THỨ HAI TUẦN V THƯỜNG NIÊN
Mác-cô 6,53-56
Sự Chữa Lành Tại Ghen-nê-xa-rét
Tiến sĩ Paul Brand đã chia sẻ một câu chuyện về việc điều trị bệnh phong hủi cho một chàng trai trẻ ở Ấn Độ. Bác sĩ Brand đặt tay lên vai người phong hủi rồi cố gắng giải thích thông qua một phiên dịch viên về quá trình điều trị thì bất ngờ người chàng trai trẻ bật khóc. Tiến sĩ Brand đã tự hỏi liệu ông có nói điều gì đó sai không! Người phiên dịch nói với bác sĩ rằng bệnh nhân khóc vì được ông chạm vào anh ta. Từ nhiều năm nay không có ai dám chạm vào anh ta hết.
Tin Mừng thường miêu tả Chúa Giêsu luôn tiếp cận, chạm vào người bệnh cũng như tội nhân để chữa lành họ. Bài Tin Mừng hôm nay cũng miêu tả người ta đổ xô đến xin được chạm vào tua áo choàng của Chúa Giêsu và họ được chữa lành. Điều này nhắc ta nhớ lại việc chữa lành cách kỳ diệu trước đó của người phụ nữ bị loạn huyết 12 năm, bà đã cố gắng chạm vào tua áo của Chúa Giêsu và ngay lập tức trải nghiệm sự chữa lành (Mc 5,25-29).
Qua sự tiếp xúc đụng chạm để chữa lành, Chúa Giêsu muốn cho người bệnh biết rằng mình được Chúa lưu tâm và đặc biệt yêu mến, rằng họ không đơn độc.
Roger Schultz, giám đốc Taize, tu viện đại kết nổi tiếng thế giới ở Pháp. Ông đã kể một câu chuyện: Cháu gái của ông đã lớn lên ở đất nước Zaire ở Châu Phi, và chơi thân với một người bạn Châu Phi bằng tuổi cô. Đó là một cậu bé mồ côi và rất cô đơn. Cậu ta đã dựng cho mình một cái lán nhỏ dựa vào bức tường đá cao, nó ngăn cách sân sau nhà của cô bé với cánh đồng nơi cậu bé sinh hoạt ở đó. Không có cửa hoặc cổng trong bức tường vườn, vì vậy cô bé không thể nhìn thấy cậu bé mồ côi ở phía bên kia. Nhưng cô tìm thấy một cái lỗ trên tường và dùng nó để đưa tay qua đó và nắm lấy tay cậu bé. Hai đứa trẻ chưa bao giờ nhìn thấy nhau. Họ không thể nói chuyện với nhau vì họ khác biệt ngôn ngữ. Nhưng họ giao tiếp và an ủi nhau bằng cách nắm tay nhau. Và cậu bé đã không còn cô đơn mỗi khi được nắm lấy tay cô bé. Quả thật, sự đụng chạm là một trong những hình thức giao tiếp mạnh mẽ nhất.
Tất nhiên, việc đặt tay cầu nguyện là phương tiện mạnh mẽ nhất để chạm vào và chữa lành một người bệnh, không chỉ về phương diện chữa lành thể xác mà còn là một phương diện tâm linh. Ta biết rằng, hầu hết các bác sĩ y khoa hiện nay đều cho rằng, uống thuốc không phải là cách duy nhất để chữa lành một căn bệnh. Có những sự chữa lành không thể giải thích được ở những người bệnh, những người được đặt tay cầu nguyện và đón nhận bí tích xức dầu. Không có gì ngạc nhiên khi các Thánh lễ chữa lành, các buổi cầu nguyện để được chữa bệnh rất phổ biến trong thời đại ngày nay.
Schultz tiếp tục nói rằng, có những lúc trong cuộc sống khi lời nói không lột tả hết, nhưng cảm nhận của liên lạc qua sự đụng chạm của chúng ta nói lên nhiều điều. Đứa bé được ôm ấp trong vòng tay mẹ. Bàn tay của một cô y tá đặt trên trán làm dịu cơn sốt của bệnh nhân. Hãy vỗ nhẹ vào lưng hoặc vỗ trên vai để an ủi một ai đó.
Xin Chúa dạy con biết làm thế nào để sử dụng sức mạnh của mình qua những cái đụng chạm, để có thể chia sẻ với người khác món quà của Chúa từ đôi bàn tay nhân ái, để chạm vào tha nhân qua bàn tay ân cần, cảm thông, chia sẻ và thấu cảm của chính mình. Amen.
ӷ
THỨ BA TUẦN V THƯỜNG NIÊN
Mác-cô 7,1-13
Truyền Thống Của Tiền Nhân
Trong cuốn sách các bài giảng hàng tuần William Barclay, đã kể câu chuyện về một giáo sĩ Do Thái đang ở trong nhà tù La Mã. Giáo sĩ sử dụng khẩu phần nước nhỏ hàng ngày của mình không phải để uống, mà dùng cho nghi thức tôn giáo rửa tay trước khi ăn. Vì quyết tâm tuân thủ các quy tắc của sự sạch sẽ trong nghi lễ, ông ta đã suýt chết vì khát.
Câu chuyện này giúp chúng ta biết thêm lý do tại sao những người Pha-ri-sêu ngạc nhiên khi thấy các môn đồ của Chúa Giêsu dùng bữa mà tay còn ô uế, tức là chưa rửa sạch theo nghi thức.
Tôn thờ Thiên Chúa qua luật lệ
Người Pha-ri-siêu tuân thủ nghiêm ngặt luật lệ, họ đặt trọng tâm vào các hình thức bên ngoài đến độ quên đi cả ý nghĩa bên trong. Các nghi thức trở nên quan trọng đối với họ hơn là những thứ thuộc về trái tim, như tình yêu và lòng thương xót. Họ thích áp đặt những quy định này coi như cách để mọi người thực hiện và làm hài lòng Chúa. Vì vậy, trong con mắt của những người Pha-ri-siêu các môn đệ của Chúa Giêsu đã bỏ bê truyền thống của cha ông cũng có nghĩa là đang xúc phạm đến Thiên Chúa. Vì trong cái nhìn của người Do Thái, không được phạm tội xấu, không ở bẩn thỉu theo nghĩa sức khỏe, vì đó là ô uế trước mắt Thiên Chúa. Đối với những người này, ăn bằng tay ô uế phải chịu sự tấn công của quỷ, có khả năng trở nên nghèo đói và bị hủy diệt.
Luật giúp bảo vệ sức khoẻ.
Rửa tay trước khi ăn đó là một hành động giữ vệ sinh và bảo vệ sức khỏe, và có lẽ ta cũng được cha mẹ giáo dục ngay từ còn nhỏ, đó là một việc nên làm. Hơn nữa là người con của gia đình Công Giáo còn được dạy cách cầu nguyện trước khi dùng bữa, vì của ăn chính là ân sủng mà Thiên Chúa ban cho. Vì vậy, ta đón nhận nó với sự tôn trọng và lòng biết ơn.
Thêm nữa, cần loại trừ những tư tưởng tiêu cực cũng như sự tranh luận gắt gao trong khi dùng bữa, hay đúng hơn khi đón nhận ân sủng của Chúa người ta nên có những tâm thế hòa bình, và biết nhậy bén quan tâm đến nhu cầu của người chung quanh. Đặc biệt lưu tâm đến cả những người vắng mặt và nhưng ai thiếu thốn không có gì để ăn. Nói tóm lại, điều mà Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ của Ngài không chỉ rửa tay trước khi ăn mà còn làm sạch tâm hồn nữa.
Tôn thờ Thiên Chúa trong trái tim
Ta biết rằng, nơi mà Thiên Chúa muốn cư ngụ, nơi mà Ngài muốn được tôn vinh nhất, là trong trái tim của dân Ngài. Vì trái tim biểu tượng của tình yêu, nơi mà Thiên Chúa thực sự gặp gỡ con người trong Giao Ước Mới. Điều này thôi thúc ta khao khát chuẩn bị một trái tim, một tấm lòng trong sạch để trở thành ngôi nhà xứng đáng cho Thiên Chúa ngự. Hãy cố gắng làm cho trái tim của mình nên một đền thờ thực sự của Thiên Chúa; Một trái tim đầy khiêm nhường, yêu mến và xót thương. Từ nơi trái tim, Thiên Chúa còn ngự lại với các tín hữu của Ngài qua Bí tích Thánh Thể mà họ có thể đón nhận vào trong chính thân thể của mình! Cùng với Thánh Linh của Ngài đang sống trong họ. Nói như thánh Phaolô: thân xác của các tín hữu chính là một phần thân thể của Đức Ki-tô, và còn là đền thờ của Thánh Thần (x. 1Cr 6,15.19).
Đôi khi, ta tôn vinh Thiên Chúa ở bên ngoài qua các buổi rước sách và nghi lễ rất hoành tráng và rầm rộ, nhưng vẫn giữ một khoảng cách trong trái tim của ta với Ngài!
Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần Chúa đến biến đổi những hành vi thờ phượng bên ngoài của chúng con, để trở nên sự phản ánh chân thực của trái tim đang khao khát mở rộng để đón Chúa ngự vào và ở cùng chúng con luôn mãi. Xin biến đổi trái tim chúng con nên như Trái Tim Cực Thánh Đức Giêsu Ki-tô Con Chúa. Amen.
ӷ
THỨ TƯ TUẦN V THƯỜNG NIÊN
Mác-cô 7,14-23
Chính Cái Từ Con Người Xuất Ra, Là Cái Làm Cho Con Người Ra Ô Uế
Để nhận ra nguồn gốc của sự ô uế và trong sạch, Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã giúp chúng ta phân biệt hai khía cạnh ngay trong con người của mình. Đó là bụng và lòng; bụng đại diện cho thân thể vật chất còn lòng đại diện cho tâm trí, cái cao hơn và điều khiển con người. Luật pháp xã hội cũng theo chuẩn mực này mà xét xử các phạm nhân. Ví dụ một băng cướp, kẻ chủ mưu và chỉ đạo có thể không trực tiếp thực hiện gây án nhưng tội của y vẫn nặng hơn!
Thấm nhuần lời dạy của thầy Giêsu, Thánh Gia-cô-bê chỉ ra cho chúng ta một kẻ chủ mưu, dễ làm cho người ta ra ô uế nhất đó là một bộ phận nhỏ trong con người của mình nhưng là tên thường xuyên gây họa, đó chính là cái lưỡi:
Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè: dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, nó làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy. Thật thế, mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. (Gc 3,4-8).
Quả thật, cái lưỡi là yếu điểm cụ thể dễ dàng dẫn ta đến sự nhiễm uế, làm tổn thương người khác và cũng dễ làm phương hại đến thanh danh của chính mình. Thế nên, với đầy ơn linh hứng, nhà vịnh gia đã thốt lên: “hồn con con vẫn trước sau, giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con hồn lặng lẽ an vui.” (Tv 131,2). Muốn được bình an và mang bình an đến cho người khác ta cũng cần noi gương sự khôn ngoan của nhà vịnh gia mà biết kiềm chế cái lưỡi của mình. “Giữ cho thinh lặng giữ sao thanh bình”. Thánh Gia-cô-bê thì khẳng định: “Thật vậy, tất cả chúng ta thường hay vấp ngã. Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân. Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng.” (Gc 3,2-3).
Nhưng sâu xa hơn nữa cái lưỡi vẫn không phải là nguồn gốc của sự ô uế hay sự tốt lành mà là “Lòng đầy miệng mới nói ra”, Chúa Giêsu đã khẳng định với chúng ta như vậy. “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7,21-23)
Theo truyền thống Kinh Thánh; lòng, trái tim là trung tâm và nguồn gốc mọi quyết định và hành động của con người. Có lẽ ngày nay dựa vào khoa học phát triển nên người ta nói rằng, mọi quyết định của hành vi nhân linh là do cái đầu và cụ thể hơn là bộ não của con người. Nhưng Kinh Thánh dùng chữ ‘lòng’ hay ‘trái tim’ để muốn diễn tả điểm trung tâm, lòng cốt. Đó là nơi Thiên Chúa muốn gặp gỡ con người. Đó cũng là nơi cái ác bắt đầu và chiếm giữ con người. Đây là điều mà trong phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu cố gắng hướng người Do Thái đến một sự hiểu biết sâu sắc hơn về sự thanh sạch và ô uế mà không phủ nhận các thực hành nghi lễ của họ. Nhưng Ngài muốn họ nhận biết cái gì là quan trọng và cái gì chỉ là nghi thức mang tính chất vệ sinh y tế. (x. Mc 7,4)
Vì thế, ta có thể nói rằng sự trong sạch hay ô uế nằm trong trái tim của mỗi người. Muốn đổi mới thực sự thì vấn đề đầu tiên cần, là tập trung vào để đổi mới trái tim. Và cũng theo thánh Gia-cô-bê thì đó là việc của trái tim kết hợp với ân sủng của Thiên Chúa:
Trong anh em, ai là người khôn ngoan hiểu biết? Người ấy hãy dùng lối sống tốt đẹp mà chứng tỏ rằng: những hành động của họ phát xuất từ lòng hiền hậu và đức khôn ngoan. Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính. (Gc 3,13.17-18).
Trái lại với sự khôn ngoan theo xác thịt
Nếu trong lòng anh em có sự ghen tuông, chua chát và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại mà nói dối, trái với sự thật. Sự khôn ngoan đó không phải từ trời cao ban xuống, nhưng là sự khôn ngoan của thế gian, của con người tự nhiên, của ma quỷ. Thật vậy, ở đâu có ghen tuông và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. (Gc 3,14-16).
Là những thứ thực sự làm cho con người ra ô uế.
Chúng ta có thể cùng suy ngẫm về những lời của James McKarns trong cuốn sách của ông mang tên ‘Give Us This Day’ ông viết: “Nếu một người có lòng thù hận, hàng ngàn phước lành của Đức Giáo Hoàng cũng sẽ không giúp gì được cho anh ta. Nếu một người tràn ngập tình yêu của Chúa Giêsu, hàng triệu lời nguyền rủa và bùa chú cũng sẽ vô hại đối với họ.”
Lạy Chúa, xin tạo cho con một trái tim trong sạch, đổi mới tinh thần cho bền vững trung kiên theo đường lối của Ngài. Amen.
ӷ
THỨ NĂM TUẦN V THƯỜNG NIÊN
Mác-cô 7,24-30
Đức Tin Của Người Phụ Nữ Hy-Lạp Gốc Phê-ni-xi
“Chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con”.
Calvin Miller trong cuốn ‘Hồi tưởng lại cuộc truyền giáo ở ngoại ô’, (Leader, 1988, trang 68) đã kể lại câu chuyện này rằng: một thiếu niên, Arthur Hinkley, đã nâng một chiếc máy kéo nặng 3000 pounds = 1360,777 kg bằng tay không. Anh ta không phải là một người nâng tạ, nhưng bạn của anh ta, Lloyd Bachelder, 18 tuổi, bị kẹt dưới một máy kéo ở một trang trại gần Rome, Maine (tiểu bang nước Anh). Nghe thấy tiếng hét của Lloyd, Arthur bằng cách nào đó lao tới nhấc chiếc máy kéo đủ để Lloyd luồn lách ra ngoài. Tình yêu là động lực thực sự. Và Tình yêu chạm tới những nỗi đau và lao tới những bước táo bạo mà không cần suy tính. Nó có thể hoàn thành những điều không thể tin nổi chỉ đơn giản là vì nó vô vị lợi.
Tin Mừng hôm nay, một người phụ nữ dân ngoại đã cầu xin lòng thương xót của Chúa Giêsu cho cô con gái bị quỷ ám. Chúa Giêsu như thử thách đức tin của chị ta, Ngài làm ra vẻ như không hề quan tâm đến lời chị kêu xin, và còn nói: “Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con.” Câu nói này có ý nghĩa gì?
Thực ra, đây không phải Chúa Giêsu coi thường lời cầu xin của chị hay dùng lời miệt thị, mà Ngài biết rõ đức tin và tình yêu vĩ đại nơi chị, “Ngọc càng mài càng sáng”. Nên lời nói của Ngài không lạ lẫm gì ngoài quan niệm của những người Do Thái lúc bấy giờ, coi những người dân ngoại như ‘những con chó nhơ uế’, họ cho rằng người ngoại giáo bị loại trừ khỏi giao ước của Thiên Chúa và chỉ có dân tộc Israel là dân được ưu tuyển. Đối với người Hy Lạp, Chó là biểu tượng của sự bất lương và được sử dụng để ám chỉ một người phụ nữ trơ tráo không biết xấu hổ. Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu đã ghi lại: “Đừng ném của Thánh cho chó” (Mt 7,6). Nhưng trong bối cảnh của Tin Mừng hôm nay, ta lại nghe người phụ nữ này ngay lập tức đáp lại bằng giọng điệu dí dỏm và đầy tin tưởng: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ nhỏ.” Chúa Giêsu dường như ngạc nhiên về lòng tin của chị và về tình yêu dành cho con gái của mình. Vì yêu con mà chị không cần suy nghĩ đắn đo sang hèn hay vinh nhục, một tình yêu vô vị lợi, nên câu đối đáp của chị đã bật ra ngay lập tức và nó hoàn toàn thuyết phục Thầy Giêsu.
Qua hình ảnh của người phụ nữ dân ngoại này, chị đã cho ta thấy sức mạnh của tình yêu, vì yêu thương con gái đang bị quỷ dữ trói buộc, chị sẵn sàng quên đi chính mình, cho dù bị coi là chó hay bị khinh miệt thì tình yêu của chị với con cũng không có gì lay chuyển. Chị chấp nhận huỷ mình ra không vì yêu con, và ở đây ta thấy Chúa Giêsu đã bắt gặp nơi chị một hình ảnh giống Ngài. Yêu là chấp nhận cho đi, không còn tính toán so bì hơn thua, là huỷ mình ra không miễn sao cho người mình yêu được hạnh phúc. Đó cũng chính là tình yêu mà mỗi người Ki-tô hữu phải có vì đây chính là tình yêu mà Đức Ki-tô đã trao hiến cho ta, Ngài muốn ta nhân rộng tình yêu ấy cho mọi người. Tuy nhiên, trong cuộc sống, điều mà ta đón nhận không hẳn là điều ta dám cho đi, hoặc cho đi một cách méo mó, thế nên biết bao những hệ luỵ cay đắng vẫn xẩy ra trong đời sống giữa các Ki-tô Hữu, giữa những con người yêu nhau. Vì thế, ta cần xem lại một vài chiều kích của sự thể hiện tình yêu:
Tình yêu có điều kiện. Đó là, nếu bạn làm những gì tôi muốn bạn làm, hoặc là những gì tôi muốn bạn trở thành, tôi sẽ yêu bạn. Nếu không, tôi sẽ rút tình yêu của tôi khỏi bạn. Từ góc độ này cho thấy, tình yêu có điều kiện không phải là tình yêu thực sự. Nó là một phương tiện để kiểm soát người khác. Và như vậy người ta dễ dàng làm tổn thương lẫn nhau. Nhưng loại tình yêu này thì lại rất phổ biến trong cuộc sống. Ví dụ: “ông đưa con gà bà mới sò chai rượu”. Anh phải là người chồng ga lăng, tốt, tài giỏi tôi mới yêu, hay em phải là người vợ đảm đang anh mới chung thủy! Con phải nghe lời, ngoan, học giỏi cha mẹ mới yêu con!… Và rồi vô hình chung, người ta cách này hay cách khác áp dụng thứ tình yêu này vào tình yêu họ có đối với Thiên Chúa. Tôi chỉ yêu Ngài vì Ngài lắng nghe đáp lại những lời kêu cầu của tôi, vì Ngài thực hiện cho tôi những điều tôi muốn, hoặc để được ân thưởng về sau, hay sợ hình phạt hoả ngục… Nếu tình yêu có điều kiện, hay vì vụ lợi thì đó không còn thuần tuý là một tình yêu nữa mà là một thứ trao đổi, kinh doanh thương mại để được lợi. Thiên Chúa, Ngài yêu con người vì Ngài yêu, và Ngài muốn yêu để con người được hạnh phúc. Ngài không mất mát hay được lợi gì nơi con người, nhưng chỉ vì hạnh phúc của con người và vì bản tính của Ngài là Tình Yêu, một tình yêu vô vị lợi, vô điều kiện. Và tình yêu của Ngài là chuẩn mực của mọi tình yêu.
Tình yêu vô điều kiện là cách duy nhất để xác minh một tình yêu thực sự. Thể hiện của tình yêu này là tôi muốn chia sẻ với bạn bất cứ điều gì tôi có. Tình yêu ấy người ta chỉ tìm cơ hội hy sinh cho nhau. Làm điều tốt và tránh điều xấu. Làm thiện và tránh điều ác, đây cũng là điều phù hợp với bản tính tự nhiên mà Đấng Tạo Hóa đã đặt sẵn trong lương tâm của mỗi người, không kể họ là ai. Tuy nhiên, đối với các Ki-tô hữu, là những người tin vào một Thiên Chúa Tình Yêu. Đấng đã minh chứng tình yêu của mình bằng sự huỷ mình ra không, đã chết cho ta vì yêu, để ban cho ta ơn cứu độ đời đời. Vì thế, nói theo thánh Gio-an, “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8).
Lạy Chúa, xin hãy dạy con biết yêu như Ngài đã yêu, để con biết yêu Chúa và yêu mọi người, một Tình yêu nhưng không, vô điều kiện. Amen.
THỨ SÁU TUẦN V THƯỜNG NIÊN
Mác-cô 7,31-37
Chúa Giêsu Làm Cho Kẻ Điếc Nghe Được, Và Kẻ Câm Nói Được.
Giles Fletcher đã nói về Chúa Giêsu thế này: “Ngài là một con đường, cho người lạc lối; Ngài là áo, cho kẻ trần truồng; Ngài là bánh, cho người đói; Nếu có ai bị trói buộc, Ngài giải thoát; Nếu có sự yếu đuối nào, Ngài là sức mạnh! Đối với những người điếc, đối với những người ốm yếu, những người mù và những người nghèo khó; Ngài làm cho họ được thỏa lòng ban cho họ một niềm vui bất tận, một kho báu mà không thể bị trộm cắp.”
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chữa lành một người câm điếc, Ngài đưa anh ta ra khỏi đám đông, sau đó, Ngài đặt ngón tay của mình vào tai, nhổ nước miếng bôi vào lưỡi anh. Rồi Ngài thở dài và nói: Ép-pha-tha! Hãy mở ra!
Quả thật ta không khỏi thắc mắc tại sao cách chữa bệnh hôm nay của Chúa Giêsu với trường hợp của người câm điếc này xem ra cầu kỳ khác thường, theo William Barclay trong sách chú giải Tin Mừng của mình đã điễn tả:
Đầu tiên, Ngài đưa anh ta ra khỏi đám đông. Vì Chúa Giêsu rất thận trọng. Người câm điếc luôn xấu hổ vì bệnh của mình. Có lẽ đối với anh, thà mù còn hơn câm và không thể nghe được. Vì vậy, Chúa Giêsu cho thấy sự quan tâm dịu dàng nhất của Người đối với cuộc sống của anh ta, một người mang đầy mặc cảm tự ty. Chúa Giêsu hiểu Ngài phải làm như thế nào.
Thứ hai, Chúa Giêsu đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Đó là bởi vì vào thời điểm đó mọi người tin rằng nước miếng có khả năng chữa bệnh. Và sau đó, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời để cho thấy rằng sự chữa lành đến từ Thiên Chúa, đặc biệt là Ngài đang ở một nơi không ai biết về Ngài. Theo nhãn quan của con người thời đó, rất ít người có hiểu biết chính xác về Thiên Chúa và đã nghe được Lời của Ngài. họ không thể nói điều gì chính xác về Thiên Chúa.
Qua đó cho thấy thật hạnh phúc khi Đức Giêsu đến ban cho chúng ta Lời của Ngài, Lời Hằng sống. Đây là một cơ hội tuyệt vời cho mỗi người tin vào Thiên Chúa, vào tình yêu của Ngài. Để rồi từ đó, cuộc sống của họ trở nên Lời sống động, Lời tình yêu và Lời chuyển tải ơn cứu độ của Thiên Chúa cho tha nhân. Nhưng tiếc thay, ngày nay, còn rất nhiều người kể cả những người đã đón nhận đức tin cũng vẫn còn thờ ơ với việc lắng nghe Lời Chúa! Làm sao người ta có thể trở nên Lời sống động, minh chứng sự hiện diện và tình yêu cứu độ của Chúa cho nhân loại được!
Một điều nữa là, Đức Giêsu kéo người câm điếc riêng ra một nơi để thực hiện việc chữa lành. Điều này cũng có một mối liên hệ tuyệt vời với Bí tích Chữa lành mà Giáo hội cử hành, đó là: Bí tích Giải tội và Xức dầu. Chúa Giêsu đã trao quyền cho các môn đệ của Ngài để tha tội. “Những gì các con tha dưới đất thì trên trời cũng sẽ tha, những gì các con cầm buộc dưới đất, thì trên trời cũng sẽ bị cầm buộc” (Ga 20,23). Ngay từ Giáo Hội tiên khởi, thánh Gia-cô-bê Tông Đồ khuyên nhủ các tín hữu hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát (Gc 5,16). Sự xưng thú tội lỗi là mở lòng ra với Thiên Chúa qua các thừa tác viên của Ngài như là công cụ để Ngài tha thứ. Vì chính Chúa là Đấng tha thứ và chữa lành tâm hồn bằng Thánh Thần của Ngài.
Nhờ việc xức dầu, Giáo hội chia sẻ chức vụ chữa lành của Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã truyền lệnh cho các môn đệ của Ngài chữa lành bệnh tật bằng cách xức dầu (x. Mc 6,7.12-13). Thánh Gia-cô-bê nói với cộng đồng Ki-tô giáo, hãy xin các linh mục của Giáo hội đến cầu nguyện cho người bệnh và xức dầu nhân danh Chúa (Gc 5,14).
Qua Lời Chúa hôm nay cho thấy, đôi khi chúng ta cũng điếc trong việc lắng nghe Lời Chúa, cũng đã từng câm trong việc loan báo Tin Mừng. Quen lối sống thờ ơ, ích kỷ và không quan tâm đến ai, hay ươn lười không siêng năng đón nhận các bí tích.
Lạy Chúa, giống như người câm điếc, chúng con xin Chúa đến chữa lành và biến đổi chúng con thành những cánh tay nối dài của Chúa để chữa lành cho tha nhân bằng những việc tuân giữ Lời Chúa, cảm thông lắng nghe và chia sẻ những nỗi khốn cùng của những ai cần đến chúng con. Amen.
THỨ BẢY TUẦN V THƯỜNG NIÊN
Mác-cô 8,1-10
Đám Đông Đã Ăn Và Được No Nê
Woodrow Wilson nói: “Không ai có thể thờ phượng Chúa hay yêu người lân cận khi bụng đói.” Tục ngữ Việt Nam có câu: “Có thực mới vực được đạo.”
Hôm nay Tin Mừng nói với chúng ta về việc Chúa Giêsu nuôi dưỡng khoảng bốn ngàn người từ bảy chiếc bánh và mấy con cá nhỏ. Ngài cho họ ăn vì họ ở với Ngài đã ba ngày mà không có gì ăn.
Chúng ta biết rằng, đối với người Do Thái, việc sử dụng các con số thiêng liêng của ba và bảy gợi lên những biểu hiện của Thiên Chúa. Ba ngày không có gì ăn, số 3 làm ta nhớ lại sự kiện mà ba con vật ba tuổi được giết thịt và dâng lên Thiên Chúa khi Áp-ra-ham lập giao ước với Ngài. Và Sarah, vợ ông đã chuẩn bị ba thùng bột mịn khi ba vị khách lạ mang đến thông điệp rằng bà sẽ sinh ra I-sa-ác. Theo Kinh Thánh, số 3 còn ngụ ý một sự viên mãn. Như Thiên Chúa Ba Ngôi. ở đây Chúa Giêsu đề cập đến việc dân chúng theo Ngài ba ngày rồi mà không có gì ăn. Ta có thể hiểu theo nghĩa đen là đã ba ngày người ta ngồi nghe Chúa giảng dạy nhưng cũng có thể hiểu là số 3 đơn giản ám chỉ một thời gian dài mà người ta đã thực sự rất đói rồi. Vấn đề ba ngày hay một ngày không quan trọng lắm cho bằng Chúa Giêsu thực sự nhìn thấy nhu cầu cấp thiết của đám đông đang theo Ngài, và Ngài không thể bỏ mặc họ mà không lo.
Bảy cái bánh, số 7 đối với người Do Thái, tượng trưng cho sự viên mãn, trọn vẹn hoặc hoàn toàn. Chúng ta nhớ lại sự kiện Thiên Chúa tạo ra thế giới trong sáu ngày, và vào ngày thứ bảy Ngài nghỉ ngơi. Nó cũng nhớ lại khi Na-a-man, người Syria, tắm bảy lần ở sông Jordan và ông được chữa lành bệnh phong cùi. Bẩy cái bánh nói nên phần nhỏ bé các môn đệ có được, nó không đáng là gì, nhưng đem trao cho Chúa thì Ngài sẽ làm cho nó vẹn toàn, viên mãn trong một sự kiện vĩ đại là nuôi cho bốn ngàn người ăn no nê và còn thừa bảy giỏ bánh vụn.
Qua đây cho ta thấy, Thiên Chúa luôn quan tâm cách cụ thể đến nhu cầu không chỉ tâm linh mà còn nhu cầu thể lý của những người đi theo Ngài. Và Ngài mời gọi chúng ta là những môn đệ của Ngài đóng góp một phần nhỏ bé mà ta có được để Ngài làm cho nó nên viên mãn thành toàn, thoả mãn nhu cầu cần thiết của mọi người.
Phép lạ của sự hóa bánh và cá ra nhiều chính là hình ảnh của Bí tích Thánh Thể. Tình yêu và lòng thương xót của Chúa không phải chỉ nhất thời, chạnh lòng, nhưng là trường tồn. Khi sắp lìa khỏi thế gian mà về cùng Chúa Cha, Ngài đã lập Bí Tích Thánh Thể để trao ban chính mình và máu Ngài làm của ăn của uống cho các môn đệ. Và Ngài cũng cần đến sự cộng tác của các môn đệ là các thừa tác viên linh mục, Giám mục để tiếp tục cử hành Bí Tích ấy để nuôi đời sống tâm linh của dân Chúa, những người đi theo Ngài.
Nói cách khác, Thánh Mác-cô muốn truyền đạt cho chúng ta là Bí tích Thánh Thể đại diện cho sự viên mãn hoặc trọn vẹn của sự biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với dân của Ngài. Chúa Giêsu thỏa mãn cơn đói của những ai khao khát Thiên Chúa đặc biệt qua Thánh lễ; bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể. Để rồi mỗi khi tiếp rước Ngài, ta sẽ được Bánh Hằng Sống nuôi dưỡng và biến đổi ngày càng gắn bó nên một với Thiên Chúa hơn, cho đến khi được viên mãn trong Đức Giêsu Ki-tô. Điều này có làm cho ta cảm thấy sung sướng và khao khát hiệp lễ mỗi ngày không?
Tôi đã đọc câu chuyện kể về một đứa trẻ mồ côi tên là Joe, được viết lại bởi Edwin White như sau: Hôm đó, bé Joe đã được bác sĩ của viện mồ côi kiểm tra sức khoẻ. Khi trở lại, một nữ tu đã hỏi, bác sĩ đã nói gì với con, Joe? Joe trả lời, ông ấy nói với con, “bạn thật là một cậu nhỏ đáng thương.” Joe nói thêm: “Nhưng thưa Sơ, con không nghĩ ông ấy biết con đã hiệp lễ lần đầu.”
White tiếp tục rằng: Hiệp lễ là những gì mang lại cho chúng ta giá trị. Rằng bạn và tôi không cần phải chiến đấu để giành được tình yêu và sự tôn trọng. Đối với Thiên Chúa, Người đã quá yêu thương chúng ta, ngay cả khi thực sự chúng ta không xứng đang để được yêu thương, Ngài đã đến và ban cho chúng ta được hiệp thông trong tình thân hữu với Ngài.
Lạy Chúa, chúng con biết rằng, Bí tích Thánh Thể không kết thúc khi linh mục ban phép lành cuối cùng. Mà Chúa vẫn ở cùng chúng con để về nhà, đi đến khu phố, đến nơi làm việc hay ở bất cứ đâu. Chúa muốn chúng con luôn thể hiện cho người khác biết rằng, Chúa Giêsu Ki-tô là Thiên Chúa và đang hiện diện trong chúng con. Amen.