúng ta.

Liên quan đến vấn đề này, một câu chuyện có thật mà tôi đã đọc từ Life Support (Ủng hộ sự sống) chỉ ra một sự thật phổ quát về con người: Chúng ta học tốt nhất bằng cách bắt chước. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Calvin Coolidge từng mời bạn bè từ quê nhà đến dùng bữa với ông tại Nhà Trắng. Vì không hiểu rõ về cách cư xử nơi bàn tiệc, các vị khách quyết định bắt chước tổng thống. Họ theo dõi chặt chẽ để xem ông ta đã sử dụng những dụng cụ nào, những loại thực phẩm ông ta ăn vào lúc nào.

Chiến lược của họ dường như thành công cho đến khi cà phê được phục vụ. Coolidge rót một ít cà phê vào đĩa của mình. Họ đã làm như vậy. Ông thêm đường và kem. Khách của ông cũng vậy. Sau đó, tổng thống cúi xuống và đặt chiếc đĩa của mình xuống sàn cho con mèo!

Giống như khách Quê hương của Coolidge, chúng ta cũng vậy, dường như học tốt nhất bằng cách bắt chước. Trẻ con học bằng cách quan sát cha mẹ khi chúng còn nhỏ và bằng cách sao chép các bạn cùng trang lứa khi chúng lớn lên. Chúng học bằng cách quan sát các nhân vật truyền hình và phim dễ dàng như cuộc sống của những người thực tế. Người lớn học tốt nhất bằng cách mô hình hóa một đặc điểm tính cách hoặc kỹ năng ở người khác mà họ muốn áp dụng.

Và cuối cùng, chúng ta có thể nói một cách trung thực với Chúa Cha: Lạy Cha, Điều mà con luôn cố gắng thực hiện trong cuộc sống là trở nên giống Chúa Giêsu Ki-tô. Bởi vì lắng nghe Chúa Giêsu, lấy Ngài làm mẫu gương cho đời sống Ki-tô hữu, và nhờ công nghiệp của Máu Thánh Ngài đổ ra mà chúng con được thanh tẩy để trở nên con yêu dấu của Cha điều mà Cha hằng muốn ban cho chúng con từ muôn đời. Amen.

ӷ


Liên quan khác