LÀM với LÀ

27/11/2018

Họ là hai anh em! Mới nhìn vào ai cũng có cảm giác như thế. Nhưng không, họ không phải là anh em. Họ chẳng có liên hệ máu mủ gì cả. Thậm chí tôi đã chứng kiến những điều nguy hại khi có sự lẫn lộn giữa hai người. Nói rõ hơn, có khi họ là kẻ thù không cùng chiến tuyến.

Người thứ nhất tên là LÀM. Vì chuyên môn của anh là hoạt động, giao tiếp và chạy các dự án nên có rất nhiều người ngưỡng mộ anh, ghiền anh, thậm chí tôn thờ anh. Thế giới hôm nay là một môi trường tuyệt vời cho anh phát huy năng lực của mình. Anh dần dần chiếm vị trí thống trị xã hội vì người ta bây giờ không còn thói quen đi lại thong thả nữa. Ai cũng chạy, chạy và chạy. Càng chạy nhanh thì càng được đánh giá cao. Số người theo anh làm đệ tử xem ra đang tăng rất cao mỗi ngày.

Khi sống theo tinh thần của anh LÀM, người ta bắt đầu có não trạng của thành tích, nghĩa là phải thực hiện cho được nhiều việc. Trong vòng xoáy của Làm, người ta bắt buộc phải vội. Khi sống vội thì tất yếu sẽ dẫn tới trở nên nông cạn. Anh Làm có một người bạn thân tên là cô CÓ. Một đám đông khá lớn theo cô vì ai cũng muốn chiếm hữu nhiều hơn. Hai người hợp tác khá ăn ý. Số đệ tử của họ không thể thống kê chính xác. Sự hợp tác nhịp nhàng này làm tăng thêm tốc độ sống nhanh sống vội và chiếm hữu trong xã hội. Thành công của một người được đánh giá theo tiêu chuẩn “làm nhiều” và “có nhiều”. Sự đánh giá giữa “hữu dụng” với “vô dụng”, giữa “giá trị” với “vô giá trị”  trở nên loại trừ gay gắt, có khi mù quáng và độc tài. Nếu không tậu được cái nhà to thì đúng là kém tài. Nếu không sắm được con xe xịn thì chẳng thành mặt mũi. Nếu không nổi danh giữa đám đông thì đúng là vô dụng…. Chưa hết, các đệ tử của anh Làm khá dị ứng với những người bất đồng quan điểm. Tư tưởng của anh chủ trương “đoàn lũ” nên không chấp nhận các khác biệt, cho dù chúng là tự nhiên, là vô hại đối với anh. Tóm lại, không làm, không có, không giống thì đồng nghĩa với không còn giá trị và không khoan nhượng.

Nếu chỉ nhìn thoáng qua, đường lối của anh Làm không có gì nghiêm trọng hoặc bình thường. Nhưng thật ra, nó không khác  chủ nghĩa phát xít bao nhiêu. Ai cũng biết có những người đã bị loại trừ, tiêu diệt vì họ già nua, tật nguyền, khác biệt quan điểm trong đệ nhị thứ chiến. Ngày nay, trong chủ nghĩa của anh Làm, nhiều người bị coi là đồ vô tích sự, là sống bám khi tuổi cao sức yếu dẫu rằng họ một thời đã từng vun vén cho cuộc đời này. Anh bố thí một chút thương hại cho kẻ tật nguyền. Anh quăng ánh mắt khinh bỉ lên người chẳng sản xuất ra vật chất. Anh chỉ chuộng sản phẩm nên gạt phắt sang một bên cái gọi là nhân phẩm. Kẻ nào tỏ ra bất đồng quan điểm, anh tức tối giơ cẳng đạp không đắn đo cân nhắc.

  Khi nhìn vào gia đình của anh LÀM và cô CÓ, người ta thấy họ lúc nào cũng bận rộn. Bước chân chẳng có thanh thản. Tiền bạc không hề thiếu nhưng mãi mãi chẳng đủ. Địa vị xã hội có thể gọi là thoả mãn rồi nhưng họ lúc nào cũng cố tìm cách trèo lên cao hơn đến nỗi mất cả ăn cả ngủ. Nói tóm lại, họ chẳng thiếu gì, trừ một thứ: sự bình an.

Ở giữa nhà anh LÀM và cô CÓ là một ngôi nhà dáng vẻ đơn sơ. Đơn sơ nhưng vững chãi. Chủ của ngôi nhà này chính là người mà thiên hạ vẫn hay lầm tưởng là anh em với anh LÀM như đã đề cập lúc đầu. Anh có cái tên ngắn gọn hơn một chút: LÀ.

Cách suy nghĩ, lối sống của anh LÀ khác một trời một vực với anh Làm và cô Có. Không cần nói nhiều, chỉ cần áp dụng một chút lời dạy của Thầy Giêsu “Xem quả thì biết cây” (Mt 7:16) sẽ thấy liền. Cụ thể thế này: ta hãy nhìn các môn sinh của anh LÀ để biết về anh.

Môn sinh đầu tiên là một phụ nữ năm nay đã ngoài bảy mươi. Khi còn trẻ bà nổi tiếng là đẹp và thông minh. Bỗng một ngày thời trung học bà lâm bệnh đột xuất và từ đó liệt toàn thân. Mấy chục năm chỉ nằm một chỗ nhờ vào sự chăm sóc của gia đình. Mỗi lần muốn trao đổi với bà, người ta đặt câu hỏi và nhìn vào mắt bà. Nếu bà chớp một lần có nghĩa là đồng ý, hai lần là không đồng ý, ba lần là chưa hiểu cần làm rõ câu hỏi. Một hôm kia nhà báo đến làm phóng sự về bà. Cô phóng viên trẻ bắt đầu cuộc phỏng vấn:

+ Thưa bà, bà còn nhớ về những ngày đi học hồi xưa không?

Bà chớp mắt một cái.

+ Cháu rất tiếc khi thấy bà lâm vào tình trạng thê thảm thế này…

Lập tức mắt bà chớp hai cái.

+ Dạ, cháu xin lỗi đã không nhạy cảm. Nhưng bà cảm thấy thế nào ạ?

Mắt bà chớp ba lần.

+ Dạ, để cháu hỏi rõ hơn. Bà có bao giờ thấy vui hay hạnh phúc khi nằm một chỗ không?

Bà chớp mắt một cái. Rồi bà nhắm mắt lại. Cô nhà báo bối rối. Rồi cô thấy nước mắt từ từ lăn xuống gò má của bà kèm theo một nụ cười. Mọi câu hỏi lúc này trở thành không cần thiết vì câu trả lời đã quá rõ. Thời gian như ngừng trôi. Cuối cùng,

+ Dạ, thưa bà, cháu cảm ơn bà đã như thế!

Cô phóng viên gạt vội dòng lệ đang tuôn trào rồi nắm chặt bàn tay gầy guộc của bà như khâm phục và tri ân.

Môn sinh thứ hai của anh là một tu sĩ Cát Minh. Tôi không biết nhiều về tuổi trẻ của ông, nhưng điều tôi biết thì tôi xin kể lại. Từ lúc quen ông, chúng tôi thấy ông thường xuyên vất vả ra vào bệnh viện chữa bệnh. Đa số thời gian ông gắn bó với chiếc xe lăn. Có những lần tôi chứng kiến ông bị ngã lồm cồm trên đất mà không tự mình đứng dậy được. Khi được anh em giúp đỡ, ông dành một nụ cười chân thành nhất khiến người giúp cảm thấy hạnh phúc. Một lần nọ tôi vào thăm ông trong bệnh viện, cũng là lần cuối được gặp ông trên trần gian, ông không còn tự mình di chuyển được nữa, ông nắm chặt lấy tay tôi thì thào:

+ “Brother, thank you for your presence. You are always in my prayer. I love you!” (Này em, cảm ơn em đã hiện diện. Em vẫn ở trong lời cầu nguyện của anh. Anh thương mến em!)

Tôi không thể nào quên giây phút linh thiêng với nụ cười và ánh mắt huynh đệ ấy. Cách nhìn cuộc đời của tôi từ đó được biến đổi rất nhiều. Một người anh em tưởng chừng chỉ là gánh nặng và vô dụng lại trở thành người thầy dạy cho tôi bài học quý giá về ý nghĩa cuộc sống. Tôi biết ơn ông! Sau khi ông về với Cha trên trời, tôi nghe nhiều người khác nói rằng: “Anh ấy là một vị thánh mà tôi đã từng gặp.” Bạn thấy đấy, ông đâu cần làm gì nhiều đâu, ông chỉ cần LÀ thôi.

Một môn sinh khác của anh LÀ là một bà mẹ lặng lẽ với các việc không tên mỗi ngày. Bà chẳng nổi bật giữa đám đông. Bà không biết ca hát. Kể một câu chuyện tiếu lâm nằm ngoài khả năng giao tiếp của bà. Kinh doanh buôn bán lớn là điều bà không dám mơ ước vì biết rõ mình không đủ sức làm. Bà chỉ sớm hôm tần tảo với nhánh chuối củ khoai. Khi làng xóm có tổ chức việc gì, chẳng ai nghĩ đến việc mời bà làm lãnh đạo vì bà có vẻ quá giản dị. Bà không nhiều tiền bạc nhưng lúc nào cũng thanh thản. Bà chẳng chiếm hữu địa vị nhưng lòng bà nắm giữ bình an. Bà chẳng tài cán nhưng khuôn mặt nở rạng. Làm đẹp bằng phấn son trang sức là điều quá xa xỉ trong hoàn cảnh của bà nên bà dùng nụ cười với cái miệng chũm chĩm thiếu răng cửa để thắp sáng khuôn mặt đã bắt đầu hiện lên các dấu chân chim. Bà chẳng làm cho người ta ngã lăn ra cười vì tiếu lâm nhưng lạ lùng thay ai cũng cảm thấy một niềm vui thật nhẹ nhàng cứ sâu lắng mãi khi có bà hiện diện. Rõ ràng bà không làm được đại sự, cũng chẳng có lắm tiền tài, nhưng ở bên bà ai cũng cảm thấy lòng đượm bình an.

Ắt hẳn bây giờ ta đã phần nào nhận ra giá trị của anh LÀ. Anh có lần tâm sự thế này: “Những thứ nhiều người vẫn đuổi theo hầu chiếm cho được để cảm thấy an toàn như tiền tài, danh vọng, lạc thú thật ra không tồn tại lâu dài. Nay còn mai mất. Nếu không cẩn thận đặt chúng đúng vị trí, chúng có thể gây xáo trộn cho cuộc sống chúng tôi. Lúc xuôi tay nhắm mắt cũng đâu mang theo được gì. Lúc ấy là ai mới quan trọng. Gia đình tôi chỉ cần mỗi ngày được cười hả hê với lối xóm, được cảm thấy bình an trong tâm hồn, được quy tụ với nhau bên Chúa. Chỉ thế là đủ hạnh phúc!”

Bạn thân mến, tên hai anh Làm và Là chỉ khác nhau ở ký tự  “m” bé tí xíu, nếu đọc thành tiếng thì là “mờ”. Vì “mờ” nên anh Làm cứ mải miết chạy theo công danh, cứ mê muội đuổi bắt thành tích, cứ mù mịt lao vào chiếm hữu để rồi hậu quả là mệt mỏi vì kiệt sức và mất mát vì vắng bình an. Trong khi đó, anh LÀ bất biến giữa dòng đời vạn biến. Dù thời thế có thăng trầm, anh chẳng vướng phải phân tâm.

Có một tin vui cho ta là vẫn còn nhiều chỗ trong học đường của anh. Điều kiện ghi danh rất đơn giản: có ước ao được hạnh phúc thật sự. Thủ tục gia nhập khá mau lẹ: ký tên mình vào mẫu đơn có nội dung “Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11: 28) Bảo đảm có hiệu quả ngay từ giờ học đầu tiên với lợi ích vô cùng to lớn: “Tâm hồn sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11: 30) Lưu ý trong lúc tham gia: vì LÀ vốn dĩ sâu sắc nên ta phải sáng suốt chủ động tách mình ra khỏi vòng xoáy ồn ào điên đảo của đua tranh, bỏ bớt những lo toan cồng kềnh không cần thiết, hít thở thật sâu, lắng đọng tâm hồn. Tại sao lại thế? Bởi vì có những điều quý giá trong cuộc sống đòi buộc người ta phải dừng lại để nhìn mới thấy được, phải im lặng để nghe mới hiểu được, và phải buông tay để tự do mới cảm được. Có những cái đẹp, những chân lý chỉ được nhận ra trong lúc một mình, trong sự chìm sâu vào chiêm niệm.

Theo lẽ khôn ngoan bình thường, LÀM (và CÓ) chỉ đáng ở vị trí phương tiện, LÀ phải nắm giữ vai trò mục đích. Nếu ngược lại sẽ dẫn đến xáo trộn, lầm lẫn, bất an, tai hại. Tắt một lời, muốn được thực sự bình an và hạnh phúc thì phải LÀ. Giá trị của sự LÀ có nền tảng nơi chính Thiên Chúa, Đấng đã cho Môi-sê biết danh mình khi phán: “Ta là Đấng Hiện Hữu.”, dịch sát nghĩa “Ta là LÀ.” (Xh 3:14). Thiên-Chúa-làm-người, Giêsu Kitô, khẳng định rõ: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14:6) Sau một quá trình cảm nghiệm lâu dài, thánh Gioan đúc kết: “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8)

———-

Để tạm khép lại suy tư đơn sơ này, xin được mở ra khung trời có tên là Cát Minh:

Giữa một thế giới bon chen, Cát Minh giới thiệu linh đạo của LÀ.

Giữa một thế giới tranh đua thành tích, Cát Minh nhắc nhở hướng về LÀ.

Giữa một thế giới tục hoá, Cát Minh khẳng định căn tính phải LÀ.

Giữa một thế giới khổ đau, Cát Minh gọi mời tâm hồn ở trong LÀ.

Còn biết bao điều có thể nói thêm…

                                                                                             Giuse Việt, O.Carm.


Liên quan khác