Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐẶT TÊN THÁNH – Anton Nguyễn

27/11/2018

Tên thánh là một phần quan trọng đối với mỗi tín đồ Công giáo. Nhiều người ngoại đạo không hiểu và hỏi nhiều về tên các vị thánh mà mỗi người công giáo chúng ta nhận lấy. Người tín hữu công giáo đặt tên thánh trước tên mình theo những quy định của giáo hội, bởi những lý do về lịch sử và có ý nghĩa hết sức thiêng liêng.

Thứ nhất, để tiếp tục duy trì truyền thống của giáo dân thời sơ khai từ thời kỳ nô lệ La Mã. Từ những nguyên nhân khác nhau trong thời kỳ này mà những người nô lệ được giải phóng đã lấy tên những người mà giáo hội Kitô Giáo nhận là thánh để đặt tên cho mình.

Thứ hai, Giáo Hội Công Giáo muốn tôn trọng phẩm giá con người. Trước đây, số tên người Châu Âu còn ít, hệ thống tên họ chưa xuất hiện, nên họ thường dùng tên Nickname (người La Mã gọi là Agnomen, còn Việt Nam gọi là tên lóng, tên tục) để phân biệt.

Tên lóng đó thường được đặt cho những người thuộc giai cấp nô lệ tại La Mã. Vì tên có nội dung hạ thấp phẩm giá con người nên giáo hội đã ban hành luật buộc các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp các trường hợp tên có ý nghĩa tiêu cực, phải lấy một tên thánh đặt thêm vào và điều này được quy định trong bộ giáo luật cũ.

Đối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay vẫn có người có thêm tên thánh là vì các giáo sĩ Phương Tây đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã áp dụng tinh thần giáo luật cũ, đặt tên thánh cho giáo dân.

Trong bối cảnh hiện nay thì đó là điều không chấp nhận được vì tên người Việt Nam hiện nay không hề được đặt ra để hạ phẩm giá con người; thậm chí tên đặt bây giờ thường rất đẹp.

Tuy nhiên, nếu đặt vào bối cảnh Việt Nam trong thế kỷ 16 thì quyết định của các thừa sai có thể tạm chấp nhận vì phong tục dân gian lúc đó còn dùng những tên có nghiã xấu, gọi là tên tục, để đặt cho những đứa trẻ mới sinh ngõ hầu tránh tà ma.

Mặc dù giáo luật hiện nay không bắt buộc tín hữu phải có tên thánh, nhưng việc đặt tên thánh có mục đích rất đáng trân trọng vì 2 lý do:

Thứ nhất, để người đó bắt chước gương sáng thánh bổn mạng mà sống cuộc đời đạo đức;

Thứ hai, để tín hữu đó được phù trợ nhờ lời cầu bầu của thánh bổn mạng. Hai mục đích trên được nói trong bộ giáo luật năm 1983, khoản 1186.


Liên quan khác