Nguyên tác: AU SOUFFLE  DE L’ESPRIT PRIÈRE ET ACTION: Cầu nguyện và Hoạt động New 

04/11/2021

Mục Lục

 

`P. Marie-Eugène de l’E.J.


 

Cầu nguyện và Hoạt động

Nguyên tác: AU SOUFFLE  DE L’ESPRIT

PRIÈRE ET ACTION

Édition du Carmel

(Cuốn II)

Dịch thuật: Đan viện Xitô Thánh Mẫu Thiên Phước

Năm 2021


 

LỜI CẦU NGUYỆN CHIÊM NIỆM TRỌN HẢO CỦA CHÚA KI-TÔ

Bây giờ chúng ta hãy để cập đến lời cầu nguyện chiêm niệm hoàn hảo của Chúa Ki-tô.

Lời cầu nguyện của Kinh Lạy Cha

Trong dòng đời hoạt động công khai, Chúa chúng ta đã cầu nguyện nhiều. Các Tông Đồ sống với Người thường xuyên, đều biết rằng Người năng cầu nguyện. Vào ban ngày, họ từng thấy Người một đôi khi lìa xa họ. Vào ban đêm, Người chuyên chăm cầu nguyện và cầu nguyện thật lâu. Họ hẳn đã kỹ càng quan sát Người cầu nguyện và thán phục Người. Có một ngày, họ dám thưa với Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện”[1]. Và bởi vì Chúa Giê-su siêng năng cầu nguyện trong khi hoạt động, nên Người trả lời một cách chắc chắn và tóm tắt về sự cầu nguyện. Người để lại sứ điệp của Người (Kinh Lạy Cha), để cho các Tông Đồ và sau này, cho Giáo Hội trách nhiệm giải thích lời kinh này làm sao cho thích hợp với các tâm hồn thuộc các thế hệ khác nhau.

Các bạn đã biết câu trả lời của Chúa Giê-su: “Khi các con cầu nguyện, hãy cầu nguyện như thế này”. Người dạy họ Kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng…” Kinh Lạy Cha là một bản tóm tắt mọi lời cầu nguyện mà chúng ta có thể sử dụng để cầu nguyện với Chúa, đưa ra những chỉ dẫn chính xác về thái độ cần phải có khi đối diện với Người.

Qua nhiều thế kỷ, Giáo Hội, các bậc linh sư, như thánh Augustinô, thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la… Vì muốn đem lại cho chúng ta một giáo thuyết về sự cầu nguyện, nên đã chú giải Kinh Lạy Cha. Đặc biệt thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la, trong tác phẩm nói về việc cầu nguyện: “Con Đường Trọn Lành” (Chemin de la perfection) đã chú giải Kinh Lạy Cha. Từ những công thức cầu nguyện của Kinh này, thánh nữ đã đưa ra một học thuyết đầy đủ về sự cầu nguyện và chiêm niệm[2].

Tuy nhiên, xem ra câu trả lời của Chúa còn khá tổng quát. Người dạy các môn đệ lời khẩu nguyện dành cho người mới nhập môn. Nhưng thánh Tê-rê-sa nói với chúng ta rằng lời cầu nguyện này rất hữu dụng và cần thiết ngay cho cả những nhà chiêm niệm đã đạt tới đỉnh cao của chiêm niệm. Lời khẩu nguyện này cũng dành cho mọi người. Nhưng nó được dùng như một công thức cầu nguyện thuộc lòng, và khi dùng những cử điệu của thân xác để cùng nhau xướng lên, sẽ biểu lộ ra trước mắt chúng ta hầu như tất cả mầu nhiệm của sự cầu nguyện nơi Chúa Ki-tô.

Hiện thời, chúng tôi mong ước thúc đẩy lời cầu nguyện này đi xa hơn là đọc lại một công thức. Chúng tôi mong muốn được biết Chúa Ki-tô đã cầu nguyện như thế nào trong tâm hồn của Người. Chúng ta đã biết đọc ra thành lời Kinh Lạy Cha. Ngày hôm nay Giáo Hội kêu gọi chúng ta một cách đặc biệt cùng hiệp nhất với các linh mục xướng lên lời cầu nguyện này trong những công thức của Thánh lễ, ngay cả khi chúng ta hợp nhất với nhau trong khi cử hành Thần vụ. Nhưng điều này chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề.

I. MẦU NHIỆM CỦA NGÔI VỊ CHÚA GIÊ-SU

Có thể Chúa Giê-su cầu nguyện trong tâm hồn của Người như thế nào? Để giải đáp vấn nạn này, cần đề cập đến mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, mầu nhiệm Ngôi Hiệp[3]. Nơi những bài thuyết trình đầu tiên, chúng tôi đã đề cập đến cơ chế cầu nguyện của con người. Xét về phía con người: hoạt động của các giác quan, của lý trí, của đức tin, những hoạt động hoà hợp của tất cả mọi năng lực nơi chúng ta, năng lực của đời sống thể lý, của đời sống tinh thần và sự sống thiêng liêng của ân sủng.

Trong bài thuyết trình thứ hai, chúng tôi đã trình bày tác động của Chúa: không những Người đáp trả lại sự liên lạc của chúng ta được thực hiện bởi các năng lực siêu nhiên – các nhân đức thiên phú – đặc biệt là Đức tin. Đồng thời, Người còn cộng tác với các cơ năng của chúng ta, đặc biệt với Đức tin, là ơn Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta, để làm cho Đức tin được nên hoàn hảo, và làm cho các năng lực của lý trí và các giác quan được bình an.

Nơi Chúa Ki-tô và sự cầu nguyện của Người, có hoạt động của bản tính con người và hoạt động của bản tính Thiên Chúa. Nếu chúng ta có thể nghiên cứu về sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô, cũng như sự cầu nguyện của con người, bằng cách tuần tự nghiên cứu về hoạt động của các khả năng nơi con người, về tác động của Thiên Chúa trên các khả năng này, chúng ta sẽ thấy có một sự tương đồng nào đó giữa hoạt động của các khả năng nơi nhân tính Đức Ki-tô và nơi chúng ta.  Và cũng có một sự tương đồng nào đó giữa tác động của Thiên Chúa nơi Đức Ki-tô và nơi chúng ta, bởi vì Đức Ki-tô được đặt vào trong một tình trạng riêng biệt do bởi ơn Ngôi Hiệp.

Mầu nhiệm siêu việt

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG) dạy rằng, Đức Giê-su là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Chí Thánh. Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Người có bản tính Thiên Chúa, Người là Thiên Chúa. Còn chúng ta được ban ơn thánh sủng là sự tham dự vào đời sống của Thiên Chúa. Đó là sự tham dự của tạo vật nên có giới hạn. Nơi Đức Ki-tô, vì có bản tính của chính Thiên Chúa, nên là Người là vô biên, và sự vô biên này không phải là một điều gì bên ngoài, nhưng là thành phần cốt yếu của Người, vì Người là Ngôi Hai Thiên Chúa.

Thánh Phao-lô nói với chúng ta rằng Thiên Tính trong Đức Ki-tô bị huỷ đi, nhưng sự tự huỷ ra không này của bản tính Thiên Chúa nơi Người chỉ là ở bề ngoài. Thiên Tính của Ngôi Hai Thiên Chúa nơi Người chỉ từ chối biểu lộ ra bên ngoài, mà không bị giảm bớt ở bên trong Người. Đức Giê-su là Thiên Chúa, Người là Đấng Vô Biên.

Và đồng thời, Đức Ki-tô có một nhân tính giống như nhân tính của chúng ta, một bản tính hoàn toàn của con người, có đời sống tâm thể lý như đời sống của chúng ta. Chúa Ki-tô có những chi thể, có các năng lực khả giác. Người có một linh hồn như chúng ta, một linh hồn nhân loại. Nhưng linh hồn nhân loại này, bản tính con người trong Đức Ki-tô, hoàn toàn giống như bản tính nhân loại của chúng ta, lại được thấm nhập toàn vẹn bởi Thiên Tính (toute pénétrée de la Divinité).

Bản tính nhân loại của Chúa Giê-su có những hoạt động riêng của bản tính ấy. Hoạt động của bản tính nhân loại nơi Người được khoa thần học xác định bằng một danh xưng riêng biệt, vì do bởi sự hợp nhất của bản tính ấy với Thiên Tính. Vì lý do này, bản tính con người của Chúa Giê-su không đứng độc lập, nhưng ở trong Ngôi vị của Ngôi Lời, nên những hoạt động của bản tính nhân loại nơi Người được quy về cho Ngôi vị của Ngôi Lời. Bởi vậy, những hoạt động này được gọi là những hoạt động của Thiên Chúa làm người (théandriques)[4]. Vậy nơi Đức Ki-tô, có một điều gì đó hoàn toàn riêng biệt của Người, đây là mầu nhiệm.

Sự kết hợp của bản tính nhân loại với bản tính Thiên Chúa nơi Đức Ki-tô được thực hiện như thế nào? Chúng ta khó mà hiểu được. Những tâm hồn đạo đức hiểu được sự siêu việt của Thiên Chúa, một sự hiểu biết nào đó về sự vô biên của Người, họ sửng sốt kinh ngạc về sự hợp nhất Ngôi vị nơi Đức Ki-tô, sự kết hợp của bản tính nhân loại với bản tính Thiên Chúa.

Khi chúng ta đọc lại lịch sử Ki-tô giáo của những Thế kỷ đầu tiên, chúng ta thấy các người Ki-tô hữu của thời kỳ này đã thấu triệt được giáo thuyết của thánh Phao-lô Tông Đồ. Đây là một đạo lý sống động, không dừng lại nơi những hình thức bên ngoài, nhưng đi vào trong những điều cốt yếu: Chúa Thánh Linh sống động trong tâm hồn của các tín hữu, và nhờ ân sủng, Người làm nên một sự hiệp nhất cho tất cả Thân Thể mầu nhiệm Chúa Ki-tô. Những Ki-tô hữu này, với đức tin sống động và lòng nhiệt thành sốt sắng, được thao luyện thường xuyên bằng sự suy niệm và thực hành những chân lý cao siêu của Ki-tô giáo, họ nhiệt thành tranh luận về Thiên Tính và nhân tính của Đức Ki-tô.

Những cuộc tranh luận về việc Đức Ki-tô có một bản tính con người thật sự, không những xảy ra nơi các nhà thần học, mà còn xảy ra nơi khối quần chúng của Ki-tô giáo. Và quả thực, vào những thế kỷ đầu, những cuộc bàn luận ấy đã đem lại những thành quả tốt đẹp và bên cạnh đó, cũng có những điều sai lạc. Có những người không chấp nhận bản tính con người nơi Đức Ki-tô, bởi lẽ họ quá thâm tín về Thiên Tính siêu việt của Người, nên họ khó mà quan niệm được về một sự kết hiệp giữa bản tính Thiên Chúa cao cả vô biên với bản tính con người hữu hạn thấp hèn ở nơi Người.

Giáo Hội đã dứt khoát xác định về nhân tính nơi Đức Ki-tô, về hai bản tính cùng hiện diện nơi Người, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. Nhưng đối với chúng ta mầu nhiệm vẫn là mầu nhiệm.

Những khía cạnh soi sáng

Thế nhưng, đối với mầu nhiệm nhân tính của Chúa Ki-tô, cũng như mầu nhiệm của chính bản thân Người, chúng ta cũng gặp thấy những khía cạnh soi sáng.

Mầu nhiệm này, cũng như tất cả mọi mầu nhiệm khác của Thiên Chúa, được trình bày ra, đồng thời như một đám mây đen tối và một khía cạnh minh bạch. Đám mây đi trước dẫn đường cho dân Do Thái đi về đất hứa cũng giống như thế[5]. Nơi mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, không những có một bộ mặt rõ ràng: nhân tính của Người với sự dịu dàng, nhân từ, tình nhân ái đối với con người, mà còn có những khía cạnh minh bạch soi chiếu bóng tối thâm u huyền bí của cái vô biên nơi Thiên Chúa.

Chúng ta bị tách biệt bởi bóng tối, một thứ bóng tối mà chính trời cao không thể làm cho hoàn toàn biến mất. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này hơn khi nhờ “ánh sáng vinh quang” (lumen gloriae)[6] mới hiểu được mầu nhiệm này, nhưng nơi đây vẫn còn những chiều kích sâu thẳm không thể hiểu được cho thấu đáo. Thánh Gio-an Thánh Giá nói rằng, ngay khi còn ở trần gian có một phần thưởng dành cho người chiêm niệm khi đạt tới đỉnh cao, đó là khám phá được những đường nét soi sáng mà ngài gọi là những vân đá cẩm thạch óng ánh (veines lumineuse) nơi mầu nhiệm Chúa Ki-tô[7]. Những vân đá óng ánh này đương nhiên ám chỉ về sự hiện hữu của Thiên Tính, nhân tính nơi Đức Ki-tô và một vài đặc sủng của nhân tính của Người.

Khi chúng ta muốn tìm hiểu về sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô, chúng ta nên biết rằng sự hiểu biết của Người gồm có nhiều thứ kiến thức: tri thức của thị kiến linh cảm (vision intuitive), nghĩa là ngay khi còn ở trần gian Người đã có ánh sáng vinh quang (lumen gloriae), nhờ đó Người thấy được bản tính của Thiên Chúa trong người. Thiên Tính này được sánh ví như một thứ dầu thơm thấm nhập một cách thâm sâu không những trên thân thể mà còn cho linh hồn của Người. Người nhìn thấy Thiên Tính rõ ràng trong ánh sáng chiếu soi hoàn toàn. Người vui hưởng thị kiến này không phải với mức độ vô biên, bởi vì nhân tính của Người được tạo dựng, nhưng sự vui hưởng này liên tục không ngừng. Thiên tính này được Người thường xuyên chiêm ngưỡng, vì Thiên Tính thấm nhập hoàn toàn trong Người.

Cùng với thị kiến linh cảm, Người còn được Thiên Chúa ban cho ánh sáng thiên phú, đó là những ý tưởng, ánh sáng mà chính Thiên Chúa ban cho trí khôn của con người: trí thông minh sáng suốt, tất cả mọi kiến thức cần thiết giúp Người chu toàn các nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ tư tế, nhiệm vụ làm trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Cuối cùng là tri thức thực nghiệm, một thứ kiến thực thực tiễn mà Chúa Ki-tô thu hoạch được khi sử dụng các khả năng của Người. Sự hiểu biết của Người – biết Thiên Chúa nhờ bởi ánh sáng linh cảm – được đào luyện, sẽ có thêm những kiến thức mới dựa trên những dữ liệu của giác quan. Bởi vậy, kiến thực thực tiễn nơi Đức Ki-tô có một sự tăng trưởng thực sự[8].

Khi Tin Mừng nói rằng Chúa Ki-tô lớn lên về hình dáng, có thêm hiểu biết và khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa và con người[9]. Điều này không phải như người ta đôi lúc nói một cách ngây thơ rằng: Người để lộ ra bên ngoài một vài kiến thức mà Người đã có. Không, đây là những kiến thức nghiệm được thêm vào với những kiến thức đã có trước ở nơi Người.

Cũng có người nói rằng Chúa Ki-tô có tất cả mọi sự, biết hết mọi chuyện, thỉnh thoảng Người tỏ ra những gì Người đã biết. Nói như vậy chẳng khác nào cho rằng rằng Chúa Ki-tô giả bộ làm con người. Người đã biết hết mọi sự, thỉnh thoảng người biểu lộ một chút cho người ta thấy. Không hoàn toàn đúng như thế: Kiến thức thực nghiệm nơi Người cần phải được bổ túc thêm. Thư gửi tín hữu Do Thái nói rằng Người đã phải trải qua đau khổ mới học biết được sự vâng phục là như thế nào[10]. Do đó, chúng ta thấy rằng kiến thức thực tiễn của Người gần giống như chúng ta.

Vậy chúng ta hãy nhìn đến hai điều trái ngược nhau: bản tính nhân loại của Chúa Ki-tô có sự tiến triển bởi công lao khó nhọc như thư gửi tín hữu Do Thái đã nói, và đàng khác, Người có một kiến thức hoàn hảo, vì Người có thị kiến linh cảm (cái nhìn trực quan). Làm sao kiến thức này có thể tăng trưởng? Tăng thêm và không tăng có hoà hợp được với nhau không? Đây là mầu nhiệm. Đây không phải là chuyện dùng lý trí của chúng ta để giải đáp và hiểu được thấu đáo về mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

Điều này cũng giống như vấn đề của chính Thiên Chúa, chúng ta cần chân nhận rằng, trước vấn đề của Người, chúng ta là hữu hạn, còn người thì vô biên, rằng Người rất tốt lành khi cho chúng ta được biết một ít điều thuộc về Người, thuộc về đời sống thâm sâu của Chúa Ba Ngôi và tất cả những gì có nơi Đức Ki-tô. Chúng ta không có quyền đòi hỏi – và thật là điên rồ mới mong muốn như thế – là cần phải biết tất cả mọi chuyện, vì nó vượt quá khả năng hiểu biết của con người, và chính Thiên Chúa vượt xa chúng ta vô cùng. Nhưng Người cũng muốn tỏ ra cho chúng ta được biết đầy đủ những gì mà khả năng của con người có thể nắm bắt được.

II. – LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊ-SU, THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI

Sau khi nhìn sơ qua về mầu nhiệm Chúa Ki-tô, bây giờ chúng ta cần nhờ đến sự trợ giúp của những ý niệm vừa nói, và có thể là tạm đủ, thiết nghĩ như thế, để xem Người cầu nguyện như thế nào.

Lời cầu nguyện nối dài

Khi chiêm ngắm Chúa Giê-su, chúng ta thấy nơi Người có một sự kiện nổi bật: Người đã cầu nguyện nhiều. Khi chiêm ngắm cuộc đời của Người, Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể nhận lấy bản tính nhân loại. Chúng ta thấy Người chỉ sống gần 33 năm ở trần gian; nhưng Người đã dành đến 30 năm cho cuộc sống âm thầm tại Na-da-rét, và sống một cuộc đời bình thường như chúng ta. Người ta thấy rằng Người là một bác thợ mộc. Nhưng thiết nghĩ, cần phải nhấn mạnh về đời sống ẩn dật mà Người đã chọn.

Chúng ta cố gắng nhìn vào nội tâm của Người: Người biết mình mang nặng một nhiệm vụ. Nhờ thị kiến linh cảm, tri thức thiên phú và cả tri thức thực nghiệm, Người ý thức rằng mình là trung gian, là thượng tế. Người đến trần gian để mang đến cho con người sứ điệp của Thiên Chúa: Nói cho họ biết về những gì nơi Thiên Chúa. Đồng thời, Người dạy cho chúng ta con đường dẫn tới Thiên Chúa, và thiết lập các Bí tích để ban cho họ sự sống của Thiên Chúa.

Người đến không chỉ để làm một điều gì mới – một sự tiến bộ văn minh – nhưng còn mang sự sống của Thiên Chúa đến cho trần gian. Người thi hành điều này một cách có hiệu quả bằng việc dạy dỗ, bằng sự đau khổ, bằng các Bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Không có một người trần gian nào mang trong mình nhiều nhiệm vụ cần phải chu toàn như thế, không những để thiết lập nên một trật tự mới, nhưng còn là một sự đảo lộn, một sứ mệnh vượt quá mọi khả năng của con người.

Vậy Chúa Ki-tô làm gì để chu toàn sứ mạng khôn sánh này? Nếu đặt mình vào trong vị trí của Người, chúng ta phải làm như thế nào? Đương nhiên chúng ta phải vội vàng bắt tay làm việc: Ba mươi năm để chu toàn sứ mạng như thế này là quá vắn vỏi. Nhưng Chúa Ki-tô Người sẽ làm gì đây? Trong 30 năm, Người ẩn mình trong nếp sống cô tịch, và xét theo quan niệm của loài người, Người làm như thế là đã bỏ phí thời giờ.

Tại sao Người đi đến Na-da-rét? Để chu toàn sứ mạng của một Thiên Chúa làm người, sứ mạng trung gian. Chúng ta đừng nói rằng: Ô, Người biết rằng mình toàn năng, có mọi sức mạnh trong tầm tay, và Người có thể nói: “Chỉ trong một chốc lát, chỉ cần vài phút là Ta sẽ làm xong tất cả mọi chuyện”. Không phải thế đâu. Tất cả mọi hoạt động, ngay cả việc tổ chức cuộc sống đều được Người phân phối thời gian hợp lý. Điều này đem lại cho chúng ta một bài học: Người trải qua 30 năm tại Na-da-rét, vì Người thẩm định rằng việc quan trọng cần làm là trải qua một cuộc sống bình thường, âm thầm, cho phép Người chu toàn nhiệm vụ cầu nguyện của mình.

Đâu là nhiệm vụ của Chúa Ki-tô? Đó là làm tư tế, trung gian. Người đến trần gian này, mang nhân tính và Thiên Tính để thực hiện sự hợp nhất của hai thái cực này. Tội lỗi đã làm cho con người lìa xa Thiên Chúa. Người đến để nối lại hai thái cực này, để làm hợp nhất những gì tội lỗi đã làm cho ly tán. Và Người sẽ thực hiện điều này như thế nào?

Người sẽ thực hiện – xin cho phép tôi được lặp lại – Sự hợp nhất giữa nhân tính và Thiên Tính. Người cầu nguyện và chiêm niệm. Cầu nguyện là bắt liên lạc, chiêm niệm là thực hiện sự hợp nhất.

Chúa Giê-su làm gì tại Na-da-rét? Nhìn bề ngoài, người ta thấy Người lao động với thánh Giu-se là dưỡng phụ của Người. Nhìn gần hơn, Người thực tập sự để thực hiện sự hợp nhất. Chúng ta có thể nói rằng Người phải luyện tập để làm điều này.

Sự cầu nguyện hiệp nhất mà Chúa Giê-su khởi đầu tại Na-da-rét và vẫn tiếp tục thực hiện, là như thế nào? Sau khi trải qua suốt 30 năm sống đời ẩn dật, Người bước vào đời sống công khai và loan truyền sứ điệp trong vòng 3 năm. Trước đó Người còn trải qua 40 đêm lại trong sa mạc để cầu nguyện[11]. Bước vào đời sống hoạt động, ngay từ những ngày đầu tiên, khi đã đạt được một số thành quả tại Ca-phác-na-um, Người tách rời các môn đệ, đi vào nơi hoang vắng trên núi cao để cầu nguyện[12]. Khi muốn tuyển chọn các Tông Đồ, Người bắt đầu công việc này bằng cầu nguyện.

Trong toàn bộ đời sống của Người, các Thánh sử đều nhất trí điểm này: Người thường rút lui vào nơi hoang địa để cầu nguyện. Vào cuối đời, trong những ngày cuối cùng, Người qua đêm để cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-ni[13], nên Giu-đa It-ca-ri-ốt biết cần phải tìm bắt Người ở nơi nào. Hắn không cần đến thám tử để rình xem Người ẩn náu ở đâu. Vào buổi chiều gần kề cuộc tử nạn của Người, vì đã biết chắc nơi Người cầu nguyện, Giu-đa dẫn đầu lính tráng đi ngay đến đó để bắt Người.

Trên đồi Can-vê, Chúa Giê-su tiếp tục cầu nguyện, và thánh Phao-lô Tông Đồ còn nói với chúng ta: Trên trời Người không còn chết nữa, nhưng vẫn sống để chuyển cầu cho chúng ta[14].

Vậy, chúng ta có thể nói rằng, nhiệm vụ chính yếu của Chúa Ki-tô trên trần gian là dành ra nhiều thời giờ cho việc cầu nguyện, dầu cho các công việc bên ngoài có cấp bách đến đâu.

Sự cầu nguyện hiệp nhất hoàn hảo

Sự cầu nguyện hoàn hảo hiệp nhất nơi Chúa Ki-tô là như thế nào?

Để hiểu rõ điều này, trước tiên cần nhìn lên Chúa Ki-tô: nơi Người sự hợp nhất của Thiên Tính và nhân tính được thực hiện như thế nào? Sự chiêm niệm, đó là thực hành sự hiệp nhất của nhân tính và Thiên Tính. Trong Chúa Ki-tô, Thiên Tính thấm nhập nhân tính, còn nhân tính chìm đắm vào trong Thiên Tính bởi cái nhìn rất đơn giản, cái nhìn này chính là sự nhận thức trực giác về Thiên Chúa, là ánh sáng vinh quang mà chúng ta sẽ được vui hưởng trên trời. Sự kết hợp này thật là hoàn toàn: sự thấm nhập của Thiên Tính trên con người của Đức Ki-tô, và đồng thời sự thấm nhập của con người Đức Ki-tô vào trong Thiên Chúa, bởi cái nhìn rất đơn giản của thị kiến trực giác.

Vậy sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô là sự chìm sâu vào trong Thiên Chúa; và nơi đây – “trong Thiên Chúa” – không những nói về sự hiệp nhất của Thiên Chúa, nhưng còn hiểu về sự sống thâm sâu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Ngôi Lời trong Chúa Giê-su chiêm ngắm và yêu mến Chúa Cha. Chúa Cha yêu mến Con của Người. Giữa Cha và Con, qua sự nhận biết lẫn nhau này, – từ ánh sáng này – mà Cha và Con khám phá ra điều gì hơn nữa trong Thiên Tính, đó là sự xuất sinh ra Chúa Thánh Linh, là Ngôi Ba, tình yêu bản thể của Ba Ngôi Chí Thánh.

Chúng ta thấy trong Tin Mừng, có một bức tranh minh hoạ cho sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô. Các Thánh sử nói rằng, khi Người chịu Phép Rửa, Người bắt đầu cầu nguyện[15]. Chính lúc đó Chúa Thánh Linh ngự xuống dưới hình dạng con chim bồ câu. Thánh Gio-an Tẩy Giả bên bờ sông Gio-đan, trông thấy sự hiển linh của Thiên Chúa trên Chúa Giê-su, nên nhận biết Người là Đấng Mê-si-a (Đấng Cứu Tính). Quả thực, Thánh Thần cho ông biết rằng, Người lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên ai, Người ấy chính là Đấng Cứu Thế[16], và đồng thời có tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Người làm đẹp lòng Ta mọi đàng”.

Nơi đây, chúng ta nhận ra sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô, dưới hình thức có thể cảm nhận được. Thiên Chúa Cha sinh ra Chúa Con: “Đây là Con yêu dấu của Cha”, Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa, và Thiên Chúa nói như thế về Chúa Giê-su. Cùng một lúc với tiếng nói của Chúa Cha, Chúa Thánh Linh ngự xuống trên Người. Quả thật, từ hơi thở của Chúa Cha và Chúa Con xuất sinh ra Chúa Thánh Linh.

Trong hơi thở này, Chúa Ki-tô tràn trề hạnh phúc, một niềm vui tràn ngập bản tính nhân loại của Người. Xét như là Thiên Tính đây là niềm vui vô biên, còn xét như là nhân tính của Người, dĩ nhiên niềm vui này là hữu hạn, vì nhân tính của Người được tạo thành, nên không có khả năng lãnh nhận một cách vô biên.

Có một ngày, trên núi Ta-bo Chúa Giê-su biểu lộ cho các Tông Đồ thấy Người cầu nguyện như thế nào, và Người cũng cho các ông được tham dự vào sự cầu nguyện đó[17]. Ngày hôm đó, Người chỉ đem theo ba ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an lên núi. Khi bắt đầu cầu nguyện, các ông ở bên cạnh Người. Vì không hiểu Người cầu nguyện một cách nhiệm mầu như thế nào, nên các ông thiếp ngủ. Khi tỉnh thức, và có thể nói, họ tỉnh giấc dậy để cùng cầu nguyện với Người. Có một sự toả sáng của Thiên Tính trên nhân tính của Chúa Giê-su. Sự toả sáng này – ánh sáng này – bao phủ lấy họ. Tin Mừng nói rằng, họ được bao phủ “trong một đám mây sáng ngời”[18]. Đây là sự toả sáng ra của ánh vinh quang của Thiên Chúa trên nhân tính của Chúa Ki-tô. Các Tông Đồ nhận được nơi chính họ, trong chính tâm hồn và giác quan của họ, một điều gì đó về sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô.

Và thánh Phê-rô như mê say sự sáng láng chiếu toả ra từ sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô, nên muốn dựng một chiếc lều cho Người trên núi Ta-bo. Đây là một điều gì đó nơi sự cầu nguyện của Người: sự toả sáng của Thiên Tính trên nhân tính của Người, và đồng thời nhân tính của Người được chiêm ngưỡng Thiên Tính ở trong Người. Đây là sự kết hợp hoàn hảo và cảm nghiệm được về sự hợp nhất Ngôi vị của Đức Ki-tô.

Vậy chúng ta hiểu được rõ ràng rằng Đức Ki-tô đã qua nhiều đêm trong cầu nguyện. Bởi vì tất cả các cơ năng, tất cả thân thể của Người được nghỉ ngơi bởi sự tưới tắm siêu nhiên của Thiên Tính thấm nhập trong Người, bồi dưỡng cho Người và làm cho Người được nghỉ ngơi tốt hơn nhiều với giấc ngủ của thể lý. Đó là sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô, sự cầu nguyện hiệp nhất.

Thông phần sự sống của Thiên Chúa

Sự cầu nguyện hiệp nhất này đương nhiên tự nó có giá trị. Tại làm sao Ngôi Lời phải nhập thể? Để tái tạo sự hiệp nhất. Nhiều khi đọc Tin Mừng, chúng ta hay dừng lại nơi những chi tiết, dĩ nhiên chúng có một tầm quan trọng nào đó; nhưng đừng để chi tiết làm chúng ta quên tổng thể, mục đích, công việc cốt yếu, là sự hợp nhất của nhân tính với Thiên Tính, là đưa con người về với Thiên Chúa, về với cùng đích của mình.

Ơn gọi thực sự của Chúng ta, mục đích của chúng ta, không chỉ nằm ở sự phát triển hoàn hảo bản chất con người của chúng ta, và kèm theo một sắc thái siêu nhiên khiến chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa từ xa… Không: Ơn gọi Chúa ban cho chúng ta là trở về trong chính Thiên Chúa, nhờ bởi ân sủng và ơn làm nghĩa tử bảo đảm cho chúng ta điều này.

Mục đích mà chúng ta nhắm tới không phải là một thứ hạnh phúc tầm thường được bảo đảm cho những ai làm việc lành, chu toàn tốt lề luật luân lý, cho những ai sống cuộc đời chính trực, cho các Ki-tô hữu trọn lành siêng năng đi tham dự Thánh lễ. Ơn gọi, mục đích mà Thiên Chúa đã quy định cho đời sống của chúng ta, đó là đi lên với Người, là đi vào sự sống của Người, vì từ nơi Người mà chúng ta phát xuất ra. Điều này không phải ai cũng biết được, tôi muốn nói là người ta thường không cảm nghiệm được về điều này. Ơn gọi của chúng ta là đi vào trong Thiên Chúa để tham dự sự sống của Người, là đi vào trong nhịp điệu của Người và được kết hiệp với Người mãi mãi không bao giờ ngừng.

Sự bất tử của linh hồn chúng ta không phải là một sự trường tồn, và tự nó có được niềm vui, một thứ hạnh phúc nào đó được Người ban cho. Không, mục đích của chúng ta là đi vào trong Thiên Chúa. Chỉ có Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh, nhưng do bởi ân sủng, chúng ta trở thành con cái, được nên giống với Ngôi Lời Nhập Thể, Chúa Giê-su Kitô. Chính Người cầm tay chúng ta, dìu dắt chúng ta đi vào nhịp điệu sự sống của Chúa Ba Ngôi, và chúng ta được chia sẻ những công việc, ánh sáng, những đặc ân và hạnh phúc của Người. Cùng đích của chúng ta là như thế đó, đi vào trong Ba Ngôi Chí Thánh.

Bổn phận mà chúng ta phải thi hành trên trần gian này là cầu nguyện hiệp nhất, và hiệp nhất với Chúa Ki-tô để cầu nguyện. Người chăm sóc đến chúng ta và muốn cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Người. Người ban cho chúng ta sự sống, ân sủng và tất cả những gì Người là. Người muốn chúng ta nhận lấy trách nhiệm của Người và kêu mời chúng ta liên kết với Người. Vào lúc lâm tử, nếu chúng ta hợp nhất với Người qua sự phát triển ơn làm nghĩa tử, nếu chúng ta liên kết mật thiết với Người, chúng ta sẽ đi vào trong nhịp sống của Ba Ngôi Chí Thánh, và được chia sẻ những công việc, đặc ân và hạnh phúc của Người.

Đó là cùng đích của Chúng ta, là hạnh phúc của Trời Cao, không phải chỉ chiêm ngưỡng Thiên Chúa từ xa xa, nhưng là trở nên giống Thiên Chúa bởi sự thông hiểu, bởi sự thi hành những công việc của thượng trí và tình yêu của Ngôi Lời, do đó được chia sẻ sự sống hạnh phúc của Người. Nói cách khác, là cùng với Người chúng ta đi vào trong sự sống của Chúa Ba Ngôi, chia sẻ hạnh phúc của chính Thiên Chúa, của Ngôi Lời Nhập Thể, không phải với tư cách của một khán giả, nhưng với tư cách là “diễn viên”.

Sự thao luyện cốt yếu của ơn gọi Ki-tô hữu

Đối với chúng ta, cầu nguyện cũng giống như thế: đây là bổn phận chính yếu của chúng ta. Vậy chúng ta hiểu rằng đây là một sự bó buộc, và Chúa Ki-tô đã thuyết giảng cho chúng ta bằng mẫu gương của Người: Người đã dành hầu hết thời gian của cuộc sống nơi trần gian cho việc cầu nguyện, thao luyện việc kết hiệp với Thiên Chúa. Người còn cần điều gì nữa không? Không, bởi vì nơi Người đã có sự hợp nhất Ngôi Vị, nhưng Người muốn dạy bảo chúng ta cầu nguyện, qua những hành vi, gương lành, thái độ và bằng lời nói của Người.

Nơi trần gian này, Chúa Ki-tô đã thi hành sự cầu nguyện kết hiệp. Đời sống Ki-tô hữu của chúng ta trên trần gian này cũng phải giống như Chúa Ki-tô là một cuộc thao luyện kết hiệp, do đó sự cầu nguyện của chúng ta phải là một sự cầu nguyện kiết hiệp và chiêm niệm.

Một đôi khi người ta ngạc nhiên khi đọc những tác phẩm thiêng liêng có đem lại những kiến thức quý giá. Thế nhưng, những tác phẩm đó lại trình bày sự cầu nguyện như một điều gì tuỳ thuộc, chỉ được thực hành trong những ngày lễ, hay chỉ dành riêng cho những người có thì giờ, có ơn gọi sống đời cầu nguyện. Tuy nhiên, cầu nguyện là một sự thao luyện cốt yếu của ơn gọi làm Ki-tô hữu. Có khi người ta nói rằng chiêm niệm là một thứ cầu nguyện ích kỷ, chỉ tập trung vào chính bản thân. Phải, nếu cầu nguyện chỉ nhằm mục đích tập chú vào chính mình và phân tích những gì xảy ra trong nội tâm, đó không phải là sự cầu nguyện đích thực. Cầu nguyện đích thực là một sự thao luyện kết hiệp, nâng tâm hồn lên với Chúa. Khi cho rằng cầu nguyện là điều phụ thuộc, người ta đã không biết về bản chất thật sự của đời sống Ki-tô hữu và đã quên định nghĩa của sự cầu nguyện được trình bày trong sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo.

Đối với chúng ta, sự cầu nguyện hiệp nhất vẫn là một nhiệm vụ căn bản và cốt yếu. Nếu như có một số tâm hồn đặc biệt dâng hiến cuộc đời cho ơn gọi chiêm niệm, và Chúa ban cho họ ơn gọi làm công việc này, hay như Chúa đã muốn cho một số Dòng tu hay Tu hội chuyên tâm cầu nguyện, là vì Người đã muốn rằng giáo huấn của Người về cầu nguyện vẫn luôn luôn sống động và sinh động cho dân Chúa. Nhưng xin đừng miễn trừ cho bất cứ Ki-tô hữu nào bổn phận cầu nguyện cốt yếu này, cầu nguyện chiêm niệm và cầu nguyện hiệp nhất.

III. SỰ CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊ-SU, THỦ LÃNH CỦA THÂN THỂ MẦU NHIỆM

Chúa Giê-su không chỉ là Thiên Chúa làm người, mà còn là thủ lãnh của Thân Thể mầu nhiệm. Người đã cứu độ chúng ta bằng sự đau khổ, ban cho chúng ta sự sống thần linh qua các Bí tích được Người thiết lập, và khi đổ tràn sự sống thần linh trên chúng ta, người đã chinh phục tâm hồn chúng ta.

Sự sống của Chúa nơi chúng ta

Ân sủng nhận được từ bí tích Rửa Tội, ban cho chúng ta sự sống thần linh và làm cho chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm đau khổ và tử nạn của Chúa Ki-tô. Khi rước lễ sự sống của Người thấm nhập vào trong chúng ta. Nơi bí tích Thánh Thể, Người đồng thời làm cho chúng ta sống, và hiến tế vì chúng ta. Sự sống thần linh mà Chúa Ki-tô đổ vào trong chúng ta, làm cho chúng ta được hợp nhất với Người: đó là sự sống của Chúa Ki-tô. Chúng ta đã biết thánh Au-gus-ti-nô nói như thế nào về việc Chúa Ki-tô ban mình Người cho chúng ta qua bí tích Thánh Thể: ngài nói, chúng ta ăn mình thánh, nhưng thực ra chính Người ăn chúng ta, và chúng ta trở nên giống như Người[19]. Đây là một sự kết hợp được thực hiện giữa Người với chúng ta, bởi sự sống mà Người đổ tràn ra.

Chính như thế, Chúa Ki-tô đã thiết lập nên một thực tại mới. Sự sống nơi Người đổ tràn ra, được ban phát, phổ biến, và thực tại mới – Giáo Hội, Chúa Ki-tô toàn thể – được thành hình do bởi sự sống của Thiên Chúa đổ tràn trên các linh hồn. Bossuet nói rằng: “Giáo Hội là Chúa Ki-tô được truyền bá, được dàn trải ra”[20]. Người ban cho chúng ta sự sống của Người, chúng ta nhận lấy Chúa Thánh Linh và trở nên Ki-tô khác (alter Christus), trở nên Chúa Ki-tô. Chúng ta đi vào trong Người, Người đi vào trong chúng ta, chúng ta bị Người thu phục: Đó là Giáo Hội.

Bởi sự lan truyền của sự sống thần linh, nhất là bởi bí tích Thánh Thể, chúng ta đi vào trong Chúa Ki-tô, trở nên giống như Người, và đồng thời Chúa Ki-tô chiếm lấy chúng ta. Trong Giáo Hội, không những có sự hợp nhất của chúng ta với Chúa Ki-tô, mà còn có sự hợp nhất của Chúa Ki-tô với chúng ta: có một ảnh hưởng tốt đẹp giữa đôi bên. Chúng ta lãnh nhận sự sống của Người, và chính Người chấp nhận lấy những gì là của chúng ta. Người đã nhận lấy bản tính của con người, đồng thời Người cũng nhận lấy tất cả những gì bản tính ấy. Đặc biệt, Người nhận lấy nhân tính của những ai, nhờ ơn thánh sủng, mà nên một với Người. Người ban cho chúng ta sự sống của Người và nhận lấy bản tính con người của chúng ta. Bởi vậy mà có sự trao đổi và hiệp thông giữa đôi bên, giữa Chúa Ki-tô và chúng ta.

Tội lỗi chúng ta đè nặng trên Chúa Ki-tô

Sự trao đổi này làm cho chúng ta trở nên giàu Chúa Ki-tô và sự sống của Người. Người làm cho chúng ta đồng hoá với Người và làm cho sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong tâm hồn chúng ta trở nên sống động hơn, giống như sự hiện diện sống động của Chúa Thánh Linh nơi Người. Tất cả những điều này làm cho Chúa Ki-tô nhận lấy sự khốn khổ của chúng ta, của bản tính con người với tất cả những gì nó là, ngoại trừ tội lỗi[21], nhưng Người đã gánh vác những hậu quả tội lỗi để lại, ơn cứu độ được thực hiện bằng cách thức như thế đó.

Chúng ta được thanh luyện như thế nào? Bằng cách, Chúa Ki-tô đã nhận lấy trên Người những hậu quả của tội lỗi. Tiên tri I-sai-a khẳng định điều này[22]: Người nhận lấy những yếu hèn, những khốn khổ của chúng ta. Khi thánh Gio-an Tẩy Giả nhìn thấy Chúa Giê-su, ông liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian”. Người xoá bỏ tội lỗi chúng ta khi mang lấy nó trên trên thân thể của mình.

Chúng ta có thể dùng một hình ảnh bình dân để so sánh: Đức Ki-tô khi tiếp cận chúng ta, Người làm như một thứ giấy thấm mực (papier buvard). Chúng ta bị ố nhơ do bởi hệ luỵ của tội lỗi. Chúa Ki-tô là giấy thấm trắng tinh không hề có một vết nhơ nào, Người áp vào bản tính con người của chúng ta để hút đi sự nhơ nhớp của tội lỗi. Người đã mang lấy những sự yếu hèn của chúng ta.

Trận chiến của Chúa Ki-tô

Do bởi sự nhận lấy yếu hèn của con người, mà Người phải chịu đau khổ vì nó. Điều này đem lại cho chúng cho ta cơ hội để học biết về hiệu quả, và một hình thức khác của sự cầu nguyện của Người.

Khi đến trần gian, Chúa Ki-tô đã mang lấy tội lỗi của con người trên chính bản tính nhân loại của mình – Thiên Tính của Người không thể nhận lấy tội lỗi –Người chịu đau khổ do bởi hậu quả tội lỗi đã gây nên. Đó là lý do của thảm kịch nơi sự đau khổ của Chúa Ki-tô, bắt đầu ngay từ những giây phút đầu tiên trong cuộc đời của Người. Do bởi Người nhận lấy tội lỗi – không phải là một tội nào đó, nhưng là tội của thế gian (peccatum mundi) – gây lên trong Người sự đau khổ vì sự đối lập giữa tội lỗi của con người và thiên tính thánh thiện nơi Người. Điều này lập tức làm cho Người trở thành nạn nhân, một hy tế (victime).

Đó là sự đau khổ và tử nạn của Chúa Ki-tô, mà thư gửi tín hữu Do Thái có ám chỉ đến, khi nói rằng Người đã học biết sự đau khổ qua vâng phục[23]. Thiên Chúa muốn Người trở nên Đấng Cứu Độ và Người đã vâng phục nhận lấy trên thân thể của Người tội lỗi của chúng ta. Và sự đau khổ này, chính là sự hiểu biết thực nghiệm của Người.

Có hai động lực trái ngược nhau nơi Người. Một đàng, nhân tính của Người nhận lấy những làn sóng hạnh phúc của Thiên Tính đổ xuống trên Người. Đàng khác, tác động của tội lỗi tràn ngập trên Người, sự ô nhơ mà Người nhận lấy với sự nhạy cảm tinh tế. Không có một loại giấy thấm nào có thể hút lấy và xoá hết tì vết của tội lỗi một cách hữu hiệu cho bằng sự nhạy cảm của Chúa Ki-tô, khi Người nhận lấy tội lỗi. Vậy có một sự đối lập nơi Người trong cuộc chiến đấu này.

Sự cầu nguyện đau khổ trong vườn Ghết-sê-ma-ni

Có thể nói cao điểm của cuộc chiến đấu của Chúa Giê-su xảy ra tại vườn Ghết-sê-ma-ni. Trước đó, Người trả lời cho những người đến để bắt Người: “Đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm”[24]. Người để cho những thế lực tối tăm như là tội lỗi, hận thù, ghen ghét với Thiên Chúa được tự do hoành hành. Nơi Người không còn sự kết hợp của Ngôi Vị, sự chiêm niệm Thiên Chúa sao? Vâng, vẫn còn đó. Nhưng Người để cho tội lỗi, quyền lực, sức mạnh của sự dữ bao vây Người, tấn công vào các giác quan, cơ thể, sự nhạy cảm, ý tưởng tượng, sự hiểu biết của Người. Nói tóm lại, chúng tấn công trên toàn thể nhân tính của Người.

Chúng ta có thể nói rằng Chúa Ki-tô, trong lúc ấy vẫn vui hưởng thị kiến trực giác, chiêm ngắm Thiên Chúa, nhưng đồng thời chịu sự đau khổ mà hoả ngục gây nên. Chính địa ngục tấn công Trời Cao, và chiến trường của cuộc chiến này xảy ra tại nơi nhân tính của Chúa Ki-tô. Hiển nhiên, có một sự bùng vỡ (éclatement) nơi nhân tính của Người, mồ hôi có pha trộn với máu chảy ra[25]. Chúa Ki-tô sấp mặt xuống đất và thốt ra những lời khẩn thiết cầu xin: đây là sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô.

Sự đau khổ nơi vườn Ghết-sê-ma-ni như dồn Người vào chỗ tuyệt vọng. Bởi vì Chúa Ki-tô, Đấng có thể mang nổi sức nặng của Thiên Tính lại cảm thấy yếu đuối, nên Người sấp mặt xuống đất cầu nguyện và kêu cầu các Tông Đồ đến trợ giúp: “Anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao?”[26]. Người ở đây như một kẻ lang thang, đi từ nơi Người đang cầu nguyện đến nơi Người để các Tông Đồ ở lại, để tìm kiếm sự trợ giúp; và Thiên Chúa sai một thiên sứ đến an ủi Người.

Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện

Chính lời cầu nguyện đau khổ của Chúa Ki-tô, một thứ đau khổ chịu đựng sự tấn công của hoả ngục chống lại Trời Cao nơi Người, lại có hiệu năng cứu độ. Thánh Phao-lô nói rằng: Hiện tại Chúa Ki-tô trên trời không còn chết nữa[27], nhưng còn để lại cho Giáo Hội sự đau khổ, gây nên do sự đối lập giữa tội lỗi và Thiên Tính. Người để lại cho các Ki-tô hữu việc chăm sóc và thực hiện sự cầu nguyện hiệp nhất, sự cầu nguyện đau khổ của vườn Ghết-sê-ma-ni.

Nơi đây, không phải là một sự hành hạ bình thường mà người ta phải chịu đựng để thanh luyện, mà còn là sự đau khổ tiếp tục công trình cứu độ, sự đau khổ mà Giáo Hội và các tâm hồn còn phải chịu đựng để bổ túc cho những gì còn thiếu sót nơi cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô[28]. Công phúc cứu độ của Chúa Ki-tô tử nạn là vô cùng, nhưng còn thiếu một điều gì đó của việc áp dụng ơn cứu độ cho các linh hồn.

Giáo Hội của Chúa Ki-tô phải sống Chúa Ki-tô toàn thể, phải làm cho mình được hiệp nhất, nghĩa là phải cầu nguyện hiệp nhất. Giáo Hội cũng phải hoạt động và thi hành nhiệm vụ chính yếu của mình, nhiệm vụ cứu chuộc. Giáo Hội sẽ làm việc này trong cầu nguyện đau khổ. Nếu như Giáo Hội có bổn phận tiếp tục sứ mạng của Chúa Ki-tô, sẽ phải thực hiện điều này bằng hoạt động và tiếp tục cầu nguyện trong đau khổ. Điều này được thực hiện trong tầm mức lớn lao hơn nhiều.

Nơi đây chúng ta chạm tới việc cầu nguyện chiêm niệm, sự cần thiết của các đan viện, và cần thiết của chiêm niệm. Các bậc vĩ nhân của chiêm niệm như thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la, Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, các ngài đã làm gì? Các ngài tiếp tục cầu nguyện của vườn Ghết-sê-ma-ni. Thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la nói rằng, ngài đã đã trải qua nhiều năm, hầu như mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ, ngài nhìn đến Chúa Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-ni và tái diễn trong tâm trí hình ảnh này[29].

Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su cũng làm giống như thế. Chị mang trong mình, nhất là vào cuối đời, trận đấu giữa tội lỗi, sự bất tín, tính kiêu căng, chống lại với sự thánh thiện và ân sủng[30]. Đương nhiên, thánh nữ không giống được hoàn toàn như Chúa Ki-tô, vì không có ơn ngôi hiệp, cho dầu chị đã đạt tới đỉnh cao thánh thiện. Chị không mang tội trần gian, nhưng gánh lấy tội lỗi của thời đại của mình. Và bởi vì chị đã làm như thế – làm giấy thấm mực của vết nhơ tội lỗi – nên chị đã cộng tác vào công trình cứu chuộc của Đấng Cứu Thế. Đó là ích lợi của cầu nguyện, sự cầu nguyện hiệp nhất và đau khổ, ích lợi của việc tông đồ bằng cầu nguyện, và nhất là bằng đau khổ.

NHỮNG CHÂN LÝ CAO CẢ CỦA KI-TÔ GIÁO

Xin cho phép chúng tôi kết luận cho những cuộc đàm thoại này. Chúng ta không cần phải được soi sáng hoàn toàn về mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Chúng tôi đã nói về những khía cạnh soi sáng, những tia sáng chiếu vào trong bóng đêm cho phép chúng ta hiểu về sự cầu nguyện của Chúa Ki-tô, cho thấy một cách tạm đủ về sự cầu nguyện và ích lợi của nó. Từ đó chúng ta sẽ rút ra một vài kết luận thực tiễn.

Hoạt động căn bản

Trước tiên, chúng ta cần phải chuyên cần cầu nguyện, đừng làm như những Ki-tô hữu cho rằng, sau khi đã đọc một ít kinh ban sáng và ban chiều, sau khi đã tham dự một cách sốt sắng hay qua loa Thánh lễ ngày Chúa Nhật, là đã chu toàn bổn phận cầu nguyện của người Ki-tô hữu.

Sự sống đích thực của chúng ta, sự sống đời đời là sự kết hợp với Thiên Chúa, và chúng ta sống trên trần gian để thực tập cho đời sống mai sau trên trời. Nếu chúng ta lên trời mà chúng ta không biết cầu nguyện, có lẽ cần phải học lại, và coi chừng sẽ không mở được cánh cửa Thiên đàng để đi vào, bởi vì chúng ta chưa biết cách mở ra. Đây là nghề nghiệp mà người ta không học trên Thiên đàng! Chúa nhân lành sẽ nói rằng: từ bấy lâu nay con đã có ơn thánh sủng, những phương thế để cầu nguyện, thế mà tại sao con đã không thi hành? Con đã làm hư mất nén bạc quý giá này và không làm cho nó được sinh lợi lộc[31].

Đời sống Ki-tô hữu không nguyên là tuân giữ lề luật luân lý. Nó không chỉ hệ tại không được làm điều này, tránh điều nọ, nhưng nó hệ tại thi hành những điều tích cực. Người ta làm phát triển đời sống của mình, không những đề phòng cho bản thân không lây nhiễm bệnh tật gây ra bởi các vi trùng, vi khuẩn, nhưng còn làm cho nó tăng trưởng bằng việc tập luyện thể dục và duy trì sự sống bằng thực phẩm lành mạnh, bổ dưỡng. Năng lượng đem lại sự sống cho người Ki-tô hữu chính là ơn thánh sủng, ơn làm con Chúa. Do đó, ngay từ đời này, chúng ta thi hành nhiệm vụ làm con Chúa bằng đức tin, tuy chưa được hoàn hảo, nhưng thực sự đã có như vậy. Nhiệm vụ này hệ tại sự thi hành việc kết hợp với Chúa Ki-tô, và nhờ Người mà kết hợp với Chúa Cha trong cùng một làn hơi thở của Tình Yêu, nghĩa là làn hơi của Chúa Thánh Linh như thánh Gio-an Thánh Giá đã nói[32]. Đó chính là bổn phận cốt yếu của chúng ta.

Xin cho phép chúng tôi được nhấn mạnh: vào thời đại của chúng ta, ngay cả những Ki-tô hữu tốt lành cũng hướng về những nhiệm vụ tuy quan trọng, nhưng vẫn là thứ yếu và phụ thuộc. Một đôi khi người ta nghĩ rằng hễ là Ki-tô hữu, thì việc cốt yếu cần làm là việc bác ái, nhất là bác ái xã hội. Sự giải thích này không đúng đối với Tin Mừng. Việc bác ái xã hội phải được bao gồm trong những bổn phận của chúng ta.

Bác ái, chính là điều làm cho chúng ta hiệp nhất với Thiên Chúa. Nếu như Chúa Giê-su đòi hỏi chúng ta phải bác ái đối với tha nhân vì Người muốn chúng ta siêu nhiên hoá bác ái, nghĩa là nhìn đến tha nhân như là hiện diện của Thiên Chúa. Nên chúng ta thi hành những việc bác ái là để dẫn đưa tha nhân đến những công việc cốt yếu của bổn phận làm con cái Thiên Chúa và dẫn đưa họ tiến vào trong Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Việc bác ái này phải nhắm đến mục đích làm tông đồ: thúc động tha nhân đi đúng đường đúng lối, không những đến với Thánh lễ ngày Chúa Nhật, nhưng còn phải chỉ dẫn cho họ con đường đi đến với Chúa Ba Ngôi.

Vậy chúng ta hãy đặt sự cầu nguyện này vào đúng vị trí phải có trong đời sống chúng ta. Chắc hẳn chúng ta phải tìm lại bầu khí và ánh sáng của các Ki-tô hữu thuộc các thế hệ đầu tiên: ánh sáng lớn lao chiếu soi cho đời sống cá nhân, đời sống gia đình, đời sống xã hội, chính là giáo lý về Chúa Ba Ngôi và sự sống của Người.

Điều này không dành riêng cho một số nhà chuyên môn có dư thời gian, hay cho một số nam tu, nữ tu yêu thích nó. Đây là chân lý Ki-tô giáo, đây là sự sống của gia đình chúng ta, sự sống thâm sâu, sự sống rất đơn giản của Ki-tô hữu. Bởi vậy chúng ta phải cung cấp phương tiện cho con cái, nghĩa là dạy dỗ và qui hướng chúng về sự sống của Chúa Ba Ngôi mà chúng ta phải tham dự vào, và cũng là mục đích của cuộc đời chúng ta. Chúng ta phải tập luyện sự hiệp nhất, thúc đẩy sự sống của gia đình, xã hội, cá nhân hướng về mục đích này: tham dự vào sự sống của Chúa Ba Ngôi.

Sự cầu nguyện cứu độ

Sau đó, nếu muốn cứu độ thế gian, chắc chắn chúng ta cần làm điều này: cầu nguyện, năng động làm việc tông đồ như Chúa Ki-tô đã làm, Người đã cống hiến ba năm để thực hiện điều này. Và cuối cùng, Người đã chịu đau khổ và cầu nguyện trong đau khổ để cứu độ thế giới. Phương thế hữu hiệu và cần thiết để cứu thế giới là mang lấy tội lỗi của nó, không chỉ với sự đồng cảm của tình người, nhưng còn với tình thương của Ki-tô hữu, nghĩa là làm cho chính mình được thấm nhập bởi Thiên Chúa và hiệp nhất với Chúa Ki-tô, Người làm cho chúng ta có khả năng mang lấy tội lỗi của tha nhân một cách có hiệu quả và sinh ơn cứu độ. Chúng ta phải có khả năng mang lấy tội lỗi của những con người sống xung quanh và những anh chị em sống gần chúng ta.

Chắc chắn, chúng ta có bổn phận an ủi những người đau khổ, cho kẻ đói ăn, kẻ khát uống, và cho kẻ vô gia cư một mái nhà. Điều này đúng là phải làm như thế. Nhưng tôi tin rằng, mối bận tâm lớn lao của chúng ta là đem Thiên Chúa, của ăn đích thực đến cho họ; đem Chúa Ki-tô cho họ, Người là nước uống chân thật chảy ra từ tảng đá[33]; và cung cấp cho các tâm hồn, không phải là mái ấm chóng qua trên trần gian, nhưng là một nơi cư ngụ trong Ba Ngôi Chí Thánh, nơi đây họ sẽ sống đời đời.

Đó là những gì mà các chân lý Ki-tô giáo nói với chúng ta, không phải là những sự thật chỉ được loan báo cho một số người, hay cho một nhóm người ưu tuyển nào đó, nhưng là chân lý của Ki-tô giáo và chỉ có thế mà thôi (c’est la vérité chrétienne tout court).

Chúng ta hãy ghi nhớ những chân lý này. Tôi cầu xin Đức Trinh Nữ Ma-ri-a chuyển cầu cho chúng ta điều này, vì Mẹ đã sống chân lý này một cách sâu xa: Mẹ đã gìn giữ lời giảng dạy của Chúa Giê-su, đã sống ẩn khuất trong cô tịch trong khi Người còn cả một thế giới cần được hoán cải. Đức Ma-ri-a đã đi vào với sứ mạng làm trung gian, đã đi vào trong cô tịch để tiếp tục đời sống đích thực và thâm sâu của Chúa Ki-tô, đời sống cầu nguyện trong thinh lặng.

Tôi cũng cầu xin thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, Tê-rê-sa A-vi-la và Gio-an Thánh Giá, các ngài đã chỉ bảo và nhắc lại những chân lý cao cả của Ki-tô giáo: xin các ngài đặt những chân lý này vào tận đáy lòng chúng ta mà các ngài đã nhân danh Giáo Hội nói với chúng ta là những người đang trải qua những hoàn cảnh khó khăn.

Chúng ta cảm nhận được thế giới này đang bị khống chế bởi thế lực của sự dữ và có thứ tội lỗi rất gần chúng ta, đã hiện diện nơi chân trời với sức mạnh của những con người được tổ chức một cách khéo léo, đáng phục. Trong kế hoạch hành động trên thể lý, ngay cả trên tâm lý, tình cảm, ma quỷ sử dụng sức mạnh trổi vượt hơn chúng ta, và bình thường nó đã đạt tới những chiến thắng, ít ra là bề ngoài. Làm thế nào để có thể chiến thắng nó? Chúng ta chỉ thắng được nhờ những phương thế siêu nhiên. Trước khi chịu khổ nạn, Chúa Giê-su nói: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói… họ sẽ giết anh em”[34]. Người đưa ra một chương trình, loan báo cho các Tông Đồ những gì xem ra làm nản lòng: “Trong thế gian, anh em phải gian nan khốn khó nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian”[35]. Người đã chiến thắng như thế nào? Người đã thắng bằng cách gánh lấy tội lỗi trên Người và bằng cầu nguyện.

Hiện thời đối diện với những nguy hiểm đang rình rập, đâu là đối tượng mà chúng ta đặt trọn niềm hy vọng? Đương nhiên là Chúa Ki-tô, và lời chuyển cầu của Người, Người hằng sống ở trên trời để cầu nguyện cho chúng ta[36]. Chúng ta hãy cầu nguyện nhờ lời chuyển cầu Người, vì Người luôn sống động trong Giáo Hội.

Chúa Thánh Linh đang ngự trong tâm hồn chúng ta, Người đang làm gì? Thánh Phao-lô Tông Đồ với một cảm quan nhạy bén, đã lắng nghe, hiểu biết, và luôn luôn cầu nguyện bằng những tiếng rên siết khôn tả[37]. Đối với chúng ta, cần phải làm gì để bảo đảm không những cho phần rỗi của mình, mà còn cho phần rỗi của các Ki-tô hữu và toàn thế giới? Đó là tìm cách làm cho lời cầu nguyện của chúng ta, hoạt động của chúng ta hiệp nhất với lời cầu nguyện của Chúa Thánh Linh đang ngự trong tâm hồn chúng ta, hiệp nhất với lời cầu nguyện luôn luôn linh nghiệm của Chúa Ki-tô trên trời. Như thế chúng ta sẽ đem lại chiến thắng cho chính chúng ta, cho anh em chúng ta và toàn thế giới.

 

DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚA THÁNH LINH

XÂY DỰNG NƯỚC TRỜI

Tác động của Chúa Thánh Linh trong thời đại chúng ta

Xem ra Chúa Thánh Linh đang sống trong Giáo Hội, chỉ biểu lộ quyền năng và sự hiện diện của Người một cách rõ ràng hơn bao giờ hết, khi các quyền lực đối lập với Người đang muốn huỷ diệt và xua đuổi Giáo Hội. Khi thánh Phao-lô than vãn vì bị Sa-tan vả vào mặt, Chúa trả lời: “Ơn của Thầy đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”[38]. Do bởi lời này soi sáng, và trải nghiệm cá nhân, thánh Phao-lô quả quyết: “Vì vậy tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”[39].

Chỉ cần đọc qua lịch sử của Giáo Hội, cách riêng những cuộc bách hại Ki-tô giáo vào những thế kỷ đầu tiên, hay các thế kỷ XVI và XVII, để thấy quy luật hoạt động này của Chúa Thánh Linh ứng nghiệm trong Giáo Hội.

Chắc chắn, còn quá sớm để đưa ra một phán quyết tối hậu về thời đại chúng ta. Chúng ta cảm nhận được những gì làm cho Giáo Hội đau buồn trong thời gian này: các con chiên bỏ đạo xem ra càng lúc càng gia tăng, những cuộc chiến gay gắt có liên quan đến chúng ta, những lo sợ mà những người CS gây nên. Họ phấn khởi vì những thành quả và được trang bị bởi sự cuồng tín, nên tìm cách huỷ hoại cả một nền văn minh Ki-tô giáo, và đã có hàng trăm triệu người bị siết chặt dưới gọng kìm quyền lực của họ. Tuy nhiên chúng ta đừng để cho những đe doạ này làm cho sợ hãi và tâm trí bất an, mù quáng, cản trở chúng ta khám phá ra và thẩm định được giá trị đích thực ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh trên thời đại chúng ta, cũng như ngăn cản chúng ta nhìn thấy những nhu cầu của con người hướng về tuyệt đối, những mong ước hướng tới đời sống thiêng liêng thâm sâu và việc tông đồ mà Người đã tác tạo nên và duy trì nó trong các tâm hồn.

Các hiệp hội mới do Chúa Thánh Linh làm phát sinh trong lòng Giáo Hội có thêm nhiều người gia nhập. Những cộng đoàn này đem lại cho họ những phương thế để tìm kiếm một cuộc sống hoàn hảo, cống hiện cho việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Đây là một mùa Xuân mà làn gió tươi mát đầy sức sống của Chúa Thánh Linh đang thổi lên lúc này trong lòng Giáo Hội. Hơi thở mang sức sống này – làn gió mát của Chúa Thánh Linh – đem lại sinh khí và nhựa sống làm nhú lên những mầm chồi mới, trổ sinh những bông nụ đầy hứa hẹn và nở bung ra, nhưng nó cũng gây nên sự chết chóc và gương mù gương xấu. Cụ già Si-mê-on bồng ẵm Hài Nhi Giê-su trên cánh tay vào ngày Đức Ma-ri-a dâng Người vào đền thánh, tiên báo Người sẽ là ánh sáng cho các dân tộc và vinh quang cho Ít-ra-en. Người là căn cớ gây chia rẽ, sa ngã, nhưng đồng thời là nguyên nhân làm cho nhiều người được trỗi dậy[40].

Thiên Chúa ban những ơn cao cả và những ơn thông thường. Nhưng những ơn ban của Người nhằm mục đích cứu độ chúng ta, và nếu sử dụng không tốt, có thể trở nên căn nguyên làm hư mất. Sẽ là đau xót và tế nhị khi áp dụng điều này vào trong thực tế. Tuy nhiên, chúng ta cần biết và có bổn phận nói lên rằng, có những tâm hồn quảng đại chân thành, xem ra được làn hơi của Chúa Thánh Linh nâng đỡ nhưng đã bị lầm lạc. Chúng ta vẫn duy trì tâm tình yêu mến và cầu nguyện cho họ, nhưng phải tránh đi vào trong những sai lầm của họ.

Giáo Quyền có trách nhiệm hướng dẫn chúng ta trên những con đường khó khăn, đôi khi nguy hiểm, khi sử dụng ơn linh hứng của Chúa Thánh Linh, nghĩa là Giáo Quyền có bổn phận xác định ý nghĩ và ý muốn của Thiên Chúa về thời đại và cho mỗi người chúng ta. Đức Thánh Cha thi hành điều này bằng các Tông huấn sáng suốt bàn về tất cả mọi vấn đề có liên quan tới chúng ta. Các Mục tử đưa ra những chỉ dẫn thực tế cho việc tông đồ. Bổn phận của Ki-tô hữu là vâng phục những giáo huấn và những chỉ thị của Giáo Hội.

Bổn phận vâng phục không chuẩn chước cho chúng ta việc học hỏi để hiểu rõ những hướng dẫn của Giáo Hội, đồng thời nhận ra ý muốn của Thiên Chúa được biểu lộ ra trong Thánh Kinh, trong truyền thống của Ki-tô giáo, đặc biệt nơi truyền thống của các Tông Đồ. Chúa Thánh Linh đang sống trong Giáo Hội, người ta sẽ gặp thấy Người hiện diện trong các thành phần của Giáo Hội, trong mỗi tâm hồn chúng ta. Chúng ta có thể đặt hết tín nhiệm trên sự giúp đỡ của Người cho việc tìm kiếm và học tập, với sự tôn trọng quyền bính mà Người đã thiết lập và ban cho Giáo Hội.

Trong bài thuyết trình này, chúng tôi sẽ không trình bày điều gì khác hơn là việc truyền giáo, một trong những vấn đề tế nhị của thời đại chúng ta với tinh thần hoàn toàn vâng phục Giáo Hội. Chúng tôi không muốn tranh luận về tầm mức quan trọng của các phương pháp làm việc, hay bàn đến tất cả mọi vấn đề có liên quan, nhưng chỉ xin nhắc lại những chân lý nền tảng soi sáng cho vấn đề được rõ ràng và một đôi khi bị lãng quên.

I. –MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC TÔNG ĐỒ

Thống chế Foch khi đứng trước một vấn đề quân sự cần được giải quyết, thường đặt ra câu hỏi này cho chính mình và cho thuộc hạ: “Điều này có ý nghĩa gì”. Nói cách khác, đâu là tình thế và mục đích mà các ông muốn đặt ra? Câu hỏi xem ra tầm thường, nhưng nếu không đặt ra người ta liều mình rơi vào tình trạng rối mù.

Vậy, khi bàn về việc truyền giáo, chúng ta hãy đặt câu hỏi: nó có ý nghĩa gì? Và khi đã xác định vấn đề, chúng ta hỏi tiếp: Đâu là mục đích muốn nhắm tới? Người ta phải thi hành việc đó trong những điều kiện thông thường và thực tế như thế nào? Trong bài thuyết trình thứ hai này chúng tôi sẽ bàn về vấn đề truyền giáo hệ tại nơi điều gì và nó được định nghĩa như thế nào. Sau đó, chúng ta sẽ nói về những phương thế riêng biệt để làm việc tông đồ. Chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề này dựa trên ánh sáng của Tin Mừng, dựa gương mẫu và giáo huấn của các Tông Đồ.

Chúa Giê-su đến trần gian xây dựng Nước Trời

Đâu là mục đích của việc tông đồ? Việc tông đồ hệ tại sự tiếp tục công việc mà Chúa Giê-su và các Tông Đồ đã thực hiện trong Giáo Hội. Người đã làm gì? Người đến trần gian để xây dựng Nước Thiên Chúa.

Vậy mục đích của việc tông đồ là thiết lập Nước Thiên Chúa. Thánh Gio-an Tẩy Giả có sứ mệnh chuẩn bị cho việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Ki-tô, và ngài loan báo Nước Thiên Chúa đã gần kề[41]. Ngài kêu gọi sám hối và làm việc lành để sửa soạn cho vương quốc của Thiên Chúa, bởi vì người ta chỉ có thể đi vào đó bằng những phương thế này.

Phần nhiều giáo huấn của Chúa Giê-su đề cập đến vấn đề Nước Thiên Chúa. Người đưa ra những lề luật, những đòi hỏi, và đặc biệt dùng các dụ ngôn để thuyết giảng về Nước Thiên Chúa. Không ai có thể nghi ngờ việc Chúa Giê-su đến trần gian để thiết lập Nước Trời. Các Tông Đồ mong muốn trở thành những Bộ trưởng của quốc gia này, và ngay cả trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời Chúa Cứu Thế[42], họ vẫn tranh luận xem ai là người được tuyển chọn vào chức vụ quan trọng[43].

Dưới ách thống trị của đế quốc Rô-ma trên toàn vùng Giu-đê-a, trước quan toàn quyền Phi-la-tô, Chúa Giê-su tuyên bố người là Vua[44]. Đó là lý do làm cho Người bị lên án tử hình. Người ta sẽ viết trên thập giá của Người: Giê-su thành Na-da-rét là Vua người Do Thái (INRI: Jesus Nazarenus Rex Judaeorum)[45].

Nước Trời là sự sống của Chúa Ki-tô trong chúng ta

Chúng ta tiếp tục theo dõi vấn đề này và đặt câu hỏi: Nước Trời là như thế nào mà Đức Ki-tô đến trần gian này để kiến tạo?

Trước tiên, chúng ta nhớ lại lời tuyên bố của Chúa Giê-su trước viên toàn quyền Phi-la-tô để hiểu rằng Nước của Người không phải ở trần gian này. Sau khi xác quyết mình là Vua, Người thêm: “Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thực ra Nước tôi không thuộc chốn này”[46]. Đây là lời tuyên bố rõ ràng để chúng ta đừng nghĩ rằng vương quyền của Chúa Ki-tô hay của Thánh Tâm Người thuộc về thế gian này.

Các Tông Đồ vẫn mơ tưởng về huyền thoại Nước của Chúa Giê-su ở trần gian, nên họ vẫn nuôi hy vọng trở thành những nhân vật quan trọng trong quốc gia đó, và Người cũng làm thinh không trả lời cho câu hỏi mà họ nêu lên cho Người về vấn đề này trước khi lên Trời[47]. Thế nhưng, tổng lãnh Thiên Thần Gáp-ri-en đã loan báo cho Đức Trinh Nữ Ma-ri-a: người con bà sinh ra sẽ ngự trị trên ngai vàng của Đa-vít và Nước của Người sẽ vô cùng vô tận[48].

Để giải thích cho sự mâu thuẫn bên ngoài giữa lời hứa và việc thực hiện, chỉ cần nhớ lại rằng ngôn ngữ của loài người không diễn tả được một cách rốt ráo những gì thuộc lãnh vực siêu nhiên. Chúa Thánh Linh và các nhà thần học chỉ có thể nói về những điều siêu nhiên và thiêng liêng cho con người bằng những dụ ngôn, bằng những kiểu so sánh tương đồng (analogies). Chúng ta đã không làm như thế sao khi muốn giải thích cho con cái, cho người đối thoại về những điều họ không biết hay chưa bao giờ được xem thấy? Chúng ta sẽ đưa những thí dụ, những chuyện dụ ngôn, những ý tưởng đã biết để cố gắng dùng những điều đã biết để giải thích cho những gì chưa biết.

Khi Chúa Giê-su nói: “Nước Thiên Chúa giống như hạt giống”[49], Người không có ý khẳng định về một sự giống nhau hoàn toàn giữa Nước Trời và hạt giống, mà chỉ muốn nói lên một đặc tính giống nhau nào đó của chúng mà dụ ngôn muốn nhấn mạnh. Cũng giống như thế, chúng ta sẽ nói rằng Nước Thiên Chúa mà Chúa Giê-su đến để thiết lập không phải là một quốc gia như người ta thường quan niệm, mặc dầu đó là một vương quốc đích thực.

Vậy Nước Thiên Chúa là như thế nào? Chúng ta nhờ thánh Phao-lô trả lời. Ngài là một đại thần học gia của Chúa Ki-tô. Ngài tuyên bố mình là người loan truyền mầu nhiệm lớn lao được ẩn dấu qua bao thế hệ, mà nay được bày tỏ ra và thực hiện[50]. Người ta chỉ có thể hiểu được mầu nhiệm Nước Thiên Chúa được trình bày bằng dụ ngôn. Còn chính thánh Phao-lô sẽ cho chúng ta biết về những gì ngài đã được mặc khải. Ngài nói rằng: Thiên Chúa đã tạo dựng muôn loài nhờ Ngôi Lời của Người. Nhưng con người của Vườn Địa Đàng đã sa ngã nên làm đổ vỡ tất cả, bởi vậy Thiên Chúa quyết định tái tạo mọi sự nhờ bởi Ngôi Lời Nhập Thể của Người.

Thiên Chúa đã muốn “làm cho tất cả mọi sự viên mãn hiện diện nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”. Thiên Chúa đã đặt Ngôi Lời trên tất cả mọi sự và: “đặt Người làm đầu Hội Thánh, là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người”[51]. Qua những lời nói trên, thánh Phao-lô trình bày cho chúng ta thấy tất cả chương trình của mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ, cũng như việc xây dựng Hội Thánh.

Chúa Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể đến để cứu độ, chuộc tội cho chúng ta bằng hy tế của đồi Can-vê. Máu Thánh Người đổ ra là máu của Giao Ước mới giữa Thiên Chúa và con người. Máu này thanh tẩy và trở nên sự sống cho chúng ta. Chúa Giê-su Ki-tô với tư cách là Ngôi Lời, Người ban ánh sáng, sự sống và ân sủng cho chúng ta; với tư cách là Đấng Cứu Thế, Người thanh luyện chúng ta. Chúng ta nhận lấy sự sống và ân sủng này một cách đặc biệt nhờ bởi các Bí tích, đặc biệt nhờ bởi bí tích chính yếu trong các Bí tích: Bí tích Hiệp Thông (Thánh Thể). Sự sống của Chúa Ki-tô đổ vào trong tâm hồn khi chúng ta chịu phép Thanh Tẩy, được phát triển từ từ; bởi vì sự sống ấy là Đức ái kết hợp và đồng hoá chúng ta với Chúa Ki-tô, làm nên một mối dây liên kết rất chặt chẽ giữa Người và chúng ta. Trong mọi lúc, Chúa Ki-tô đổ tràn sự sống của Người vào linh hồn chúng ta, Người hợp nhất mật thiết với chúng ta đến nỗi làm nên một thực tại mới là Giáo Hội, Thân Mình mầu nhiệm, Chúa Ki-tô toàn thể.

Chúa Ki-tô liên kết chúng ta với Người, vậy chúng ta là sự viên mãn, sự kéo dài của Người, là vương quyền của Người trong tâm hồn chúng ta, bởi vì chúng ta đã nên một với Người. Người thật là vua chúng ta: Chúng ta sống dưới quyền của Người, dưới sự tác động của Người và trở nên thần dân của Người. Chúa Ki-tô là vua, là thầy, là tất cả của chúng ta. Những điều này được thánh Phao-lô diễn tả ra bằng văn phong sống động của ngài[52].

Nước Trời chính là Đức Ki-tô toàn thể, là Giáo Hội. Vương quốc này có tính chất thiêng liêng vì được Chúa Ki-tô thiết lập, và do bởi sự sống, ân sủng mà Người đổ tràn vào trong tâm hồn chúng ta. Vương quốc này thiêng liêng, bởi lẽ Chúa Thánh Linh là hồn sống của Giáo Hội và làm cho Giáo Hội sống động.

Nước Trời tăng trưởng trong những điều kiện cụ thể của cuộc sống

Nhưng Giáo Hội phải được thiết lập ra bên ngoài, giống như một xã hội bình thường với một tổ chức hoàn hảo, có mọi quyền hành như một xã hội hoàn hảo, để cho Thân Thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô thích nghi với điều kiện cuộc sống con người, và để chu toàn sứ mệnh của Người nơi chúng ta và trong lòng thế giới. Giáo Hội là một xã hội hữu hình, có sứ mệnh dẫn đưa các tâm hồn đến mục đích tối hậu, có nhiệm vụ quy tụ họ về với Thiên Chúa khi dẫn đưa họ đến với Chúa Ki-tô, duy trì họ được hiệp nhất với Người, và cần phải hoạt động trong thế giới này. Giáo Hội có những luật lệ để có thể tận dụng ưu thế của mình khi so sánh với những xã hội có tổ chức khác, vì Giáo Hội có tính phổ quát và siêu việt xét theo nhiệm vụ được trao phó. Vậy Nước Thiên Chúa chính là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, một xã hội hữu hình.

Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô luôn luôn ở trong tình trạng xây dựng, không ngừng được xây dựng và còn được tiếp tục xây dựng mãi cho đến lúc tận cùng của thế giới, bao lâu sự sống của con người còn được kéo dài, bởi vì Giáo Hội hiện hữu vì nhân loại và dẫn đưa họ đến với Chúa Ki-tô và đến với ơn cứu độ. Việc truyền giáo mà các Tông Đồ đã khởi đầu, phải được tiếp tục cho đến thời kỳ cuối cùng. Việc tông đồ này có mục đích xây dựng Thân Thể mầu nhiệm Chúa Ki-tô cho đến tận thế, và như thánh Phao-lô đã nói, cho tới khi đạt đến tầm mức hoàn hảo của con người, tầm mức mà Thiên Chúa ngay từ thuở đời đời đã muốn về nó[53]. Đó chính là vương quốc của Thiên Chúa được diễn tả qua những ngôn từ của con người.

II. – NHỮNG TÌNH TRẠNG CỦA CUỘC CHIẾN THIÊNG LIÊNG

Nước Thiên Chúa được phát triển qua các hoàn cảnh của cuộc sống. Một trong những tình huống quan trọng được Đức Ki-tô tiên báo là Nước Trời đang khi phát triển và xây dựng sẽ bị kẻ thù nghịch quấy rối, nó chính là kẻ gieo cỏ lùng vào ruộng lúa sau khi hạt giống tốt đã được gieo vào, và trong khi người ta đang nghỉ ngơi[54]. Nước Trời sẽ bị quấy rối bởi quyền lực của sự dữ, của Sa-tan, và chính nó cũng có vương quốc. Khi nói về vương quốc của Sa-tan cũng như nói về vương quốc của Chúa Ki-tô vừa được đề cập tới, người ta không nên hiểu theo nghĩa đen, nhưng nói một cách đơn giản “vương quốc” ám chỉ đến một sự thực thi quyền hành nào đó trên con người.

Sức mạnh đáng sợ

Vương quốc của Sa-tan như thế nào? Tin Mừng nói cho chúng ta biết về sự hiện diện của ma quỷ. Có khi người ta giả vờ như không tin vào sự hiện hữu của nó. Còn trường hợp ngược lại, người ta thấy nó khắp mọi nơi. Sa-tan là ai? Là thiên thần sa ngã và trở nên quyền lực của sự ác. Là thiên thần sa ngã, nó vẫn là thụ tạo thiêng liêng, và có sự thống trị nào đó trên vật chất. Nó có lý trí sáng suốt, trí tuệ thủ đắc những kinh nghiệm, một thứ tri thức thực nghiệm nào đó.

Bởi vậy, sức mạnh của ma quỷ thật đáng sợ, và đáng sợ cả về số đông. Chúng liên minh với nhau để chống lại sự xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Thiên Chúa đã và đang muốn để cho ma quỷ thi thố sức mạnh đối kháng của nó.

Chúng ta nhớ lại dụ ngôn cỏ lùng và hạt giống tốt trong Tin Mừng. Hạt giống tốt được người thợ gieo xuống, còn kẻ thù thừa cơ đêm tối gieo cỏ lùng vào cùng một thửa ruộng. Khi cả hai mọc lên, các đầy tớ báo cho ông chủ biết cỏ lùng đang mọc lên trong cánh đồng của ông. Họ đề nghị cho nhổ đi, nhưng ông từ chối và nói rằng: nên để cho cỏ lùng và lúa tốt cùng mọc lên. Như thế hạt giống tốt sẽ phát triển và lớn mạnh nhờ sự kèn cựa cạnh tranh của cỏ lùng. Đến mùa gặt, các đầy tớ sẽ được lệnh phân tách hai thứ ra. Trong khi chờ đợi, chúng phải mọc lên bên nhau, đó là lời khuyên của Chúa Giê-su. Chúng ta đừng xin Chúa diệt trừ ma quỷ, chúng có vai trò đã được Thiên Chúa tiền định (il a son rôle providentiel).

Thánh Gio-an Thánh Giá còn đi xa hơn. Khi chú giải sách Gióp, ngài nói rằng Thiên Chúa ban cho ma quỷ một số kiến thức nào đó, một số phương thế để cám dỗ người công chính. Thí dụ, ngài nói rằng, một tâm hồn nhận được những đặc ân siêu nhiên, Thiên Chúa cho ma quỷ biết điều này để nó có thể bắt chước và làm giả mạo[55]. Đó là đôi điều chỉ dẫn quý báu. Ma quỷ có một vai trò đã được an bài.

Trận chiến của Chúa Giê-su

Để hiểu rõ sự chống đối, tác động của ma quỷ trên Giáo Hội và thế giới nhằm làm cản trở sự phát triển của Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, chúng ta đừng tìm đến những chuyện ly kỳ nào khác mà chỉ cần đọc Phúc Âm và sẽ gặp thấy những lời mô tả về những công việc của chúng.

Chúng ta thấy gì nơi đời sống của Chúa chúng ta? Khi Người sống âm thầm tại Na-da-rét, không thấy ma quỷ xuất hiện. Chúng có ở đó không? Có lẽ có. Chúng có biết Đức Giê-su là Con Thiên Chúa không? Các Giáo phụ và Tiến sĩ của Hội Thánh có tranh luận nhiều về vấn đề này, nhưng đó là một vấn đề không có giải đáp chắc chắn.

Nhưng đây Người rời bỏ Na-da-rét và đi vào sa mạc, ăn chay và cầu nguyện để chuẩn bị cho cuộc sống công khai. Chúa Thánh Linh thúc đẩy Người đi vào đó[56]. Người ta thấy gì trong sa mạc? Nơi đây đương nhiên có Thiên Chúa: người ta đi vào sa mạc để tìm gặp Người. Nhưng nơi đây còn có quỷ dữ, chúng vây quanh Đức Giê-su và tự hỏi con người này là ai, là hạng người nào mà đi vào trong sa mạc, ăn chay suốt 40 đêm ngày và mải miết cầu nguyện. Lúc đó nó được quyền cám dỗ Chúa.

Tin Mừng kể lại chi tiết câu chuyện cám dỗ Chúa Giê-su, và chắc chắn trở nên bài học cho chúng ta. Các Thánh sử, đặc biệt thánh Mát-thêu trình bày cho chúng ta thấy có một tiến trình trong việc cám dỗ của ma quỷ, nhờ đó chúng ta hiểu được sự thâm độc của chúng.

Ma quỷ đang đối diện với Chúa, một nhân vật bí ẩn khác thường và nó chưa biết rõ về quyền năng của Người, và còn có thể chưa biết đích xác Người là ai. Bởi vậy, nó bắt đầu cám dỗ Người trên lãnh vực cảm giác. Người trải qua 40 đêm ngày chay tịnh, tên cám dỗ đề nghị: “Nếu ông là con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi”[57]. Cám dỗ này nhắm vào sự tham ăn và kiêu căng phô trương của con người.

Chúa Giê-su đẩy lui nó khi nói: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra”. Sau đó nó dẫn Người vào thành thánh, đặt Người trên nóc đền thờ và kêu mời: “Nếu ông là con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, nâng đỡ bạn để bạn khỏi vấp chân vào đá”.

Đây là cám dỗ tinh vi hơn nhiều. Xem ra ma quỷ đã biết Người có mối tương quan nào đó với Con Thiên Chúa toàn năng, và nó nhắm vào việc sử dụng quyền năng này: nếu ông là Con Thiên Chúa, ông có thể tin cậy vào sự trợ giúp của các Thiên thần. Người xua đuổi cơn cám dỗ này: “Nhưng có lời chép rằng: ngươi chớ thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi”. Đây là một mặc khải cho ma quỷ để nó biết Người có liên quan đến Đấng Mê-si-a (Đấng Cứu Thế).

Sau khi biết điều này, nó đem Người lên một ngọn núi cao, và chỉ cho Người thấy tất cả vinh quang và giàu sang của các nước trần gian, nó nói với Người: “Tôi sẽ cho ông tất cả những điều này, nếu ông sấp mình thờ lạy tôi”. Nó biết rõ Kinh Thánh, biết rằng Vị cứu tinh được Thiên Chúa hứa ban quyền năng thống trị trên khắp thế giới. Do đó nó đề nghị liên minh với Chúa Giê-su để ban cho Người quyền thống trị này. Lúc đó Người liền nói: “Sa-tan hãy cút đi, vì có lời chép rằng, ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình người mà thôi”. Đó là trận chiến giữa Chúa Giê-su và ma quỷ.

Sau đó Đức Giê-su bắt đầu đi rao giảng Tin Mừng và ma quỷ rút lui. Nó còn làm gì nữa? Nó vẫn cứ bám sát theo Người và nhất là lúc Người giảng dạy tại Ga-li-lê. Người xua trừ chúng khỏi các thân xác, các tâm hồn. Chúng la lên rằng Người là Con Thiên Chúa, và Người phải làm cho chúng im tiếng.

Xem ra Đức Giê-su đã hoàn toàn chiến thắng ma quỷ, không phải thế đâu. Chính Người nói rằng, khi ma quỷ bị đánh bại, nó đi vào nơi vắng vẻ khô cằn và tìm những quỷ khác để cùng nhau tiếp tục cuộc chiến. Đây là chiến thuật của nó: đi tìm những quỷ khác, có lẽ là cao tay hơn và tổ chức lại cuộc chiến bằng một cách khác.

Nó bắt đầu lại cuộc chiến như thế nào? Nó biết rõ rằng không thể chống lại chính Chúa Giê-su. Bởi vậy, trong khi Người tiếp tục giảng dạy tại Ga-li-lê hay ở Giê-ru-sa-lem, ma quỷ rút lui vào trong bóng tối để tiếp tục chiến đấu. Nó là một tên bày binh bố trận rất khéo léo, có thể hoạt động trên cảm giác, trên con người, như là một con người thực sự hoạt động trên một con người. Nó là một chuyên gia về tâm lý, biết rõ các khuynh hướng, ước muốn, sự yếu đuối, các khả năng của chúng ta, và còn biết cách lợi dụng chúng một cách đáng khâm phục. Trong khi Chúa Giê-su loan báo Tin Mừng, ma quỷ khuynh loát các bè phái, làm việc trên các người Biệt phái, phe Hê-rô-đê và các nhóm khác.

Ma quỷ đặc biệt khéo léo để xách động quần chúng, vì chúng biết rõ tâm lý của họ. Đang khi Chúa Giê-su giảng dạy, nó ra sức bành trướng hoạt động phá rối. Điều này được thấy rõ ràng trong Tin Mừng của thánh Gio-an. Cuộc chiến tăng dần trong bóng tối: nghi ngờ, tranh luận, và các phe phái được hình thành. Ma quỷ thúc động ngay trên cả Tông Đồ đoàn, và nó tìm được một con người sẽ phản bội, Giu-đa, kẻ bán đứng thầy của mình[58].

Cuối ba năm hoạt động, lúc Chúa Giê-su sắp sửa hoàn tất sứ mệnh của Người: Người đã trình bày và khai triển Tin Mừng, đã chứng minh và tuyên bố Người là Con Thiên Chúa, bằng các phép lạ Người đã làm. Bên cạnh đó ma quỷ vẫn âm thầm hoạt động: “Nhưng đây là thời của các ông, là thời của quyền lực tối tăm”[59], Chúa Giê-su nói rõ như thế. Xem ra Người đã chiến thắng, và quả thực Người đã chiến thắng trong ngày Lễ Lá tại Giê-ru-sa-lem; tuy nhiên giờ của quyền lực tối tăm đã điểm. Ma quỷ sẽ đến tấn công trên bản tính nhân loại của Người trong vườn Ghết-sê-ma-ni. Tại đây, ma quỷ là chúa tể của quyền lực thế giới tối tăm đến để hành hạ nhân tính của Người.

Trận chiến của Chúa Giê-su nơi vườn Ghết-sê-ma-ni là cả một mầu nhiệm mà chúng ta không bao giờ thấu hiểu được. Trong trận chiến này có những sự tương phản của thân xác và tâm linh của con người, của những lãnh vực linh thiêng mà chúng ta chỉ có thể chứng kiến từ xa xa, để tôn thờ Chúa Ki-tô tự hạ khiêm nhường cùng một trật với quyền năng chiến thắng của Người. Vâng, quyền năng của ma quỷ tác động trên Người, gây nên một áp lực nặng nề trên nhân tính của Người đến độ làm cho máu pha lẫn với mồ hôi của Người chảy rịn ra[60].

Có thể nói đây chưa phải là lúc khởi đầu của bi kịch. Bởi vì ngày hôm sau, thứ Sáu Tuần Thánh, sẽ cho thấy rõ xem ra ma quỷ đã thành công khi chinh phục được đám quần chúng, Thượng hội đồng, những ông ký lục và biệt phái đã liên minh với nhau để đòi quan toàn quyền Phi-la-tô kết án tử hình Chúa Giê-su. Chúng ta biết kết quả như thế nào: đồi Can-vê, nơi đây chắc chắn sức mạnh của Sa-tan đã chiến thắng.

Đã hơn một lần Chúa Giê-su tuyên bố ma quỷ là “thủ lãnh của thế gian này”[61], và Người cũng có tuyên báo về sự thất bại của nó. Trên đồi Can-vê, nó đã chiến thắng, nó đã làm tiêu tùng hết mọi chuyện: các Tông Đồ bỏ trốn, Giu-đa phản bội, không có người nào, một tiếng nói nào thốt lên để bênh vực cho Người. Xem ra công trình của Người thất bại hoàn toàn.

Giáo Hội trong những bước chân của Chúa Giê-su

Đồi Can-vê và đời sống của Chúa Ki-tô mặc khải cho chúng ta thấy hoạt động của ma quỷ trong Giáo Hội. Chúng ta mới vừa nói về vương quốc Thiên Chúa là Giáo Hội, sự kéo dài của Người trong dòng thời gian, và Chúa Ki-tô không ngừng lớn lên cho đến lúc tận cùng của thế giới. Sự tăng trưởng, sự xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô sẽ được thực hành bởi những quy luật của chính đời sống của Người. Những hoàn cảnh bên ngoài có thể thay đổi, nhưng những quy luật này không hề đổi thay. Sự sống của Chúa Ki-tô phải được phát triển bằng một cách thức, và trong cùng một sự chống đối như thế. Đó là điều chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bài thuyết trình này.

Trước tiên, chúng tôi mong muốn các bạn lưu ý đến chân lý nền tảng, Giáo Hội – Chúa Ki-tô toàn thể – không ngừng được tăng trưởng. Chúng tôi cũng nhấn mạnh đến hoạt động khôn khéo của ma quỷ qua dòng thời gian nhằm chống lại Giáo Hội. Người ta đừng giả bộ không tin có ma quỷ, hay nghĩ rằng nó chỉ xuất hiện trong những trường hợp đặc biệt. Ma quỷ hiện hữu và hoạt động trong mọi thời đại, những hoạt động của nó không chỉ biểu lộ ra trong những trường hợp bị quỷ ám, nhưng còn hoạt động một cách khéo léo trên các tâm hồn và trên đám đông quần chúng.

Hoạt động này sẽ huy động tất cả mọi tiềm năng, năng lực trong thiên nhiên, tất cả những phát minh. Ma quỷ hoạt động trên bình diện tâm sinh lý và ngay cả trên lý trí của con người. Hoạt động của nó làm cho nó trở thành thủ lãnh của trần gian, hiện tại cũng như trong quá khứ, trong thời gian của Chúa Ki-tô. Ma quỷ ghen ghét công kích Giáo Hội không kém gì hơn khi nó chống lại Chúa Ki-tô.

Đâu là những giai đoạn trong cuộc chiến tranh này? Cuộc chiến được theo đuổi và tiếp tục mãi cho đến lúc thời gian tận cùng, nghĩa là đến thời viên mãn của Chúa Ki-tô. Người đang chiến thắng, vì Giáo Hội đang phát triển từng ngày. Mỗi ngày, sự sống của Người vẫn tuôn tràn qua các Bí tích, qua sự kết hiệp với Người trong bí tích Thánh Thể, và sự cầu nguyện nơi các tâm hồn. Mỗi ngày Giáo Hội vẫn được nuôi dưỡng bởi Chúa Ki-tô.

Chúa Thánh Linh sống trong Giáo Hội đang làm công việc của Người. Người là Đấng xây dựng, làm phát triển, do đó Giáo Hội không ngừng lớn lên. Giáo Hội chiến thắng khi lớn lên mỗi ngày, và khi đến giờ ra đi các linh hồn được đặt vào Giáo Hội chiến thắng, nơi đây họ chẳng còn phải sợ ai tấn công nữa.

Trên trần gian này, Chúa Thánh Linh tiếp tục hoạt động, Giáo Hội này đang phát triển, và đồng thời có cả sức mạnh của Sa-tan đang cố gắng ngăn cản, làm phiền hà cho cuộc phát triển và xây dựng của Chúa Ki-tô. Sa-tan là thủ lãnh của thế gian này. Cũng giống như thời của Chúa Giê-su, nó đạt được những chiến thắng bên ngoài, những chiến thắng thật sự. Chúng ta càng tiến về phía tận cùng của thời gian, Chúa Ki-tô càng phát triển, trở nên vững mạnh hơn và lớn lên trong Giáo Hội của Người. Cũng giống như thế, Sa-tan có thêm nhiều kinh nghiệm. Bởi vậy, nó cũng phát triển và có thêm nhiều lợi khí, những thứ vũ khí càng ngày càng lợi hại hơn để chống lại Giáo Hội.

Đây là sự thật, thế gian thuộc về ma quỷ, chính nơi đây nó gặt hái được nhiều kết quả bên ngoài. Chúng ta có thể nghĩ tới việc một ngày nào đó Chúa Ki-tô sẽ chiến thắng và ma quỷ sẽ thất bại không? Đó là một mầu nhiệm, nhưng chúng ta có thể nhờ Tin Mừng để soi sáng cho mầu nhiệm này.

Đây là lời của chính Chúa Giê-su: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”[62] Người còn nói thêm: “Vì tội ác cứ gia tăng, nên lòng mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát”[63]. Khi nói về ngày tận thế, Người quả quyết: “Vì những người được tuyển chọn, các ngày ấy sẽ được rút ngắn”[64].

Nếu chúng ta nhìn đến đời sống của Chúa Ki-tô, rồi nhìn đến đời sống của Giáo Hội, kết cuộc sẽ như thế nào? Đối với tôi, dấu chấm hết của Giáo Hội có thể là đồi Can-vê. Tại sao người ta cứ mơ tưởng đến chiến thắng, trong khi Chúa Ki-tô không có chiến thắng nào khác hơn là chiến thắng của thập giá? Sự kéo dài của Chúa Ki-tô – Giáo Hội – vào lúc kết thúc đối với tôi xem ra sẽ có thể giống như Chúa Ki-tô trong đời sống của Người trên trần gian này. Đó là chân lý Phúc Âm.

Chân lý này được trình bày cho chúng ta không phải bằng những lời chính xác như tôi vừa nói, nhưng nó được suy diễn ra từ Tin Mừng. Tại sao chúng ta bị quyến rũ để rồi luôn mơ tưởng những chiến thắng trên trần gian? Tại sao chúng ta lại tự khuyến khích mình khi nói rằng: Ngày mai sẽ tươi sáng hơn, ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng? Chúng ta giống như các Tông Đồ đang ấp ủ một huyền thoại. “Nhưng nếu người ta nói như thế, chúng ta sẽ mất can đảm…” Tôi không cho rằng, để đem lại can đảm, cần phải nói những lời dối trá và sai sự thật.

Chỉ cần chúng ta nhìn thẳng vào chân lý để thấy rằng chân lý quá đẹp. Chúa Ki-tô đang tăng triển, Người đều chiến thắng từng ngày, nhưng chiến thắng trong đau khổ, trong bi ai, Người chiến thắng trong máu và trong sự thất bại.

Ơn cứu độ còn trong hy vọng: sự chiến thắng của Chúa Ki-tô

Cuộc đại thắng của Chúa Ki-tô sẽ như thế nào? Chúng ta hãy nghe Lời Chúa và đừng theo trí tưởng tượng, và đừng nhường bước cho ước muốn luôn luôn chiến thắng và làm bá chủ của mình. Người khiêm tốn trả lời với thầy cả Thượng phẩm, các Tư tế, những con người không muốn nhìn nhận Người, trong khi họ có sứ mệnh dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến trần gian và làm cho người ta nhận biết Người, Người nói: các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá trên mây trời mà đến[65].

Đó là sự chiến thắng mà chúng ta có thể và phải nhắm đến. Tôi biết lắm, đôi khi người ta nói với chúng ta: các bạn là những người chỉ mơ mộng đến đời sau. Vâng, nếu đó là chân lý, chúng ta hãy suy tưởng đến điều đó. Hàng ngày, chúng ta có thể ước mong cho Giáo Hội chiến thắng, nhưng chúng ta hãy suy tưởng đến cuộc chiến thắng trong ngày sau hết.

Vào những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, các Ki-tô hữu chờ mong ngày Chúa quang lâm, chờ đợi chiến thắng chung kết. Họ mong ước điều này một cách mãnh liệt đến nỗi tin rằng Chúa Ki-tô sẽ sớm trở lại trần gian. Thánh Phao-lô năng khích lệ họ giữ vững niềm hy vọng này[66]. Còn chúng ta hãy cùng nhau nhìn đến cùng đích này, nhìn đến hy vọng được cứu độ. Không cần phải chờ đợi đến ngày phán xét chung, vì chúng ta sẽ chiến thắng vào ngày lìa bỏ cuộc đời, lúc chúng ta đi vào trong sự sống của Chúa Ki-tô, và trong sự sống của Thiên Chúa để hướng kiến dung nhan Thiên Chúa diện đối diện.

Giáo Hội sẽ chiến thắng vào ngày ấy, ngày phán xét chung. Tôi thiết nghĩ, ngày phán xét chung không như người ta thường nói một cách bi quan. Họ cho rằng đây là ngày tính sổ, là cuộc kiểm tra mà Đấng Thanh Tra sẽ xem xét tất cả mọi việc lớn nhỏ của chúng ta và trình bày cho mọi người xem thấy, có phải như vậy không? Không, ngày phán xét chung là cuộc chiến thắng của Chúa Ki-tô, khi Người ngự đến trong vinh quang. Người sẽ lấy vinh quang mà bao phủ và làm cho thấm nhập tất cả những ai tin vào Người. Đó là sự thật mà chúng ta phải suy tưởng đến.

Chiến thắng của ngày hôm nay: sự sống của Chúa Ki-tô trong tôi

Có lẽ, điều này làm cho người ta đau khổ và nhức nhối khi nhìn thấy những thất bại bề ngoài của Giáo Hội, khi nhìn thấy sức mạnh của ma quỷ làm chúng ta phải buồn phiền. Nhưng xin đừng để cho nỗi buồn phiền này chi phối chúng ta. Sự chiến thắng đã có sẵn rồi, nếu chúng ta là những Ki-tô hữu mang sự sống của ơn thánh sủng và đã ý thức bảo tồn, và làm tăng trưởng sự sống ấy qua sự trao đổi với Thiên Chúa (cầu nguyện), và do bởi hiệp thông với Người[67]. Chúng ta đang không ngừng chiến thắng, bởi vì sự sống của Thiên Chúa đang hiện diện trong chúng ta.

Các Ki-tô hữu của Thượng Hải, Trung Quốc thấm thía điều này. Tôi có nhận được những lá thư của các chị dòng kín Ca-mê-lô viết từ Thượng Hải[68]. Họ là những người bị áp bức, nhưng tâm hồn họ nảy sinh tâm tình tri ân vì được hợp nhất với sự đau khổ của Chúa Ki-tô và sự thất bại bề ngoài của Người. Các chị đã viết cho tôi: “Chúng con phải bỏ rơi các chị người bản xứ tại đây”. Nhưng nỗi buồn phiền lớn lao nhất làm cho họ ray rứt là: “Làm sao chúng con có thể trải qua 10 năm, 30 năm trong tình trạng không được rước lễ?… Nhưng cuối cùng vì Thiên Chúa muốn như thế, nên chúng con nhắm mắt chấp nhận”.

Những tâm hồn bị chèn ép này đã cảm nhận được sự chiến thắng trong nội tâm, khi biết chắc Chúa Thánh Linh và sự sống của Chúa Ki-tô đang hiện diện trong tâm hồn họ. Sự sống này liên tục đổ xuống trên họ, giúp họ vững vàng chống đỡ với áp bức, không những bằng đe doạ mà còn bằng sự hành hạ về tâm lý và thể lý.

Còn chúng ta nếu chưa đạt đến mức độ cao cả này, ít ra hãy ý thức về sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta, cố gắng làm cho nó được phát triển, và tìm đến với Người là nơi ẩn trú vững vàng và bảo đảm. Ước gì chúng ta có thể luôn luôn tiến bước về phía trước, dầu cho ma quỷ có cám dỗ, dầu cho những áp lực từ mọi phía, để làm cho sự sống của Thiên Chúa trong nội tâm của chúng ta được chiến thắng, và làm tốt đẹp chừng nào có thể công việc xây dựng Giáo Hội Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

QUYỀN TỐI THƯỢNG CỦA CHÚA THÁNH LINH

Việc tông đồ nhằm mục đích xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, là Giáo Hội. Công việc này gặp phải sự chống đối triệt để của ma quỷ, của vương quốc Sa-tan. Chúa Ki-tô đã tố giác, vạch mặt chỉ tên nó: đây là thủ lãnh của thế gian này, và nó đã đạt được những chiến thắng bề ngoài.

I. – SỰ HIỆN DIỆN SỐNG ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH LINH

Chúa Giê-su đã hứa ban Thánh Linh, là Đấng an ủi, và là sức mạnh. Chúa Thánh Linh sẽ soi sáng và nhắc lại những gì Chúa Giê-su đã giảng dạy[69]. Quả thật, Chúa Thánh Linh sẽ tiếp tục và kiện toàn sứ mệnh của Ngôi Lời Nhập Thể, Chúa Giê-su Ki-tô, trên trần gian này.

Trong Cựu Ước, chúng ta đã gặp Chúa Thánh Linh, và đã có sự phân biệt tuy chưa được rõ ràng về các Ngôi Vị của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng trong Tân Ước Người được mặc khải ra rất rõ ràng.

Chúa Giê-su được Chúa Thánh Linh hướng dẫn

Ngay từ khi mầu nhiệm Nhập Thể được thực hiện, Tổng lãnh Thiên Thần Gáp-ri-en loan báo Chúa Thánh Linh sẽ ngự xuống trên Đức Trinh Nữ Ma-ri-a[70]. Chính Chúa Thánh Linh thực hiện nơi mẹ mầu nhiệm Nhập Thể.

Lúc Chúa Giê-su bước vào đời sống công khai, Người đến gặp thánh Gio-an Tẩy Giả để chịu Phép Rửa. Chúa Thánh Linh lấy hình chim bồ câu để ngự xuống trên Chúa Giê-su, và qua dấu chỉ này Gio-an nhận biết Chúa Giê-su. Người nói với ông:  “Ngươi thấy Thần Khí ngự xuống trên ai, thì người đó chính là Đấng làm Phép Rửa trong Thánh Linh”[71], Nghĩa là Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a được Chúa Cha sai đến trần gian. Sau đó Chúa Giê-su được Chúa Thánh Linh thúc đẩy đi vào trong hoang địa[72].

Tại hội đường Na-da-rét, khi được mời nói đôi lời, Người mở Kinh Thánh và tình cờ gặp đoạn tiên tri I-sai-a nói về Đấng Mê-si-a sẽ được đầy tràn Thánh Linh: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi”. Người nói với những người đồng hương Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe”[73], nghĩa là: Tôi chính là Đấng Mê-si-a được Chúa Thánh Linh ngự xuống. Trong đời sống công khai, Chúa Giê-su tiếp tục được Chúa Thánh Linh hướng dẫn.

Khai Sinh Giáo Hội

Chúa Thánh Linh bắt đầu sứ vụ của Người. Tôi vừa mới nói, Chúa Giê-su dặn dò các Tông Đồ trước khi Người lên trời: đừng rời Giê-ru-sa-lem, bởi vì Người sẽ gửi Chúa Thánh Linh xuống cho họ[74]. Các ngài không ra đi, không bắt đầu loan báo Tin Mừng bao lâu chưa nhận lấy Chúa Thánh Linh. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các Tông Đồ, có sự biểu lộ của Người, một cuộc thần hiện của Chúa Thánh Linh trong lửa và với tiếng động lớn. Người ngự xuống và làm cho họ biến đổi hoàn toàn: đây là một sự chiếm hữu của Chúa Thánh Linh. Giáo Hội đã được xây dựng, nhưng Chúa Thánh Linh, một cách hữu hình và cảm nhận được, đã chiếm hữu các Tông Đồ và bắt đầu làm công việc của Người khi ngự xuống trên họ. Thật vậy, liền sau đó Phê-rô lên tiếng giảng dạy. Bài thuyết giảng của ngài đem lại kết quả tức thời với ba ngàn người theo đạo[75].

Như sách Công Vụ Tông Đồ đã đề cập tới, Chúa Thánh Linh biểu lộ ra một cách hữu hình trong thời kỳ đầu tiên của Giáo Hội. Các tín hữu nhận lãnh Người bằng một cách thức na ná như biến cố của ngày lễ Ngũ Tuần: họ được Rửa Tội và nhận lấy Chúa Thánh Linh. Chúa Thánh Linh làm nên người Ki-tô hữu hoàn toàn.

Ki-tô hữu được Chúa Thánh Linh cư ngụ

Chúa Thánh Linh ngự xuống trong tâm hồn đem lại ích lợi gì? Thánh Phao-lô Tông Đồ giải thích khá rõ ràng về hoạt động của Chúa Thánh Linh nơi các tâm hồn. Ân sủng, sự sống của Thiên Chúa làm cho chúng ta hợp nhất với Chúa Ki-tô “được đổ tràn vào trong tâm hồn chúng ta nhờ bởi Thánh Linh, và Người đã được ban cho chúng ta”[76]. Chính Chúa Thánh Linh thánh hoá các tâm hồn.

Mỗi lần chúng ta nhận được ân sủng này, ngay cả khi chúng ta rước Chúa Giê-su Thánh Thể, chính bởi Chúa Thánh Linh của Cha và Con mà ân sủng được ban cho chúng ta. Nhờ bí tích Giải Tội, ân sủng được ban cho chúng ta mỗi ngày, mỗi khi chúng ta thi hành một tác động đức tin siêu nhiên, một hành vi đức ái: chính Chúa Thánh Linh đang hoạt động trong chúng ta và ban cho chúng ta ân sủng. Tất cả công việc thánh hoá được thực hiện nhờ Người và quy hướng về Người.

Hơn nữa, Chúa Thánh Linh cư ngụ trong linh hồn, chúng ta là đền thờ của Người. Linh hồn là gì? Thánh Tê-rê-xa A-vi-la sánh ví linh hồn giống như hộp đựng nữ trang quý báu, hay một toà lâu đài. Lâu đài này được dựng lên cho vị khách quý báu, chính là Chúa Thánh Linh[77]. Người hiện diện thật sự sống động nơi chúng ta. Linh hồn quả là nhỏ bé, chỉ là một hộp đựng nữ trang khi so sánh với Chúa Thánh Linh, vì Người giống như linh hồn của linh hồn, là sự sống, là nguồn suối tuôn tràn và mặt trời của linh hồn chúng ta.

Đó là những chân lý mà chúng ta đã biết, nhưng chưa cảm nghiệm và sống như các tín hữu thuộc những thế hệ đầu tiên. Khi đọc lại các thư tín của thánh Phao-lô Tông Đồ, và khi tra cứu để tìm ra sự khác biệt giữa Ki-tô hữu và người ngoại giáo, chúng ta sẽ thấy rất rõ ràng điều này. Sự phân biệt giữa Ki-tô hữu và người ngoại giáo hệ tại sự cư ngụ (habitation) của Chúa Thánh Linh.

Chúa Thánh Linh hiện diện trong các Ki-tô hữu… Hiện tại chúng ta bị lôi cuốn muốn định nghĩa Ki-tô hữu bởi những điều khác. Chúng ta sẽ nói rằng, Ki-tô hữu được phân biệt với người khác bởi các nhân đức biểu lộ ra bên ngoài, hay bởi sự vui tươi toả sáng trên khuôn mặt của họ, hay một điều gì khác nữa. Còn thánh Phao-lô chỉ đưa ra một tiêu chuẩn để xác định, đó là sự cư ngụ của Chúa Thánh Linh trong tâm hồn của Ki-tô hữu.

Và mỗi lần ngài muốn dạy luân lý, hay đem đến một lời khuyên luân lý, thí dụ như phải kính trọng thân xác, tương quan tốt với tha nhân, ngài luôn luôn quy hướng về chân lý nền tảng: Phải kính trọng thân xác vì đó là đền thờ của Chúa Thánh Linh[78], hãy kính trọng tha nhân vì đây là người thánh[79]. Thánh do bởi sự thánh thiện – có thể – hay thánh theo mức độ ân sủng người đó, nhưng nhất là họ đang được Thiên Chúa ngự trong tâm hồn, được Chúa Thánh Linh hiện diện nơi họ.

Chúa Thánh Linh đang ngự trong linh hồn chúng ta, tôi không diễn tả cách chi tiết về tác động của Người, nhưng cần phải đề cập đến vai trò của Người trong việc thực hành các nhân đức và nhất là tác động của Người đối với các thánh. Sự hiện diện của Người trong linh hồn chúng ta là sự hiện diện năng động. Chúa Thánh Linh là lò lửa, là mặt trời luôn luôn chiếu soi trên chúng ta, Người là suối nước chảy tràn ra, là sự sống của linh hồn, là linh hồn của linh hồn.

Nguyên lý sống của Giáo Hội

Sự hiện diện sống động của Chúa Thánh Linh trong linh hồn chúng ta, cũng chính là sự hiện diện sống động của Người trong Giáo Hội. Trong Tông huấn “Thân Thể Mầu Nhiệm” (Mystici Corporis), Đức Giáo hoàng Pi-ô XII dạy rằng, Chúa Thánh Linh là linh hồn của Giáo Hội. Điều này có ý nghĩa gì?

Chúa Thánh Linh là sự sống của Giáo Hội, là căn nguyên làm cho Giáo Hội sống động. Không những Người ban cho Giáo Hội sự sống nhưng còn là nguyên lý tác động trên sự sống. Chúng ta bị cám dỗ giới hạn hoạt động của Chúa Thánh Linh nơi những sự can thiệp đặc biệt. Không phải như thế. Chúa Thánh Linh sống trong Giáo Hội và làm cho Giáo Hội sinh động, đến nỗi các Tông Đồ khi đưa ra những quyết nghị tại Công đồng đầu tiên của Ki-tô giáo tại Giê-ru-sa-lem, và với sự trải nghiệm, các ngài mạnh dạn tuyên bố: “Thánh Linh và chúng tôi đã quyết định”[80]. Người hiện diện trong Giáo Hội và đang hướng dẫn chúng ta.

Chúa Thánh Linh xây dựng Giáo Hội, Người làm nên Giáo Hội và hướng dẫn mọi việc của Giáo Hội. Trong mọi lúc, Người ban sự sống cho các linh hồn và làm cho sự sống đó phát triển. Người soi sáng cho những ai có trách nhiệm điều hành Giáo Hội, và cho những ai vâng lời Người.

Chúa Thánh Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa, nên trí năng của Người vô biên. Người biết mình muốn gì, Người có ý tưởng, có chương trình và muốn thực hiện nó, cũng như can thiệp trên những điều cho dù nhỏ mọn nhất trong việc xây dựng Giáo Hội. Đương nhiên chúng ta nhìn thấy tác động của Người trong một số biến cố đặc biệt. Chúng ta còn thấy Người hoạt động trên toàn thể cuộc sống của Giáo Hội trải qua dòng thời gian. Chúng ta không thấy được các chi tiết của đời sống Giáo Hội, nhưng Đức tin dạy rằng Chúa Thánh Linh là vị quản lý đích thực, là kiến trúc sư, kỹ sư, người thợ làm công việc thánh hoá các tâm hồn. Người thật là Đấng xây dựng Giáo Hội.

Đây là chân lý không bao giờ nhấn mạnh cho vừa, nhưng chúng ta phải chấp nhận như một chân lý rất sống động. Đừng tin vào Chúa Thánh Linh một cách mơ hồ; chúng ta hãy tin vào Người như một thực tại, một Ngôi Vị sống động, toàn tri, toàn năng, và Người biết mình muốn gì, thi hành điều Người muốn, và biết Người sẽ đi tới đâu.

Bởi vậy mọi Ki-tô hữu đều có bổn phận bắt liên lạc với Chúa Thánh Linh, không riêng gì đối với những người có trách nhiệm. Không sống và không liên lạc với Người là không biết đến sức mạnh tác động của Người, vì Người là kiến trúc sư, là người thầy, “ông chủ” của Giáo Hội, toà nhà đang được xây dựng.

II. – CỘNG TÁC VỚI CHÚA THÁNH LINH

Công việc tông đồ của chúng ta đương nhiên là phải được hướng dẫn từ chân lý nền tảng này. Công việc truyền giáo nhằm mục đích xây dựng Giáo Hội như thế nào? Việc tông đồ mà cá nhân chúng ta phải thực hiện là cộng tác để làm việc tông đồ.

Chúa Thánh Linh không phải là Đấng mà chúng ta phải phục vụ, không phải là pho tượng để tôn thờ, bậc tôn sư được vái chào từ xa mà không thấy được ảnh hưởng của Người, không lưu tâm gì đến chúng ta, và không nhìn đến những công việc chúng ta phải làm. Không, chính Người là kiến trúc sư, nhà xây dựng và là người thợ: việc Người muốn chúng ta thi hành là cộng tác với Người.

Chúng ta cố gắng phân tích đôi điều về sự cộng tác làm tông đồ này, để có thể thấy được những đặc tính của sự cộng tác đó.

Phải có sự hợp tác

Trước tiên, cần phải có sự hợp tác. Chúa Cha sai con một của Người là Chúa Giê-su đến trần gian: “Như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai các con”[81]. Chúa Giê-su lên trời để lại công việc xây dựng Giáo Hội cho các Tông Đồ. Người yêu cầu họ làm công việc của các Tông Đồ, của các Ki-tô hữu để xây dựng Giáo Hội. Đây là một sự cộng tác cần thiết, không có không được.

Chúng ta đừng nói Chúa Thánh Linh là Đấng toàn năng, cao cả, một mình Người dư sức dàn xếp tất cả mọi chuyện. Không, Người cần chúng ta hợp tác. Đây là một trong những quy luật làm việc của Thiên Chúa, ngay cả trong lãnh vực siêu nhiên, vì Người không làm gì một mình, nhưng kêu mời sự cộng tác của con người.

Chúng ta lấy một thí dụ, mầu nhiệm Nhập Thể, biến cố quan trọng nhất. Ngôi Lời phải nhập thể và nhận lấy bản tính con người để sống với con người. Đây là điều kỳ diệu làm cho cả hoàn vũ phải kinh ngạc: Ngôi Lời  của Ba Ngôi Chí Thánh nhận lấy bản tính nhân loại. Để thực hiện điều lạ lùng này Thiên Chúa sẽ làm gì? Người kêu mời sự cộng tác của con người.

Xem ra xứng đáng nhất cho Thiên Chúa khi Người nhập thể, là tự mình tạo dựng nên một nhân tính. Điều này đối với Người không thành vấn đề, vì chỉ cần Người nói “hãy có…” và tức khắc điều đó được thực hiện. Nhưng Người, qua Tổng lãnh Thiên Thần Gáp-ri-en, kêu mời Đức Trinh Nữ Ma-ri-a cộng tác, sự hợp tác đích thực để làm một người mẹ đích thực.

Thật vậy, các Giáo phụ nói rằng: Trời cao, Ba Ngôi Chí Thánh như ngưng thở để nhìn đến Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và chờ đợi lời “xin vâng” của Mẹ[82]. Điều gì sẽ xảy ra nếu như Mẹ không nói lên lời “xin vâng” này? Không thể tưởng tượng được. Nhưng cuối cùng mầu nhiệm Nhập Thể sẽ không được thực hiện bằng một cách giống như thế. Có thể Thiên Chúa sẽ tìm đến cách khác và Đức Ma-ri-a có thể làm chậm trễ cho chương trình của Người.

Sự hợp tác của con người không có không được, đó là một quy luật làm việc của Thiên Chúa. Nếu như công cụ tránh né, công việc sẽ không được thực hiện. Nếu như linh mục không giải tội, có lẽ hối nhân còn mang lấy tội của mình. Nếu linh mục không dâng thánh lễ, các tâm hồn không được hiệp lễ, không được rước lễ và ơn phúc của Thánh lễ sẽ không có. Nếu như một người nào đó từ chối đáp lại tiếng Chúa mời gọi, có lẽ có một số linh hồn nào đó sẽ bị hư mất.

Đây là mầu nhiệm làm cho chúng ta bối rối. Làm sao Thiên Chúa với quyền năng bao la, có thể liên kết sức mạnh của Người với ý muốn và sự đồng ý của một nhà truyền giáo, hay một công cụ không chịu hợp tác với Người, không những trong lãnh vực tự nhiên mà cả trong lãnh vực siêu nhiên để làm trổ sinh hoa quả của ơn cứu độ cho các tâm hồn? Nó sẽ là như thế. Có lẽ Thiên Chúa sẽ kêu gọi người khác? Vâng, có thể… Nhưng không cần thiết. Điều chúng ta biết chắc chắn, là Thiên Chúa vẫn còn tiếp tục xây dựng Giáo Hội của Người, nhưng bằng những phương thế khác.

Sự cộng tác cần phải có này đặt chúng ta đối diện với trách nhiệm của mình. Nếu như chúng ta từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa, không thi hành điều thiện hảo Người đang chờ đợi, và lẩn tránh việc tông đồ mà Người kêu mời chúng ta một cách chung chung hay đặc biệt, điều tốt đẹp đó sẽ không xảy ra, và có thể một linh hồn nào đó bị hư mất.

Hơn nữa, chính vì điều này mà Thiên Chúa đổ vào lòng chúng ta đức ái, tình thương, sự sống dồi dào của Chúa Thánh Linh. Sự sống của Chúa Ki-tô kết hợp với chúng ta với Người bởi những mối dây sống động và làm cho chúng ta đi vào trong tư tưởng, sự sống và khát vọng của Người. Vì thế, ơn thánh sủng tự nó làm cho chúng ta trở thành những tông đồ, và điều này độc lập với tiếng Chúa mời gọi, với sứ mạng đã được trao cho chúng ta. Chúng ta tìm gặp trong chính ân thánh sủng một tiếng mời gọi để làm tông đồ.

Sự hợp tác có tính chất công cụ

Chúng ta được kêu mời làm tông đồ, sự hợp tác này như thế nào? Đương nhiên đây là một sự hợp tác có tính chất công cụ. Chúng ta phải ý thức và nhớ lại điều này: chỉ có một kiến trúc sư, một người thợ duy nhất là Chúa Thánh Linh.

Thực vậy, Giáo Hội được xây dựng bằng sự sống và ân sủng của Chúa Ki-tô. Ân sủng làm cho chúng ta tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, đây là sự “chế tạo của Thiên Chúa” (fabrication divine), con người không thể làm được điều này. Linh mục có thể cử hành các Bí tích, ngài chỉ có thể làm cho các nguyên lý siêu nhiên hoạt động bởi năng quyền của thừa tác linh mục, bởi tính chất tư tế đã được ban cho. Chính bản thân linh mục không làm nên ân sủng, nhưng ân sủng được ban cho do bởi bí tích Chúa Ki-tô đã thiết lập. Sự cộng tác của chúng ta là sự cộng tác có tính chất dụng cụ.

Chúng ta đừng bắt đầu việc tông đồ mà coi đây là công việc của bản thân. Ngay cả khi chúng ta nhận lấy một công tác, một trách nhiệm, thì sự cộng tác của chúng ta vẫn là sự cộng tác công cụ: chính Chúa Thánh Linh mới là Người xây dựng.

Chúng ta vẫn là những công cụ, điều này rõ ràng ngay cả đối với các linh mục, là Chúa Ki-tô thứ hai. Chức linh mục chỉ ban cho ngài quyền năng trợ tế (puissance vicariale), nghĩa là có khả năng thi hành những động tác của Chúa Ki-tô, những động tác mà Chúa Ki-tô đã liên kết vào đó tính chất phong phú và hiệu quả. Những điều này được thực hiện không do bởi quyền năng riêng tư của cá nhân linh mục. Xây dựng Giáo Hội không phải là công việc riêng của chúng ta. Việc siêu nhiên được trao phó cho chúng ta không phải là của chúng ta, nhưng là công việc của Chúa Thánh Linh. Chúng ta thi hành công việc đó với tư cách là dụng cụ trong bàn tay của Người thợ cả là chính Chúa Thánh Linh.

Chúng ta sẽ rút ra ngay những kết luận của chân lý nền tảng và cốt yếu này qua những bài thuyết trình sau đây.

Sự hợp tác của con người có lý trí và tự do

Sự cộng tác của chúng ta có tính chất công cụ, nhưng nó vẫn luôn luôn vẫn là sự cộng tác của con người. Chúng ta sẽ chạm tới một vấn đề khó khăn hơn và đang đi vào trong mầu nhiệm.

Trong bàn tay của Thiên Chúa, chúng ta không đơn thuần là những khí cụ, những đồ dùng được người thợ sử dụng để làm công việc nào đó. Chúng ta không bỏ mất tính chất nhân linh, không bỏ mất khả năng của con người khi trở thành người tông đồ. Dầu là công cụ cộng tác với Thiên Chúa, chúng ta vẫn là con người với lý trí, tự do, và tất cả các đặc tính của con người nơi chúng ta.

Làm sao có hai tự do, hai lý trí cùng cộng tác với nhau để làm cùng công việc được? Mầu nhiệm là đây. Nhưng chúng ta phải khẳng định rằng Thiên Chúa không đòi hỏi nơi chúng ta sự hợp tác hoàn toàn có tính chất thụ động của một công cụ. Có người sống theo phong cách đạo đức bị ảnh hưởng của chủ thuyết Tĩnh Mịch (quiétisme) sẽ nói rằng: “Lạy Chúa, con muốn phó thác hoàn toàn cho Chúa, ngoài ra con không muốn biết gì hơn nữa”. Đó là ngôn từ của người sống theo thuyết Tĩnh Mịch, tôi xin nói điều này là sai lầm (de la bêtise).

Phải hành động cùng với ý chí và lý trí của mình, Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng những khả năng này. Người không muốn có một dụng cụ thụ động không có sức sống. Nếu như thời đại văn minh tiên tiến muốn tiêu chuẩn hoá mọi sự đến mức độ biến con người thành như máy móc, thì Thiên Chúa không bao giờ muốn như thế.

Người đã sáng tạo chúng ta thành con người và ban cho chúng ta có tự do và lý trí. Người muốn chúng ta sử dụng tự do và lý trí để cùng với Người hành động cách tự do, sáng suốt trong những công việc cao cả và tinh xảo nhất. Người muốn chúng ta cộng tác với người một cách sáng suốt và tự do.

Bởi vậy, công việc tông đồ là cộng tác tự do gồm tóm tất cả sự phát triển và sử dụng các khả năng của chúng ta. Khẳng định về những chân lý này, phải chăng đó chỉ là chuyện lý thuyết? Không, đó là chân lý của Tin Mừng.

Chúng ta nhớ lại dụ ngôn Các Nén Bạc[83]: Ông chủ sắp sửa đi xa, ông cho gọi các đầy tớ đến. Sau khi cân nhắc các khả năng của họ, ông trao cho người này 5 nén, người kia 2 nén, và người khác nữa 1 nén, rồi ông lên đường. Khi trở về, ông cho gọi các đầy tớ đến để hỏi về kết quả của việc sử dụng các nén bạc.

Người thứ nhất, người biết suy tính, thưa với ông: “Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi 5 nén, tôi đã gây lợi được 5 nén khác”. Ông chủ nói: Khá lắm, bởi vì anh trung thành trong việc nhỏ, thì tôi sẽ giao cho anh nhiều hơn. Còn người nhận được 2 nén thưa: Tôi đã làm thêm 2 nén khác. Ông chủ cũng khen ngợi anh ta.

Còn người lãnh được 1 nén, có lẽ là người không được khôn khéo, thưa với ông chủ: Thưa ông, đây là nén bác ông trao cho, tôi cất kỹ càng. Chúng ta biết ông chủ trả lời ra sao: “Ta không giao nén bạc cho ngươi để cất giữ như thế, ngươi phải làm cho nó sinh lợi ra”. Người đầy tớ đáp lại: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, tôi đâm sợ, nên mới chôn dấu nén bạc của ông xuống đất”.

Ông chủ giận lắm, truyền lấy nén bạc của y giao cho người đã sinh lời các nén bạc. Đoạn ông truyền lệnh ném y ra ngoài nơi tối tăm vì không làm cho nén bạc sinh lời.

Nước Thiên Chúa giống như ông chủ trao cho đầy tớ các nén bạc. Chúng ta phải làm các nén bạc này sinh lợi lộc, nghĩa là dùng trí khôn, mọi cách thức để làm việc tông đồ mà ông chủ đã giao phó và kêu mời.

Cuối cùng, để cộng tác, chúng ta không những sử dụng các khả năng của riêng mình, nhưng còn cần đến những kỹ thuật và những phương thế bên ngoài có thể dùng được. Bên cạnh những lời khiển trách, ông chủ còn nói với người đầy tớ lười biếng: Lẽ ra người phải đem nén bạc gửi vào ngân hàng. Chúng ta sẽ phải dùng những phương tiện, kỹ thuật để làm việc tông đồ. Chúng ta phải tận dụng những phát minh tiên tiến, những phương thế trong tầm tay để làm phát triển Nước Trời.

III. HOÀN TOÀN KẾT HỢP VỚI CHÚA THÁNH LINH

Chúng ta nhận ra ngay sự bí ẩn, sự khó khăn đối với việc kết hợp hoàn hảo này.

Tôn trọng những quy định của Thiên Chúa

Sự khó khăn gặp thấy trong sự hợp tác làm việc tông đồ là chúng ta phải hiệp nhất, phải tôn trọng những quy định của kiến trúc sư, của người thợ, là chính Chúa Thánh Linh. Giáo Hội là cánh đồng của Thiên Chúa, chúng ta cũng là cánh đồng của Người: “Cha thầy là người trồng nho”[84], Chúa Giê-su đã nói như thế, chính Chúa làm việc để sinh ra hoa trái. Chính Người hành động, làm mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương[85], chính Người làm tất cả mọi chuyện. Làm sao để tôn trọng những quyền hạn của Thiên Chúa, của kiến trúc sư đã suy nghĩ và lên chương trình cho công việc cần được thực hiện? Và làm sao con người đồng thời cùng làm công việc đó với sự tính toán? Đó là một vấn đề xem ra khó giải quyết khi chỉ đứng trên phương diện suy lý. Nhưng đứng trên phương diện thiêng liêng, tôi tin rằng vấn đề sẽ giải quyết khá dễ dàng.

Sống kiết hiệp với Chúa Thánh Linh

Cần thiết phải cộng tác với Chúa Thánh Linh để thực hiện công việc tông đồ, đó là lệnh truyền và trên hết mọi sự là phải hợp nhất với Thiên Chúa.

Bởi vì chính Thiên Chúa, Chúa Thánh Linh làm nên Giáo Hội, và Người nhận biết tiến độ, tầm vóc của Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô mà chúng ta đang xây dựng và làm cho lớn mạnh. Do bởi Người là Đấng biết rõ mọi chiều kích, chi tiết, tỉ lệ cân đối của công trình, nên chúng ta phải tuân thủ chương trình này. Chúng ta phải tuân thủ như thế nào? Bằng cách tôn trọng và hợp nhất với Người. Chúng ta phải hợp nhất với Chúa Thánh Linh để làm việc tông đồ, bởi vì chính Người làm tất cả mọi việc và chúng ta chỉ là những công cụ.

Phải chăng người ta thường phân chia ra đời sống thiêng liêng và với việc tông đồ đó sao? Và Người ta sẽ nói rằng: việc kết hợp với Thiên Chúa là điều tốt đẹp cho các nhà thần bí, cho những người sống trong đan viện, còn tôi, tôi phải làm việc.

Nếu các bạn làm việc mà không kết hợp với Thiên Chúa là không kính trọng Chúa Thánh Linh, không tôn trọng các quyền hạn của Thiên Chúa, và các bạn đang làm một việc vô ích. Người có thể làm cho công việc các bạn đang thi hành sinh hoa kết quả không? Vâng, Người tự do để làm mọi việc, ngay cả dùng đến ma quỷ. Người có thể dùng các bạn, khi các bạn không kết hợp với Người, để làm một công việc có ích tốt đẹp. Nhưng các bạn không thánh hoá chính mình khi tự ý làm công việc tông đồ siêu nhiên này, bởi vì các bạn không tôn trọng quyền hạn của Thiên Chúa.

Xét về phương diện hiệu quả, Thiên Chúa có thể sử dụng mọi điều, ngay cả dùng đến ma quỷ để xây dựng Giáo Hội, nên Người có thể dùng đến các bạn. Nhưng các bạn không phải là công cụ đích thực của Người. Các bạn làm việc này một cách miễn cưỡng, có thể không hoàn toàn như thế, vì các bạn có yêu thích nó, nhưng nói cho cùng, các bạn không phải là một tông đồ chân chính.

Việc tông đồ bao gồm sự kết hợp với Thiên Chúa như là điều kiện cốt yếu. Một người thợ khi sử dụng chiếc búa, trước tiên phải cầm nó trong tay; và nếu chiếc búa này không có cán người ta không dùng được, hay là nó không làm công việc tốt đẹp như người thợ mong muốn. Vậy chúng ta đừng tách lìa sự kết hợp với Thiên Chúa ra khỏi việc tông đồ, đây là điều sai lầm và đi ngược với những gì Tin Mừng và thần học đã nói.

Sự kết hợp với Thiên Chúa không chỉ là sự kết hợp mơ hồ. Chúng ta vừa mới đề cập vấn đề này, về sự khó khăn hợp tác với Thiên Chúa, và sự thực hiện ý muốn của Người để trở nên công cụ trong bàn tay của Người, không những trong các việc lớn lao, mà ngay cả trong những chi tiết: sự kết hợp này phải thâm sâu. Chúng ta vừa nói đến sự cộng tác giữa hai lý trí, của chúng ta và Thiên Chúa; về hai ý chí của chúng ta và của Thiên Chúa. Làm sao để cho sự kết hợp này trở nên hoàn hảo, nếu không phải bởi một sự “nóng chảy hoà tan” (fusion) của hai lý trí và hai ý chí?

Chúng ta đã thấy việc tông đồ đòi hỏi những gì: Người tông đồ hoàn hảo phải là người mà ý chí của họ hoàn toàn hợp nhất, hầu như thường xuyên và thành thói quen, với ý chí và lý trí của Thiên Chúa trong tình yêu thắm nồng. Mức độ ân sủng của người này cao cả vì Thiên Chúa đang sống động trong tâm hồn họ, Người là thầy và có thể điều khiển họ dường như chính Người là ý muốn và lý trí của họ. Lẽ đương nhiên, Người hiện diện trong những nơi sâu thẳm của ý muốn và lý trí của họ, Người bắt lấy những năng lực của tâm hồn họ, và có thể điều động những khả năng ấy theo như ý Người muốn đi theo một chiều hướng nào đó.

Như thế việc tông đồ bao hàm một sự kết hợp hoàn toàn với Thiên Chúa. Bổn phận tiên quyết của người tông đồ không phải là làm việc, học hỏi các kỹ thuật để sử dụng, nhưng là trở nên một công cụ đích thực của Thiên Chúa.

Hoàn chỉnh công cụ để làm việc cho Thiên Chúa

Bổn phận thứ hai của người tông đồ như là kết luận cho những gì chúng tôi vừa nói tới: bởi vì dụng cụ có hoạt động riêng của nó, và công việc đạt tới thành quả như thế nào là tuỳ theo mức độ hoàn hảo của dụng cụ. Như vậy, để làm người tông đồ, chúng ta phải hoàn chỉnh những khả năng của mình để cho Thiên Chúa sử dụng. Giống như khi chúng ta muốn dùng cái cưa hay con dao, nếu chúng sắc bén, công việc sẽ được hoàn thành một cách tốt đẹp hơn nhiều.

Chúng ta đừng nói: Chúa Toàn năng, Người có thể làm tất cả mọi việc. Người sẽ dàn xếp như ý Người muốn, nhưng bổn phận chúng ta là phải thu xếp chính mình trước, và như thế trưng bày cho Thiên Chúa một dụng cụ tốt chừng nào có thể, xét về phương diện siêu nhiên, tinh thần và cả thể lý, xứng đáng với bàn tay cầm lấy nó để sử dụng, xứng đáng với khả năng của Thiên Chúa, Đấng muốn dùng nó để làm việc.

Hơn nữa, chính “dụng cụ” phải sử dụng đến kỹ thuật. Đừng làm như người theo phái Tĩnh Mịch, họ nói: Thiên Chúa sẽ dàn xếp, Người là Đấng quyền năng, nên tôi không cần phải dùng đến phương thế, kỹ thuật, những phát minh tân tiến để làm việc tông đồ, Thiên Chúa dư sức thay thế tất cả mọi thứ đó. Vâng, Người toàn năng, nhưng Người không làm chuyện này. Người để cho dụng cụ là người tông đồ dùng tất cả mọi phương tiện tự nhiên có trong tầm tay, để thực hiện những gì có thể được cho việc tông đồ.

IV. – BẢO VẬT TRỌNG TÂM: NIỀM TIN VÀO CHÚA THÁNH LINH

Chúng ta đã nhìn thấy một vài hệ luận thực tế do chân lý này đem lại.

Hầu như luôn luôn khi tiếp cận với lĩnh vực siêu nhiên, cố gắng làm cho vô hạn và hữu hạn, thời gian và trường cửu gặp nhau, là y như chúng ta thấy mình đối diện với mầu nhiệm, với sự tương phản, với những điều xem ra đối lập với nhau. Làm sao giải quyết những vấn đề nan giải này? Bằng cách phó thác. Chính nơi đây mà sự phó thác và niềm tin gặp lại những quyền lợi của chúng. Niềm tin vào sự hiện diện của Chúa Thánh Linh, Người đang ngự trong tâm hồn chúng ta, tin vào kiến trúc sư của chúng ta, tin vào vị khách thần linh là sự sống của linh hồn chúng ta.

Để cho niềm tin sống động này không ngừng tác động và làm nên sức mạnh chân thật, người tông đồ cần thường xuyên liên lạc thâm sâu với Thiên Chúa. Khi đọc lại lịch sử của Giáo Hội người ta thấy rằng, những ai được Thiên Chúa đặt vào trong những khúc quanh quan trọng của lịch sử, với mục đích làm cho dân Chúa sinh động, thực hiện việc lớn lao cho Giáo Hội: đó luôn luôn là những con người xác tín vào sự hiện diện của Chúa Thánh Linh.

Những Tông Đồ đầu tiên cất bước ra đi chinh phục thế giới, đâu là hành trang họ mang theo? Đó là sự cảm nghiệm Chúa Thánh Linh cùng đi với họ, họ coi Người như một “Thân vị” sống động, và họ có thể nói với những Ki-tô hữu: “Đây là điều xem ra tốt cho chúng tôi, cho Chúa Thánh Linh đang ngự trong chúng tôi”[86]. Đó là bảo vật trọng tâm của họ.

Có một vài phương thế của con người được các Tông Đồ sử dụng. Thánh Phao-lô đã học hành, nghiên cứu, ngài là một con người trác tuyệt có trí khôn minh mẫn, sáng suốt. Ngài đã trở thành thần học gia vĩ đại của Ki-tô giáo. Những vị khác có khả năng kém hơn, xem ra chỉ làm những công việc ít quan trọng hơn xét về bề ngoài. Nhưng tất cả các Tông Đồ đều xác tín về sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong tâm hồn họ.

Tôi kêu mời các bạn thi hành một tác động tin tưởng vào Chúa Thánh Linh đang ngự trong tâm hồn chúng ta. Người không phải là ý tưởng, thần linh sống trên những cõi xa xôi. Người là một “Ai đó” đang ngự trong lòng chúng ta. Người là sự sống, là hơi thở làm cho sống, là thượng khách của linh hồn chúng ta, Người luôn luôn hoạt động trong chúng ta. Chúa Thánh Linh là một Ngôi vị sống động, sáng suốt, đáng yêu đang hiện diện trong chúng ta. Bởi vậy chúng ta phải quyết tâm sống với Người, và thỉnh thoảng tìm gặp Người, và tìm kiếm Người luôn mãi.

Và khi chúng ta hồi tâm lại để đi vào trong chính mình, khi cầu nguyện, để thăm dò những tâm tình của mình, hãy xét xem mình đang ở nơi nào. Điều mà chúng ta phải tìm kiếm trước tiên và hầu như duy nhất, là Chúa Thánh Linh đang sống trong tâm hồn chúng ta: Người ngự nơi đây với tư cách là bạn thân, khách quý, và là kiến trúc sư của Giáo Hội. Người ngự nơi đây với tư cách là người thợ làm công việc thánh hoá chúng ta. Người ngự nơi đây, Người là Đấng làm nên Giáo Hội, một công trình trọng đại mà chúng ta phải cộng tác vào.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Linh, nếu như Người không biểu lộ ra bên ngoài như trong ngày Lễ Ngũ Tuần, thì ít ra xin Người cho chúng ta biết về sự hiện diện của Người, và ban cho chúng ta ơn đặt trọn niềm tin nơi Người.

Bởi vì như Chúa Giê-su đã nói, người nào có Chúa Thánh Linh và tin vào Người, sẽ có mạch Nước hằng sống vọt lên trong tâm hồn họ[87]. Và từ tâm hồn này, Nước hằng sống đổ tràn ra bên ngoài cho người khác. Mạch Nước hằng sống và ánh sáng sẽ chiếu soi cho các tâm hồn do bởi chính Chúa Thánh Linh, mà cũng có thể nói, do bởi tâm hồn nào, nhờ vào niềm tin đã mở ra cánh cửa của đập nước ơn thánh (écluses divines).

 

HIỆN DIỆN VÀ LÀM CHỨNG

Giáo Hội được Chúa Thánh Linh xây dựng, chính Người là kiến trúc sư và người thợ. Do đó, chân lý này đặt người tông đồ làm cộng tác viên trong công trình của Chúa Thánh Linh. Sự cộng tác này như thế nào? Như đã nói, tôi không có ý định làm một bài khảo luận đầy đủ về việc tông đồ, nhưng chỉ nhấn mạnh về một số quy luật nền tảng, cách riêng về những điều xem ra người ta hay quên lãng trong thời đại hôm nay. Những điều này nói lên không nhằm mục đích tranh luận hay chỉ trích, nhưng chỉ muốn làm sáng tỏ và làm nổi bật chân lý này để cho công việc tông đồ của chúng ta đem lại kết quả dồi dào.

I. – SỰ HIỆN DIỆN CHO THẾ GIỚI

Muốn cộng tác làm việc tông đồ, trước tiên cần phải có sự hiện diện. Thiên Chúa chắc chắn có thể xây dựng Giáo Hội – một xã hội hữu hình, đúng thật như thế, nhưng lại là một thực thể chủ yếu có tính chất thiêng liêng – bằng một tác động hoàn toàn thiêng liêng, như khi tuyển chọn các ngôn sứ trong Cựu Ước, hoặc các nhà lập pháp như Mô-sê. Thiên Chúa đã không chọn phương án này.

Quy luật của mầu nhiệm Nhập Thể

Để xây dựng Giáo Hội, Chúa Cha đã sai Ngôi Lời Nhập Thể để sống với chúng ta. Người đã nhận lấy một thân xác và làm người như chúng ta. Thánh Phao-lô nói: “Người đã tự huỷ”[88], Người không từ bỏ Thiên Tính, nhưng đã che giấu và không tỏ lộ ra bên ngoài. Người sống giữa chúng ta như một con người bình thường, đã lớn lên với các giai đoạn: trẻ thơ, thanh niên và trung niên. Người cảm nhận được sự đau khổ và cái chết của con người.

Thư gửi tín hữu Do Thái nhấn mạnh trên sự nên giống hoàn toàn con người nơi Đức Ki-tô. Thư nói rằng, chúng ta có vị thượng tế biết cảm thông với đau khổ và yếu đuối của thân phận làm người. Người biết đến tất cả những gì thuộc bản tính con người, ngoại trừ tội lỗi. Người đã học vâng lời bằng sự đau khổ. Sự vâng phục này làm cho Người trở nên Đấng Cứu Độ của chúng ta[89].

Ngôi Lời Nhập Thể sống tại Na-da-rét hoà mình với quần chúng, đã trở nên một con người để sống với con người, đến nỗi các người đồng hương tại Na-da-rét khi nghe Chúa Giê-su thuyết giảng tại hội đường và ám chỉ mình là Đấng Mê-si-a (Đấng Cứu Thế), họ không muốn tin lời Người nói[90], và họ coi Chúa Giê-su vẫn như là một thường dân trong làng, là con bà Ma-ri-a và ông Giu-se.

Quy luật của mầu nhiệm Nhập Thể, khởi đầu cho công cuộc thiết lập Giáo Hội, cũng sẽ là quy luật cho việc xây dựng Giáo Hội, là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Thỉnh thoảng, Chúa Thánh Linh có những hoạt phi thường, nhưng Người hoạt động một cách bình thường trong các tâm hồn bằng cách soi sáng thúc đẩy. Người cũng làm ra những biến cố đặc biệt, những phép lạ. Tuy nhiên theo lệ thường, Người hoạt động qua các công cụ, là những con người “nhập thể” trong một môi trường nào đó, nơi mà họ phải phục vụ.

Còn Chúa Giê-su, trước khi lên trời đã sai phái các Tông Đồ đi rao giảng. Người đã tuyển chọn, huấn luyện, và hứa ban Chúa Thánh Linh cho họ. Người nói với họ: “Như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai các con”[91]. Nếu hiểu theo lời của Chúa Giê-su với đầy đủ ý nghĩa thì phải nói như thế này: Các con đã thấy thầy nhập thể như thế nào, hoà hợp và sống với con người làm sao, chia sẻ những đau khổ, công việc, lương thực hàng ngày, những niềm vui với họ ra sao… Các con cũng hãy làm như thế. Thầy sai các con như Chúa Cha đã sai thầy. Hãy đi và giảng dạy cho mọi dân tộc[92].

Đúng thật như thế, có thể nói các Tông Đồ đã “nhập thể” trong những môi trường mà họ đi đến. Chúng ta đã theo dõi đời sống của thánh Phao-lô, xuyên qua các cuộc hành trình truyền giáo của ngài. Chúng ta thấy ngài “nhập thể” trong những nơi: Cô-rin-tô, An-ti-ô-ki-a, vùng Tiểu Á và sau hết là Rô-ma. Ngài đã hiện diện thật sự, không phải ở xa xa, nhưng là “nhập thể” thực sự, có thể nói như thế.

Cũng vậy, qua dòng thời gian Giáo Hội biết rõ khả năng của mình, biết mình đang mang Chúa Thánh Linh và quyền uy của Người, đã sai phái các tông đồ và các nhà truyền giáo đi khắp thế gian. Khi có vùng nào vừa được khám phá ra, lập tức Giáo Hội sai phái các nhà truyền giáo đến ngay nơi đó. Giáo Hội muốn hiện diện trong những nơi này, không những qua trung gian của các vị thừa sai loan báo Tin Mừng và làm các Bí tích; nhưng Giáo Hội còn muốn hiện diện cách hoàn toàn như là Chúa Ki-tô toàn thể. Giáo Hội muốn hiện diện với mọi tình cảnh của cuộc sống, ngay cả bằng những đan viện chiêm niệm biểu lộ ra sự giàu sang nội tâm và sức mạnh thiêng liêng của Giáo Hội.

Như vậy, trong mọi thời, Giáo Hội “nhập thể” và muốn hiện diện thật sự, và hiện giờ Giáo Hội đang làm như thế trong tất cả mọi miền trên thế giới. Giáo Hội đang gặp nhiều khó khăn, và có thể coi như bị bách hại khi người ta muốn xua đuổi Giáo Hội ra khỏi những nơi đang hiện diện.

Chúng ta nhận thấy, trong thời đại của chúng ta, Giáo Hội đang lo lắng cho sự hiện diện của mình. Chính một Đức Thánh cha cũng nói rằng, để làm tăng thêm sự hiện diện của Giáo Hội, người ta đừng do dự lập nên những hình thức mới của các cộng đoàn tu trì, vì điều này cho phép các thành phần ưu tuyển sống đời sống của các Ki-tô hữu, ngay cả đời sống của tất cả mọi người.

Theo cách thức của men trong bột

Tôn ý của Chúa Ki-tô và Giáo Hội đi liền với quy luật của thiên mệnh trong sự phát triển sự sống của Chúa Ki-tô và Thân Thể mầu nhiệm của Người. Sự sống của Chúa Ki-tô đã được truyền bá như thế nào? Người nói: Nước Trời giống như men người đàn bà rắc vào ba đấu bột[93]. Men sẽ hoạt động và biến đổi tất cả khối bột này. Nhưng để cho men có thể tác động, nó cần phải được pha trộn vào trong bột, hiện diện trong bột.

Nếu chúng ta nhìn đến lịch sử Giáo Hội, sẽ thấy rằng Giáo Hội có được những cuộc chinh phục, không phải là rạng ngời, nhưng là đẹp nhất và sâu sa nhờ sự hiện diện âm thầm, năng động và có sức biến đổi của mình. Giáo Hội làm biến đổi những nơi mà các nhà truyền giáo, các Ki-tô hữu thuộc nhiều môi trường khác nhau, đã đưa men Ki-tô giáo, men thiêng liêng trộn vào trong đó. Tôi có nghe một chuyên gia về lịch sử của  đế quốc Rô-ma quả quyết rằng, nền văn minh của đế quốc Rô-ma được biến đổi nhờ sắc lệnh mà vua Côn-tan-ti-nô công bố vào đầu thế kỷ IV, cho phép Ki-tô giáo được tự do. Thế nhưng, nền văn minh của đế quốc đến với Ki-tô giáo, không phải bởi hiệu quả từ sắc lệnh của hoàng đế, cũng không do bởi những cuộc cải đạo hàng loạt của triều đình hay của những sĩ quan, nhân viên, nhưng là nhờ các Ki-tô hữu thâm nhập trong khối quần chúng ngoại giáo, và đặc biệt nhờ tinh thần Ki-tô giáo gieo vào trong các trường học qua các em học sinh. Quả thật có một tác động thiêng liêng được thực hiện do bởi sự hiện diện này.

Hơn nữa, ơn sủng là sự sống của Chúa Ki-tô truyền bá một cách đặc biệt bởi các Bí tích, là những dấu chỉ khả giác ban ơn thánh sủng. Cần có các thừa tác viên để thi hành Bí tích, các linh mục để cử hành bí tích Thánh Thể, các thừa tác viên để rửa tội. Điều chúng ta gặp thấy nơi lãnh vực Bí tích, nghĩa là dấu chỉ khả giác ban ơn thánh, chúng ta cũng gặp thấy trên bình diện con người của Ki-tô hữu, họ phải trở nên dấu chỉ cho ơn thánh và mang ơn thánh đến cho khối quần chúng mà họ thâm nhập vào.

Chính bởi cách này Giáo Hội lan rộng ra. Khi đọc những Sắc lệnh của Công đồng Va-ti-ca-nô I (1871), chúng ta thấy Giáo Hội được so sánh như cờ hiệu đang giương lên, và sự hiện diện của Giáo Hội là bằng chứng lớn lao nhất biện hộ cho chân lý của mình, và là phương thế quan trọng cho việc tông đồ. Vậy sự hiện diện thật sự cần thiết.

Chúng ta không thể quan niệm rằng Giáo Hội chỉ cần dùng đến những phương tiện thiêng liêng để khuếch trương. Ngay cả những ai sử dụng đến những phương thế thiêng liêng như cầu nguyện, hy sinh, cũng phải cần đến một sự hiện diện nào đó. Đây là điều chúng tôi thường nói với các chị dòng kín Ca-mê-lô của chúng tôi. Nhưng người ta nói, các nữ tu dòng kín hiện diện tại Âu Châu có thể cầu nguyện cho các khối dân ngoại giáo tại vùng Viễn Đông… Chắc chắn họ có thể làm được điều này, như thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su đã làm, và nhờ đó, thánh nữ được tuyên phong làm quan thầy của các nhà truyền giáo. Tuy nhiên, ngay cả sự cầu nguyện cũng đòi hỏi phải có sự hiện diện, ít ra nhờ một vài yếu tố nào đó và nhờ đến sự hiện diện của các đan viện chiêm niệm.

Đây là quy luật được khẳng định trong nhiều trường hợp được nhấn mạnh với những lý do chính đáng.

II. – CHỨNG TÁ CỦA SỰ THÁNH THIỆN

Tôi thiết nghĩ cần phải xác định quy luật này vì còn có một vài điều chưa được rõ ràng. Trong phần thứ hai của bài thuyết trình này xin được xác định sự hiện diện phải như thế nào.

Để cho sự hiện diện của Ki-tô hữu đem lại kết quả, cần phải trở nên một chứng tá. Sự hiện diện không làm chứng sẽ không đem lại kết quả bao nhiêu, có khi còn trở nên nguy hiểm.

Chúng ta nhìn lại đời sống của Chúa Giê-su, tại sao Người đến trần gian này? Chính Người trả lời: để làm chứng cho sự thật… Người xác định điều này qua những cuộc đàm thoại, đặc biệt với ông Ni-cô-đê-mô[94]. Là Con Thiên Chúa, Người đến để làm chứng cho Thiên Chúa là Đấng như thế nào? Là Ngôi Lời, Người đến để nói cho chúng ta biết về những chuyện trên cao: Thiên Chúa là gì? Sự sống thâm sâu của Thiên Chúa là làm sao?

Người đến để dùng lời nói, việc giảng dạy và hành động để làm chứng cho chân lý. Người nói điều này với các ký lục, các người biệt phái: “Nếu các ông không tin lời tôi, ít ra hãy tin vào việc tôi làm”[95]. Qua việc làm tôi làm chứng rằng tôi là ai, làm chứng cho lời tôi nói là sự thật.

Tất cả mọi sự hiện diện muốn làm phát sinh hiệu quả phải là một sự làm chứng. Các Tông Đồ hiểu rõ điều này, và chúng ta đọc thấy nơi bài diễn văn của thánh Phê-rô, sau ngày Lễ Ngũ Tuần: “Chúng tôi là những chứng nhân”[96]. Họ làm chứng về điều gì? Về sự kiện lớn lao làm nền tảng cho Ki-tô giáo: Chúa Ki-tô đã sống lại. Họ không tự hào điều gì khác hơn là làm chứng tá và trung thành tuân giữ lời Chúa Ki-tô: “Anh em sẽ là những chứng nhân của thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”[97]. Các Tông Đồ có trách nhiệm làm chứng. Vậy hiện diện phải là một sự làm chứng. Chứng tá của người tông đồ muốn đem lại hiệu quả đích thực cần phải làm gì? Hay nói cách khác sự làm chứng đòi hỏi nơi chúng ta điều gì?

Được Giáo Hội sai đi

Đầu tiên, đây phải là một chứng tá được năng quyền chuẩn nhận. Điều này quy chiếu về chân lý vừa được đề cập tới trong bài thuyết trình vừa rồi. Chúng tôi đã nói rằng Chúa Thánh Linh là kiến trúc sư, là thợ xây dựng Giáo Hội. Chính Người xây dựng Giáo Hội và có trách nhiệm trên Giáo Hội. Vì thế, tất cả những ai được kêu gọi bất kỳ với danh xưng nào để làm việc cho Giáo Hội, phải được Chúa Thánh Linh uỷ quyền, phải được Giáo Hội mà Chúa Thánh Linh là hồn sống uỷ nhiệm.

Chúa Ki-tô đã được Chúa Cha sai đến. Không ai có thể tự mình chiếm lấy chức tư tế thừa tác. Người đã thiết lập chức linh mục cho Thiên Chúa[98]. Người là linh mục Thượng phẩm do bởi sự hợp nhất Ngôi Vị khi mang Thiên Tính và nhân tính trong Người. Người nối kết trời đất, là Đấng trung gian khi mang trong mình cả hai phía, nghĩa là Thiên Tính và nhân tính. Thư Do Thái nói rằng: Người được được Thiên Chúa đặt lên làm tư tế theo phẩm hàm Men-ki-sê-đê[99]. Bởi vì không có người nào có quyền tự chiếm lấy cho mình chức tư tế.

Không phải các nhà truyền giáo đều là linh mục, nhưng họ đều có một sứ mạng. Bởi vậy, chúng ta cần phải được Giáo Hội uỷ nhiệm để làm chứng tá, để làm cho công việc tông đồ mang lại kết quả. Chắc chắn, Chúa Thánh Linh có thể dùng đến tất cả mọi nguyên nhân để đạt tới mục đích Người mong muốn. Điều này tuỳ thuộc nơi Người. Nhưng đối với chính chúng ta, để mang danh là tông đồ, để có quyền làm chứng nhân chân chính cho Giáo Hội và cho Thiên Chúa, chúng ta phải được Chúa Thánh Linh và Giáo Hội uỷ quyền.

Như chúng ta đã biết và thánh Phao-lô có nói lên điều này[100]: trong Giáo Hội có nhiều chức vụ, nhiều nhiệm vụ, nhiều bộ phận, và nhiều chi thể khác nhau. mỗi người có sứ mạng của riêng mình. Chúng ta biết rằng, nhờ ơn thánh sủng, tất cả mọi Ki-tô hữu đều được tham dự vào sự sống sung mãn của Chúa Ki-tô, sự sống thần linh; cũng như mọi người đều có những đặc ân và nhiệm vụ tư tế của Người. Tuy nhiên, có một nhiệm vụ chuyên biệt được giao phó cho chúng ta để làm việc tông đồ trong Giáo Hội, Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

Tất cả các Ki-tô hữu đều có sứ mạng làm tông đồ, được trao phó tuỳ theo như vị trí của họ trong xã hội, và tuỳ theo các bí tích đã lãnh nhận.  Có nhiều sứ vụ tông đồ, nhưng xét cho cùng, tất cả đều nhận lãnh từ Thiên Chúa và do Người ban cho. Ki-tô hữu phải nhận lấy trách nhiệm từ nơi Thiên Chúa, và có thể nói, nhiệm vụ được trao ban này bao gồm trong bậc sống và ơn gọi của họ. Hay có một sứ vụ tông đồ đặc biệt khác được ban thêm cho họ.

Bởi vậy, nếu như người ta nghe một Ki-tô hữu nào nói rằng họ có một sứ mệnh, một việc tông đồ cần phải làm, và nếu sứ vụ này không được ban cho họ, hay không thuộc vị trí xã hội của họ, không nằm trong trật tự của quyền bính, hoặc nếu như Giáo Hội không công nhận, người Ki-tô đó không có quyền làm chứng tá. Họ không mang một chứng tá hợp pháp.

Sự làm chứng của người này có thể có một giá trị nào đó xét theo quan điểm hoàn toàn tự nhiên và của con người, nhưng xét theo quan điểm của Giáo Hội, nó không có giá trị về mặt siêu nhiên. Nó không được Giáo Hội thừa nhận, nên không có giá trị. Vậy chúng ta hãy lo liệu làm sao cho sứ mạng của mình được hợp pháp, được uỷ quyền để chu toàn việc tông đồ chuyên biệt mà Giáo Hội kêu mời chúng ta.

Vấn đề này không liên quan đến sự thánh thiện, càng không liên quan đến vấn đề bác ái hay lòng quảng đại, đây là vấn đề quyền bính. Chúa Thánh Linh là Đấng chịu trách nhiệm thông qua phẩm trật của Giáo Hội. Vậy chúng ta phải được Giáo Hội chuẩn nhận để thi hành việc tông đồ. Chúa Giê-su được sai đi, các Tông Đồ được sai đi, các nhà truyền giáo được sai đi, vậy chúng ta xét như là những người thuộc cấp, và có khi còn thấp hơn nữa, nên phải lo liệu làm sao cho sứ mạng của mình được hợp thức hoá do bởi phán quyết của Giáo Hội.

Sứ mạng được giao phó đã bảo đảm một phần nào về hiệu quả của việc tông đồ nơi chúng ta. Nếu sứ mạng tông đồ gắn liền với chức tư tế, linh mục sẽ tìm gặp được trong chức thánh của ngài hiệu lực để chu toàn một việc tông đồ nào đó. Người Ki-tô hữu tuy không có chức linh mục, nhưng họ có điều gì đó mà thánh Phao-lô gọi là ơn đoàn sủng. Theo thánh Phao-lô, “ơn đoàn sủng” (charisme) muốn nói lên nhiệm vụ được thi hành trong một môi trường nào đó, và không cần phải có thêm quyền năng để làm những công việc ngoại thường.

Ví dụ như một thành viên của Công giáo Tiến hành được uỷ nhiệm để thi hành công tác trong môi trường của mình – thôn quê, thợ thuyền, sinh viên…– và họ làm chứng cho môi trường đó. Trong ơn đoàn sủng này đã có thật sự sức mạnh và tính hiệu năng cho công việc tông đồ của họ, biệt lập với các tính chất cá nhân của họ. Còn vị linh mục cho dù ngài đang trong tình trạng bất xứng hoặc đang mắc tội trọng, khi đọc lời truyền phép hay lời tha tội cho hối nhân, lời này vẫn là thành sự. Người tông đồ sẽ thấy ơn đoàn sủng của họ đã lãnh nhận có tính chất hiệu lực nào đó. Tại sao? Bởi vì ơn đoàn sủng – sứ mạng đã lãnh nhận – làm cho họ trở nên dụng cụ đích thực của Thiên Chúa và đặt họ vào trong bàn tay của Người để sử dụng.

Chúng ta chỉ cần đọc lại Cựu Ước để chứng minh cho điều này: các quan án được Thiên Chúa chọn để cứu Ít-ra-en không phải vị nào cũng thánh thiện. Chúng ta thấy vài người trong họ, có một chung cuộc không sáng giá cho lắm, và một vài vị có nhiều lỗi lầm. Tuy nhiên, Thiên Chúa dùng họ để cứu Ít-ra-en và Người bảo đảm cho họ được chiến thắng.

Cũng giống như thế trong Tân Ước, có những người làm được những việc lớn lao nhưng không có tầm mức thánh thiện ngang tầm với sứ mạng và những công việc được chu toàn. Tiểu sử của thánh Tê-rê-sa A-vi-la có nói lên lời này đáng được các linh mục, các người làm việc tông đồ suy nghĩ. Thánh nhân viết: “Trong cuộc phán xét cánh chung, chúng ta sẽ thấy có bao nhiêu cây đại thụ, có những tông đồ giống như cây sồi tốt tươi với cành lá sum suê, chim trời đến nương náu dưới lá cành của nó. Khi đến trước vị Thẩm Phán Tối Cao họ sẽ như thế nào? Chúng ta sẽ thấy những cây to lớn này đã bị con sâu kiêu căng và hư danh gặm nhấm”[101]. Họ đã làm tốt công việc, nhưng công việc này không đem lợi ích cho chính bản thân họ, mà còn có thể trở thành một lý do lên án họ.

Phải chăng có những tông đồ cao cả, những người làm chuyện đại sự, ngay cả làm được  những phép thần thông (thaumaturges) bị lên án không? Chúng ta có thể khẳng định điều này, như lời Chúa Giê-su đã nói: “Trong ngày phán xét, có người đến với Ta: Lạy Chúa, chúng con đã nói tiên tri nhân danh Chúa, chúng con đã làm điều này điều nọ nhân danh Chúa – chắc chắn những người này đã làm những chuyện đại sự và xem ra làm phép lạ nữa – và Chúa trả lời: Ta không biết các ngươi, hỡi những người làm điều gian ác[102].

Chúng ta có một bài học, không nhằm đến các nhà truyền giáo, nhưng chỉ như là kết luận mà tôi muốn nhấn mạnh: đặc sủng làm tông đồ, sứ mạng truyền giáo mà Giáo Hội uỷ thác cho chúng ta qua Chúa Thánh Linh, bảo đảm đem lại hiệu quả đích thực cho công việc chúng ta đang thực hiện. Vậy có thể có một số thành quả, điều này không luôn luôn chứng minh cho tầm mức thánh thiện của dụng cụ được sử dụng. Hơn nữa, chúng ta chỉ nhìn thấy công cụ – người truyền giáo – mà không nhìn thấy Chúa Thánh Linh, Đấng hiện diện phía sau họ. Sự phong phú này chỉ đơn giản chứng minh rằng sứ mệnh được trao cho người nào đó, là sứ mệnh của Chúa và Chúa Thánh Linh thu dụng và uỷ thác cho Giáo Hội.

Cần phải nhắc lại điều này, ngay cả khi chúng ta đọc lại lịch sử của Giáo triều. Đôi khi người ta công kích những công việc của một vị nào đó: điều này có thể xảy ra. Nếu như các sử gia nói rằng điều này đúng với sự thật, chúng ta phải công nhận như thế, và nó không đi ngược lại với hành động của Chúa Thánh Linh trong Giáo Hội, cũng không chống lại tính chất hợp pháp của sứ mạng nơi một vị nào đó, cũng như không chống lại với các sắc lệnh, các quyết nghị được đưa ra.

Hướng về sự thánh thiện

Để có thể làm chứng tá và đem lại hiệu quả thật sự, cần có việc làm và sự thánh thiện đi kèm theo. Tôi xin phép được nhấn mạnh về điều này, vì đây là khía cạnh thực tế nhất đối với các bạn. Nơi đây, tôi không có ý nói đến các linh mục, các nhà truyền giáo với một sứ vụ đặc biệt, nhưng muốn nói tới các Ki-tô hữu giống như các bạn, muốn làm chứng trong môi trường mà Chúa Quan Phòng đã an bài cho mình.

Các bạn không phải là linh mục, do đó không có năng quyền và đức tính của hàng tư tế cho phép các bạn thi hành các Bí tích. Các bạn thường không có một sứ vụ, hay ơn đặc sủng chuyên biệt. Các bạn nhận được sứ mạng làm tông đồ một cách chung chung. Các bạn đã nghe nói: hãy làm những tông đồ trong môi trường mình đang sống, và hãy là men tốt biến đổi khối bột. Hiện nay, khi người ta nói về sự hiện diện và làm chứng tá người ta thường hay quy chiếu về điều này.

Xem ra tôi cần nhấn mạnh sự cần thiết phải định lượng giá trị việc làm chứng này. Người ta thấy hiện nay có những tâm hồn quảng đại muốn làm tông đồ và làm chứng tá cho các môi trường khác nhau. Xem ra, người ta chưa quan tâm cho đủ để làm cho việc chứng tá này có giá trị.

Sự hiện diện chỉ là hiện diện, nếu như không có giá trị của chứng tá thánh thiện. Sự hiện diện này xem ra không đáng mong muốn, mà trái lại còn làm cho phương hại. Chúng ta được kêu mời làm tông đồ cho môi trường đang sinh sống như thế nào? Thông thường là làm tông đồ bằng gương sáng, ít khi bằng lời nói. Chắc chắn, có đôi lúc chúng ta phải làm chứng tá, phải nói về niềm tin của chúng ta và nói sự thật về một biến cố nào đó. Nhưng chứng tá mà chúng ta phải mang theo bên mình, là làm chứng về “chúng ta là gì”. Đó là làm chứng tá về đời sống của Ki-tô hữu, về sự sống của Chúa Ki-tô mà chúng ta đang có trong mình, về Chúa Thánh Linh đang làm chủ trong tâm hồn chúng ta.

Nếu người ta sai phái chúng ta đến một môi trường nào đó là để trình bày ra con người của chúng ta với những đức tính và khuyết điểm của con người – như là một bức màn – che giấu “ông chủ” đang hiện diện trong tâm hồn chúng ta.

Một Ki-tô hữu không làm cho người ta thấy Chúa Thánh Linh đang sống động trong tâm hồn họ, không chiếu toả ra sự sống của Chúa Ki-tô mà họ đang có và phải mang trong mình bằng những công việc, hành vi, cách sống, sẽ không làm chứng được cho sự sống của Thiên Chúa trong họ, và như thế họ sẽ không có can đảm làm chứng về sự thật trong một hoàn cảnh nào đó.  Tôi thiết nghĩ người đó đã mang một chứng tá không có giá trị và ngược lại có thể là vô ích hay làm gương xấu.

Đúng vậy, họ không trao ban Chúa Ki-tô; tuy là men, nhưng họ không có khả năng kích hoạt và làm biến đổi. Họ không có nhiều men, và có khi không giữ được sự sống thần linh trong mình. Chứng tá của họ ít có giá trị, và có tốt không khi họ mang sứ vụ ấy trong mình. Tôi không biết, và cần đặt lại vấn đề.

Đó là sự nghi ngờ mà tôi muốn làm nảy sinh nơi tâm trí của các bạn. Đừng tin rằng một sự hiện diện vì hiện diện tự nó có giá trị. Nếu như chúng ta sống trong môi trường của mình một cách tầm thường như những người khác, không hề có sự toả sáng nào, không mang trong mình sự sống của Thiên Chúa, rồi chúng ta sẽ ra như thế nào? Một hòn đá hiện diện bên cạnh hòn đá khác chỉ làm thành hai hòn đá, điều này chẳng bao giờ có giá trị (xét về mặt thiêng liêng).

Chúng ta cũng đừng đòi hỏi một Ki-tô hữu, ngay cả một vị thánh thật là hoàn hảo, và không có khuyết điểm nào, điều này cũng giống như đòi hỏi một lực sĩ phải hoàn hảo về mặt thể lý và thông minh sáng suốt. Chúng ta đòi hỏi nơi Ki-tô hữu sự toả sáng thiêng liêng nơi tâm hồn họ, mà đôi khi người ta gặp thấy qua cặp mắt, qua các thái độ, và sự ngay thẳng chính trực xuyên đời sống của họ.

Bởi vậy, chúng ta cần phải lưu tâm làm cho chứng tá của chúng ta có giá trị. Chứng tá của chúng ta có giá trị và có hiệu quả như thế nào? Chúa Giê-su nói: “Nước Trời như nắm men”[103], một thứ men tác động trên thúng bột, có khả năng thúc động và làm cho bột dậy men. Chúng ta cần có trong mình thứ men này. Nó hiện diện trong chúng ta, đó là Nước Thiên Chúa, là ơn thánh và sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta.

Để cho sự chứng tá được hoàn toàn hiệu nghiệm, và sẽ rất tốt đẹp, nếu như được kèm theo bởi những yếu tố tự nhiên có khả năng làm cho chứng tá đó đáng mến, hấp dẫn và thu hút. Nhưng điều chính yếu vẫn là sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta. Nếu Nước Trời không hiện diện trong chúng ta, chứng tá sẽ trở nên hời hợt, bề ngoài và chỉ là lý luận suông về chân lý. Chứng tá đó không có tính Ki-tô giáo đích thực. Nói cách khác, để cho một chứng tá mang tính chất Ki-tô giáo cần phải là chứng tá thiêng liêng thâm sâu, cần phải mang sự sống của Thiên Chúa trong mình và cần phải là một vị thánh.

Đôi khi chúng ta quên chân lý khác: nếu Nước Trời là men tốt, thì điều xấu cũng là một loại men. Hiện thời, chiến tranh đang xảy ra khắp nơi, trong mọi môi trường, cũng như trên toàn thế giới: đó là cuộc chiến giữa hai thứ men này.

Chúng ta biết rõ điều này: ít khi chúng ta làm cho chân lý chiến thắng nhờ những cuộc tranh luận mà trong đó có những điều đối lập. Sự tranh luận hay trình bày lý lẽ chỉ đem lại ích lợi hay hiệu quả tốt khi gặp được những người cởi mở, nghĩa là có thiện chí đón nhận chân lý, và có những đức tính luân lý tốt lành. Nhưng nếu gặp phải sự đối lập, ít khi tranh luận làm cho vấn đề được sáng tỏ và có sự quy thuận chân lý. Lúc ấy muốn có sự hoán cải, cần phải thực hiện một điều sâu xa hơn, không dựa trên yếu tố tâm lý hay lý trí, nhưng dựa trên yếu tố thiêng liêng.

Khi chúng ta đặt một người làm tông đồ, một Ki-tô hữu không mang sự sống của Thiên Chúa trong mình vào trong một môi trường nào đó, sẽ là táo bạo và tự hào khi tin rằng men Ki-tô hữu của họ sẽ đương nhiên chế ngự được mọi sự. Loại men xấu hiện thời đang hiện diện khắp nơi, hoạt động từ từ trên chúng ta với tất cả mọi kỹ thuật, các phương pháp thông minh để quyến rũ với ý đồ làm chúng ta biến chất và trở nên hư hoại. Nếu chúng ta thương hại cho một vài trường hợp sa ngã, có lẽ vì không lưu ý cho đủ về điều này và quá tin tưởng vào tinh thần quảng đại của người được sai đi.

Chúa Thánh Linh thúc đẩy

Vậy chúng ta kết luận như thế nào về việc làm chứng? Xin cho phép tôi trưng lại một lời, hay nói đúng hơn một câu chuyện của Tin Mừng để kết thúc vấn đề này. Chúng ta nhớ lại những gì xảy ra khi Chúa báo trước cuộc tử nạn của Người. Lập tức các Tông Đồ phản đối, họ là những người đang dấn thân đi theo Người. Còn Phê-rô muốn gì? Ông nói có một thanh gươm và muốn dùng nó để bảo vệ cho Người. Khi được tiên báo ông sẽ chối thầy, ông không muốn điều này xảy ra, không thể nào có chuyện quái gở đó được. Chúa Giê-su bắt ông phải thinh lặng[104]. Chúng ta đã biết chuyển gì xảy ra sau đó: Phê-rô, thủ lãnh các Tông Đồ, chối Thầy ba lần. Đó chính là giờ của quyền lực bóng tối đã chụp lấy ông, lòng nhiệt thành tốt lành nơi ông hoàn toàn bị bốc hơi. Phê-rô chối Chúa trước một đầy tớ gái[105].

Bài học do các sự việc này đương nhiên chứng tỏ cho Phê-rô biết ông là như thế nào, lòng quảng đại và nhiệt thành nơi ông có giá trị bao nhiêu, nhưng nó lại minh hoạ một cách tuyệt vời cho một chân lý thiêng liêng khác. Trước khi lên trời, Chúa Giê-su nói với các Tông Đồ: “Thầy sai các con ra đi rao giảng Tin Mừng cho tất cả các dân tộc, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”[106]. Nhưng có một lời nhắn nhủ khẩn thiết cho các ông trước khi ra đi truyền giáo để chinh phục thế giới: đừng ra đi trước khi nhận lấy Chúa Thánh Linh[107].

Sau khi Chúa Giê-su lên trời, các Tông Đồ quy tụ tại phòng Tiệc Ly. Và dưới sự hướng dẫn của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a[108], họ cùng nhau cầu nguyện để nhận lấy Chúa Thánh Linh. Người đến để khai mạc, chiếm lấy và điều khiển Giáo Hội. Người là Đấng sáng lập và linh hồn của Giáo Hội. Nhưng đồng thời Người đến để thu dụng các Tông Đồ, làm cho các ngài trở thành những Tông Đồ đích thực.

Chúng ta không nên coi biến cố hiện xuống như một cuộc thần hiện hào nhoáng bên ngoài, hay chỉ là sự chiếm hữu Giáo Hội, Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Như vậy, chúng ta phải coi biến cố Hiện Xuống có liên quan đến chúng ta, vì Người đến để chiếm hữu tâm hồn của các tông đồ. Chính trong ngày đó các Tông Đồ trở thành những tông đồ chân chính, có khả năng làm chứng cho chân lý của Chúa Ki-tô và làm chứng cho những gì mà Chúa Thánh Linh dạy dỗ cho họ. Họ trở nên những tông đồ chân chính khi được Người thu dụng, bởi vì từ nay họ sẽ được Người điều khiển; và cũng bởi vì trong ngày đó, các ngài đã trở nên những thánh nhân.

Và nếu như đối chiếu với những gì thánh Tê-rê-sa A-vi-la đã viết, chúng ta sẽ thấy rằng sự chiếm hữu của Chúa Thánh Linh không phải xảy ra trên chóp đỉnh toà nhà thiêng liêng, nhưng nằm trên một mức độ khá cao của đời sống thiêng liêng. Khi chú giải điều này thánh Tê-rê-sa A-vi-la nói rằng, khi tâm hồn đạt tới trình độ này có thể dâng hiến hoàn toàn cho việc tông đồ[109].

Chính đây là chân lý mà tôi muốn nói với các bạn: muốn làm tông đồ, tiên vàn phải để cho Chúa Thánh Linh chiếm dụng. Chỉ có lòng quảng đại mà thôi thì chưa đủ, vì nó có thể trở nên nguy hiểm, như trường hợp của thánh Phê-rô, lòng quảng đại của ngài đã dẫn đến sự chối Thầy, và cũng giống như thế có nhiều Ki-tô hữu muốn ra đi làm chứng, nhưng không may họ đã để cho lòng nhiệt thành của mình ra nguội lạnh và tâm trí trở nên tối tăm u mê. Họ đã đánh mất Đức ái siêu nhiên, có lẽ mất cả Đức tin, và dù thế nào, họ không còn trung tín với những bổn phận chính yếu của mình.

Thiên Chúa đang hiện diện với chúng ta, điều này không sai. Nhưng Người hiện diện với chúng ta bằng nhiều cách khác nhau. Phép Rửa làm cho Thiên Chúa hiện diện trong tâm hồn chúng ta, đây là sự hiện diện đích thực, nhưng chưa có sự chiếm dụng của Người. Chúng ta phải để cho Chúa Thánh Linh chiếm dụng để trở nên một tông đồ hoàn hảo. Họ không những được trang bị về mặt kỹ thuật để biết cách sử dụng các phương pháp làm việc như thuật hùng biện, những kỹ năng khác nhau để thu hút thính giả, hay để hoạt động trong một môi trường nào đó. Nhưng nhất là đây là điều cốt yếu, người tông đồ phải được Chúa Thánh Linh chiếm dụng. Bởi vậy, cần có những sự chuẩn bị và có thể phải đòi hỏi một thời gian lâu dài.

Nhưng người ta sẽ nói rằng: chúng ta sẽ làm mất thời giờ! Chúng ta không bỏ phí thời giờ, và có thể nói cứu được linh hồn của mình và bảo đảm cho việc tông đồ đem lại nhiều hoa trái. Bởi vì, đây không phải là vấn đề của con số: đâu có quan hệ gì giữa 1000 người, hay chỉ có 2 chứng nhân. Nếu như có 1000 chứng nhân tầm thường, có lẽ một đôi khi họ tạo ra những ngụy chứng làm phương hại cho chân lý, điều mà họ không muốn và đi ngược lại với lòng quảng đại của họ.

Nhưng nếu chỉ có 2 chứng nhân thánh thiện, họ sẽ làm chứng tốt cho Chúa Ki-tô, bởi vì họ diễn tả được Chúa Ki-tô và Chúa Thánh Linh đang ngự trong tâm hồn của mình. Hành động của họ hoàn toàn được linh hứng bởi Chúa Thánh Linh, và bởi vậy sẽ đem lại dồi dào hoa trái: đó sẽ là một công việc tông đồ đích thực.

 

CẦU NGUYỆN VÀ HY SINH

Những phương thế thích hợp cho Thân Thể mầu nhiệm

Giáo Hội, Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô có nhiều phương thế, các đòi hỏi đặc biệt, những quy luật cho ai muốn góp công xây dựng Giáo Hội. Ngay cả trong thiên nhiên, chúng ta thấy mọi công trình xây dựng có những đòi hỏi, luật lệ riêng của nó. Một kỹ sư muốn thực hiện một công trình, cần tuân thủ những quy chuẩn, những đòi hỏi của công trình đó. Nhà thông thái, nhà triết gia muốn khảo cứu một khoa học phải tuân thủ phương pháp của khoa học này: Toán học, Triết học, Vật lý học… Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, một thực thể, cũng có những đòi hỏi và chúng ta có thể nói có những phương thế riêng biệt.

Cần phải lưu ý và nhấn mạnh đến chân lý hay bị quên lãng này. Quả thật, người ta tin tưởng rằng có thể làm công việc xây dựng Giáo Hội không phải bằng bất cứ phương tiện nào, nhưng lại không để ý đến chính bản tính của Giáo Hội. Nhất là, trong thực tế có thể xảy ra, người ta để cho mình bị lôi cuốn theo những phương cách làm việc của vương quốc Sa-tan.

Chúng tôi đã nói rằng, Sa-tan trên trần gian này đạt tới những chiến thắng bề ngoài, thường là kéo dài và có thể tồn tại cho đến ngày tận thế. Có thể xảy ra cho con cái của ánh sáng[110] khi làm việc xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, bị mê hoặc bởi thành quả của ma quỷ, muốn vay mượn những phương pháp làm việc của nó. Tuy không phải là những phương pháp bất chính, nhưng họ để cho mình bị hấp dẫn bởi những cách thế hành động của nó, mà quên đi những phương pháp riêng biệt thích hợp cho việc xây dựng Thân Thể mầu nhiệm. Tôi nghĩ rằng người ta có thể phê bình về một số phương pháp, kỹ thuật mà hiện nay đang được sử dụng, ngay cả trong việc tông đồ của Công giáo. Tôi không muốn nói rõ hơn, mà chỉ muốn nêu lên.

Cho dầu như thế nào, bây giờ chúng ta hãy đề cập đến những phương pháp riêng biệt thích hợp với Nước Trời và cho Giáo Hội: cầu nguyện và hy sinh.

Những phương pháp riêng biệt để xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, chính Người đã nêu cho chúng ta một cách hoàn toàn chắc chắn và không thể sai lầm. Có thể nói, chúng ta chỉ cần nhìn đến Người đã làm như thế nào để biết cách cộng tác với Người làm sao.

I. – SỰ CẦU NGUYỆN: PHẬN SỰ CHÍNH YẾU

Phương thế thứ nhất là tiên vàn phải cầu nguyện.

Cầu nguyện không những nhằm thoả mãn nhu cầu tôn giáo, một thứ cảm thức đạo đức nào đó. Nhưng cầu nguyện còn là điều phải có để xây dựng Thân Thể mầu nhiệm Chúa Ki-tô. Tất cả các tông đồ đều phải cầu nguyện, bởi vì đó là điều cần thiết trong chương trình siêu nhiên được Thiên Chúa quan phòng.

Để cầu xin ơn sủng

Giáo Hội là một thực thể thiêng liêng, một xã hội hữu hình, đúng thật như thế, nhưng cốt yếu vẫn là thiêng liêng và siêu nhiên. Chúa Thánh Linh là linh hồn của Giáo Hội, Người là kiến trúc sư xây dựng nên Giáo Hội. Chính Người làm cho sự sống của Chúa Ki-tô lan tràn, nghĩa là ban sự sống và ân sủng của Thiên Chúa cho các tâm hồn. Chính Người bảo trợ cho Giáo Hội.

Vậy mà Chúa Thánh Linh chỉ hoạt động trong Giáo Hội, và một cách thông thường Thiên Chúa chỉ ban ân sủng, hay ít ra các phương thế ban ân sủng, nếu như chúng ta cầu xin Người. Ngay cả khi Người đã quyết định làm nên một vị thánh, quyết định ban cho chúng ta ơn trợ giúp để làm một công việc nào đó, hay đề ra một chương trình như xây dựng Giáo Hội được dự định từ thuở đời đời, Người chỉ thực hiện điều này và chỉ ban cho chúng ta ân sủng nếu chúng ta cầu xin Người.

Sự cầu nguyện là điều cần thiết để thực hiện kế hoạch đã được quan phòng. Chúng ta chỉ cần đọc lại Tin Mừng để hiểu điều này. Chúng ta thấy rằng Chúa Giê-su đã chọn nhóm Mười Hai, kêu gọi họ, huấn luyện họ thành Tông Đồ, thành linh mục và kêu mời họ cầu nguyện. Người có vẻ như khiển trách họ vì đã không cầu nguyện: “Anh em xin Chúa Cha điều gì, thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh thầy. Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh thầy. Cứ xin đi anh em sẽ được”[111].

Chúa Ki-tô hứa ban và loan báo Chúa Thánh Linh chắc chắn sẽ đến. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, Người kêu mời họ cầu nguyện để Chúa Thánh Linh ngự đến.

Chúng ta chỉ cần nhìn đến những thí dụ này để hiểu được sự cần thiết của việc cầu nguyện trong kế hoạch Thiên Chúa quan phòng. Nếu không cầu nguyện người ta sẽ không nhận được gì. Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những ơn cơ bản, Người có thể làm những phép lạ khi chúng ta không cầu xin, nhưng Người sẽ không ban cho chúng ta tất cả tầm mức của ân sủng, sẽ không xây dựng Thân Thể mầu nhiệm, sẽ không đổ tràn sự sống của Chúa Ki-tô vào trong các tâm hồn nếu như chúng ta không cầu nguyện.

Để biến đổi các tông đồ

Hơn nữa, sự cầu nguyện cần thiết cho chính người tông đồ. Như đã nói, sự cầu nguyện không có không được để tác động đến căn nguyên đệ nhất là Thiên Chúa và Chúa Thánh Linh, nhưng cầu nguyện còn cần thiết cho chính người tông đồ.

Người tông đồ là cộng tác viên của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy điều này trong bài thuyết trình sắp tới. Làm sao người đó hiệp nhất ý muốn, lý trí, và hoạt động của mình với ý muốn, lý trí và hoạt động của Thiên Chúa nếu không hiệp nhất với Người? Người tông đồ có bổn phận hiệp nhất với Thiên Chúa, và điều này xảy ra trong cầu nguyện, và nếu hiểu theo ý nghĩa rộng rãi hơn, trong sự cầu nguyện chiêm niệm.

Để đạt tới sự hiệp nhất với Thiên Chúa, người tông đồ cần được thanh luyện nhằm xoá đi những bất toàn, những khuynh hướng xấu. Người đó cũng cần phải hoán cải nội tâm khi quy hướng tất cả mọi khả năng của mình cho Thiên Chúa, Người đang ngự trong tâm hồn của họ. Người tông đồ phải thường xuyên đặt các khả năng và tâm hồn của mình dưới tác động của Thiên Chúa.

Làm thế nào để thực hiện việc thanh luyện, biến đổi và trở lại với Thiên Chúa, cũng như đem tất cả các năng lực của mình tùng phục Chúa Thánh Linh? Làm sao tất cả con người của họ trở nên ngoan ngoan dưới tác động của Thiên Chúa để trở thành cộng tác viên hoàn hảo? Việc biến đổi nội tâm không chỉ hoàn toàn nằm trong lãnh vực thiêng liêng, mà còn nơi lãnh vực tâm lý, công việc đó chỉ được thực hiện trong sự liên lạc thường xuyên và thâm sâu với Thiên Chúa.

Thường thường, người tông đồ không những là con người cầu nguyện và ngay cả còn phải là nhà chiêm niệm. Khi nhìn đến lịch sử của Giáo Hội, nhìn đến đời sống của các tông đồ có tầm cỡ, chúng ta thấy rằng các ngài là những nhà chiêm niệm và cầu nguyện.

Thánh Phao-lô bị ngã ngựa trên đường đi Đa-mas. Sau đó, ngài bắt đầu làm Tông Đồ. Ngài kể lại rằng ngài đã đi vào sa mạc A-ra-bi 3 năm[112] để được Chúa Thánh Linh hướng dẫn, sau đó trở về quê nhà tại Tác-sô và được Chúa Thánh Linh thu dụng để thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại.

Khi đọc các thư của ngài, người ta thấy có sự khác biệt giữa những thư đầu tiên và các thư viết sau đó, giữa các thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, Rô-ma và những thư mà người ta có thể gọi một cách chính xác là các thư chiêm niệm: thư gửi tín hữu Cô-lô-xê, Ê-phê-sô, Phi-líp-phê. Sự khác biệt của các thư chiêm niệm với các thư đầu tiên được ghi ấn dấu bởi những mạc khải lớn lao mà thánh Phao-lô được soi chiếu và vui hưởng thanh nhàn do hoàn cảnh lao tù đem lại.

Người ta có thể gọi những thư chiêm niệm của ngài là những thư của lao tù. Đây là thời gian cho phép ngài ôn lại những chân lý cao cả đã nhận biết và đi sâu hơn vào trong Thiên Chúa. Có thể nói, thánh Phao-lô đã làm sáng tỏ và đào sâu sứ điệp ngài có nhiệm vụ loan truyền, và như thế ngài trở thành người loan báo mầu nhiệm lớn lao của Thiên Chúa và Giáo Hội.

Sau đó, chúng ta hãy nhìn đến các Giáo phụ, các ngài có ảnh hưởng quan trọng trong việc giải thích các tín điều của Ki-tô giáo. Các ngài có ảnh hưởng lớn lao trên Giáo Hội, trên giáo thuyết và trên các tâm hồn. Những vị này thường có một thời gian sống trong thanh vắng để cầu nguyện. Trong sự liên lạc với Thiên Chúa và nhờ ánh sáng của Người, họ được biến đổi dần dần cho đến khi nên giống với Thiên Chúa: Ánh sáng của Người tác động và làm cho họ trở nên những tông đồ đích thực. Vậy sự cầu nguyện cần thiết cho chính người tông đồ.

Vì sự sống của chính Giáo Hội

Cuối cùng, cầu nguyện cần thiết cho Giáo Hội. Chúng ta có thể nói một cách chắc chắn: cầu nguyện chính là sự sống của Giáo Hội. Có một tác phẩm bàn về vấn đề thiêng liêng có nói đến sự cầu nguyện. Đương nhiên tác giả tán dương việc cầu nguyện, nhưng xem ra coi sự cầu nguyện chuyên về chiêm niệm có một điều gì đó có tính ích kỷ. Người này nhấn mạnh đến sự cầu nguyện là để tìm Chúa trong anh chị em, với một mục mục đích duy nhất nhắm đến việc cứu độ và bác ái đối với tha nhân.

Chắc chắn những khía cạnh này của cầu nguyện là đáng khen. Nhưng đối với tôi, cầu nguyện chỉ nhằm đến các mục đích này mà thôi và không công nhận giá trị của cầu nguyện chiêm niệm là không biết đến yếu tính của sự cầu nguyện, ngay cả không biết đến sự sống và mục đích của Giáo Hội.

Giáo Hội là gì? Là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Đâu là mục đích của Giáo Hội? Giáo Hội không có mục đích nào khác hơn là bắt lấy các linh hồn, chiếm đoạt và đem ánh sáng của Chúa Ki-tô đến cho họ, liên kết họ với Người trong đức ái, và làm cho họ nên một với Người: đó là Chúa Ki-tô toàn thể, Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

Khi làm xong những công việc này, Giáo Hội đã hoàn tất sứ mạng của mình chưa? Thưa chưa, bởi vì đây mới là khởi đầu. Mục đích tối hậu của Giáo Hội là dẫn đưa các linh hồn vào sự sống của Chúa Ba Ngôi.

Ngôi Lời đã nhận lấy bản tính nhân loại và dùng bản tính ấy như một “con mồi” (appât), để nhờ đó mà bắt lấy con người, và sau đó – như Giáo Hội đã nói trong ngày lễ Chúa Lên Trời – đưa nhân loại “tù nhân” này lên nơi Người ngự trị bên hữu Chúa Cha, trong cung lòng của Ba Ngôi Thiên Chúa[113]. Chúng ta vào trong Giáo Hội không những với tư cách là những chi thể mà còn trở nên con cái của Thiên Chúa, được tham dự vào tất cả mọi công việc của Ngôi Lời, vào bản tính của Người nhờ ân sủng, thông phần với chức tư tế của Người và vui hưởng ánh vinh quang.

Mục đích tối hậu của chúng ta là đi vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, và thi hành những công việc của Ngôi Lời.

Những công việc này chúng ta sẽ làm luôn mãi và đời đời, bởi vì Nước Trời không có điều gì khác hơn. Nước Trời không hệ tại vui hưởng một thứ hạnh phúc tinh thần hay cảm giác nào đó, nhưng hệ tại việc chiêm ngắm Thiên Chúa và được lôi cuốn vào trong công việc của Ngôi Lời trong cung lòng của Ba Ngôi Chí Thánh. Công việc này, chiêm ngưỡng Thiên Chúa, sẽ là hạnh phúc của chúng ta trong Nước Trời. Nếu chúng ta đi lên Trời mà không được chiêm ngưỡng Thiên Chúa thì chẳng bõ công. Đó là công việc, là mối bận tâm chính yếu của chúng ta.

Việc làm chính yếu đáng lưu tâm hệ tại chiêm ngưỡng Thiên Chúa trên Nước Trời, mà Giáo Hội đang thực hiện trên trần gian này và con cái phải tiếp tục chu toàn. Giáo Hội chu toàn việc này trong niềm hy vọng và cả trong thực hành. Do đó, nhiệm vụ chiêm niệm, không những hệ tại tìm kiếm Thiên Chúa qua dấu vết của Người trong thiên nhiên, qua sự sống trong các tâm hồn, nhưng còn hệ tại chính sự chiêm niệm Thiên Chúa, là một công việc cốt yếu cho đời sống Giáo Hội. Nó phải được tất cả mọi tín hữu chu toàn, tuỳ theo mức độ tham dự của họ vào sự sống của Giáo Hội.

Từ chối chiêm ngắm Thiên Chúa – chiêm niệm – nhờ những phương thế mà Người ban cho, nghĩa là nhờ các nhân đức đối thần, đặc biệt nhờ Đức tin được soi sáng bởi đức ái, nhờ các ơn của Chúa Thánh Linh là từ chối nhiệm vụ chính yếu của người Ki-tô hữu. Đó là làm cho những nhiệm vụ siêu nhiên và thiêng liêng của Ki-tô hữu giản lược vào những công việc hoàn toàn thứ yếu và tạm thời.

Vậy, chúng ta cần phải thực hiện sự cầu nguyện chiêm niệm ngay trên trần gian này, nhất là đối với người tông đồ. Ân sủng không những làm cho chúng ta tham dự vào trong các nhiệm vụ của linh mục Chúa Ki-tô, nhiệm vụ chuyên biệt do bởi ơn gọi chuyên biệt của từng người. Ân sủng còn làm cho chúng ta được tham dự vào tất cả các quyền lợi của Chúa Ki-tô: Chúa Ki-tô toàn thể là dành cho tôi[114], và tôi phải làm tất cả những công việc đó, đương nhiên tuỳ theo khả năng và ơn gọi của tôi.

Nhưng Giáo Hội cần có những tâm hồn thi hành công việc mà tất cả chúng ta sẽ thực hiện trên Trời, đó là chiêm ngưỡng Thiên Chúa, tối thiểu là ra sức tìm kiếm Người, thâm nhập vào trong Người và chiêm ngắm Người. Những tâm hồn chiêm niệm, những đan viện chiêm niệm thật sự hiện diện trong trái tim của Giáo Hội, như thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su đã nói[115], không phải vì lý do những đan viện này đã quy định cho nhịp sống cầu nguyện, hay do bởi đức ái của họ, nhưng còn bởi vì họ hướng con mắt đức tin nhìn về phía Thiên Chúa.

Chúng ta đừng cho rằng những người chiêm niệm là những người ích kỷ – có thể là như thế nơi một số đan sĩ, nhất là trong giai đoạn ban đầu – nhưng nghĩ như thế là không biết đến yếu tính của đời sống Giáo Hội và mục đích của Giáo Hội là muốn dẫn đưa chúng ta đến sự chiêm ngắm Chúa Ba Ngôi.

Chính vì thế mà đời sống chiêm niệm, thuần tuý hay pha trộn với đời sống hoạt động, tuyệt đối cần thiết cho Giáo Hội. Cho dù những khó khăn hay thất bại mà chúng ta biết được nơi người nào đó, cho dù tính ích kỷ có thể gặp thấy nơi một cá nhân nào đó tự cho mình là người chiêm niệm hay đang thực hành sự chiêm niệm trọn hảo, người ta không có quyền phủ nhận giá trị và sự cần thiết của sự chiêm niệm trong Giáo Hội.

Chúa Giê-su đã cầu nguyện

Như thế, sự cầu nguyện được coi là cần thiết trong Giáo Hội và chính vì thế mà Chúa Giê-su đã cầu nguyện. Khi chúng ta nhìn ngắm đời sống của Chúa Giê-su ở trần gian, và tỉ lệ giữa thời gian cầu nguyện và thời gian hoạt động của Người, chúng ta sẽ hiểu rõ điều này.

Chúa Giê-su đến trần gian này để chu toàn sứ mệnh cứu chuộc. Người không để mặc cho sự việc may rủi theo hoàn cảnh, nhưng đã lên chương trình với sự tính toán khôn ngoan. Người đã làm gì? Ba mươi năm sống ẩn dật… Người làm như thế trong khi thu xếp công việc không phải để làm mất thời giờ, nhưng chỉ vì muốn cầu nguyện tôn thờ Thiên chúa. Người muốn, qua tỉ lệ thời gian dành cho các hoạt động, để nhấn mạnh tầm mức quan trọng khác nhau của các bổn phận cần phải chu toàn nơi trần gian.

Người làm gì ở Na-da-rét? Người cầu nguyện, tôn thờ và chìm sâu trong Thiên Chúa. Nơi Người có bản tính nhân loại và bản tính Thiên Chúa, và trong sự thầm lặng tại Na-da-rét, khi làm những công việc rất đơn giản, Người để cho nhân tính thường xuyên đắm chìm trong Thiên Tính, có thể nói như vậy. Đó là công việc thiết yếu của Người.

Khi Người bước vào đời sống công khai, Người đi vào sa mạc cầu nguyện suốt 40 đêm ngày. Khi rao giảng Tin Mừng, Người thường xuyên trải qua đêm nơi vắng vẻ để cầu nguyện. Vào cuối đời, trong thời điểm đau thương nhất, Người trải qua đêm trong cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-ni. Trên thập giá, Người cầu nguyện. Thư Do Thái còn nói rằng trên trời Người vẫn còn tiếp tục cầu nguyện cho chúng ta[116].

Vậy Chúa Ki-tô đã cầu nguyện. Người là Đấng trung gian hoàn hảo, là Ngôi Lời Nhập Thể, chắc chắn Người đã hoạt động, giảng dạy, làm chứng tá, nhưng nhất là Người đã cầu nguyện.

Sức mạnh của lời cầu nguyện

Chúa Thánh Linh là linh hồn, là kiến trúc sư, là thợ xây dựng của Giáo Hội, Người làm gì trong Giáo Hội? Thánh Phao-lô có cảm quan nhạy bén đối với những điều thuộc về Thiên Chúa, đã nhận thức về Chúa Thánh Linh một cách khá tinh thế. Chúa Thánh Linh rền rỉ trong Giáo Hội, Người cầu nguyện trong Giáo Hội. Thánh Phao-lô kêu mời chúng ta lắng nghe tiếng rên siết này để cùng hoà điệu với lời cầu nguyện này, bằng lời hay âm thầm trong tâm hồn, với những tiếng rền rỉ của Chúa Thánh Linh với Thiên Chúa Cha: “Abba, lạy Cha”[117].

Tất cả các tông đồ, các thánh đã cầu nguyện. Các ngài đều hiểu rằng công việc này là cần thiết, là sự sống của Giáo Hội. Bởi đó, chúng ta có bổn phận phải cầu nguyện. Cầu nguyện là một trong những phương thế chính yếu nằm trong tầm tay của chúng ta để thi hành công việc xây dựng Giáo Hội.

Và vào thời đại người ta bị cám dỗ không biết đến, hay phủ nhận giá trị của phương tiện cốt yếu này, Thiên Chúa thúc đẩy các tâm hồn như thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su muốn hiến dâng đời sống của mình thành lời cầu nguyện. Thánh nữ không để cho mình bị lôi kéo về phía hoạt động thái quá, ngài từ chối những niềm vui và cống hiến trọn vẹn cuộc sống cho cầu nguyện[118]. Do bởi sức mạnh đặc biệt Chúa ban cho ngài và qua trận mưa ơn phước hoa hồng, không những trên những tâm hồn của đất nước chúng ta (Âu châu) mà còn trên các vùng truyền giáo, Thiên Chúa cho thấy quyền năng lời cầu nguyện nơi thánh nữ để xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

II. – SỰ HY SINH, NGUỒN MẠCH ĐEM LẠI SỰ SỐNG

Sau khi dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện hiệp nhất và sau bữa Tiệc Ly Chúa Giê-su đi vào trong cuộc Tử nạn. Sự hy sinh thường đi theo sau lời cầu nguyện và đi kèm với lời cầu nguyện. Đây cũng là một trong các phương thế đặc biệt và riêng biệt Thiên Chúa đã chọn để xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

Trong Chúa Ki-tô

Thánh Phao-lô nói rõ điều này: Thiên Chúa đã muốn hợp nhất lại tất cả những gì tội lỗi làm cho phân tán ở trên trời cũng như dưới đất[119]. Tội lỗi đã làm đảo lộn tất cả mọi sự. Nó đã làm cho chúng ta bị xáo trộn khi chạy theo dục vọng, chiều theo sự nổi loạn của các giác quan và tính kiêu căng. Chính tội lỗi là căn nguyên đem đến sự chết, làm phân ly hồn và xác. Ngôi Lời Nhập Thể đến trần gian làm trung gian và làm cho tất cả mọi sự được hiệp nhất.

Người sẽ thực hiện vai trò trung gian như thế nào? Làm cho mọi sự hiệp nhất ra sao? Nhờ bởi máu và hy tế của Người. Chính nhờ máu của Đức Ki-tô mà tất cả mọi sự được hiệp nhất: Đó là quy luật mà Thiên Chúa đã đề ra. Chắc chắn Thiên Chúa có thể làm cách khác để tái tạo mọi sự, hoặc chỉ bằng một cử chỉ, bằng ý muốn của lòng xót thương. Nhưng Người không muốn làm như thế. Có thể nói, Người phát minh ra quy luật của hy sinh, của sự đổ máu. Máu của Chúa Ki-tô sẽ là máu của Giao ước mới, máu làm cho mọi sự hiệp nhất với nhau, và thanh luyện tất cả mọi sự.

Thánh Phao-lô nhấn mạnh quy luật hy sinh này. Qua các thư tín của ngài, chúng ta đều gặp thấy quy luật muốn có sự sống phải trải qua sự chết. Chúng ta được cứu chuộc và được sống nhờ máu của Chúa Ki-tô. Và thánh nhân đã nói: nhờ Phép Rửa, chúng ta được tham dự vào sự chết của Đức Ki-tô như thế nào[120], nhất là nhờ bí tích ban sự sống và hiệp thông – bí tích Thánh Thể – loan truyền cho chúng ta về sự chết của Đức Ki-tô làm sao[121]. Hy tế của Thánh lễ là sự kéo dài, tiếp tục và hiện tại hoá hy tế của đồi Can-vê.

Thánh Phao-lô trình bày cho chúng ta biết bằng cách nào nơi Ki-tô giáo sự sống phát sinh từ đau khổ và từ cái chết. Đây là một quy luật. Đương nhiên, ngài biết rất rõ quy luật này sẽ gây nên cớ vấp phạm (scandale): vì đây là sự điên rồ, sự ô nhục[122]. Chúng ta tiếp nhận điều này một cách khó chịu. Nó đi ngược lại với tư tưởng và khát vọng của con người đến nỗi chúng ta khó mà chấp nhận được. Tuy nhiên, đây là quy luật đem lại sự sống cho Giáo Hội. Cần biết rằng sự sống nảy sinh từ đau khổ và sự chết.

Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn của Chúa Ki-tô, Giáo Hội bước ra từ trái tim của Người mà người lính đã lấy lưỡi đòng đâm thâu qua[123]. Chính vào lúc này mà Giáo Hội được thật sự tạo thành do bởi máu của Đức Ki-tô đổ tràn ra.

Đây là quy luật sự sống của Chúa Ki-tô. Chính Người đến trần gian mang lại cho chúng ta sứ điệp này. Người đến, cốt yếu là thi hành tác động cao cả, hy sinh, công việc lớn lao trên đồi Can-vê. Chính như thế đó mà Người cứu độ chúng ta, trở nên Đấng Cứu Chuộc, và làm phát sinh Thân Thể mầu nhiệm. Người đã vâng phục quy luật được công bố từ sắc lệnh của Thiên Chúa. Người đã vâng phục, học biết cái giá phải trả cho sự vâng phục này[124]: vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Chính vì vậy mà Người được tôn vinh và lãnh nhận một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu. Trước danh hiệu này, muôn vật trên trời, dưới đất phải quỳ xuống phục lạy[125].

Sự hy sinh của Người là căn nguyên đem lại chiến thắng, sự vâng phục trong đau khổ là căn nguyên của sức mạnh của Người. Chính vì Người đã vâng phục cho đến chết, chết trên thập giá mà Người trở nên nguồn mạch ơn cứu độ cho những ai vâng lời Người: Đó là quy luật của Ki-tô giáo.

Trong Giáo Hội, Chúa Ki-tô toàn thể

Quy luật của Ki-tô giáo mà Chúa Ki-tô đã chấp nhận và vâng phục trong tình yêu mến, cũng là quy luật của Giáo Hội. Chúng ta không những coi Giáo Hội như là Chúa Ki-tô toàn thể để vui hưởng những “lợi ích”, mà còn phải chấp nhận những “bất tiện”. Giáo Hội là Chúa Ki-tô toàn thể cũng vâng theo cùng một quy luật, cùng được điều khiển bởi một nguyên lý, bởi vì Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Ki-tô. Quy luật mà Chúa Ki-tô vâng phục, quy luật của hy sinh, đau khổ, và sự chết, cũng là quy luật điều khiển và chi phối sự sống, cũng như sự phát triển của Giáo Hội.

Giáo Hội không thể phát triển, lớn lên bằng những phương tiện khác, bằng một thứ lương thực hay những nguyên tắc khác với những gì đã làm phát sinh ra Giáo Hội, và điều khiển sự sống cũng như công việc của Chúa Ki-tô.

Hơn nữa, như thánh Phao-lô đã nói, linh hồn đi vào trong sự sống bởi Phép Rửa là sự thông phần vào cái chết của Chúa Ki-tô. Sự sống được phát triển trong linh hồn nhờ bí tính Thánh Thể, bí tích của sự sống. Chúng ta rước Chúa Ki-tô, đó là Chúa Ki-tô sống động, vinh hiển, đã đổ tràn sự sống của Người vào trong linh hồn chúng ta. Người là Đấng làm biến đổi, chiếm lấy chúng ta hoàn toàn và ban trọn thân mình Người cho chúng ta. Chúng ta “ăn” Người, nhưng như thánh Au-gus-ti-nô đã nói, chính Người hấp thụ chúng ta[126]. Chúng ta nên giống như Chúa Ki-tô: Ai ăn mình và uống máu Người thì có sự sống trong họ và trở nên Chúa Ki-tô.

Nhưng sự sống mà chúng ta lãnh nhận nơi Người là sự sống của Chúa Ki-tô chịu hiến tế: Người chịu hiến tế trên bàn thờ. Sự hiến tế của Người được tiếp tục qua hình ảnh bánh và rượu được phân chia, chúng ta phải thực hiện sự hiến tế này và thực hiện trong Giáo Hội.

Thánh lễ là hy lễ của đồi Can-vê, và được tăng thêm, minh hoạ và trải dài cho Giáo Hội, chúng ta có thể nói như thế. Chúng ta cần mang lấy hiến tế, khi rước lễ chúng ta không những được hiệp nhất với Chúa Ki-tô, mà còn là một sự hiến tế. Bởi vì chúng ta được hiệp nhất với Chúa Ki-tô hiến tế, sự hợp nhất này thiết yếu cần sự tham dự vào hiến tế của Người, vào đau khổ, hy sinh và ngay cả cái chết của Người.

Tại sao lại phải như thế? Bởi vì đó là quy luật sống của Giáo Hội; bởi vì sự sống của Chúa Ki-tô không thể đổ tràn ra cho chúng ta và cho thế giới nếu không có sự đau khổ. Đau khổ và hy sinh không phải là điều tuỳ thuộc, ngẫu nhiên, một tai hoạ mà người ta phải tránh né: đây là điều cần thiết để phát triển cho sự sống trong linh hồn chúng ta, sự sống của Giáo Hội trên thế giới. Hy sinh thật là cần thiết cho Giáo Hội cũng như phải có hy tế của đồi Can-vê để cứu độ chúng ta, đó là ý muốn của Thiên Chúa.

Chúng ta cần chấp nhận và thực hiện quy luật xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, điều này không có nghĩa là chúng ta đi trước hy tế của đồi Can-vê, tự ý hiến tế chính mình. Không, Thiên Chúa đã cung cấp hiến tế. Chúa Ki-tô chờ đợi giờ của Người, giờ Chúa Cha đã ấn định. Người ta không thấy Chúa Giê-su làm những việc hy sinh khác thường. Người cũng không có lý do gì để làm như thế vì Người vô tội. Người chờ đợi các biến cố, và chờ đợi cuộc tấn công của địch thủ đã được tiền định. Và Người đã chấp nhận.

Cũng giống như thế đối với chúng ta: Hy sinh là điều cần thiết cho sự sống của Giáo Hội. Đây là phương thế để làm tông đồ, không những là không thể tránh né, nhưng còn phải chấp nhận.

Nơi người tông đồ

Người tông đồ phải là một nhà chiêm niệm, và cần thiết phải là người phải hy sinh. Nếu như muốn làm việc tông đồ phát sinh hiệu quả với Chúa Ki-tô là đổ tràn sự sống vào các tâm hồn, người này phải chấp nhận phương thế của hiến tế, của hy sinh. Họ phải làm như thánh Phao-lô là hoàn tất những gì còn thiếu nơi cuộc tử nạn của Chúa Ki-tô. Đây không phải là việc bổ túc những công phúc của Chúa Ki-tô đã được hoàn hảo nơi Người, bởi vì công phúc của Người là vô biên. Nhưng Người cần đến sự hy sinh của chúng ta để áp dụng cho chính chúng ta và những người khác, cho Giáo Hội.

Đó là những phương thế riêng biệt của chúng ta để làm việc tông đồ. Có thể là tốt khi nhìn đến những hành động của ma quỷ trên thế gian đã sử dụng những phương thế, có thể nói là chính đáng, những kỹ thuật mà ma quỷ đang sử dụng, để chính chúng ta cũng làm lan toả ra ánh sáng và hành động trên các tâm hồn, và trên quần chúng. Nhưng khi sử dụng những phương thế này không làm cản trở chúng ta cân nhắc việc sử dụng những phương thế riêng biệt của mình: những phương thế hiệu nghiệm mà Chúa Ki-tô và Chúa Thánh Linh đã đề ra để xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Giáo Hội.

Cần thiết phải sử dụng những kỹ thuật. Tất cả những gì Giáo Quyền kêu mời và giới thiệu cho chúng ta, như phương pháp hoạt động của Phong trào Công giáo Tiến hành (l’Action catholique) hay những phong trào khác chắc chắn là cần thiết. Nhưng những phương thế chính yếu và riêng biệt để xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô vẫn là cầu nguyện và hy sinh.

Nghịch lý của thập giá

Có lẽ chúng ta khó chịu khi phải khép mình vào quy luật này. Thánh Phao-lô nói: đây là cớ vấp phạm, là sự điên rồ[127]. Điều này đúng thật cho thời đại của ngài và cũng như cho thời đại của chúng ta. Khi nói về quy luật của thập giá và hy sinh một cách chung chung, người ta có thể nhiệt tình đón nhận nó. Nhưng khi thập giá được trình bày trong trường hợp cụ thể, và cần phải áp dụng cho một hoàn cảnh thực tế, luôn luôn vẫn là cớ vấp phạm, ngay cả đối với chúng ta là người đã quen thuộc với quy luật này. Quy luật của thập giá đi ngược với những khát vọng chúng ta, làm tổn thương xác thịt của chúng ta. Nó đi ngược với tư tưởng và quan niệm thông thường của con người, chúng ta không thể làm quen với nó, tuy nhiên đó là một chân lý.

Vâng, Giáo Hội phải đau khổ và bị bách hại là sự thật. Sự thật là Giáo Hội và chính chúng ta, người Ki-tô hữu và người tông đồ, muốn làm việc cho Giáo Hội phải chấp nhận thất bại. Chúng tôi đã nhận được lá thư của các chị dòng kín Ca-mê-lô tại Thượng Hải, và hiện giờ họ đang sống tại Phi-lip-pin. Đây là những tâm hồn được thanh luyện bởi đau khổ một cách đáng phục khi còn cư trú tại Thượng Hải. Những tâm hồn toả sáng này làm cho tôi có ấn tượng về sự thánh thiện. Các bạn có biết họ nói như thế nào không: “Thất bại hoàn toàn, bị tàn phá, chỉ còn lại là đồi Can-vê” (Fiasco, destruction, que le Calvaire). Và họ cũng nói như thế về Giáo Hội tại Thượng Hải.

Vâng, Giáo Hội tại Thượng Hại hiện nay đang có đồi Can-vê của riêng họ. Sức mạnh của tối tăm xem ra làm cho họ bị đắm chìm và huỷ hoại. Kỹ thuật của thế lực đen tối được tổ chức một cách đáng khen, đã làm khốn khổ cho các nạn nhân. Tình trạng này vẫn còn đang tiếp diễn trong một mức độ nào đó mà chúng tôi không được biết. Vâng, thất bại hoàn toàn, bị tàn phá, đây là ngày thứ Sáu Tuần Thánh cho Giáo Hội tại Thượng Hải, cho Giáo Hội Trung Quốc ngày hôm nay[128].

Các bạn đừng tưởng rằng các chị dòng kín Ca-mê-lô nói điều này với tâm trạng thất vọng hay buồn phiền. Vâng, với sự đau khổ, nhưng đồng thời đem lại cảm tưởng của chiến thắng, bởi vì Giáo Hội được phát sinh vào chiều thứ Sáu Tuần Thánh, và từng ngày còn được xây dựng thêm nhờ bởi thất bại.

Tôi nhớ rằng cách đây hai năm, tôi có gặp vị linh mục dòng Tên, cựu bề trên của một cộng đoàn truyền giáo tại Thượng Hải. Ông đã trải qua 16 năm lao tù, và mang những thương tích trong thân thể và tâm hồn của ông. Tôi nghĩ rằng mình có bổn phận phải an ủi và khích lệ ông. Và này, ông từ chối những lời an ủi của tôi và nói: “Không, thưa cha, chúng tôi đã chiến thắng. Ước gì chúng tôi có thể trở lại Trung Quốc, nơi đây chúng tôi sẽ có được những cuộc trở lại hàng loạt. Các quan toà đã nói với tôi, các người CS của Trung Quốc đã làm những gì họ muốn, họ không gặp phải trở ngại nào, hay nói đúng hơn họ chỉ gặp một trở ngại: Giáo Hội Công giáo… Chúng tôi đã làm cảm động khối quần chúng, đã làm việc với những người này. Và khi chúng tôi trở lại, sẽ gặp thấy mùa màng chín rộ, sẵn sàng chờ đợi các tông đồ đến để thu hoạch”.

Các nữ tu dòng kín Ca-mê-lô tại Thượng Hải cũng nói như thế: “Chúng tôi đã để lại những tâm hồn ẩn mình trong dân chúng. Những tâm hồn ‘Ca-mê-lô’. Họ sẽ tái thiết lại dòng kín ở Thượng Hải và cả Trung Quốc”.

Đó là những lời mang tính chất Ki-tô giáo. Những lời này đương nhiên được nói lên với niềm đau và thất bại khi đối diện với những tai ương hoạn nạn. Vị linh mục thừa sai mà tôi vừa đề cập tới có nói: “Tôi đã trải qua 25 năm tại Thượng Hải, và trong vài tháng đã phải chứng kiến sự tàn phá của tất cả công việc mà tôi đã thực hiện tại đây trong suốt thời gian này, công trình mà các linh mục của chúng tôi đã xây dựng trong một thời gian rất lâu dài, nhưng nay bị phá bỏ chỉ trong vài tháng: trường đại học, nơi cư trú và tất cả những gì còn sót lại…” Đúng thật như thế, khi đối diện với những tàn phá này với sự đau khổ, các chị dòng kín còn nói thêm: “Chúng tôi đã hiểu được sự đau khổ của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a vào ngày thứ Bảy Tuần Thánh, trước những sự bỏ rơi và huỷ hoại”.

Tuy nhiên, niềm hy vọng đang trỗi dậy. Đó chính là Giáo Hội đang được kiến tạo. Giáo Hội, những con người này đang mang Giáo Hội trong tâm hồn của họ. Họ làm nên Giáo Hội, đang đi vào trong Giáo Hội một cách sâu xa và do đó đã là một chiến thắng. Họ sửa soạn cho những chiến thắng trong tương lai của Giáo Hội trên trần gian, cuộc chiến thắng của ngày chung thẩm. Những chiến thắng của Giáo Hội làm rạng sáng lên Chúa Ki-tô, làm lan toả ánh sáng và sự sống cho các tâm hồn.. Giáo Hội là như thế đó.

Để sửa soạn cho những chiến thắng này, chúng ta cần ý thức rằng, những phương thế đề ra cho chúng ta sử dụng là những phương thế siêu nhiên: Sự cầu nguyện và hy sinh. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Linh đang sống động trong các tâm hồn và trong Giáo Hội, nhờ lời chuyển cầu của Đức Ma-ri-a, thân mẫu Chúa Giê-su, thân mẫu của Chúa Giê-su toàn thể là Giáo Hội, giúp chúng ta hiểu được điều này. Chúng ta cầu xin ngài trợ giúp, làm cho chúng ta thành những tông đồ, ở bên ngoài trong mức độ chúng ta phải thi hành và tại những nơi mà ơn gọi đặt để chúng ta sống tại đó, nhất là làm tông đồ bằng cầu nguyện và hy sinh, chịu đựng và chấp nhận đau khổ hằng ngày, ngay cả những thất bại, ngay cả đến sự thất bại cuối cùng là sự chết, sự chia lìa hồn xác của chúng ta.

Đây sẽ là một sự thất bại, hay nói đúng hơn là trận chiến cuối cùng, sự chiến thắng cuối cùng của tội lỗi trên chúng ta, và đồng thời là sự chiến thắng chung cuộc, bởi vì cái chết sẽ dẫn đưa chúng ta vào trong cung lòng của Ba Ngôi Thiên Chúa, nơi đây chúng ta được hợp nhất với Chúa Ki-tô, và bước vào trong nhịp sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

 

NGƯỜI TÔNG ĐỒ HOÀN HẢO

Trong những bài thuyết trình này, tôi đã cố gắng trình bày một vài chân lý nền tảng của việc tông đồ. Như chúng ta đã thấy mục đích xây dựng Nước Trời, là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, Giáo Hội, bản chất của nó là như thế nào. Nước Thiên Chúa được xây dựng đối lập với vương quốc của Sa-tan. Sa-tan có được những chiến thắng bên ngoài, có thể ngày càng thêm nhiều hơn, cho đến cuộc chiến thắng cuối cùng của nó sẽ dẫn đến cuộc chiến thắng của Nước Thiên Chúa.

Xét theo khía cạnh khác, việc tông đồ là sự cộng tác, bởi vì Nước Thiên Chúa được xây dựng bởi Chúa Thánh Linh, chính Người là kiến trúc sư, là người thợ xây dựng của Giáo Hội. Xét vì Giáo Hội có tính chất thiêng liêng, Nước Thiên Chúa có những đòi hỏi cá biệt mà người tông đồ, xét như là người cộng tác phải biết đến và tôn trọng.

Chúng ta cố gắng tổng hợp những chân lý đa dạng này khi nói về người tông đồ hoàn hảo.

I. – NHỮNG ĐÒI HỎI NƠI NGƯỜI TÔNG ĐỒ KI-TÔ GIÁO

Người tông đồ hoàn hảo đương nhiên là Chúa Ki-tô: Người đến trần gian để thực hiện công trình cứu chuộc qua việc xây dựng Thân Thể mầu nhiệm của Người. Rồi đến những người mà Chúa Giê-su đã chọn lựa, huấn luyện và ban Chúa Thánh Linh để làm cho họ thành những tông đồ hoàn hảo.

Khi nói về người tông đồ hoàn hảo, trước tiên chúng ta có Chúa Giê-su và các Tông Đồ của Người. Chúng ta sẽ nhờ các ngài soi sáng. Như thế chúng ta sẽ tránh được mọi cách giải thích chủ quan. Đàng khác, chúng ta đừng do dự nói lên rõ ràng những đòi hỏi của người tông đồ Ki-tô giáo, nhờ Giáo huấn và gương mẫu của các ngài soi đường chỉ lối.

 Mỗi người chịu Phép Rửa đều nhận được sứ mạng

Trước tiên, tông đồ là người được sai đi. Chúa Ki-tô đã được Chúa Cha sai đi, Chúa Cha đã đặt Người làm tư tế và trung gian theo phẩm hàm Men-ki-sê-đê[129]. Các Tông Đồ được Chúa Giê-su sai đi: Thầy sai các con, hãy đi rao giảng cho mọi dân tộc, dạy dỗ họ và làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần[130].

Khi thánh Phao-lô Tông Đồ nói về Giáo Hội, ngài nhấn mạnh trên sự hợp nhất: chỉ có một Thánh Linh, một Đức tin, một Phép Rửa. Đồng thời khi quan niệm Giáo Hội như một thân thể[131], ngài nói rằng, Giáo Hội giống như một thân thể, nên có nhiều chi thể, nhiều bộ phận khác nhau. Sự so sánh của ngài nói lên tính chất duy nhất của Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô và tính chất đa dạng của các chi thể trong cùng một thân thể.

Tính chất duy nhất: tất cả mọi Ki-tô hữu đều mang trong mình ân sủng, là sự tham dự trọn vẹn vào đời sống của Thiên Chúa. Trong tất cả mọi chi thể, ân sủng Chúa ban cho thì giống giau, vì tất cả chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa. Ân sủng Người ban cho chúng ta, sự sống của Chúa Ki-tô, bảo đảm cho tất cả mọi người được thông phần trọn vẹn vào tất cả các đặc ân, tất cả những nhiệm vụ của chức tư tế nơi Đức Ki-tô: chúng ta là những tư tế và là vua với Đức Ki-tô.

Nhưng ân sủng ban cho chúng ta khi chịu phép Rửa Tội, mỗi người mang một “âm điệu” (tonalité) riêng biệt. Mỗi người trong chúng ta phản ánh một cách riêng biệt về một đặc tính nào đó của Thiên Chúa. Ánh sáng trắng của Thiên Chúa đi qua Chúa Ki-tô như đi qua một thấu kính, phản ánh trong mỗi người chúng ta một gam màu khác nhau. Như thế, Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô trình bày ra tất cả mọi vẻ đẹp của ân sủng, và chúng ta nhận lấy để công bố những nhân đức, những vẻ đẹp của “Đấng đã gọi anh em qua khỏi niềm u tối, vào nơi đầy ánh sáng dịu hiền của Người”[132].

Chức vị tư tế của Chúa Ki-tô cũng giống như thế: tất cả chúng ta là những tư tế cùng với Đức Ki-tô. Tuy nhiên mỗi người nhận lãnh một nhiệm vụ khác nhau trong Thân Thể mầu nhiệm của Người. Như vậy, mỗi Ki-tô hữu mang trong ân sủng của mình một ơn gọi riêng biệt, một sứ mạng cụ thể. Chúng ta phải chu toàn sứ mạng này với tất cả mọi tiềm năng của nó, nếu muốn làm phát triển ân sủng đã nhận được. Chúng ta phải chu toàn ơn gọi này – phận sự riêng biệt của chức tư tế nơi Đức Ki-tô – trong Thân Thể mầu nhiệm của Người, nếu chúng ta muốn được tham dự vào sự sống của Chúa Ba Ngôi.

Như vậy, nhờ bởi ân sủng và tình yêu của chúng ta – độc lập với sứ mạng có thể uỷ thác cho chúng ta trong một hoàn cảnh nào đó – mà chúng ta trở nên người tông đồ, bởi vì chúng ta có một nhiệm vụ trong chức tư tế của Đức Ki-tô.

Từ điều này, người ta có thể suy diễn ra mỗi Ki-tô hữu có bổn phận phải thực hiện một công việc tông đồ nào đó. Nhưng chúng ta phải xác định ngay bổn phận này như thế nào.

Bổn phận này trước tiên được thực hiện trong bổn phận của ơn gọi

Bởi vì chúng ta đã nhận lấy ân sủng và thuộc về Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, đâu là bổn phận sẽ giao phó cho chúng ta? Đây nhất thiết không phải là một sứ mạng đặc biệt. Chắc chắn có những sứ vụ tông đồ đặc biệt được bao gồm trong ân sủng, hay đứng ngoài ân sủng. Nhưng mỗi Ki-tô hữu đều có một sứ mạng thông thường làm việc tông đồ trong chính ân sủng của mình. Và cần phải xác định điều này, để có thể xác định được ý nghĩa của việc tông đồ.

Thông thường, người ta trình bày việc tông đồ như là một sự chu toàn một công việc nào đó, thuộc giáo xứ, thuộc lãnh vực xã hội, hay một lãnh vực nào đó được thêm vào với những bổn phận thường ngày của chúng ta. Chúng ta thường cho đó là việc tông đồ đích thực.

Chắc chắn, sứ mạng được giao phó cho chúng ta thi hành là những việc tông đồ, đó là những công việc làm thêm trong những lúc có thể được, trong những khi nhàn rỗi. Có thể có một sự bó buộc nào, ngay cả bó buộc trong lương tâm đối với loại tông đồ này. Nhưng điều cốt yếu của việc tông đồ hệ tại nơi bổn phận của ơn gọi, thuộc đấng bậc của chúng ta (devoir d’état). Tôi nhấn mạnh điều này, bởi vì trong lãnh vực này có thể có sự nhầm lẫn.

Vậy đâu là việc tông đồ của chúng ta? Bổn phận mà chúng ta phải làm trong Giáo Hội, một cách thông thường được hình thành nơi những bổn phận của ơn gọi chúng ta: một linh mục có thánh chức tư tế, sự cam kết của chức tế đòi hỏi ngài vâng phục giám mục và Giáo Hội để chu toàn một phận sự, một công việc tông đồ riêng biệt nào đó. Nhưng điều gì làm cho linh mục trở thành người tông đồ đích thực, đâu là nhiệm vụ chính yếu làm tông đồ của ngài trong Giáo Hội? Là làm linh mục và chu toàn những nhiệm vụ chính yếu của chức tư tế.

Xét theo khía cạnh khác, chúng ta hãy lấy ví dụ về người có gia đình. Người đó đã lãnh nhận bí tích Hôn Phối. Đâu là việc tông đồ đích thực của họ trong Giáo Hội? Đương nhiên là sinh sản và giáo dục con cái. Hôn nhân không phải là bí tích nằm ngoài Giáo Hội. Giáo Hội “hợp thức hoá” hành vi truyền sinh tự nhiên. Hôn nhân nhắm đến việc mở mang Giáo Hội, xây dựng những đền thờ thân thể trở thành đền thờ của Chúa Thánh Linh. Những người dấn thân vào đời sống hôn nhân có bổn phận chính yếu là sinh sản, giáo dục con cái và xây dựng những đền thờ thân xác, những đền thờ thiêng liêng. Như thế họ sẽ đi vào trong Giáo Hội của Thiên Chúa và trong sự sống của Chúa Ba Ngôi. Khi chúng ta kiểm điểm lương tâm và cân nhắc những bổn phận của mình, chúng ta sẽ thấy rằng cho dầu những bổn phận thứ yếu có quan trọng và khẩn thiết kêu mời, trước tiên chúng ta phải chu toàn những bổn phận chính yếu của mình.

Khi ra trước toà phán xét của Thiên Chúa, và được chiêm ngắm Giáo Hội của Người, Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô trong ánh vinh quang, chúng ta sẽ bị xét đoán trước tiên về việc chu toàn những bổn phận chính yếu trong ơn gọi của mình, nghĩa là chỗ đứng của chúng ta trong lòng Giáo Hội, và trong những bí tích mà chúng ta đã lãnh nhận để chu toàn.

Chúng ta có thể nhấn mạnh đến những bổn phận của Công giáo Tiến hành, những bổn phận xã hội hay những bổn phận quan trọng khác – đương nhiên tôi không muốn nói những bổn phận đó không quan trọng – nhưng sẽ là điều buộc rất nặng và làm cho chúng ta bị kết án nặng nề nếu như quá nhấn mạnh đến những bổn phận thứ yếu mà lơ là với những bổn phận thiết yếu của ơn gọi, của đấng bậc (grâce d’état), những bổn phận làm cho chúng ta đi vào trong tổ chức và Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

Ơn trợ giúp đương nhiên được ban cho nhiệm vụ này…

Nhiệm vụ truyền giáo được giao phó cho mỗi người chúng ta trong Giáo Hội, trước tiên gồm có những khả năng, ngay cả sức mạnh để thi hành nhiệm vụ đó. Rất thường khi người ta liên kết nhiệm vụ truyền giáo với ơn đoàn sủng, và hầu như một cách vô thức, người ta nói đến ơn đoàn sủng như điều gì phi thường.

Đúng vậy, thánh Phao-lô nhân dịp nhắc đến những chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, ngài có nói đến ơn đoàn sủng: nhiệm vụ giảng dạy, ơn chữa bệnh, ơn nói tiên tri… Trong danh sách những ơn đoàn sủng, ngài đã pha trộn các nhiệm vụ với những quyền năng đặc biệt. Theo ngôn ngữ của thánh Phao-lô, ơn đoàn sủng có nghĩa là những hồng ân thông thường, nhưng không nhất thiết phải là những ơn đặc biệt. Ngài muốn nói đến ơn đoàn sủng như là những ơn ban để mưu ích cho Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Đồng thời những ơn này được ban cho nhằm mục đích thánh hoá các linh hồn, nhưng mục đích chính của nó vẫn là xây dựng Giáo Hội.

Ơn gọi và bổn phận làm tông đồ được ban cho chúng ta, nó liên kết với ơn thánh sủng, vậy chúng gồm có những khả năng, những năng lực, một đôi khi lạ thường chắc chắn sẽ được ban cho họ. Ơn gọi và bổn phận làm tông đồ đồng thời phải có ơn thánh trợ giúp, cần được ban quyền hành để phục vụ Giáo Hội và tha nhân. Ân sủng được ban cho người tông đồ để họ có thể chu toàn bổn phận với tình yêu trong khi thánh hoá bản thân mình, cũng như có thể làm tăng thêm ân sủng khi họ thi hành nhiệm vụ tông đồ này.

Các bạn đã thấy rõ sự khác nhau giữa ơn đoàn sủng và ơn thánh hoá. Ơn thánh hoá có liên quan đến sự thánh thiện. Còn ơn đoàn sủng độc lập với ơn thánh hoá. Người ta dầu không phải là thánh nhân nhưng cũng có thể làm được những kỳ công và ngay cả làm phép lạ. Có thể người ta được ơn làm phép lạ mà không làm tăng thêm thánh hoá nơi họ. Thiên Chúa có thể dùng chúng ta để làm những việc như thế. Nhưng Người ban ơn trợ giúp để làm tăng thêm vốn liếng đã có sẵn, tăng thêm sức mạnh, nếu không thì cũng làm tăng thêm sự sốt sắng của bí tích Rửa Tội, của ơn thánh hoá nơi chúng ta.

…nhưng quyền bính chưa đủ để chu toàn nhiệm vụ cách hoàn hảo

Ơn trợ giúp, ơn đặc biệt này được ban cho người tông đồ để thi hành nhiệm vụ. Cần phải phân biệt giữa nhiệm vụ và quyền bính. Quyền bính là một ơn ban tự nó chưa đủ để chu toàn một cách hoàn hảo nhiệm vụ được giao phó. Quyền bính là ơn ban đủ để chu toàn nhiệm vụ trong những điều kiện bình thường, nhưng chưa đủ để chu toàn nhiệm vụ một cách hoàn hảo trong một thời gian lâu dài.

Nơi đây, chúng ta đang ở trong lãnh vực kinh nghiệm: Thiên Chúa muốn hành động như thế. Nhưng đối với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Thiên chúa thi hành một cách khác, Người đã nâng cao Mẹ lên ngay trong ngày được truyền tin để cho Mẹ đạt đến mức độ ân sủng cao cả và xứng đáng làm Mẹ Thiên Chúa. Đối với các Tông Đồ, Chúa Giê-su hoạt động trên họ theo một cách bình thường. Người đã chọn, kêu gọi và ban cho các ngài nhiệm vụ làm tông đồ.

Tin Mừng cho thấy Chúa Giê-su sai họ từng hai người một đi loan báo Nước Thiên Chúa, Người ban cho họ quyền bính, ơn xua trừ ma quỷ và làm phép lạ[133]. Khi trở về, tâm hồn họ đầy phấn khởi. Chúa Giê-su đáp lại với niềm hân hoan của họ: “Thầy đã thấy Sa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống”[134]. Người đã thấy được hoa trái, hiệu quả của quyền năng Người ban cho họ. Tuy nhiên trong lúc này các Tông Đồ còn xa mức trọn lành thánh thiện. Người không ngần ngại nói lên mà như quở trách: “Tôi phải ở cùng với các người và chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa”[135]. Họ ganh đua nhau, tranh luận và mong ước được làm lớn ở trong nước của Người[136].

Đây là thí dụ sống động về nhiệm vụ, về những khả năng ngoại thường và ơn gọi làm tông đồ được kèm theo ơn trợ giúp để thi hành nhiệm vụ làm tông đồ. Nhưng ơn trợ giúp này chưa làm nên sự thánh thiện, phương chi làm nên những tông đồ, những chứng nhân hoàn hảo. Một thời gian sau, Chúa Giê-su lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly, Người ban chức linh mục cho các Tông Đồ. Vậy mà ngay cả năng quyền này cũng chưa làm cho họ trở nên những tông đồ hoàn hảo. Chúng ta thấy các ngài sốt sắng khi rước Mình Máu Thánh Người trong bữa tiệc ly. Nhưng lời nói cũng với dũng chí của Phê-rô, những lời đoan hứa trung thành của mọi người chỉ dừng lại ở mức độ này: Phê-rô dùng gươm chém đứt tai tên đầy tớ Man-kô. Đó là tất cả những gì của lòng can đảm nơi ngài. Và thật nhanh thôi, một lúc sau đó, ngài chối Chúa, còn các Tông Đồ khác thì trốn chạy.

Chuyện này chỉ xảy ra sau một vài tiếng đồng hồ khi các ngài được truyền chức thánh. Ngay cả chức linh mục cũng không trao ban sự thánh thiện, cho dù thánh chức có ban đầy đủ ơn trợ giúp để các linh mục thi hành nhiệm vụ đã được giao phó. Huống chi các ngài mới lãnh nhận chức năng ở bề ngoài nhiều hơn. Vậy ơn trợ giúp này là chưa đủ.

Người tông đồ đã lãnh nhận nhận nhiệm vụ và ơn trợ giúp, nên họ có bổn phận phải kiện toàn bản thân mình. Họ không thể tin tưởng một cách tuyệt đối trên ơn trợ giúp đã lãnh nhận được. Đừng nên cho mình đã là một vị thánh và có thể lăn xả ngay vào việc thi hành bổn phận làm tông đồ với lý do là việc này rất quan trọng và khẩn thiết. Người tông đồ không nên táo bạo dấn thân làm việc tông đồ mà không để phòng gì cả, cũng như không cần tiên liệu những nguy hiểm có thể xảy ra[137].

Về vấn đề này xem ra không cần phải nhấn mạnh, vì chúng ta đang chạm đến một thực tế trong thời đại của chúng ta và được cắt nghĩa theo nhiều chiều hướng khác nhau. Có lẽ những sự sa ngã làm cho chúng ta phiền lòng hệ tại nơi sự khinh suất của người làm tông đồ có những chức vị cao trọng. Rất thường gặp, họ biện minh cho mình dựa trên lý do công việc cần phải thi hành, cần phải chu toàn chức vụ linh mục cũng như bổn phận làm tông đồ và lợi ích của các linh hồn đòi hỏi họ phải cống hiến hết mình mà không cần phải cẩn trọng, dè chừng điều gì cả. Như thế, họ tin rằng có thể lao đầu vào trong công việc tông đồ, và không may sự khốn nạn xảy đến cho Phê-rô nay lại xảy đến cho họ.

Cần thiết sự thu dụng của Chúa Thánh Linh

Như vậy chúng ta có bổn phận bảo dưỡng đời sống nội tâm để làm phát triển ơn sủng trong chúng ta. Điều gì đòi hỏi nơi người tông đồ hoàn hảo? Chúng ta hãy nhìn đến Chúa Giê-su và các Tông Đồ.

Nơi Chúa Giê-su, chúng ta thấy Người có sứ mạng tư tế và trung gian. Chắc chắn Người là Đấng trung gian giữa trời và đất, và chính nơi Người mọi sự phải được hợp nhất. Đó là nhiệm vụ được giao phó cho Người. Người cũng là Đấng Cứu Thế, Người xây dựng Thân Thể mầu nhiệm khi quy tụ mọi tâm hồn về với Người, Người chiến thắng để đem họ vào trong cung lòng của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhiệm vụ của Chúa Giê-su được xây dựng trên sự hợp nhất Ngôi Vị. Nhiệm vụ được trao phó cho Người để  xác định về những gì Người làm: chính Người là Thiên Chúa. Khi nhập thể làm người Người mang trong mình hai thái cực: Thiên Tính và nhân tính. Nhân tính của Người mặc lấy chức tư tế và được xức dầu bởi Thiên Tính. Như vậy, xét theo vị thế, Người có ơn thánh vô biên, được Thiên Tính xức dầu để trở thành Đấng trung gian và chứng tá hoàn hảo, đem lại công phúc vô cùng cho những hoạt động và sự đau khổ của Người. Nơi Người, có một sự cân bằng giữa ân sủng và nhiệm vụ: ân sủng vô cùng nâng Người lên vị trí tối cao ngang tầm với nhiệm vụ trung gian của Người.

Chúng ta đoán ra được điều gì cần phải có nơi người làm việc tông đồ: phải nâng cao mức độ ơn thánh còn thấp kém nơi người đó lên ngang tầm với sứ vụ cao cả đã được trao ban cho họ. Chính chúng ta phải đạt tới điều đã được hiện thực nơi Đức Ki-tô xét theo ơn Ngôi Hiệp.

Bây giờ, chúng ta nhìn đến điều gì xảy ra cho các Tông Đồ. Các ngài được đặt lên làm Tông Đồ, được thánh hiến để làm linh mục. Chúa trao phó Giáo Hội cho các ngài: “Như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai các con”[138]. Các con bây giờ đã trở thành những bậc thầy: “Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”[139]. Đây là những quyền năng rộng rãi, sứ mạng phổ quát nhất có thể được Chúa trao phó cho các Tông Đồ. Chúa Giê-su lên trời, giờ đây các ngài phải cai quản Thân Thể mầu nhiệm của Người là Giáo Hội.

Nhưng phận sự này, thánh chức linh mục nơi các Tông Đồ – xét theo tiêu chuẩn ơn thánh – chưa làm cho các ngài ngang tầm với nhiệm vụ đã lãnh nhận. Chúa Giê-su đòi hỏi các Tông Đồ trước khi chu toàn sứ vụ, phải chờ đợi Chúa Thánh Linh hiện xuống cho các ngài tại Giê-ru-sa-lem.

Thế nào là biến cố Hiện Xuống? Chúng ta có thể coi đây như là sự biểu lộ của Chúa Thánh Linh để ghi ấn dấu của Người trên Giáo Hội. Đây là khởi đầu công việc của Chúa Thánh Linh trên trần gian này. Người thu dụng công việc phải được thực hiện và bắt đầu thực hiện nó bằng những phương thế phi thường, như thế Người đã tỏ bày kế hoạch của Người. Nhưng chúng ta cũng phải nhận thấy nơi biến cố hiện xuống một sự thu dụng của Chúa Thánh Linh trên các Tông Đồ. Chủ đề mà chúng tôi sẽ bàn tới bắt buộc trước tiên phải xem xét khía cạnh này.

Vào ngày Chúa Thánh Linh hiện xuống, có sự biến đổi thực sự nơi các Tông Đồ. Các ngài đã nhận lấy các ơn đặc biệt, nhưng còn nhận lấy ân sủng tràn đầy một cách đặc biệt hơn nữa. Kể từ lúc này, các ngài được soi sáng để nhớ lại tất cả những gì Chúa Giê-su đã dạy bảo. Chúa Thánh Linh còn soi sáng thêm để họ hiểu biết những điều khác, như lời Chúa Giê-su đã nói trước[140]. Các Tông Đồ được ban sức mạnh: trong ngày đó các ngài trở thành những vị thánh. Các Tông Đồ được Chúa Thánh Linh chiếm hữu, và Người truyền cho các ngài loan báo những chân lý Người đã soi sáng tâm trí của các các ngài. Chúa Thánh Linh làm cho các ngài hoạt động, Người thật sự thu dụng các Tông Đồ.

Tôi thiết nghĩ chúng ta đang chạm đến điều cốt yếu của việc tông đồ và phẩm chất của người tông đồ hoàn hảo. Người tông đồ vẫn bất toàn khi chỉ nhận được sứ vụ và ơn trợ giúp đi liền theo sứ vụ đó. Họ phải là người cộng tác viên của Chúa Thánh Linh, và chỉ trở nên người tông đồ hoàn hảo khi Chúa Thánh Linh thực sự thu dụng tâm hồn các ngài.

Nơi đây, xem ra chúng ta đang đụng chạm tới phép lạ, và những điều kỳ diệu: không đúng như thế. Khi đề cập đến điều này, chúng ta thường nghe người ta nói rằng, đây là mầu nhiệm, những điều lạ lùng, không dành riêng cho chúng ta, nhưng chỉ dành riêng cho một vài người thánh thiện. Không phải như thế đâu.

Ơn thánh hoá được ban làm cho chúng ta trở nên con cái của Thiên chúa. Trong cơ cấu này, Người ban cho chúng ta những nhân đức thiên phú giúp làm việc và hoạt động trong lãnh vực siêu nhiên như là những con cái Thiên Chúa, như là những thần linh. Chúng ta đừng e ngại nói lên điều này: chúng ta nhận biết Thiên Chúa như là Thiên Chúa nhận biết chính Người, yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa yêu mến chính Người, điều này đúng thật. Khi tình yêu được nên hoàn hảo, chúng ta hãy lấy tình yêu Thiên Chúa đã ban cho để đáp lại tình yêu của Người, hãy yêu mến Người như Người đã yêu mến chúng ta, và hãy yêu mến Người một cách trọn vẹn như Người đã yêu mến chúng ta như thế[141], bởi vì chúng ta là những con cái của Người.

Nhưng cấu trúc siêu nhiên của chúng ta cũng gồm có những ơn ban của Chúa Thánh Linh, đây là những chiếc ăng-ten có khả năng thu nhận những luồng sóng của Chúa Thánh Linh đang hiện diện trong chúng ta. Chúa Thánh Linh được ban cho chúng ta đồng thời với với ân sủng[142], để Người hoạt động trong linh hồn, trên tâm trí và ý chí tự do của chúng ta. Người hoạt động cách thâm sâu trong tâm hồn chúng ta đến nỗi những hành vi của chúng ta trở nên những hành vi thiên linh (actes divins)[143].

Một đôi khi, người ta hạn chế hoạt động của Chúa Thánh Linh với những ơn ban đặc biệt như trong các câu chuyện thần tiên, và những hành động phi thường của các thánh tử đạo. Không đúng như thế. Khi chúng ta đọc đến giáo lý của Ki-tô giáo được các thánh Au-gus-ti-nô và Tô-ma A-qui-nô trình bày, những vị thánh tiến sĩ này nói rằng Chúa Thánh Linh đang trực tiếp hoạt động trong tâm hồn, trên mọi hành vi nhân linh của chúng ta. Tất cả mọi hành vi của nhân đức đều do Chúa Thánh Linh tác động[144]. Chúng ta đừng vịn cớ giáo thuyết về tác động của Thiên Chúa qua ơn ban của Chúa Thánh Linh chưa được nghiên cứu chỉnh chu để có quyền phủ nhận điều này. Chúng ta chỉ cần rút ra những hệ luận thực tiễn từ giáo lý của Giáo Hội.

Các tông đồ phải được Chúa Thánh Linh chiếm hữu và tuân phục sự chiếm hữu này của Người

Giáo thuyết này cho phép chúng ta rút ra những hệ luận.

Trước tiên, Thiên Chúa ban cho chúng ta những ơn ban của Chúa Thánh Linh, qua những ơn ban này, Người thay thế hoạt động của Người bằng hoạt động của chúng ta; hay nói đúng hơn, Người cùng làm với chúng ta cách mật thiết đến nỗi những hành vi của chúng ta trở thành những hành vi linh thánh của Người (divins). Bởi vì Người đã ban những ơn Chúa Thánh Linh cho tất cả mọi tín hữu và không chỉ dành riêng cho các thánh hay các đan sĩ, hay các nhà chiêm niệm, nên Người muốn các ơn đó được mọi người dùng đến. Tôi xin lỗi vì tính chất không chính xác của ngôn ngữ, tôi đang tìm cách để diễn tả cách rõ ràng hơn.

Thứ đến, nếu Thiên Chúa đã thực sự ban cho chúng ta ơn gọi làm tông đồ – tôi chỉ giới hạn trong điều chính yếu – ơn gọi này được bao hàm trong ân sủng đã được ban cho chúng ta…; nếu như việc thi hành làm tông đồ, thi hành nhiệm vụ này cần thiết đối với chúng ta để làm phát triển ơn thánh sủng là để cho chúng ta có một vị trí trong Giáo Hội, và vị trí đã được sửa soạn trong cung lòng Ba Ngôi Chí Thánh, Thiên Chúa cần ban cho chúng ta ơn trợ giúp cần thiết cho việc chu toàn nhiệm vụ này một cách hoàn hảo.

Nếu như Thiên Chúa không ban ngay ơn trợ giúp này, nếu như Người chưa làm cho chúng ta trở nên những vị thánh ngay trong lúc này, nếu như Người không nâng chúng ta lên lập tức mức độ hoàn hảo trong việc tông đồ, và không ban ngay tức thời những phương thế để chu toàn công việc tông đồ cách trọn vẹn, là vì đời sống Ki-tô hữu là một cuộc chiến đấu mà chúng ta phải tỏ ra xứng đáng để lãnh nhận ơn phúc của Người. Kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa đòi hỏi phải có diễn tiến xứng hợp, nếu xét về phía Thiên Chúa; và xét về phía chúng ta cần phải có sự cộng tác và cầu nguyện.

Bởi vậy, nếu như mỗi người chúng ta có một bổn phận, nên chúng ta có quyền lãnh nhận ơn phước, có quyền được Chúa Thánh Linh tác động và giúp đỡ để chu toàn trọn vẹn những bổn phận được ân sủng giao phó. Sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh có thể ban cho chúng ta mà không cần đến những ơn đặc biệt, vì sự giúp đỡ này được ban cùng với cơ chế của ân sủng mà chúng ta đã lãnh nhận trong khi chịu phép Rửa Tội.

Việc tông đồ hoàn hảo đòi hỏi phải có sự trợ giúp của Chúa Thánh Linh. Đây là một sự cộng tác không phải có tính chất nhất thời và bên ngoài, hay chỉ dành cho một hành vi, một công việc nào đó, nhưng đây là sự cộng tác liên tục và bền vững. Bởi vì khi chúng ta xét bổn phận làm tông đồ dưới khía cạnh của bổn phận theo ơn gọi, bổn phận đó phải là chuyên nhất và vững bền. Bởi vậy, chúng ta có quyền được Chúa Thánh Linh ban ơn trợ giúp. Chúng ta có thể nhận được ơn trợ giúp và chắc chắn Người sẽ ban cho nếu chúng ta xứng đáng.

Để lãnh nhận ơn trợ giúp điều cần lưu ý trước tiên là chỉ có ơn trợ giúp mà thôi thì chưa đủ, mà còn cần phải ý thức về những thực tại thiêng liêng trong chúng ta, ý thức về ơn gọi và bản chất của việc tông đồ là một sự cộng tác. Việc chăm sóc đầu tiên của người tông đồ giống như người thợ trước khi bắt tay làm công việc, đương nhiên là lo lắng trang bị đầy đủ dụng cụ cho mình để trở thành người tông đồ hoàn hảo, và để bảo đảm cho sự cộng tác này được tốt đẹp. Bổn phận đầu tiên của người tông đồ không nhất thiết là phải hành động – phải làm điều này – nhưng bổn phận đầu tiên của người tông đồ là phải hành động cho tốt và làm phát triển ơn thánh hóa, hợp nhất với Chúa Ki-tô để công việc của mình trở nên tốt đẹp thực sự, trở nên công việc của một người tông đồ chân chính, nghĩa là có sự cộng tác mật thiết với Thiên Chúa.

Không phải chỉ cần có một vài khả năng, một ít ánh sáng. Để cho việc tông đồ nên hoàn hảo, Chúa Thánh Linh cần phải thúc đẩy chúng ta; Người phải hợp nhất với chúng ta đến nỗi hành động của chúng ta – đương nhiên là một hành động nhân linh – phải được linh động và thần hóa không những bằng những ơn trợ giúp, mà còn bằng tác động thâm sâu của Chúa Thánh Linh.

Trong đời sống của các Tông Đồ, chúng ta thấy Chúa Giê-su đã từ từ dẫn dắt các ngài cho đến ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Người đã cho các ngài thực tập làm tông đồ, đã ban chức linh mục và để cho các ngài trải qua những kinh nghiệm đau thương, bắt buộc các ngài phải cầu nguyện và ban Chúa Thánh Linh cho các ngài, ngay cả khi sự thánh thiện của các ngài đã tiến triển và còn phải phát triển.

Các thánh và các bậc linh sư cung cấp cho chúng ta những chi tiết về sự hợp nhất với Chúa Thánh Linh. Ví dụ như thánh Tê-rê-sa A-vi-la[145] nói về những giai đoạn cần trải qua để đạt đến sự kết hợp hoàn hảo này. Tôi nhấn mạnh điều này để lưu ý đến chân lý này: sự hợp nhất với Thiên Chúa không những nhắm đến việc kết hợp mầu nhiệm thâm sâu với Người, nhắm đến việc làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các linh hồn. Sự kết hợp với Thiên Chúa còn cần thiết, và có lẽ khẩn thiết hơn để chúng ta chu toàn những công việc bên ngoài, những công việc tông đồ. Nếu người tông đồ không hợp nhất với Thiên Chúa, công việc của họ sẽ bất toàn và có lẽ phải hối tiếc. Còn may mắn nếu người tông đồ không vấp ngã trong công việc của họ, và không làm hư hỏng ơn Chúa khi dấn thân cho việc tông đồ này.

Bởi vậy, nếu chỉ xem việc kết hợp với Thiên Chúa như là điều duy nhất phải làm để cho Chúa được vinh danh, mưu ích cho các tâm hồn, và nhất là tìm kiếm thú vui thiêng liêng cho riêng mình, là chưa nhận biết giá trị của sự hợp nhất với Thiên Chúa. Sự chiếm hữu của Chúa Thánh Linh, sự hợp nhất với Người là cần thiết cho tất cả mọi người và đặc biệt là cần thiết cho người tông đồ. Chính điều này làm nên người tông đồ hoàn hảo.

 II– NGƯỜI TÔNG ĐỒ ĐƯỢC CHÚA THANH LINH THU DỤNG

Người tông đồ được Chúa Thánh Linh thu dụng như thế nào? Đương nhiên, họ có thể nhận được những ơn phi thường hay ơn làm phép lạ. Cho phép tôi không nói về loại ơn đoàn sủng này, Thiên Chúa có thể ban cho theo như ý Người muốn, vì dù sao thì điều này không làm nên phần cốt yếu của việc tông đồ.

Kinh nghiệm về sự hiện diện sống động của Chúa Thánh Linh

Người tông đồ khi hợp nhất hoàn toàn với Thiên Chúa sẽ được Chúa Thánh Linh soi sáng. Chúa Giê-su nói với các Tông Đồ: “Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều thầy đã nói với anh em”[146], và Người còn nói thêm: “Ai yêu mến thầy, thì sẽ được Cha thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”[147]. Chân lý của Tin Mừng chính là: Chúa Cha và Thầy sẽ tỏ mình cho người ấy. Đây là lời hứa của Chúa Giê-su sau bữa tiệc ly. Người nào đạt đến trình độ được Chúa Thánh Linh chiếm hữu, thì có sự biểu lộ của Chúa Thánh Linh nơi họ, một sự biểu lộ của Thiên Chúa.

Không phải người đó có những thị kiến, nhưng là ân sủng đã đến cho người đó trong mức độ nói lên thực tại mà ân sủng đang hoạt động trong tâm hồn của họ. Ân sủng này có kinh nghiệm riêng của nó, gần như là một kinh nghiệm; ân sủng mặc khải ra cho tâm hồn với sức mạnh của ân sủng, và mặc khải ra những thực tại đi liền với ân sủng. Kinh nghiệm thần bí này tuy khó hiểu, nhưng rất thật, hơn nữa nó mang nhiều hình thức khác nhau.

Nơi thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la, kinh nghiệm thần bí này mang lấy hình thức một thị kiến mà ngài gọi là: “Thị kiến thiêng liêng về Ba Ngôi Chí Thánh”[148]. Còn nơi thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, có kinh nghiệm về “Tình Yêu thấm nhập và bao bọc”[149]. Chị nói rất rõ về sứ mạng đã được giao phó cho chị. Chị sẽ trình bày rõ ràng về sứ mạng đó, và đầy lòng kính trọng đối với sự hiện diện của Chúa, đối với sứ mạng và tất cả mọi ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho chị.

Hơn nữa, sự trợ giúp của Chúa Thánh Linh làm cho mọi công việc của người tông đồ trở nên sống động. Khi đọc lại lịch sử của Giáo Hội chúng ta thấy tất cả những công việc mà các thánh, các đấng lập dòng thực hiện, những nhân vật mà Thiên Chúa đặt vào nơi những khúc quanh của lịch sử để làm việc tông đồ. Chúng ta sẽ ngạc nhiên trước những thành quả phong phú do bởi công việc các ngài đã làm. Những hoa trái và thành quả này được giải thích một cách đơn giản là các ngài đã làm công việc của Thiên Chúa, Người đã tác động và ban những khả năng phù hợp với địa vị của các ngài. Những khả năng này tùy thuộc vào cá nhân, nhưng những hành động của các ngài lại thuộc về Thiên Chúa.

Đồng hoá với Đức Ki-tô, cầu nguyện và hy sinh

Điều này dẫn đến sự đồng hoá của các thánh với Đức Ki-tô. Người ta có thể nói: “Trái tim của Phao-lô là trái tim của Đức Ki-tô” (Cor Pauli, cor Christi). Người ta có thể nói như thế về tất cả các thánh. Các ngài đồng hóa với Đức Ki-tô, không nguyên với Đức Giê-su Ki-tô, nhưng còn với Đức Ki-tô Toàn Thể, là Giáo Hội. Khi đọc đến thư tín của thánh Phao-lô, người ta lấy làm cảm kích về điều này. Nhiều khi nghe thánh Phao-lô nói về Đức Ki-tô, người ta không biết ngài nói về các đặc tính của Đức Ki-tô hay nói về các đặc tính của Giáo Hội. Thành ngữ được ngài lặp đi lặp lại nhiều lần: “Và trong Đức Giê-su Ki-tô” (et in Christo Jesu). Khi ngài nói lên những chân lý này như nước tuôn thác đổ, với những tiếng ở dạng thuộc cách (génitif = của, thuộc về), trong một thứ ngôn ngữ bình dân, nhưng làm cho ánh sáng chân lý lan tỏa ra, ngài luôn tóm tắt bằng cụm từ: “Và trong Đức Giê-su Ki-tô”. Điều này phản ánh sự trải nghiệm của chính bản thân thánh Phao-lô.

Người ta cũng gặp thấy loại ngôn ngữ đồng hoá với Đức Ki-tô nơi các thánh, như thánh Tê-rê-sa A-vi-la, thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su… Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su nói: “Em không biết trên trời sẽ như thế nào; em sẽ sống với Thiên Chúa, nhưng em sẽ không biết điều đó sẽ xảy ra như thế nào, bởi vì ngay từ đời này em đã ở với Người như thế”[150]. Có một sự hợp nhất và điều này chỉ được thực hiện trong lãnh vực ơn thánh, với sự phát triển của ơn thánh mà không cần đến những ơn đặc biệt, chúng ta có thể nói như thế.

Sự hợp nhất với Đức Ki-tô sẽ làm cho hoạt động của họ sinh hoa kết quả, sẽ làm cho các công việc của người tông đồ hài hòa với những tác động của Chúa Ki-tô. Tâm hồn này sẽ cầu nguyện với Chúa Ki-tô và trong ánh sáng Người ban cho họ. Ánh sáng này không những là ánh sáng chung chung của sự hiện diện Thiên Chúa trong tâm hồn, mà còn là ánh sáng sẽ ban cho cho họ đúng thời đúng lúc, ánh sáng soi chiếu cho Giáo Hội trường cửu và Giáo Hội trong thời đại của Người tông đồ.

Theo cách nói của thánh Phao-lô[151], tâm hồn người tông đồ cầu nguyện với Chúa Ki-tô, với Chúa Thánh Linh, thốt ra những tiếng rên siết khôn tả. Thánh Phao-lô đã hoà quyện tâm hồn của ngài với tâm hồn của Chúa Ki-tô, với Chúa Thánh Linh, đến độ ngài cảm nhận được tiếng rên siết của Chúa Thánh Linh trong thiên nhiên[152]. Sự cầu nguyện của người tông đồ là sự cầu nguyện của Chúa Thánh Linh, của tất cả tạo vật không ngừng sinh nở và chờ đợi ơn cứu độ. Kinh nghiệm được Chúa Thánh Linh thu dụng nơi thánh Phao-lô, dẫn đưa ngài vào trong chiều sâu thẳm của Thiên Chúa và của tạo vật.

Khi đọc đến thủ bản của thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su – tôi xin trưng ra hai thí dụ, và tôi có thể kể ra nhiều hơn – chúng ta cũng thấy nơi ngài có sự hoà hợp với thiên nhiên. Nếu như chị thánh hòa nhập với thiên nhiên là để cầu nguyện và chịu đau khổ. Bởi vì tâm hồn của chị hòa hợp với tạo vật, nên chị như có thêm một nhân tính khác nữa, theo như kiểu nói của thánh Ê-li-sa-bét Chúa Ba Ngôi. Chúa Ki-tô trên trời không còn chết nữa, nhưng dưới trần gian Người vẫn còn có thêm những tâm hồn, những con người có thể cầu nguyện và chịu đau khổ.

Họ chịu thương chịu khó vì điều gì? Trước tiên, họ chịu đau khổ để mang lấy tội trần gian: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”, thánh Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giê-su với các môn đệ của ngài như thế. Người ta cũng có thể nói như vậy về những tâm hồn thánh thiện. Họ mang lấy tội lỗi, bất kỳ thứ tội nào có thể có, nhất là tội xúc phạm và chống đối Thiên Chúa, tội thời đại của họ.

Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su đã nói rằng: “Em mang lấy tội lỗi của thời đại này, em ăn bánh của tội bất tín của thời đại”[153]. Và điều này hiện diện trong chị bởi những cám dỗ nghịch với đức tin, bởi sự đau khổ bao phủ, bởi những tiếng động, những bóng ma đến trong đêm tối nói với chị: thế giới bên kia chẳng có đâu. Chị ăn bánh của bất tin, bất tín của thời đại vì lòng yêu mến các linh hồn. Và chính vì vậy mà chị có thể trở nên nguồn ánh sáng cho thời đại của chị.

Sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động và chiêm niệm

Bởi vậy, tâm hồn thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su cầu nguyện, chịu đau khổ và hành động. Trong những lãnh vực này hoạt động và chiêm niệm nơi chị đi song đôi với nhau. Chính chúng ta, khi đứng dưới “chân cầu thang” thường phân chia chiêm niệm với hoạt động. Còn tâm hồn luôn luôn sống với Chúa như thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, có thể nói: “Em không trải qua ba phút mà không tưởng nhớ đến Chúa”[154]. Với sự nhớ Chúa mà thánh nữ hoạt động, chị làm gì? Làm điều mà Chúa Thánh Linh thúc đẩy. Chị chiêm niệm sau khi đã hoạt động, sự hoạt động của chị ngang bằng với sự chiêm niệm.

Khi nhìn thấy các thánh đạt tới trình độ này, chúng ta đừng phân biệt chiêm niệm hay hoạt động. Xét theo bề ngoài, các ngài là những nhà chiêm niệm hay hoạt động tuỳ theo dạng thức của đời sống các ngài, nhưng xét theo bên trong của chính bản thân họ, trong chính đời sống chân thật của các ngài, các ngài vừa là hoạt động vừa là chiêm niệm.

Đây là người tông đồ hoàn hảo vì họ kết hợp một cách hoàn hảo với Chúa Thánh Linh.

Niềm vui của việc hoàn thành những công việc của Thiên Chúa

Như thế người tông đồ hoàn hảo vừa đi vào trong cầu nguyện, hoạt động, chịu đau khổ và cũng tiến bước trong niềm vui. Chúa Giê-su là con người đau khổ[155], và cũng là người của niềm vui, bởi vì Người vui hưởng thị kiến hạnh phúc, thị kiến linh cảm. Người chiêm ngưỡng Thiên Tính ở trong Người. Người vui hưởng Thiên Tính giống như chúng ta sẽ vui hưởng điều này trên trời: đó là nguồn mạch của an vui.

Đồng thời khi nhìn đến Giáo Hội, một đôi khi Chúa Giê-su nói lên: khi các Tông Đồ trở về sau cuộc thực tập truyền giáo, tâm hồn Người rộn rã niềm vui và cảm tạ[156], bởi vì Người đã thấy những chiến thắng trong tương lai. Ngay cả khi bị xét xử trước toà án của thượng tế Cai-pha, rồi bị lên án, Người đã thấy sự chiến thắng trong ngày cuối cùng, trong ngày Người ngự đến cùng với thập giá để xét xử kẻ sống cũng như kẻ chết. Đó là ngày chiến thắng của Người[157]. Người sống trong niềm vui khi thoáng thấy những thực tại siêu nhiên của sự chiến thắng chắc chắn trong ngày sau ngày sau hết, qua sự trải nghiệm và nhìn thấy sự chiến thắng của Người trong Giáo Hội và trên thế giới. Cái chết của bậc thánh nhân sẽ như thế nào? Chúng ta hãy nhìn đến thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, vị thánh sống rất gần với thời đại chúng ta. Chị thánh nói với các chị em trong dòng: “Các chị đừng ngạc nhiên, nếu như vào lúc cuối cùng trong cuộc đời của em, các chị không thấy em được an ủi”[158]. Người ta mong ước cho chị một cuộc ra đi thật tốt đẹp trong một ngày lễ nào đó: “Không, điều này không dành cho em”[159]. Và thánh nữ Tê-rê-sa nói tiếp: “Em cầu xin được chết như Chúa Giê-su trên thập giá”[160]. Cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá xem ra là điều đẹp nhất đối với chị, và quả thật chị đã có cái chết này.

Vừa rồi tại dòng kín Lisieux, mẹ bề trên đã chỉ cho tôi xem thấy tượng Thánh Tâm Chúa Giê-su và nói với tôi: “Vào ban chiều ngày 30 tháng 9, mẹ Agnes, chị cả và là mẹ ‘yêu dấu’ của thánh nữ Tê-rê-sa đã đến trước tượng Thánh Tâm này. Mẹ đã nói với tôi, khi thấy những xao xuyến bồi hồi mà Tê-rê-sa đang trải qua, với những giọt mồ hôi giống như những viên ngọc nhỏ bé chảy lấm tấm trên trán của chị, với tất cả sự lo âu theo từng nhịp thở xuất hiện trên gương mặt của Tê-rê-sa. Mẹ Agnes đã rời giường bệnh của Tê-rê-sa và đi đến trước tượng Thánh Tâm này mà mẹ hay cầu nguyện. Lúc ấy mẹ Agnes nói, con cầu nguyện cho Tê-rê-sa và thưa với Chúa Giê-su: ‘Lạy Thánh Tâm Chúa Giê-su, xin đừng để cho đứa em bé nhỏ của con chết trong thất vọng và tuyệt vọng’”. Đó là sự ra đi giống như cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá.

Thật vậy, thánh nữ Tê-rê-sa có nói: “Em không tin có thể chịu đựng được một sự đau khổ như thế”[161], và thánh nữ nói thêm ngay: “Nhưng em đang hưởng sự bình an tuyệt vời”[162]. Chị đã ra đi bằng cách thức như thế, trong xao xuyến, đau khổ, và tranh đấu cùng với thị kiến cuối cùng được soi sáng bởi những thực tại mà chị đã thoáng nhìn thấy. Chính cái chết của chị giống như của Chúa Giê-su trên thập giá chứng minh cho thấy chị là một tông đồ hoàn hảo, cái chết này bảo đảm sự chiến thắng cho chị.

Trước khi chịu thương khó Chúa Giê-su đã nói: “Thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử”[163], tuy Người còn có cả một trận chiến phải đương đầu khi chịu tử nạn. Chúa Giê-su trút hơi thở cuối cùng và kêu lớn tiếng, đây là tiếng kêu của người chiến thắng, vì nó bắt đầu cho một mùa màng phong phú đích thực của Người là Giáo Hội. Cũng giống như thế đối với các thánh nhân, những người tiến vào trong cuộc chiến thắng khải hoàn rất thường khi họ phải kinh qua đau khổ để nên đồng hình dạng với Chúa Ki-tô, hay nói đúng hơn để xác định căn tính của mình cho Đức Ki-tô.

Nhưng sự sống của các thánh nhân vẫn còn tiếp tục. Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su có nói: “Em sẽ không yên nghỉ trong Nước Trời cho đến khi Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô được phát triển toàn vẹn, cho đến khi con số của người tuyển chọn được tròn đầy”[164]. Chị thánh tiếp tục cuộc đời của mình trên Trời, và cũng giống như Chúa Ki-tô đang tiếp tục hoạt động, chị tiếp tục cầu xin ơn phúc và cầu nguyện cho chúng ta. Chị cũng tiếp tục làm việc cho Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, và chưa nghỉ ngơi bao lâu Thân Thể mầu nhiệm chưa được hoàn thành trọn vẹn.

Bởi vậy, đến ngày vinh quang đó Thân Thể mầu nhiệm mới đạt tới tất cả vẻ đẹp và tầm vóc của mình, lúc ấy người tông đồ sẽ có niềm vui trọn vẹn. Bởi vì niềm vui của người tông đồ được thành hình do bởi niềm vui mà họ thấy trong Thiên Chúa. Niềm vui này cũng được thành hình bởi niềm vui được gặp thấy trong Giáo Hội. Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su còn nói lên điều này bằng thứ văn phong đơn giản và đầy ý vị: “Trên Nước Trời, vinh quang của em được làm thành từ tia sáng toả chiếu ra trên vầng trán của ‘Mẹ’ em, là Giáo Hội” (Dans le Ciel, ma gloire sera faite du rayon qui jaillira du front de ma mère, l’Église)[165].

 

 

 [1] Lc 11,1-4.

[2] Chemin de la perfection, ch. 23 à 44.

[3] Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Người là Con Thiên Chúa, Ngôi Hai của Ba Ngôi Chí Thánh, đã hợp nhất với bản tính nhân loại mà vẫn không mất đi bản tính Thiên Chúa. Để diễn tả mầu nhiệm này, các nhà thần học dùng đến kiểu diễn tả về hợp nhất theo Ngôi vị (hypostatique, theo tiếng Hy Lạp là hypostase = Ngôi vị). Được thực hiện trong lúc nhập thể, sự hợp nhất này từ nay, là bất khả phân chia, nghĩa là sự hợp nhất thường hằng.

[4] Théandriques = hoạt động của Thiên Chúa làm người, do bởi tiếng Hy Lạp: Theos = Thiên Chúa, và Andros = người.

[5] Xh 13,21-22.

[6] Trên trần gian, chúng ta chỉ có thể nhận biết mầu nhiệm của Thiên Chúa, và sự hiện diện của Người bằng đức tin. Điều này đúng, nhưng không rõ ràng, bởi vì lý trí của chúng ta không thích ứng được với sự nhận biết rõ ràng và trực tiếp về Thiên Chúa. Sau khi chết Thiên Chúa ban cho con người sự nhận biết siêu nhiên về Người, cho phép chúng ta chiêm ngưỡng Người diện đối diện. Khả năng chiêm ngưỡng này được gọi là “ánh sáng vinh quang” (lumen gloriae).

[7] Cantique Spirituel, str. 36, p. 879-884.

[8] Trong phần nói về tri thức của Chúa Kitô, khi chuyển ngữ, chúng tôi có bỏ qua một số chi tiết trùng lặp, vì sợ rằng nếu kể ra hết, sẽ làm rối trí độc giả thời nay vốn yêu chuộng sự vắn gọn. Điều này, cũng áp dụng cho những đoạn khác.

[9] Lc 2,52.

[10] Dt 5,8.

[11] Mt 4.

[12] Lc 5,16.

[13] Lc 21,37.

[14] Rm 8,34; Dt 7,25-26.

[15] Lc 3,21-22.

[16] Ga 1,33.

[17] Lc 9,28 tt.

[18] Mt 17,5.

[19] Confession, VII, 10.

[20] Bossuet, 4e lettre, “à une Demoiselle de Metz”, 28.

[21] Dt 4,15.

[22] Is 53,4-5.

[23] Dt 5,8.

[24] Lc 22,53.

[25] Lc 22,44.

[26] Mt 26,40.

[27] Rm 6,9.

[28] Cl 1,24.

[29] Vie, ch.9.

[30] Manuscrit C, 5 ro s.

[31] Mt 25,14tt.

[32] Cantique Spirituel, str. 38, p. 891-892.

[33] 1 Cr 10,4.

[34] Mt 10,16tt.

[35] Ga 16,33.

[36] Rm 8,34.

[37] Rm 8,26.

[38] 2 Cr 12,9.

[39] 2 Cr 12,10.

[40] Lc 2,34.

[41] Mt 3,2.

[42] Mt 20,23tt.

[43] Lc 22,24.

[44] Ga 18,37.

[45] Ga 19,19.

[46] Ga 18,36.

[47] Cv 1,6.

[48] Lc 1,32-33.

[49] Mt 13, 31.

[50] Ep 3,1-13.

[51] Ep 1,22-23.

[52] Ep 1,23; Cl 2,10; 3-11

[53] Ep 4,13.

[54] Mt 13,24-30.

[55] Đêm Tối Tăm (Nuit obscure), II, 23, p. 658.

[56] LC 4,1.

[57] Mt 4,3.

[58] Ga 6,70; 13,2.

[59] Lc 22,53.

[60] Lc 22,44.

[61] Ga 12,31; 14,30.

[62] Lc 18,8.

[63] Mt 24,12-13.

[64] Mt 24,22.

[65] Mt 26,64.

[66] 1 Tx 4,16tt.

[67] Trao đổi = Commerce: ở đây có nghĩa là sự cầu nguyện, theo như định nghĩa của thánh Têrêsa Avila. Cầu nguyện là một sự trao đổi tình thân ái, trong đó người ta đàm thoại thường xuyên với Thiên Chúa và biết rằng mình được yêu (Vie, ch. 8, p. 82).

[68] Những lá thư trao đổi này được công bố trong “père d’une multitude” (cha của nhiều dân tộc), Sarment-Fayard, 1988, p. 158 et p.160.

[69] Ga 14,16; 15,26-27.

[70] LC 1,35.

[71] Ga 1,33.

[72] Lc 4,1.

[73] Lc 4,21.

[74] Lc 24,49.

[75] Cv 2,41.

[76] Rm 5,5.

[77] Château de l’âme, tr.814tt.

[78] 1 Cr 6,19.

[79] 1 Cr 3,16-17.

[80] Cv 15,28.

[81] Ga 20,21

[82] Thánh Bênađô, Bài giảng Ngợi khen Đức Trinh Nữ Maria, 4,8-9, sách Nguyện, bài đọc ngày 20.12.

[83] Mt 25,14-30.

[84] 1 Ga 15,1.

[85] Mt 5,45.

[86] Cv 15,28.

[87] Ga 7,38.

[88] Pl 2,7.

[89] Dt 4,15; 5,8-10.

[90] Lc 4,16tt.

[91] Ga 20,21.

[92] Mt 28,19.

[93] Mt 13,33.

[94] Ga 3,11tt.

[95] Ga 10,38.

[96] Cv 2,14tt.

[97] Cv 1,8.

[98] Dt 5,5tt.

[99] Dt 5,10.

[100] 1 Cr 12.

[101] Cf. Vie, ch. 31, p. 340.

[102] Mt 7,22-23.

[103] Mt 13,33.

[104] Lc 22,31-38.

[105] Lc 22,53-63.

[106] Mt 28,19.

[107] Cv 1,45.

[108] Cv 1,13-14.

[109] Cf. Château de l’âme (Lâu đài các tâm hồn), p. 911 et s., et Je veux voir Dieu (Tôi muốn thấy Thiên Chúa), p. 1060-1070.

[110] Lc 16,8.

[111] Ga 16,23-24.

[112] Gl 1,17-18.

[113] Lời xướng Alleluia, trong Phụng vụ lễ Thăng Thiên: “Người lên cao dẫn theo tù binh” (Ascendens in altum, captivam duxit captivitatem)

[114] Cf. S. Jean De La Croix, “Prière de l’âme embrasée d’amour” (Lời cầu nguyện của tâm hồn được thắp sáng bởi tình yêu), Oeuvres, p. 1183.

[115] Cf. Manuscrit B, 3 vo.

[116] Dt 7,25.

[117] Rm 8,15; Gl 4,4-7.

[118] Cf. Conseils et Souvenirs (Lời khuyên và Kỉ niệm), p. 109.

[119] Cl 1,19-20.

[120] Rm 6,4.

[121] 1 Cr 11,26.

[122] 1 Cr 1,23-24.

[123] Ga 19,34.

[124] Dt 5,8.

[125] 2 Pl 2,7-10.

[126] Cf. Confession , VII, 10.

[127] 1 Cr 1,23.

[128] Tác giả viết những dòng này vào năm 1990. Hy vọng bây giờ, hơn 30 năm sau, tình trạng Giáo Hội tại Trung Quốc có biến chuyển khá hơn (lời của dịch giả).

[129] Dt 6,20.

[130] Mt 28,18-19.

[131] 1 Cr 12.

[132] 1 Pr 2,9.

[133] Lc 9,1.

[134] Lc 10,18.

[135] Lc 9,41.

[136] Lc 9,46.

[137] Để hiểu rõ sự phân biệt quan trọng và tinh tế này, xin đọc chương cuối cùng của cuốn “Je veux voir Dieu” (Tôi muốn thấy Thiên Chúa), tr.1042-1048, và tr. 1054-1060 của bản tiếng Pháp.

[138] Ga 20,21

[139] Mt 16,19.

[140] Ga 16,12-15.

[141] Về tính chất “yêu như”, “yêu bằng”, xem. S. JEAN DE LA CROIX, Cantique Spirituel, tr. 887-888.

[142] Rm 5,5.

[143] Cf. S. JEAN DE LA CROIX, Montée du Carmel, 1. III, ch. 1, p.309; et Vive Flamme, str. 3, p. 969.

[144] Cf. Somme théologique, Ia IIae, q. 55, a.4; q. 109, a.2.

[145] Cf. S. THÉRÈSE D’AVILA, Château de l’âme (Lâu đài nội tâm), IV Dem, ch. 3, et V Dem., ch. 3.

[146] Ga 14,26.

[147] Ga 14,21.

[148] Cf. S. THÉRÈSE D’AVILA, Château de l’âme (Lâu đài nội tâm), VII Dem, p. 1030.

[149] Manuscrit A, 84 ro.

[150] Đây là nguyên văn của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu trong CJ 15.5.7: “Je ne vois pas bien ce que j’aurai de plus après la mort que je n’aie déjà en cette vie. Je verrai le bon Dieu, c’est vrai! Mais pour être avec lui j’y suis déjà tout à fait sur la terre” (Em không rõ sẽ có điều gì xảy ra sau khi chết mà em hẳn đã chưa có trên trần gian này. Em sẽ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa nhân hậu, đúng thực như thế! Nhưng về việc ở với Người, em đã hoàn toàn như thế ở trên trần gian này).

[151] Rm 8,26.

[152] Rm 8,19tt.

[153] Manuscrit C, 6 r0.

[154] Conseil et Souvenir, p. 77.

[155] Is 53,3.

[156] Lc 10,21.

[157] Mt 26,64.

[158] Đây là nguyên văn của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu trong CJ 4.6.1: “Ne vous faites pas de peine, mes petites soeurs, si je souffre beaucoup et si vous ne voyez en moi, comme je vous l’ai déjà dit, aucun signe de bonheur au moment de ma mort” (Các chị đừng lấy làm ái ngại, các chị thân mến của em, nếu như thấy em đau khổ nhiều, và nếu như các chị không thấy nơi em một dấu chỉ nào của sung sướng hạnh phúc trong giờ ra đi của em, như em đã từng nói với các chị điều này).

[159] Cf. CJ 15.7.1.

[160] Cf. CJ 4.6.1; 4.7.2.

[161] Cf. CJ 30.9: “Jamais je n’aurais cru qu’il était possible de tant souffrir! Jamais! Jamais! Je ne puis m’expliquer cela que par les désirs ardents que j’ai eus de sauver des âmes” (Em không thể tin mình có thể chịu đựng được đau khổ như thế! Không bao giờ! Không bao giờ! Em chỉ có thể giải thích được điều này bởi những khát khao nóng bóng nơi em nhằm cứu độ các linh hồn).

[162] CJ 24.9.10, đó là ngày 24 tháng 9, chị đã nói: “Si vous saviez dans quelle pauvreté je suis! (…) Mais mon âme malgré ses ténèbres est dans une paix étonnante” (Nếu các chị biết được em trải qua trong tình trạng khốn khổ như thế nào… Nhưng dầu cho bóng tối bủa vây, tâm hồn em vẫn được bình an cách lạ lùng).

[163] Ga 16,11.

[164] Cf. CJ 17.7.

[165] Cf. Manuscrit B (Thủ bản B), 4 ro. Cần lưu ý, là cha Marie Eugène chấm dứt loạt bài thuyết trình về việc tông đồ, và chấm dứt cuốn sách của ngài: Je veux voir Dieu, tr. 1077 (Tôi muốn thấy Thiên Chúa), bằng cùng một câu trích dẫn như thế. Tác phẩm chính yếu của cha là một khảo luận về việc tông đồ, và là một toát yếu về đời sống thiêng liêng.


Liên quan khác