BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH Việc Huấn Luyện Nhà Tập Theo Giáo Huấn Giáo Hội New 

16/10/2021

BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH

Việc Huấn Luyện Nhà Tập Theo Giáo Huấn Giáo Hội

Lm. Gioan Kim Khẩu Nguyễn Văn Nam, O.Cist.

Việc huấn luyện những người sống đời thánh hiến đóng một vai trò quan trọng trong Giáo hội. Vì thế, Giáo hội luôn quan tâm đến sứ vụ đào tạo đời tu. Tương lai của Giáo hội, hội dòng tùy thuộc rất nhiều vào việc đào tạo và huấn luyện nơi những người sống đời thánh hiến. Tuy các giai đoạn huấn luyện có khác nhau nhưng mục đích của việc đào tạo là chuẩn bị cho ứng sinh thánh hiến trọn vẹn thân mình cho Thiên Chúa (VC 65). Do đó mỗi ứng sinh có quyền lợi, có nghĩa vụ hiểu biết đầy đủ và tham dự vào tiến trình huấn luyện này. Giai đoạn huấn luyện đầu tiên được Giáo hội nhắc đến với những nguyên tắc pháp lý chính là tập viện. Giáo hội nhấn mạnh những điều kiện thiết yếu và mục tiêu của giai đoạn này rất rõ ràng. Bài viết  này, tác giả xin trình bày ba điểm sau: 1/ bản chất nhà tập, 2/ mục đích của năm tập, 3/ điều kiện gia nhập đời tu.

  1. Bản Chất Nhà Tập

“Nhà tập là giai đoạn khởi đầu của đời sống tu trì. Đây là thời gian quan trọng nhất trong hành trình huấn luyện, nhằm giúp các tập sinh nhận biết chắc chắn, rõ ràng hơn về ơn gọi của bản thân và đặc sủng của Hội dòng. Đồng thời giúp các tập sinh thử nghiệm lối sống, rèn luyện tâm trí theo tinh thần của dòng, cũng như được trắc nghiệm về ý định và khả năng của mình” (GL 646; PI 45).

Các tập sinh phải được trắc nghiệm ơn gọi, rèn luyện họ dần dần để sống đời trọn lành theo bản chất của dòng. Họ được hướng dẫn để phát huy các đức tính nhân bản và Kitô giáo; được đưa vào đường trọn lành sung mãn nhờ việc cầu nguyện và từ bỏ mình; được chỉ bảo cách chiêm ngắm mầu nhiệm cứu chuộc, đọc và suy gẫm Kinh Thánh; được chuẩn bị vào sự thờ phượng Chúa trong phụng vụ; và họ cần được học hỏi về đời sống tận hiến cho Thiên Chúa và cho nhân loại trong Ðức Kitô qua các lời khuyên Phúc Âm… (GL 652).

Vì thế, giai đoạn tập tu là một giai đoạn chuẩn bị rất cần thiết cho đời sống thánh hiến, với việc vào nhà tập, ứng sinh khởi đầu đời sống trong Tu hội. Thời gian tập tu là một kinh nghiệm cá nhân lệ thuộc vào kinh nghiệm nội tâm, siêu nhiên và đời sống cộng đoàn. Kinh nghiệm này phải được thực hiện với ơn Chúa Thánh Thần. Do đó bên cạnh việc huấn luyện về chiều kích văn hóa và tri thức, thì chiều kích thiêng liêng phải được ưu tiên hàng đầu trong các lãnh vực huấn luyện.

Việc huấn luyện các tu sĩ qua nhiều giai đoạn khác nhau, mục đích chính là giúp các tu sĩ có kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa và giúp họ có thể hội nhập những kinh nghiệm ấy vào đời sống (PI 35). Mỗi Tu hội phải tạo môi trường cũng như có một chương trình thích hợp để đạt được mục đích trên. Một điều cần lưu ý là trong thời gian tập tu, các ứng sinh không được học những môn học hay đảm nhận những công tác không trực tiếp góp phần vào việc đào tạo ấy (GL 652§2.§5).

Để có một sự thống nhất trong tiến trình huấn luyện, Giáo hội đòi buộc các tập sinh phải được đào tạo dưới sự hướng dẫn của vị giáo tập. Vì tầm quan trọng của giai đoạn huấn luyện này, nên Giáo hội đề nghị các vị hữu trách về huấn luyện phải được chuẩn bị kỹ lưỡng. Đồng thời, Giáo hội muốn các vị dành mọi trọn vẹn thời gian cho trách vụ này. Do đó, Giáo hội lưu ý các vị không đảm nhận những trách nhiệm khác để có thể chu toàn phận sự được ủy thác một cách hiệu quả và bền vững (GL 651§3).

Giáo tập phải là thành viên của Tu hội, để qua ngài, các tập sinh đạt được mục đích chính của giai đoạn huấn luyện này là hiểu sâu xa về ơn gọi của chính Tu hội. Giáo tập phải là người đã khấn trọn đời và là người được chỉ định hợp pháp (GL 651§1). Nếu cần, bề trên có thể cắt đặt các vị phụ tá để giúp vị giáo tập thực hiện tốt chương trình đào tạo và đạt đến mục đích của nhà tập. Tuy nhiên các vị phụ tá phải tùy thuộc vị giáo tập trong việc hướng dẫn việc tập tu và trong chương trình đào tạo (GL 651§2).

Giáo hội còn đưa vào luật chung những nguyên tắc về thời gian: Việc tập tu trong giai đoạn nhà tập phải kéo dài mười hai tháng trong chính cộng đoàn tập viện (GL 648§1). Bề trên cao cấp có thể cho một đoàn tập sinh lưu trú một thời gian tại nhà khác của Tu hội do chính ngài chỉ định (GL 647§3). Ngoài ra hiến pháp của mỗi Tu hội có thể ấn định kéo dài thêm thời gian để tiếp tục việc huấn luyện (tập năm thứ II; HP 81), tuy nhiên tất cả thời gian nhà tập không được kéo dài quá hai năm (GL 648§3).

Với thời gian 12 tháng nói trên để thành sự việc tập tu (GL 648§1), nhà làm luật còn đưa ra những tình huống có thể vắng mặt trong nhà tập. Nếu tập sinh “vắng mặt khỏi tập viện quá ba tháng, dù liên tục hay cách quãng, thì năm tập vô hiệu. Sự vắng mặt quá mười lăm ngày phải được bù lại” (GL 649§1). Trong trường hợp này, luật riêng mỗi Tu hội có thể đưa ra những nội qui cho phù hợp.

  1. Mục Đích của Năm Tập

Mục đích của năm tập là để các tập sinh hiểu rõ hơn ơn gọi thiên triệu, cách riêng ơn gọi đặc biệt của Hội dòng, thử nghiệm lối sống của dòng, rèn luyện lòng trí của mình theo tinh thần của dòng, cũng như được trắc nghiệm về ý định và khả năng của mình (GL 646). Điều mà thánh Biển Đức còn đòi hỏi nơi những người muốn gia nhập đan viện là: “phải thực tâm tìm Chúa, mộ mến thần vụ, yêu thích vâng lời và ham chuộng sỉ nhục” (TL 58,7). Nói cách khác, mục đích của năm tập giúp các tập sinh nhận thức rõ về ơn gọi vào đời sống thánh hiến; thử nghiệm nếp sống của dòng; chứng minh ý định và khả năng của ứng sinh trong đời sống tu hội.

a. Nhận thức rõ hơn ơn gọi thiên triệu

Ơn gọi thánh hiến tu trì được khởi đi từ phía Thiên Chúa và lời đáp trả tự do từ phía con người. Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do của con người để họ bước theo Ngài sát hơn, vì đời sống này không phải là một con đường duy nhất để đạt đến sự hoàn thiện của đức ái, nhưng là lời mời gọi cho những ai Ngài muốn (PI 8-10). Như thế, với ơn Thiên Chúa và sự tự do của mỗi một ứng sinh khi bước vào tập viện, họ cần tìm hiểu, thích ứng và làm cho ơn gọi mỗi ngày một lớn lên. Mỗi ứng sinh có thể khám phá về ơn gọi đích thực của mình qua cách sống thực tế với chương trình và những đòi hỏi của tập viện. Ứng sinh có thể thực hành việc sống những yêu cầu thực thụ của một tu sĩ. Đặc biệt Giáo hội nêu ra những lãnh vực cần được đào tạo: nhân bản và nhân đức Kitô giáo; được đưa vào con đường trọn lành nhất nhờ lời cầu nguyện và từ bỏ mình; họ phải được đào tạo về cách chiêm ngắm mầu nhiệm cứu độ, cách đọc và suy gẫm Thánh Kinh; họ phải được giáo huấn về đặc tính và tinh thần, mục đích và kỷ luật, lịch sử và đời sống của Tu hội; họ phải được thấm nhuần lòng yêu mến Giáo hội cũng như các vị chủ chăn trong Giáo hội (GL 652§2).

Huấn thị về việc huấn luyện trong các Hội dòng nêu ra bốn phương hướng huấn luyện rất cụ thể như sau: (1) nhận thức sâu xa và sống động về Đức Kitô và về Chúa Cha; (2) dẫn vào mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô qua việc từ bỏ mình; (3) đời sống huynh đệ theo Tin Mừng; (4) đào sâu lịch sử và sứ vụ riêng của Tu hội (PI 47). Mục đích của Giáo hội là giúp cho mỗi ứng sinh nhận thức tốt nhất về ơn gọi của mình. Trong luật riêng, mỗi Tu hội có quyền áp dụng cụ thể chương trình cho phù hợp với hoàn cảnh, văn hóa và theo bản chất riêng.

b. Rèn luyện lòng trí của mình theo tinh thần của dòng

Trong Giáo hội có rất nhiều dòng tu với những hồng ân khác nhau tùy theo đặc sủng đã được ban cho mỗi Tu hội (GL 577), nên thời gian tập tu là cơ hội cụ thể để các ứng sinh khám phá ra những nét riêng biệt của Tu hội, để từ đó ứng sinh có thể có một cách sống cụ thể và làm cho mình mỗi ngày càng yêu mến Tu hội hơn. Đàng khác, để giúp cho ứng sinh thấm nhuần tinh thần của dòng, mỗi Tu hội cần cho ứng sinh thấy rõ căn tính và tinh thần của dòng qua các giáo huấn và linh đạo, mục đích và kỷ luật, lịch sử và đời sống của Tu hội trong chương trình đào tạo (GL 652§2).

Vì mục đích của việc đào tạo là giúp ứng sinh có một tâm tình vui sướng thuộc về Thiên Chúa và thuộc về Tu hội, nên trong tiến trình đào tạo sơ khởi này, Tu hội tạo cho ứng sinh những cơ hội nhằm củng cố sự gắn bó của họ với đoàn sủng và sứ vụ của Tu hội (VC 65). Hội dòng cũng có thể lập ra một giai đoạn cho các ứng sinh thực tập các huấn điều Phúc Âm theo tôn chỉ của dòng (HP 73).

c. Trắc nghiệm về ý định và khả năng của ứng sinh

Sau khi đã nhận biết về ơn gọi đích thực và tinh thần của Tu hội, mục đích cuối cùng là nhận định xem ứng sinh có thực sự muốn và đủ khả năng theo đuổi ơn gọi của Tu hội hay không. Đây là công việc hết sức quan trọng cần sự cộng tác giữa ứng sinh và vị giáo tập, cùng sự đóng góp của cả Tu hội.

Ý thức trách nhiệm của riêng mình, các tập sinh phải tích cực cộng tác với vị giáo tập để trung thành đáp lại ơn gọi của Chúa (GL 652§3). Việc phân định này cần đến nỗ lực của chính đương sự trong việc nhìn vào lương tâm và trách nhiệm cá nhân của mình (PI 29). Trong tương quan với Thiên Chúa, mỗi ứng sinh phải nhìn rõ được khả năng của mình với những đòi hỏi của đời tu nói chung và của Tu hội nói riêng.

Cùng với nỗ lực cá nhân của ứng sinh, Giáo hội nhắc đến vai trò của vị giáo tập và các cộng tác viên là nhận định và trắc nghiệm ơn gọi của các ứng sinh (GL 652§1). Họ phải là những con người thật sự có kinh nghiệm thiêng liêng, nhờ những kinh nghiệm này họ hướng dẫn các ứng sinh trong việc biện phân ơn gọi ngang qua việc gặp gỡ một cách đều đặn (VC 66). Qua việc gặp gỡ trực tiếp và thường xuyên họ có thể giúp cho chính ứng sinh phân định và chính họ cũng là người phân định xem ứng sinh có ơn kêu gọi tu trì hay không ở giai đoạn huấn luyện sơ khởi (PI 30).

Việc phân định về khả năng của ứng sinh là nền tảng cho việc chọn lựa và trung thành với một bậc sống trong Giáo hội. Mặc dù vai trò của bề trên cao cấp và vị giáo tập mang tính trực tiếp trên việc huấn luyện ứng sinh (GL 650§2), nhưng các thành viên của Tu hội cũng được mời gọi và ý thức bổn phận phải hết lòng cộng tác, theo cách của mình, vào việc đào tạo tập sinh, bằng gương sáng đời sống và bằng lời cầu nguyện (GL 652§4). Như vậy việc đào tạo mang tính cộng đồng, và là trách nhiệm của toàn dòng.

  1. Điều Kiện Gia Nhập Đời Tu

Hết mọi người Công giáo, có ý ngay lành, hội đủ các đức tính do luật phổ quát và luật riêng đòi hỏi, không vướng mắc các ngăn trở, có thể được thu nhận vào một Hội dòng tận hiến (GL 597§1). Tuy nhiên người đó phải được chuẩn bị thích đáng để bước vào một giai đoạn huấn luyện theo Giáo luật, vì không ai được nhận vào Tu hội nếu không có sự chuẩn bị này (GL 597§2).

Để ứng sinh có khả năng hiểu và đạt được những mục đích căn bản và thiết yếu của năm tập, các bề trên chỉ nhận vào nhà tập những ứng sinh đủ tuổi đòi buộc, có sức khỏe, tính tình thích hợp, có các đức tính và sự trưởng thành đủ hầu có thể đảm nhận nếp sống riêng của Tu hội (GL 642). Theo Giáo Luật thì các ứng sinh cần hội đủ các điều kiện sau: “đạt đến mười bảy tuổi trọn; không bị ràng buộc bởi dây hôn phối; không còn liên kết với một Tu hội thánh hiến hay đã nhập tịch vào một Tu đoàn tông đồ; vào Tu hội với tự do và được bề trên nhận vào một cách tự do; không giấu giếm việc mình đã gia nhập một Tu hội hay Tu đoàn nào khác” (GL 643). Mỗi Tu hội cần thu thập những giấy tờ cần thiết trước khi nhận ứng sinh vào tập viện bao gồm: chứng thư rửa tội và chứng thư thêm sức, giấy chứng nhận tình trạng thong dong của họ, nghĩa là không bị bó buộc dây hôn nhân (GL 645§1). Đây là những điều kiện chiếu theo luật chung cho các Tu hội. Luật riêng của mỗi Tu hội cũng có thể đặt ra những điều kiện khác cho phù hợp với bản chất của Tu hội mình (GL 643§2).

Tóm lại: Nhà tập là khởi đầu cuộc hành trình của đời tu. Do đó việc huấn luyện các tập sinh là một công việc rất quan trọng, nó ảnh hưởng cả một cuộc đời ứng sinh. Vì thế, nhà huấn luyện không những có kiến thức, nhưng còn cần phải có một tâm hồn đào tạo. Một năng lực và phải rất tinh tế cũng như năng động, để giúp cho người được thụ huấn đi đúng ơn gọi của họ.

Việc đào tạo là cả một nghệ thuật bao gồm sự khó khăn nan giải, nhất là trong bối cảnh xã hội tục hóa ngày nay. Tuy nhiên, Chúa lại dùng những con người mỏng dòn yến đuối làm dụng cụ để Ngài đào tạo những người thuộc về Ngài. Nhà đào tạo cần xác tín rằng, dù chúng ta đã tận dụng hết khả năng, hết sức lực và áp dụng mọi phương pháp kỹ thuật…, chúng ta vẫn thấy còn đó những giới hạn, những bất cập, những nghịch lý, kể cả những thất bại trong việc đào tạo. Nói đúng hơn, công việc đào tạo sự thánh thiện nơi các tâm hồn là công việc của Chúa Thánh Thần. Chính Ngài đã tác động đến lý trí, ý chí và tâm trí của ứng sinh. Chính Ngài là Đấng sẽ dẫn đưa cả người đào tạo lẫn người được đào tạo tới chân lý vẹn toàn, tới tầm mức trưởng thành viên mãn trong Đức Kitô.

Như vậy, nhà đào tạo hay cộng đoàn đào tạo cần phải cầu xin ơn Chúa trợ giúp, để ta có khả năng lắng nghe sự tác động của Chúa Thánh Thần, biết mở ra tầm nhìn, đọc ra các dấu chỉ của thời đại và các biến cố đang xảy đến với người thụ huấn; biết thích nghi với bối cảnh hiện tại. Nhờ đó, ta mới có đủ năng lực hướng dẫn những tâm hồn tận hiến làm sao cho phù hợp với ý Chúa và Giáo hội.

 

SÁCH THAM KHẢO

Giáo Hội Công Giáo, Bộ Giáo Luật, 1983.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1997.

Công Đồng Vaticanô II, Sắc Lệnh về Việc Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu, Perfectae Caritatis, 1965.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Huấn Thị Nhằm Hướng Dẫn về Việc Đào Tạo Tu SĩPotissimum Institutioni, 1990.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến, Vita Consecrata, 1996.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu, Ecclesia in Asia, 2000.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Văn Kiện Những Yếu Tố Cốt Yếu của Đời Tu, Essential Element, 1983.

Thánh Bộ Dòng Tu và Tu Hội Đời, Văn Kiện về Chiều Kích Chiêm Niệm của Đời Tu, The Contemplative Dimension of Religious Life, 1980.

Tu Luật Thánh Biển Đức.

Di Ngôn Cha Biển Đức Thuận, Đấng sáng lập Hội Dòng Xitô Thánh Gia.

Hội Dòng Xitô Thánh Gia, Hiến Pháp và Tuyên Ngôn, 1998.

 

CHỮ VIẾT TẮT

GL:  Bộ Giáo Luật 1983

EA:  Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu

VC:  Tông Huấn về Đời Sống Thánh Hiến

PI : Huấn Thị Hướng Dẫn về Việc Đào Tạo Tu SĩPotissimum Institutioni

TL:  Tu Luật Thánh Biển Đức

DN:  Di Ngôn Cha Biển Đức Thuận

HP: Hiến Pháp của Hội Dòng Xitô Thánh Gia.


Liên quan khác