Tôma, con người thực tế (Gioan Tân – CĐ. Thiên Phước)

27/11/2018

Tôma, con người thực tế

Chúa Nhật II Phục Sinh: Cv 2, 42-47; 1Pr 1, 3-9; Ga 20, 19-31

 

Gioan Tân-CĐ. Thiên Phước  

Bài Tin mừng Chúa Nhật II Phục Sinh trường thuật cho chúng ta hai lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ. Lần thứ nhất Ngài trao ban bình an và Thánh Thần cho các ông để thiết lập Hội thánh và sai các ông đi vào thế giới tiếp tục công việc cứu độ của Ngài: “Như Chúa Cha đã sai thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Theo cha Jerome Neyrey, giáo sư Kinh thánh, dòng tên, thì với mệnh lệnh này Chúa đã “thiết lập một mẫu thức là đức tin có được nhờ nghe lời rao giảng của Hội thánh.” Tuy nhiên, mẫu thức này đã bị thánh Tôma thách thức khi ông từ chối đón nhận lời chứng về sự Phục sinh của Chúa bởi những người “đã được thấy Chúa” (x. Ga 20,25). Chính vì thế mà có thể nói được rằng Chúa phải hiện ra lần thứ hai để tái xác lập lại mẫu thức đã được Ngài thiết lập trước đó tám ngày bằng cách mời gọi Tôma đụng chạm vào Ngài. Cũng vì thế mà Tôma bị con người qua bao đời gán cho biệt hiệu là “người cứng lòng tin.” Nhưng phải chăng Tôma là người cứng lòng tin hay vì ông là một con người thực tế không dễ dàng chấp nhận những điều mình chưa xác tín? Thiết nghĩ ông là một con người thực tế thì đúng hơn là người cứng lòng tin. Nhưng ông thực tế ở điểm nào?

Thứ nhất, mặc dầu đã sống với Thầy ba năm, chứng kiến biết bao điềm thiêng dấu lạ Thầy đã làm, nhưng ông cũng thấy Thầy vẫn là một con người như bao con người khác, cũng phải trải qua bao thử thách và đau khổ về mọi phương diện (x. Dt 2, 17-18), và cũng phải chết. Vậy thử hỏi Tôma, một người vừa mới hai ngày trước chứng kiến những điều khủng khiếp xảy đến với Thầy mình, qua cái chết vô cùng đau đớn và nhục nhã trên thập giá, làm sao có thể tin được là Thầy đã sống lại qua lời làm chứng của những người “đã thấy Chúa” nhưng vẫn sống trong sợ hãi (x. Ga 20, 26)?

Thứ hai, mặc dầu không hẳn là không tin lời chứng của các bạn đồng môn, nhưng ông muốn chính mình phải cảm nghiệm điều mình tin. Điều này xem ra mâu thuẫn với điều mà tác giả thư gởi tin hữu Do thái nói: “Đức tin là đảm bảo cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1). Đã thấy, đã cảm nghiệm thì còn gì gọi là tin nữa phải không? Đúng vậy! Thế nhưng một đức tin được hiểu biết, được sống và cảm nghiệm thì đức tin đó lại là một đức tin đáng tin hơn hết. Chính vì thế mà khi không chấp nhận lời chứng của các anh em khác, thánh Tôma không phải là người cứng lòng tin, nhưng ông muốn chính mình khám phá và cảm nghiệm điều ông tin bằng cách thấy và đụng chạm được nó. Ông muốn chính mình phải thấy tận mắt, phải cảm nghiệm được bằng xúc giác về Thầy mình, Người đã Phục Sinh cũng chính là người đã bị treo trên cây thập giá, bị lưỡi đòng đâm thấu con tim hai ngày trước đó. Nên mặc dầu lời nói của ông xem ra thách thức: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20,25), nhưng đó lại là một lời diễn tả niềm khao khát được đụng chạm, được cảm nghiệm về Thầy mình. Chúa Giêsu Phục Sinh đã xem đó là một ước muốn hay thậm chí là một đòi hỏi chính đáng, nên tám ngày sau Chúa lại hiện ra và mời gọi thánh Tôma hãy đụng chạm để cảm nghiệm: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27). Ngay lúc đó thánh Tôma đã tin với một niềm xác tín được biểu lộ ra qua một lời tuyên xưng vô cùng cao đẹp: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Đức tin của thánh Tôma đã “trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự” (1Pr 1,8) cho Thiên Chúa qua sứ mạng loan báo Tin mừng về Đấng Phục Sinh, Người mà ông đã thấy và cảm nghiệm. Thánh Tôma trở thành người tông đồ đầu tiên chết vì đức tin và vì tình yêu Chúa Giêsu Phục Sinh.

Từ đó, chúng ta thấy lời của Chúa Giêsu nói với thánh Tôma, cũng là nói với mỗi một người chúng ta hôm nay: “phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20,29), không phải là một phủ nhận sự cần thiết của cảm nghiệm. Trái lại là khác, vì trong Tin mừng Luca, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thuyết phục nhóm 11 tin Ngài không phải là ma bằng cách mời gọi họ hãy nhìn các vết thương nơi tay chân của Ngài và mời gọi họ rờ mà xem (x. Lc 24,38-40). Nhưng lời đó chỉ muốn nói với chúng ta, là những người thuộc các thế hệ sau này rằng, sự cảm nghiệm về Chúa Phục Sinh không thể là một cảm nghiệm mang tính cách thể lý, nhưng phải là một sự cảm nghiệm trong niềm tin. Đó là điều thánh Phêrô nói với mọi người hiện diện cũng như chúng ta đây, những người không được nhìn thấy Chúa Kitô Phục Sinh nhưng vẫn tin vào Ngài nhờ sức mạnh của những chứng nhân trong Hội thánh. Họ làm chứng về Chúa Kitô Phục Sinh qua lời rao giảng, qua việc cử hành bí tích thánh thể, qua đời sống cộng đoàn và qua sự chuyên chăm cầu nguyện của họ (x. Cv 2,42)

“Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21), là sứ vụ mà Chúa Kitô Phục Sinh trao cho các Tông đồ, cũng là sứ vụ Chúa trao cho mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay. Chúng ta là những người được thừa hưởng gia tài đức tin về Chúa Kitô Phục Sinh do các Tông đồ và Hội thánh mang lại (x. Lời cầu lễ các thánh Tông đồ), thì đến lượt mình, chúng ta cũng phải có trách nhiệm gìn giữ và chuyển giao gia tài này cho những người chưa nhận biết Chúa, cho những người sống cạnh chúng ta và cho những thế hệ kế tiếp. Nhưng để lời chứng của chúng ta có sức thuyết phục, thứ nhất đức tin của chúng ta phải là đức tin được cảm nghiệm, được sống qua những thử thách. Thứ đến, sự cảm nghiệm này phải dẫn đến sự thay đổi lối sống của chúng ta. Tiếp đến đức tin của chúng ta phải được cảm nghiệm và sống trong cộng đoàn đức tin là Hội thánh qua việc đọc, lắng nghe và suy niệm Lời Chúa; qua việc sống và cử hành bí tích thánh thể; qua việc chuyên tâm cầu nguyện; và qua việc xây dựng đời sống huynh đệ (x. Cv 2,42.46). Nhờ đó chúng ta “được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người” (1Pr 1,8-9).

Xin Chúa Kitô Phục Sinh thêm đức tin cho chúng ta; cho chúng ta cảm nghiệm được bình an và niềm vui của Ngài, để chúng ta có can đảm dấn thân làm chứng cho Ngài và để lời chứng của chúng ta có sức lay động lòng người, nhờ đó mà “mỗi ngày có thêm những người được ơn cứu độ” (Cv 2,47). Để cuối cùng tất cả chúng ta cùng được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẫn đục và tàn phai đã được Thiên Chúa sắm sẵn cho chúng ta ở trên trời (x. 1Pr 1,4-5).


Liên quan khác