THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI (Tất Cả Anh Em) Về Tình Huynh Đệ và Tình Bạn Xã Hội

02/11/2020

ĐGH PHANXICÔ

Chuyển ngữ: Giuse Phan Văn Phi, O.Cist.

THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI (Tất Cả Anh Em) Về Tình Huynh Đệ và Tình Bạn Xã Hội

Song ngữ Anh – Việt

MỤC LỤC

Lời giới thiệu

Một vài cảm nhận

THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI

Nhập đề [1-2]

Không biên giới [3-8]

CHƯƠNG 1: NHỮNG BÓNG TỐI CỦA MỘT THẾ GIỚI KHÉP KÍN [9]

Những giấc mơ bị vỡ tan [10-12]

Sự kết liễu của ý thức lịch sử [13-14]

Thiếu kế hoạch chung cho mọi người [15-17]

Một thế giới “gạt bỏ” [18-21]

Các quyền của con người không đủ phổ quát [22-24]

Xung đột và sợ hãi [25-28]

Toàn cầu hóa và tiến bộ mà không có lộ trình chung [29-31]

Các đại dịch và các thảm họa khác trong lịch sử [32-36]

Thiếu nhân phẩm nơi các biên giới [37-41]

Ảo tưởng của truyền thông [42-43]

Hung hăng vô liêm sỉ [44-46]

Thông tin thiếu khôn ngoan [47-50]

Những hình thức phục tùng và tự khinh bỉ [51-53]

Niềm hy vọng [54-55]

CHƯƠNG 2: MỘT NGƯỜI BỊ CƯỚP TRÊN ĐƯỜNG [56]

Bối cảnh [57-62]

Bị bỏ rơi bên vệ đường [63-68]

Một câu chuyện không ngừng được kể lại [69-71]

Các nhân vật trong câu chuyện [72-76]

Xuất phát lại [77-79]

Người thân cận không có biên giới [80-83]

Lời kêu xin của một người khách lạ [84-86]

CHƯƠNG 3: SUY TƯ VÀ XÂY DỰNG MỘT THẾ GIỚI RỘNG MỞ [87]

Hãy ra khỏi chính mình [88-90]

Giá trị độc đáo của tình yêu thương [91-94]

Tình yêu thương rộng mở hơn [95-96]

Các xã hội cởi mở gắn kết mọi người [97-98]

Những hiểu biết chưa đầy đủ về tình yêu phổ quát [99-100]

Vượt qua một thế giới của “những đối tác” [101-102]

Tự do, bình đẳng và tình huynh đệ [103-105]

Tình yêu thương đại đồng thúc đẩy con người [106-111]

Cổ võ cho sự thiện luân lý [112-113]

Giá trị của sự liên đới [114-117]

Tái đề xuất chức năng xã hội của quyền sở hữu [118-120]

Các quyền không bị giới hạn [121-123]

Quyền của các dân tộc [124-127]

CHƯƠNG 4: MỘT TRÁI TIM MỞ RA VỚI TOÀN THẾ GIỚI [128]

Các biên giới và các giới hạn của chúng [129-132]

Trao đổi hồng ân [133-136]

Một cuộc trao đổi hiệu quả [137-138]

Sự vô vị lợi mở ra đối với người khác [139-141]

Địa phương và hoàn vũ [142]

Hương vị địa phương [143-145]

Một chân trời phổ quát [146-150]

Xuất phát từ khu vực của mình [151-153]

CHƯƠNG 5: MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TỐT ĐẸP HƠN [154]

Chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa tự do [155]

Bình dân hoặc dân túy [156-162]

Lợi ích và giới hạn của các phương pháp tiếp cận tự do [163-169]

Quyền lực quốc tế [170-175]

Bác ái xã hội và chính trị [176]

Nền chính trị mà chúng ta cần [177-179]

Tình yêu chính trị [180-182]

Tình yêu hữu hiệu [183-185]

Thực thi tình yêu chính trị [186]

Những hy sinh vì tình yêu [187-189]

Một tình yêu hòa nhập và hiệp nhất [190-192]

Thành quả vượt trên mọi chiến thắng [193-197]

CHƯƠNG 6: ĐỐI THOẠI VÀ TÌNH BẠN TRONG XÃ HỘI [198]

Đối thoại xã hội cho một văn hóa mới [199-202]

Cùng nhau xây dựng [203-205]

Cơ sở của sự đồng thuận [206-210]

Sự đồng thuận và sự thật [211-214]

Một nền văn hóa mới [215]

Cuộc gặp gỡ trở thành văn hóa [216-217]

Niềm vui khi nhận biết tha nhân [218-221]

Khôi phục lòng nhânhậu [222-224]

CHƯƠNG 7: NHỮNG HÀNH TRÌNH GẶP GỠ MỚI [225]

Bắt đầu lại từ sự thật [226-227]

Nghệ thuật và kiến trúc xây dựng hòa bình [228-232]

Bắt đầu với với những người hèn mọn nhất [233-235]

Giá trị và ý nghĩa của sự tha thứ [236]

Xung đột bất khả kháng [237-240]

Xung đột chính đáng và sự tha thứ [241-243]

Cách tốt nhất để tiến bước [244-245]

Ký ức [246-249]

Tha thứ nhưng không lãng quên [250-254]

Chiến tranh và án tử hình [255]

Sự bất công của chiến tranh [256-262]

Án tử hình [263-270]

CHƯƠNG 8: CÁC TÔN GIÁO TRONG VIỆC PHỤC VỤ TÌNH HUYNH ĐỆ [271]

Cơ sở tối ưu [272-276]

Bản sắc Kitô giáo [277-280]

Tôn giáo và bạo lực [281-284]

Lời đề nghị [285-287]

Lời cầu nguyện với Đấng Sáng Tạo

Lời cầu nguyện hiệp nhất các Kitô hữu

LỜI GIỚI THIỆU

Kính thưa quý độc giả, Thông điệp mới mang tính ngôn sứ của Đức Giáo hoàng Phanxicô nói trực tiếp tới cuộc sống của mọi con người nam nữ hôm nay! Thông điệp được hoan nghênh nhiệt liệt này chính là một phản ánh tuyệt vời về hành trình của nhân loại hướng tới một nền hòa bình đang được khát khao tìm kiếm một cách sâu sắc. Đức Giáo hoàng Phanxicô đề cập tới lời kêu gọi mới mẻ của ngài về tình huynh đệ phổ quát “dành cho tất cả mọi người thiện chí, bất kể niềm tin tôn giáo của họ là gì đi chăng nữa.”

Hãy tin rằng chính bạn cũng góp phần hết sức quan trọng của mình trong việc xây dựng và bảo vệ hòa bình thế giới hôm nay!

Trong Thông điệp của mình, Đức Giáo hoàng đi sâu vào “nghệ thuật và kiến ​​trúc” để xây dựng hòa bình và tình huynh đệ đại đồng. Qua Thông điệp này, Đức Giáo hoàng đã nghiên cứu “các triệu chứng của một xã hội thiếu lành mạnh”, và đưa ra một đề xuất thay thế, đó là “một lối sống đậm hương vị của Tin Mừng”. Giữa “vô số sự kiện và ý kiến ​​ồn ào” hiện hữu trong thế giới hôm nay, Đức Giáo hoàng gợi ý rằng, hãy đối thoại trong sự tôn trọng, và mời gọi chúng ta hãy đáp trả bằng “một cái nhìn mới mẻ về tình huynh đệ và tình bạn xã hội”. Ngài đảm bảo với chúng ta rằng “không một hành động yêu thương nào đối với Thiên Chúa sẽ bị mất đi”, đồng thời nhắc nhở chúng ta rằng, “mọi người đều có vai trò quan trọng” trong việc viết nên “một trang sử mới, một trang ngập tràn niềm hy vọng lớn lao.”

Hãy suy tư về những điều tốt đẹp để kiến tạo một nền hòa bình vững chắc! Khi nhìn tới “phạm vi phổ quát” của tình yêu thương huynh đệ, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã vẽ nên một bức tranh mới về một nền hòa bình xã hội “ổn định lâu dài”, lấy nguồn gốc từ một nền văn hóa gặp gỡ và tôn trọng “sự thật về phẩm giá con người của chúng ta”. Ngài quở trách “sự bất khoan dung theo chủ nghĩa cực đoan” và các hình thức “hung hăng vô liêm sỉ” khác đã gây cản trở cho tình huynh đệ hòa bình. Thay vào đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi tất cả chúng ta hãy phục hồi lòng nhân hậu và sự thứ tha, để chúng ta có thể trở thành “những ngôi sao sáng giữa màn đêm” cho nhân loại hôm nay.

MỘT VÀI CẢM NHẬN

Qua Thông điệp này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã dùng kinh nghiệm về đại dịch để nhắc nhở cho thế giới cần phải có một hoạt động có khả năng đem lại những lời giải đáp, chứ không phải chỉ là phân tích các dữ kiện mà thôi. Hoạt động này hiện nay vẫn còn thiếu sót và sẽ tiếp tục còn thiếu sót như thế, kể cả khi mỗi ngày có những thành tựu về nghiên cứu khoa học. Vì hiện nay thế giới đang bị thiếu đi khả năng “để cùng nhau hành động” (Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh).

Thông điệp của Đức Giáo hoàng nhắc nhở rằng: tình huynh đệ chính là con đường của mỗi tín ngưỡng tôn giáo. Vấn đề ở đây là thực hiện những bước tiến cụ thể, cùng với các tín hữu của các tôn giáo khác, và mọi người thiện chí, với hy vọng rằng tất cả chúng ta đều được kêu gọi trở thành những sứ giả hòa bình và những người xây dựng tình hiệp thông. Thiên Chúa là Đấng dựng nên tất cả mọi người và mọi sự, vì thế, tất cả chúng ta là thành phần của một gia đình duy nhất, và chúng ta phải nhìn nhận mình là anh chị em với nhau (Đức Hồng y Miguel Ayuso Guixo, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về đối thoại liên tôn).

Thông điệp ‘Tất cả anh em’, là phần mở rộng của “Văn kiện về Tình huynh đệ Nhân loại”, vạch ra cho thấy một thực tiễn toàn cầu, với những vị trí và những quyết định bất ổn, nơi đó những người yếu thế và những người bị gạt sang bên lề phải trả giá… Đó là Thông điệp gửi đến mọi người thiện chí và có lương tâm, và để trả lại lương tâm trong sáng cho nhân loại hôm nay (Đại giáo trưởng Hồi giáo Ahmad Al-Tayyeb).

Thay mặt cho Giáo hội Công giáo tại Hoa Kỳ, tôi hoan nghênh Thông điệp mới của Đức Giáo hoàng Phanxicô về tình huynh đệ nhân loại. Giống như Thông điệp Laudato Si’ trước đó, Thông điệp Fratelli Tutti là một đóng góp quan trọng vào truyền thống phong phú về học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo. Trong Thông điệp, “Đức Giáo hoàng nhắc nhở chúng ta rằng, kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại có ý nghĩa đối với mọi khía cạnh của cuộc sống chúng ta – từ cách chúng ta đối xử với nhau trong các mối liên hệ cá nhân, đến cách chúng ta tổ chức và vận hành xã hội cũng như nền kinh tế.” Đồng thời, Đức Giáo hoàng còn cung cấp cho chúng ta “một tầm nhìn mạnh mẽ và khẩn thiết về việc đổi mới đạo đức chính trị, đổi mới các thể chế chính trị và kinh tế từ cấp độ địa phương đến cấp độ toàn cầu, kêu gọi chúng ta xây dựng một tương lai chung, thực sự phục vụ lợi ích của con người” (Đức TGM Jose Gomez, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ).

Cuộc chiến chống bạo lực và sự cảnh giác những thái độ cực đoan của một số người chắc chắn là điều cần thiết, nhưng chúng vẫn không đủ và vẫn bất lực, nếu tất cả chúng ta không hoạt động để kiến tạo những mối tương quan huynh đệ, nếu không, sự tự do và sự bình đẳng sẽ mất hết ý nghĩa của nó. Tình huynh đệ có thể mạnh mẽ hơn những ý tưởng muốn gây chia rẽ, nếu nó được sống trong sự thật, đừng ngây thơ và cần biết kiên nhẫn hơn nữa. Phải chăng một xã hội có thể trở nên huynh đệ hơn khi nó không có gì tốt hơn để đề nghị với các bà mẹ đang ở trong tình trạng khó khăn, ngoài biện pháp loại bỏ đứa con mà chính họ đang cứu mang trong lòng hay sao? Một xã hội có thể trở nên huynh đệ hay không khi nó nhắm đến việc các trẻ em sinh ra không có cha, hoặc cùng lắm chỉ là một người sinh ra về sinh lý mà thôi? (Hội đồng Giám mục Pháp).

Thật là điều ý nghĩa khi Đức Giáo hoàng Phanxicô đã soạn và công bố Thông điệp này giữa thời kỳ thế giới đang bị đại dịch, nhắc nhở chúng ta không những về mối liên hệ với nhau và với toàn thế giới, nhưng cả sự mong manh phận người của chúng ta nữa. Nhu cầu chung cần thiết có một sự cảm thông, yêu thương, hy vọng có thể mang lại qua niềm tín thác nơi Thiên Chúa. Thông điệp Fratelli Tutti nói trực tiếp về trách nhiệm của đức tin và của các vị lãnh đạo dân sự trong xã hội chúng ta. Các Giám mục Ailen khuyến khích tất cả các tín hữu hãy học hỏi Thông điệp này để được sự hướng dẫn của Đức Giáo hoàng trong thời điểm lịch sử hiện nay (Hội đồng Giám mục Ailen).

THÔNG ĐIỆP FRATELLI TUTTI 

Nhập đề

  1. “Fratelli tutti – Tất cả anh em”[1]. Với những lời này, thánh Phanxicô Assisi đã ngỏ lời với các anh chị em mình và đã đề xuất cho họ một lối sống đậm hương vị của Tin Mừng. Từ những lời khuyên đó, tôi muốn làm nổi bật một lời khuyên mà ở đó thánh nhân mời gọi một tình yêu vượt qua mọi rào cản về địa lý và khoảng cách. Ở đó, thánh nhân tuyên bố rằng, phúc thay ai biết yêu thương anh em mình “khi ở xa họ cũng như lúc đang ở bên cạnh họ”[2]. Theo cách đơn giản và trực tiếp của mình, thánh Phanxicô đã diễn tả bản chất của một tình huynh đệ cởi mở, cho phép chúng ta nhìn nhận, quý trọng và yêu thương mỗi con người, bất kể sự gần gũi về thể lý, bất kể nơi người đó sinh ra hay sống ở đâu.
  2. Chính vị thánh của tình huynh đệ, của sự giản dị và vui tươi này, người đã truyền cảm hứng cho tôi viết Thông điệp Laudato Si’, một lần nữa, lại thúc đẩy tôi cống hiến Thông điệp mới này cho cho tình huynh đệ và tình bạn xã hội. Bởi vì thánh Phanxicô, người cảm thấy mình là anh em với mặt trời, với biển khơi và gió mát, biết mình thậm chí còn thân cận hơn cả đối với những con người bằng xương bằng thịt nữa. Thánh nhân đã gieo hòa bình khắp nơi nơi, và đến với những người nghèo khổ, những người bị bỏ rơi, những người bệnh tật, những người bị loại trừ, những anh chị em hèn mọn nhất của mình.

Không biên giới

  1. Có một chi tiết trong cuộc đời của thánh Phanxicô cho chúng ta thấy nơi thánh nhân có một tâm hồn rộng mở, có khả năng vượt qua mọi khoảng cách về nguồn gốc, quốc tịch, màu da hay tôn giáo. Đó là chuyến đi của ngài đến thăm vị Vua của các nước Hồi giáo là Malik-el-Kamil, ở Ai Cập, đó là một nỗ lực rất lớn đối với thánh nhân, do hoàn cảnh khó nghèo, chỉ với chút tư trang mà ngài mang theo, rồi bởi khoảng cách và sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa cũng như tôn giáo. Chuyến đi này, trong thời khắc lịch sử được ghi dấu bởi những cuộc Thập tự chinh, càng cho thấy sự cao cả của một tình yêu bao la, đến nỗi ngài muốn sống cho mọi người, muốn được bao bọc hết thảy mọi người. Lòng trung tín với Chúa tỷ lệ thuận với tình yêu thương của thánh nhân dành cho các anh chị em mình. Không bỏ qua những khó khăn và hiểm nguy, thánh Phanxicô đã đến gặp vị Vua của các nước Hồi giáo, cùng với một thái độ mà ngài đã đề nghị với các môn đệ của mình: đó là dù khi sống “giữa những dân du mục Ai Cập Syria và những người dân ngoại khác thì cũng không chối bỏ căn tính của mình, … nhưng họ không nên thúc đẩy tranh chấp hoặc tranh luận, nhưng phải đón nhận mọi người vì vinh danh Chúa”[3]. Trong bối cảnh thời ấy, đây là một lời đề nghị rất phi thường. Chúng ta thật ấn tượng rằng, gần tám trăm năm trước, thánh Phanxicô đã mời gọi chúng ta cần tránh mọi hình thức gây hấn hoặc xung đột, nhưng cũng phải sống một sự “phục tùng” khiêm tốn và huynh đệ, dù đối với những người không cùng niềm tin với mình đi chăng nữa.
  2. Thánh Phanxicô đã không tiến hành cuộc chiến biện chứng bằng cách áp đặt các giáo thuyết; nhưng ngài chỉ đơn giản loan truyền tình yêu Thiên Chúa. Thánh nhân hiểu rằng, “Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa” (1Ga 4,16). Bằng cách này, thánh Phanxicô đã trở thành một người cha đầy kiến hiệu và là một người đánh thức giấc mơ về một xã hội huynh đệ. Thật vậy, “chỉ những ai đến với tha nhân không vì mục đích lôi kéo họ vào trong cuộc đời mình, nhưng là để giúp họ trở nên chính họ cách trọn vẹn hơn, thì mới thật xứng là một người cha”[4]. Trong thế giới thời đó, đầy những tháp canh và những bức tường thành phòng thủ, các thành phố đang diễn ra những cuộc chiến đẫm máu giữa các gia tộc quyền lực, đồng thời, những khu ổ chuột của những người bị loại trừ tại các vùng ngoại biên thì ngày càng rộng lớn hơn. Tuy nhiên, thánh Phanxicô đã có thể đón nhận sự bình an đích thực trong tâm hồn mình, tự giải thoát mình khỏi mọi khát vọng quyền lực nhằm thống trị người khác. Thánh nhân đã trở thành một trong những người hèn mọn nhất và tìm cách chung sống hòa hợp với mọi người. Chính thánh Phanxicô đã truyền cảm hứng cho những trang Thông điệp này.
  3. Những vấn đề liên quan đến tình huynh đệ và tình bạn xã hội luôn nằm trong những mối quan tâm của tôi. Trong những năm gần đây, tôi đã nhắc đến các vấn đề này nhiều lần và ở nhiều nơi khác nhau. Trong Thông điệp này, tôi tìm cách thu thập lại nhiều lời phát biểu ấy và đặt chúng vào một bối cảnh suy tư rộng lớn hơn. Trong quá trình chuẩn bị cho Thông điệp Laudato Si’, tôi nhận được một nguồn cảm hứng từ một người anh em của tôi là Đức Thượng phụ Chính thống giáo Bathôlômeô, và là người đã lên tiếng rất mạnh mẽ rằng, chúng ta cần phải chăm sóc các công trình sáng tạo. Còn ở đây, tôi cảm thấy được khích lệ cách riêng bởi vị Đại giáo trưởng Hồi giáo Ahmad Al-Tayyeb, người mà tôi đã gặp ở Abu Dhabi, và tại đó, chúng tôi đã tuyên bố rằng: “Thiên Chúa đã dựng nên mọi người đều bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và phẩm giá, và đã kêu gọi họ sống với nhau như anh chị em một nhà”[5]. Đó không chỉ đơn thuần là một hành động ngoại giao, mà là một suy tư được thực hiện trong đối thoại và cùng nhau dấn thân. Thông điệp này thu thập và triển khai các chủ đề chính được nêu ra trong Văn kiện mà chúng tôi đã cùng nhau ký kết. Bằng ngôn ngữ của riêng mình, ở đây tôi cũng đã nhận được rất nhiều bức thư và tài liệu với những phản ánh từ nhiều cá nhân và các nhóm trên khắp thế giới.
  4. Những trang Thông điệp này không chủ trương tóm lược các giáo huấn về tình yêu thương huynh đệ, nhưng chỉ dừng lại về chiều kích đại đồng của nó, về sự cởi mở đối với tất cả mọi người. Tôi trao gửi Thông điệp xã hội này như một đóng góp khiêm tốn cho việc suy tư, để đứng trước nhiều cách thức hiện nay, trước những sự loại trừ hoặc cố tình thờ ơ với tha nhân, chúng ta có thể đáp ứng bằng một ước mơ mới mẻ về tình huynh đệ và tình bạn xã hội, không chỉ giới hạn trên bình diện ngôn từ mà thôi. Mặc dù tôi viết Thông điệp này khởi đi từ những xác tín Kitô giáo của mình, những xác tín đó luôn gây hứng khởi và dưỡng nuôi tôi, song tôi cũng cố gắng trình bày sao cho những suy tư này cởi mở đối thoại với tất cả mọi người thiện chí khác.
  5. Khi tôi đang viết Thông điệp này thì cơn đại dịch Covid-19 bất ngờ bùng phát, làm lộ ra những sự an toàn giả tạo của chúng ta. Ngoài các phản ứng khác nhau của các quốc gia khác nhau dùng để đối phó với cơn khủng hoảng, thì việc thiếu khả năng hành động chung với nhau đã được minh chứng. Mặc dù đã rất liên kết với nhau, song chúng ta thấy có một sự phân hóa càng cho chúng ta ý thức rằng, thật là khó để giải quyết các vấn đề có liên hệ tới tất cả mọi người. Bất cứ ai nghĩ rằng bài học duy nhất cần phải học chính là việc cần cải thiện những gì chúng ta đã hoạt động sao cho tốt hơn, hoặc là một thông điệp duy nhất, đó là chúng ta phải cải thiện các hệ thống và các quy tắc hiện hành, thì họ đang phủ nhận thực tế.
  6. Tôi hy vọng rằng trong thời đại mà chúng ta đang sống, qua việc nhìn nhận phẩm giá của mỗi con người, chúng ta có thể góp phần vào việc hồi sinh khát vọng phổ quát về tình huynh đệ. Tình huynh đệ giữa mọi con người nam cũng như nữ. “Đây chính là một bí quyết tuyệt vời để mơ ước và biến cuộc sống của chúng ta trở thành một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Không ai có thể đối mặt với cuộc sống trong sự cô lập được… Mà chúng ta cần một cộng đoàn ủng hộ chúng ta, nâng đỡ chúng ta, và trong đó chúng ta giúp đỡ lẫn nhau để cùng hướng tới tương lai. Việc cùng nhau ước mơ thì thật quan trọng biết bao!… Tự sức mình, chúng ta có nguy cơ chỉ nhìn thấy những ảo ảnh, đó là những sự vật không có thực. Trái lại, những ước mơ phải được cùng nhau kiến tạo”[6]. Vì thế, chúng ta hãy ước mơ trở thành một gia đình nhân loại duy nhất, như những khách lữ hành cùng chia sẻ thân phận phàm nhân, như những người con của cùng một đất mẹ cưu mang, là ngôi nhà chung của chúng ta, mỗi người với sự phong phú của những tín ngưỡng riêng, hoặc với những xác tín riêng của mình, mỗi người với một giọng nói riêng, nhưng tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau.

CHƯƠNG 1: BÓNG TỐI CỦA MỘT THẾ GIỚI KHÉP KÍN

  1. Không cố gắng thực hiện một phân tích toàn diện hoặc xem xét tất cả các khía cạnh của thực tế chúng ta đang sống, mà tôi chỉ đề nghị lưu ý đến một số xu hướng trên thế giới hôm nay đang gây cản trở cho sự phát triển của một tình huynh đệ đại đồng (tứ hải giai huynh đệ).

Những giấc mơ bị vỡ tan

  1. Trong nhiều thập niên, dường như thế giới đã học được từ rất nhiều cuộc chiến tranh và thảm họa, và đang dần tiến tới nhiều hình thức hội nhập khác nhau. Ví dụ, ước mơ về một khối liên hiệp Âu châu thống nhất tiên tiến, có khả năng nhận ra nguồn gốc chung và vui mừng trước sự đa dạng hiện sinh ở đó. Chúng ta hãy nhớ đến “niềm xác tín vững chắc của các vị Tổ phụ sáng lập ra Liên minh Âu châu, những người muốn một tương lai dựa trên khả năng cùng nhau hợp tác để vượt qua mọi chia rẽ, thúc đẩy hòa bình và hiệp thông giữa tất cả các dân tộc trên lục địa này”[7]. Mong muốn hội nhập của Mỹ châu Latinh cũng được giữ vững, và một số bước đã bắt đầu được thực hiện. Tại các quốc gia và các khu vực khác, cũng có những nỗ lực nhằm giải hòa, thành công trong sự tái thiết lập, và những nỗ lực khác nữa đầy triển vọng.
  2. Tuy nhiên, thời đại của chúng ta dường như cũng cho thấy nhiều dấu hiệu của một sự tụt hậu nào đó. Các cuộc xung đột tương tự từng được coi là đã vượt qua được rồi, nay lại bùng phát, trong khi những biểu hiện của một chủ nghĩa dân tộc thù hận và hung hăng, cực đoan và thiển cận đang gia tăng. Ở một số quốc gia, ý tưởng về sự thống nhất đất nước và dân tộc, bị ảnh hưởng bởi nhiều ý thức hệ tư tưởng khác nhau, tạo ra những hình thức ích kỷ và đánh mất ý thức xã hội tân tiến, được che đậy dưới một mục đích vì để bảo vệ lợi ích quốc gia. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng “mỗi thế hệ phải biến những nỗ lực và thành tựu của các thế hệ tiền nhân thành của chính mình, đưa những nỗ lực và thành tựu ấy đến những mục tiêu cao cả hơn. Đó chính là một hành trình. Những điều tốt đẹp, cũng như tình yêu, công lý và sự liên đới, không phải đạt được một lần và cho mãi mãi; chúng cần phải được chinh phục mỗi ngày một hơn. Không thể vì những gì đã đạt được trong quá khứ mà an cư, lạc nghiệp như thể những điều đó khiến chúng ta phớt lờ đi, trong khi nhiều anh chị em của chúng ta vẫn còn đang phải chịu những hoàn cảnh bất công, đang kêu gào đến tất cả chúng ta”[8].
  3. “Hãy mở cửa ra với thế giới”, đó là một cách diễn đạt mà ngày nay lĩnh vực kinh tế và tài chính đã chọn để thực hành. Nó chỉ đề cập đến sự cởi mở đối với các lợi ích nước ngoài hoặc quyền tự do đầu tư của các cường quốc kinh tế mà không bị cản trở hoặc gây phức tạp ở tất cả các quốc gia. Những xung đột địa phương và sự bất chấp lợi ích chung được nền kinh tế toàn cầu khai thác để áp đặt một mô hình văn hóa duy nhất. Một thứ văn hóa muốn thế giới hiệp nhất, nhưng lại gây phân rẽ giữa các cá nhân và các dân tộc, vì “khi xã hội toàn cầu hóa ngày càng khiến chúng ta gần nhau hơn, nhưng lại không trở nên anh chị em với nhau hơn”[9]. Chúng ta trở nên cô đơn hơn bao giờ hết trong một thế giới ngày càng đồng nhất đại trà cổ vũ những ích lợi cá nhân và làm suy yếu chiều kích đời sống cộng đoàn. Thật vậy, có những thị trường mà ở đó các cá nhân trở thành những khách tiêu thụ thuần túy, hay những kẻ bàng quan. Như một quy luật, sự phát triển của loại toàn cầu hóa này càng củng cố căn tính của những người mạnh hơn, những người có thể tự bảo vệ mình, nhưng nó có xu hướng làm suy giảm căn tính của những khu vực yếu thế hơn và nghèo đói hơn, khiến họ dễ bị tổn thương và bị lệ thuộc nhiều hơn. Như thế, đời sống chính trị ngày càng trở nên mong manh hơn, trước những thế lực kinh tế xuyên quốc gia, vốn hoạt động theo nguyên tắc “chia để trị”.

Một sự kết liễu về ý thức lịch sử

  1. Điều xảy ra là ngày càng đánh mất ý thức lịch sử, dẫn tới tình trạng càng đổ vỡ thêm. Một xu hướng “phá vỡ cấu trúc”, trong đó cho rằng, sự tự do của con người có thể tạo lập mọi sự bắt đầu từ con số không, đang lấn lướt trong nền văn hóa hôm nay. Một điều mà nó để lại, đó là động lực tiêu dùng vô giới hạn và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trống rỗng. Mối ưu tư về điều này đã thúc đẩy tôi đưa ra một lời khuyên dành cho các bạn trẻ. “Nếu có ai đó nói với những người trẻ rằng, hãy bỏ qua lịch sử của họ, hãy bác bỏ các kinh nghiệm của các bậc cao niên, coi thường quá khứ và hướng tới một tương lai mà kẻ ấy nắm giữ, thì đó không phải là để dễ dàng lôi kéo người trẻ tin theo, và để người trẻ chỉ làm những gì kẻ đó nói với mình hay sao? Kẻ đó cần đến những người trẻ nông cạn hời hợt, bị bật gốc rễ và thiếu tin tưởng, để họ chỉ có thể tin tưởng vào những lời hứa của kẻ này và hành động theo kế hoạch của kẻ này. Đó là cách các ý thức hệ khác nhau đang hoạt động: chúng hủy diệt (hay tàn phá) mọi sự khác biệt để chúng có thể cai trị mà không bị phản kháng. Tuy nhiên, để làm được như vậy, chúng cần những người trẻ lãng quên lịch sử, những người vứt bỏ các kho tàng thiêng liêng và nhân bản thừa hưởng từ các thế hệ tiền nhân, và là những người thờ ơ với mọi sự đã từng xảy ra trước mình”[10].
  2. Đó chính là những hình thức thực dân mới về văn hóa. Chúng ta đừng quên rằng “các dân tộc chối bỏ truyền thống của mình, và thông qua sự cuồng nhiệt bắt chước người khác, hay muốn kích động bạo lực, hoặc bởi thái độ vô cảm hay thờ ơ không thể tha thứ được, các dân tộc ấy để cho kẻ khác tước mất chính linh hồn mình, kết cục không những đánh mất căn tính tâm linh mà còn đánh mất cả tính nhất quán đạo đức, sau cùng, đánh mất luôn sự độc lập về chính trị, kinh tế và tri thức của mình”[11]. Một cách hữu hiệu để làm suy yếu ý thức lịch sử, khả năng tư duy biết phê bình, việc tranh đấu cho công lý và những tiến trình hội nhập, đó là làm cho những từ ngữ quan trọng trở thành trống rỗng ý nghĩa hay bóp méo chúng. Ngày nay, một số hạn từ như dân chủ, tự do, công lý hay hiệp nhất thực sự có ý nghĩa gì? Chúng đã bị bẻ cong để phục vụ như những công cụ để thống trị, như những khẩu hiệu vô nghĩa có thể được dùng để biện minh cho bất kỳ hành động xấu nào.

Thiếu kế hoạch chung cho mọi người

  1. Cách tốt nhất để khống chế và kiểm soát người khác chính là gieo rắc sự tuyệt vọng và chán nản, ngay cả dưới danh nghĩa bảo vệ những giá trị nào đó. Ngày nay tại nhiều nước, sự cường điệu hóa, quá khích và phân cực đã trở thành những công cụ chính trị. Bằng nhiều cách thức sử dụng sách lược chế nhạo, nghi ngờ và không ngừng chỉ trích, người ta phủ nhận quyền hiện hữu hay quyền có quan điểm riêng của người khác. Sự thật và các giá trị nơi người khác bị bác bỏ, và kết quả là đời sống xã hội trở nên nghèo nàn, phải chịu đựng sự ngạo mạn của những kẻ có quyền lực. Đời sống chính trị không còn liên quan tới những cuộc tranh luận lành mạnh về các kế hoạch dài hạn nhằm cải thiện đời sống con người và thúc đẩy lợi ích chung, mà chỉ liên quan tới các kỹ thuật tiếp thị khéo léo chủ yếu nhằm làm mất uy tín của người khác. Trong cuộc chiến bất bình đẳng nhỏ nhen này, những cuộc tranh luận được thao túng để tạo ra một tình trạng bất đồng và xung đột thường xuyên.
  2. Trong cuộc xung đột lợi ích mà tất cả chúng ta chống lại tất cả, nơi chiến thắng đồng nghĩa với sự tiêu diệt, làm sao chúng ta có thể ngẩng đầu nhận ra những người thân cận của mình hoặc để giúp đỡ những người đã vấp ngã dọc đường? Một dự án với những mục tiêu to lớn cho sự phát triển của toàn gia đình nhân loại ngày nay nghe có vẻ như là một điều viển vông. Khoảng cách giữa chúng ta ngày càng xa, và cuộc hành trình khó khăn, chậm chạp hướng tới một thế giới hiệp nhất và công bằng hơn thì đang phải chịu một bước lùi mới và quyết liệt.
  3. Chăm sóc thế giới mà chúng ta đang sống trong đó có nghĩa là chúng ta chăm sóc chính mình. Nhưng chúng ta cần suy tư nhiều hơn nữa về chính chúng ta như một gia đình duy nhất sống trong một ngôi nhà chung. Sự chăm sóc như thế không phải là mối quan tâm của những thế lực kinh tế muốn đòi những món lợi nhanh chóng. Thông thường, những tiếng nói cất lên bảo vệ môi trường thường bị dập tắt hay bị chế giễu, trong đó người ta dùng những lập luận nghe có vẻ hợp lý song vốn chỉ vì lợi ích cá nhân mà thôi. Trong nền văn hóa nông cạn và thiển cận mà chúng ta đã tạo ra, thiếu một tầm nhìn chung, “có thể thấy trước rằng, đối mặt với sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên nhất định, thì những cuộc chiến mới sẽ nổ ra, dù được ngụy trang dưới dạng những nhu cầu cao cả”[12].

Một thế giới “vứt bỏ”

  1. Dường như một số thành phần trong gia đình nhân loại của chúng ta có thể bị hy sinh bất cứ lúc nào vì ích lợi của những người khác vốn được xem là có quyền sống một cách vô tư. Cuối cùng, “các nhân vị không còn được xem là một giá trị cao nhất phải được quan tâm và kính trọng, nhất là khi người ta hèn mọn và tàn tật, ‘chưa có ích’ – như các thai nhi, hay ‘không còn cần đến nữa’ – như những người già cả. Chúng ta đã trở nên vô cảm với bất kỳ hình thức lãng phí nào, trước hết là sự lãng phí về thực phẩm, đó là một trong những điều hết sức tồi tệ”[13].
  2. Tỷ lệ sinh sản suy giảm, khiến dân số già đi, cùng với việc người cao tuổi bị bỏ rơi vì nỗi cô đơn đau đớn, là một cách tinh tế để biểu thị rằng, mọi thứ xảy ra với chúng ta, rằng chỉ lợi ích cá nhân của chúng ta mới quan trọng mà thôi. Như vậy, “không chỉ thực phẩm hay hàng hóa dư thừa mới là đối tượng lãng phí, mà thường là chính những con người nữa”[14]. Chúng ta đã thấy những gì đã xảy ra với những người lớn tuổi ở một số nơi trên thế giới vì virus corona. Họ đã không phải chết cách đó. Nhưng một cái gì đó tương tự đã xảy ra từ lâu rồi trong những đợt nóng bức và trong những tình cảnh khác nữa: các cụ già thấy mình bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn. Chúng ta không nhận ra rằng, khi cô lập người cao niên và để mặc cho người giúp việc chăm sóc, mà không có sự gần gũi và quan tâm của những người thân trong gia đình, là chúng ta đã làm biến dạng và nghèo nàn chính gia đình. Cuối cùng, đang tước mất của những người trẻ một sự nối kết cần thiết với các cội nguồn của họ, và tước mất một sự khôn ngoan mà người trẻ không thể tự mình đạt được.
  3. Cách loại bỏ người khác này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, chẳng hạn như nỗi ám ảnh về việc giảm chi phí lao động mà không quan tâm chi đến hậu quả nghiêm trọng của nó, vì nạn thất nghiệp mà nó trực tiếp gây ra dẫn tới tình trạng nghèo túng tràn lan[15]. Ngoài ra, một sự sẵn sàng loại bỏ người khác được thể hiện nơi những thái độ độc ác mà chúng ta nghĩ rằng đã trôi qua lâu rồi, như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nhưng thật sự ngầm ẩn đâu đó chỉ để tiếp tục nổi lên. Những biểu hiện của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc một lần nữa khiến chúng ta xấu hổ, vì chúng cho thấy rằng cái gọi là sự tiến bộ xã hội của chúng ta thì không thực sự như vậy hay không rõ ràng như chúng ta nghĩ.
  4. Một số quy định kinh tế đã tỏ ra hữu hiệu đối với việc tăng trưởng, nhưng không hữu hiệu đối với sự phát triển con người toàn diện[16]. Sự giàu có gia tăng, nhưng sự bất bình đẳng cũng gia tăng, với kết quả là “các hình thức nghèo đói mới đang xuất hiện”[17]. Quan điểm rằng thế giới hiện đại đã làm giảm đi cái nghèo là quan điểm dựa trên việc đo lường cái nghèo theo các tiêu chuẩn trong quá khứ, không còn tương ứng với các thực tế ngày nay nữa. Chẳng hạn, vào các thời trước, không được tiếp cận với điện cũng không được coi là dấu hiệu của nghèo đói, cũng như không tạo ra nỗi thống khổ. Sự nghèo đói luôn được phân tích và hiểu trong bối cảnh những khả năng có thực của một thời điểm lịch sử cụ thể.

Các quyền của con người không đủ phổ quát

  1. Trong thực tế, thường rõ ràng rằng các quyền con người không bình đẳng cho hết mọi người. Việc tôn trọng các quyền ấy “là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Khi phẩm giá của một con người được tôn trọng, các quyền của con người được công nhận và bảo đảm, thì tính sáng tạo và tính phụ thuộc lẫn nhau sẽ triển nở, và khả năng sáng tạo của nhân cách con người phát triển xuyên qua những hành động hướng tới thiện ích chung”[18]. Tuy nhiên, “khi quan sát kỹ các xã hội đương thời của chúng ta, chúng ta thấy vô số những mâu thuẫn khiến chúng ta tự hỏi rằng, phải chăng phẩm giá bình đẳng của mọi con người, vốn được long trọng tuyên bố cách đây bảy mươi năm, có thực sự được công nhận, được tôn trọng, bảo vệ và cổ vũ trong mọi tình huống hay không. Trong thế giới ngày nay, nhiều hình thức bất công vẫn còn tồn tại, được nuôi dưỡng bởi những quan điểm nhân học phiến diện và bởi một mô hình kinh tế dựa trên lợi nhuận, do đó không ngần ngại bóc lột, vứt bỏ và thậm chí giết chết con người. Trong khi một phần của nhân loại sống dư thừa xa xỉ, thì một phần khác thấy phẩm giá của mình bị phủ nhận, bị khinh miệt hoặc chà đạp, và các quyền căn bản của mình bị loại bỏ hoặc bị chà đạp”[19]. Điều này nói gì với chúng ta về quyền bình đẳng được thiết lập trên cùng phẩm giá con người?
  2. Tương tự như vậy, các tổ chức các xã hội trên khắp thế giới vẫn còn lâu mới phản ánh rõ ràng rằng phụ nữ có nhân phẩm và bình quyền như nam giới. Một điều gì đó được khẳng định bằng lời nói, nhưng quyết định và thực tế lại tạo ra một thông điệp khác. Có một thực tế là “có những người nghèo hai lần, đó là những phụ nữ phải chịu những hoàn cảnh bị loại trừ, bị ngược đãi và bạo lực, vì họ thường thấy mình kém khả năng bảo vệ các quyền lợi của mình”[20].
  3. Chúng ta cũng nên nhận ra rằng “mặc dù thực tế là cộng đồng quốc tế đã thông qua nhiều thỏa thuận khác nhau để chấm dứt chế độ nô lệ dưới mọi hình thức, và đưa ra nhiều chiến lược khác nhau để chống lại hiện tượng này, vẫn có hàng triệu người – trẻ em, đàn ông và phụ nữ thời đại – bị tước đoạt tự do và buộc phải sống trong những điều kiện tương tự như chế độ nô lệ… Ngày nay, cũng như trong quá khứ, chế độ nô lệ bắt nguồn từ quan niệm về nhân vị cho phép họ bị coi như một đồ vật… Bất kể do ép buộc bằng vũ lực, hay lừa dối, hoặc bằng sự cưỡng ép về thể lý hoặc tâm lý, những con người vốn được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, đang bị tước đoạt tự do, bị thương mại hóa, và biến thành tài sản của người khác. Họ bị coi như các phương tiện cho một mục đích… Các mạng lưới tội phạm có kỹ năng sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại như một cách dụ dỗ các thanh niên nam nữ ở mọi miền trên thế giới”[21]. Một sự đồi bại vượt mọi giới hạn khi nó cưỡng bức phụ nữ rồi sau đó ép buộc họ phải phá thai. Một sự ghê tởm đến mức bắt cóc người ta chỉ để bán nội tạng của họ. Điều này làm cho nạn buôn người và các hình thức nô lệ hiện nay trở thành một vấn đề toàn cầu cần được toàn nhân loại xem xét nghiêm túc, bởi vì “khi các tổ chức tội phạm sử dụng mạng lưới toàn cầu để đạt được mục tiêu của chúng, hãy hành động để đánh bại chúng. Hiện tượng này đòi hỏi một nỗ lực chung và toàn cầu từ các tác nhân khác nhau tạo nên xã hội”[22].

Xung đột và sợ hãi

  1. Các cuộc chiến tranh, bạo lực khủng bố, bắt bớ vì lý do chủng tộc hoặc tôn giáo, và rất nhiều cuộc tấn công vào nhân phẩm được nhìn nhận theo những cách khác nhau tùy thuộc vào việc chúng có phù hợp với lợi ích nhất định hay không, chủ yếu là về mặt kinh tế. Một điều gì đó đúng khi nó phù hợp với một người nắm giữ quyền bính lại sẽ không còn đúng nữa khi nó bất lợi cho anh ta. Điều buồn phải nói là những tình huống bạo lực này, “đã trở nên phổ biến đến mức tạo thành một ‘cuộc thế chiến thứ ba’ được đánh từng mảng”[23].
  2. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta nhận thấy sự vắng mặt của những chân trời gắn kết chúng ta lại với nhau, bởi vì trong mọi cuộc chiến, cũng tàn phá luôn cả một “một mối dây huynh đệ, vốn được khắc ghi trong chính ơn gọi của gia đình nhân loại”; đây là lý do tại sao “bất kỳ tình huống đe dọa nào cũng dẫn tới sự ngờ vực và rút lui vào bản thân mình”[24]. Do đó, thế giới của chúng ta tiến tới một sự phân đôi vô nghĩa với cái cớ là để “đảm bảo sự ổn định và hòa bình dựa trên một nền an ninh giả tạo được duy trì bởi tâm lý sợ hãi và ngờ vực”[25].
  3. Nghịch lý thay, có những nỗi sợ hãi truyền kiếp vẫn chưa được khắc phục, dù cho sự phát triển công nghệ kỹ thuật; ngược lại, người ta đã có thể ẩn mình và củng cố bản thân đằng sau những kỹ thuật công nghệ mới. Ngay cả ngày nay, đằng sau bức tường thành cổ kính là những vực thẳm, là lãnh thổ của sự bí ẩn, của sa mạc. Điều gì đến từ đó thì không đáng tin vì không biết, không quen, không thuộc thôn làng mình. Đó chỉ là lãnh thổ của “dân man di mọi rợ”, mà ta phải tự vệ bằng mọi giá. Do đó, những rào cản mới để tự bảo tồn được hình thành, để thế giới bên ngoài không còn hiện hữu nữa, mà chỉ có thế giới “của riêng tôi” được tồn tại mà thôi, đến mức nhiều người không còn được coi là con người với phẩm giá bất khả xâm phạm và trở thành điều duy nhất là “bọn chúng” mà thôi. “Sự cám dỗ để tạo ra một nền văn hóa của những bức tường lại xuất hiện, để xây lên những bức tường từ trong tâm hồn, những bức tường trong lòng đất để tránh những cuộc gặp gỡ này đối với các nền văn hóa khác, với những người khác. Và những kẻ nào xây tường, sẽ bị coi là nô lệ trong chính những bức tường mà họ đã xây lên. Họ bị thiếu đi chân trời rộng mở, vì họ thiếu đi sự giao thoa này với những người khác”[26].
  4. Sự cô đơn, sợ hãi và bất an của rất nhiều người cảm thấy bị bỏ rơi bởi cả một hệ thống, đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các loại băng đảng “mafia” khác nhau. Những loại mafianày phát triển mạnh mẽ bởi vì chúng tự cho mình là người bảo vệ những người bị lãng quên, thường là thông qua nhiều hình thức giúp đỡ, trong khi theo đuổi lợi ích tội phạm của chúng. Cũng hiện hữu một phương pháp sư phạm điển hình của Mafia, với tinh thần cộng đồng sai lầm, tạo ra mối ràng buộc phụ thuộc và phục tùng mà từ đó rất khó thoát ra được.

Toàn cầu hóa và tiến bộ mà không có lộ trình chung

  1. Cùng với Đại Giáo trưởng Hồi giáo Ahmad Al-Tayyeb, chúng tôi không làm ngơ các tiến bộ tích cực đạt được trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, y học, kỹ nghệ và phúc lợi, nhất là ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, “chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, cùng với các tiến bộ lịch sử này, các tiến bộ rất vĩ đại và có giá trị, đang có một sự suy thoái đạo đức ảnh hưởng đến hoạt động quốc tế và đang làm suy yếu các giá trị và trách nhiệm tinh thần. Điều này góp phần vào cảm giác thất vọng, cô lập và tuyệt vọng nói chung”. Chúng tôi thấy rằng “sự căng thẳng bùng phát và tích lũy vũ khí và đạn dược trong bối cảnh toàn cầu bị chi phối bởi sự bất trắc, vỡ mộng, lo sợ cho tương lai, và bị kiểm soát bởi các lợi ích kinh tế hạn hẹp”. Chúng tôi cũng có thể chỉ ra “những cuộc khủng hoảng chính trị lớn, những cảnh bất công và thiếu sự phân phối cách công bằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên… Đứng trước những cuộc khủng hoảng dẫn đến cái chết của hàng triệu trẻ em – bị suy dinh dưỡng vì đói nghèo – đã có một sự im lặng không thể nào chấp nhận được trên bình diện quốc tế”[27]. Bức tranh toàn cảnh này, dù với những tiến bộ không thể phủ nhận của nó, dường như không dẫn đến một tương lai nhân đạo hơn.
  2. Trong thế giới hôm nay, cảm thức thuộc về một gia đình nhân loại duy nhất đang dần nhạt phai, và ước mơ làm việc với nhau vì công lý và hòa bình dường như là một điều viển vông lỗi thời. Thay vào đó, điều đang thống trị là sự thờ ơ vô cảm mang tính toàn cầu, phát sinh từ sự vỡ mộng sâu xa được che giấu phía sau một ảo tưởng bị lừa dối: tự cho rằng chúng ta là toàn năng, trong khi không nhận ra rằng tất cả chúng ta đều ở trên cùng một con thuyền. Ảo tưởng này, không quan tâm đến những giá trị huynh đệ cao cả, dẫn đến “một kiểu hoài nghi. Vì đó là cơn cám dỗ mà chúng ta phải đương đầu nếu chúng ta đi vào con đường chán nản và thất vọng… Sự cô lập và tự thu mình vào những lợi của bản thân không bao giờ là cách để khôi phục niềm hy vọng và mang lại sự đổi mới. Đúng hơn, phải là sự gần gũi; phải là một nền văn hóa gặp gỡ. Cần biết nói ‘không’ với sự cô lập; và nói ‘có’ với sự gần gũi. Cần biết nói ‘không’ với văn hóa xung đột; và nói ‘có’ với một nền văn hóa gặp gỡ”[28].
  3. Trong một thế giới đang lao mình về phía trước nhưng lại thiếu bản đồ chỉ đường chung này, chúng ta ngày càng cảm thấy rằng “hố phân cách giữa sự quan tâm đối với sự sung túc của bản thân và sự thịnh vượng của gia đình nhân loại lớn hơn dường như đang trải dài đến mức gây chia rẽ hoàn toàn giữa các cá nhân và cộng đồng nhân loại… Cảm thấy buộc phải sống chung là một chuyện, nhưng biết trân trọng sự phong phú và vẻ đẹp của những hạt giống sống chung đang cần được tìm kiếm và vun đắp lại là một điều hoàn toàn khác”[29]. Kỹ thuật không ngừng phát triển, tuy nhiên, “sẽ tuyệt vời biết bao nếu sự phát triển của việc đổi mới khoa học và kỹ thuật có thể song song với việc có sự bình đẳng lớn và sự hòa nhập xã hội tốt hơn. Thật tuyệt vời biết bao, nếu trong khi khám phá ra những hành tinh xa xôi, thì chúng ta cũng tái khám phá nhu cầu của những người anh chị em xung quanh mình”[30].

Các đại dịch và các thảm họa khác trong lịch sử

  1. Quả là một thảm kịch cho toàn cầu như đại dịch Covid-19 trong giây lát đã làm gợi lại cảm thức rằng chúng ta là một cộng đồng toàn cầu, tất cả cùng chung trên một con thuyền, trong đó các vấn đề của mỗi người cũng chính là vấn đề của tất cả mọi người. Một lần nữa chúng ta hiểu ra rằng, không ai được cứu vớt một mình; chúng ta chỉ có thể được cứu vớt cùng với nhau. Như tôi đã nói trong những ngày đó rằng, “chính trận cuồng phong này đã bộc lộ tính mong manh của chúng ta và để lộ ra những điều hoàn toàn giả tạo và phù phiếm mà xung quanh chúng, chúng ta đang xây lên thời khóa biểu sinh hoạt hàng ngày, các dự án, các thói quen và các ưu tiên của mình… Giữa cơn bão táp này, mặt nạ của những cách thức mà chúng ta đã dùng để ngụy trang cho cái tôi của mình, luôn lo lắng về dáng vẻ bề ngoài đã bị rơi xuống, một lần nữa để lộ ra ý thức hiển nhiên và đáng chúc phúc này: chúng ta là thành phần của nhau, chúng ta là anh chị em với nhau”[31].
  2. Thế giới đang không ngừng tiến tới một nền kinh tế, nhờ tiến bộ kỹ thuật, tìm cách làm giảm bớt sự “tổn hại sức lao động của con người”; và một số người sẽ khiến chúng ta tin rằng thị trường tự do là đủ để giữ mọi sự được bảo đảm. Nhưng cú đánh tàn bạo và bất ngờ của đại dịch mất kiểm soát này đã buộc chúng ta phải suy xét lại về bản chất con người, trong tương quan với tất cả mọi người, hơn là chỉ vì lợi ích nhóm mà thôi. Ngày nay chúng ta có thể nhận ra rằng “chúng ta tự nuôi dưỡng mình bằng những giấc mơ huy hoàng và vĩ đại, nhưng cuối cùng chúng ta đã đem theo sự phân tâm, tự khép kín và cô độc; chúng ta đã chán ngấy các mối quan hệ và chúng ta đã đánh mất hương vị của tình huynh đệ. Chúng ta tìm kiếm các kết quả nhanh chóng và an toàn, chỉ để thấy mình bị áp đảo bởi sự thiếu kiên nhẫn và lo lắng. Trở thành tù nhân cho thực tại ảo, chúng ta đã đánh mất sự cảm nếm và hương vị của những điều thực tiễn”[32]. Sự tổn thương, sự mong manh, nỗi sợ hãi và nhận thức về những giới hạn mà đại dịch gây ra, đã vang lên lời mời gọi chúng ta hãy suy xét lại về lối sống của mình, về các mối liên hệ của chúng ta, tổ chức xã hội của chúng ta, và trên hết, ý nghĩa của sự hiện hữu của mình.
  3. Nếu mọi thứ được nối kết với nhau, thì thật khó mà tưởng tượng rằng thảm họa toàn cầu này không liên hệ gì tới cách tiếp cận thực tại của chúng ta, việc chúng ta tự cho rằng mình là tác nhân tuyệt đối về chính sự sống của mình, và của tất cả những gì đang hiện hữu. Tôi không muốn nói đến việc thần thánh trừng phạt, cũng như không đủ lý lẽ để nói rằng tác hại chúng ta gây ra cho thiên nhiên chính là hình phạt cho các vi phạm của chúng ta. Thế giới đang kêu la nổi loạn. Chúng ta được nhắc nhớ câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Virgil vốn gợi lên “những giọt nước mắt của sự vật”, những bất hạnh của cuộc đời và của lịch sử[33].
  4. Nhưng chúng ta dễ nhanh chóng quên đi những bài học lịch sử, vốn là “một vị thầy dạy của cuộc sống này”[34]. Sau cuộc khủng hoảng về sức khỏe, phản ứng tồi tệ nhất sẽ lại tiếp tục rơi vào cơn sốt tiêu dùng và các hình thức bảo vệ bản thân một cách đầy ích kỷ. Tạ ơn Chúa, hy vọng rằng cuối cùng chúng ta không còn suy nghĩ theo kiểu “bọn chúng” và “những kẻ đó”, mà chỉ còn một cái “chúng ta” mà thôi. Hy vọng rằng đây không phải là một giai đoạn bi kịch khác trong lịch sử mà chúng ta không thể rút kinh nghiệm. Mong rằng chúng ta không quên được những người già đã phải chết vì thiếu những mặt nạ nơi phòng chống độc, một phần là do hệ thống chăm sóc sức khỏe bị phá hủy từ năm này qua năm khác. Tôi hy vọng rằng rất nhiều nỗi đau sẽ không ra vô ích, để chúng ta có một bước nhảy vọt hướng tới một cách sống mới, và cuối cùng, khám phá ra rằng, chúng ta cần có nhau, để gia đình nhân loại được tái sinh với tất cả diện mạo, với tất cả các chi thể và tất cả tiếng nói, vượt ra ngoài biên giới mà chính chúng ta đã tạo ra.
  5. Nếu chúng ta không thể phục hồi niềm say mê chung cho một cộng đồng thuộc về và liên đới đoàn kết, để cống hiến thời gian, công sức và nguồn lực, thì ảo tưởng toàn cầu từng đánh lừa chúng ta sẽ sụp đổ một cách thảm hại và sẽ khiến nhiều người phải buồn nôn và trống rỗng. Hơn nữa, không nên ngây thơ bỏ qua “nỗi ám ảnh về lối sống duy tiêu thụ, nhất là khi chỉ một số ít người có thể duy trì lối sống ấy, sẽ dẫn tới bạo lực và hủy diệt lẫn nhau”[35]. Cụm từ “thân ai nấy losálvese quien pueda” sẽ nhanh chóng biến thành “tất cả chống lại mọi thứ – todos contra todos”, tạo ra một thứ tự do vô trật tự, và điều đó sẽ còn tồi tệ hơn cả một trận đại dịch nữa (Sálvese quien pueda là tên một bản nhạc Rock gây ‘bão’ trên truyền thông, của nhạc sĩ Vetusta Morla, tựa đề bản dịch tiếng Anh là Every man for himself, chú thích của người dịch).

Thiếu nhân phẩm nơi các biên giới

  1. Một số chế độ chính trị theo chủ nghĩa dân túy, cũng như một số phương thức kinh tế tự do, chủ trương rằng phải ngăn chặn dòng người di cư bằng mọi giá. Các lập luận cũng được đưa ra bênh vực tính đứng đắn của việc hạn chế viện trợ cho các nước nghèo, để họ khánh kiệt và thấy mình buộc phải thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng. Người ta không nhận ra rằng đằng sau những tuyên bố như vậy, trừu tượng và khó hỗ trợ, rất nhiều mạng sống đang bị đe dọa. Nhiều di dân đã chạy trốn chiến tranh, bách hại và thảm họa thiên nhiên. Những người khác, rất đúng, “đang tìm kiếm cơ hội cho bản thân và gia đình họ. Họ mơ ước một tương lai tốt đẹp hơn và họ muốn tạo điều kiện để đạt được điều đó”[36].
  2. Đáng buồn thay, một số người trên “bị thu hút bởi văn hóa phương Tây, đôi khi với những kỳ vọng không thực tế khiến họ thất vọng nặng nề. Những kẻ buôn người vô lương tâm, thường có liên hệ với các băng đảng ma túy hoặc vũ khí, đang khai thác điểm yếu của di dân, những người thường xuyên phải trải qua bạo lực, buôn người, lạm dụng tâm lý và thể lý và những đau khổ không kể xiết trên hành trình của họ”[37]. Những người lên đường di cư đều “kinh qua sự xa cách với nơi xuất xứ của họ, và thường mất cả gốc rễ văn hóa và tôn giáo. Sự phân mảnh cũng được cảm nhận bởi các cộng đồng họ để lại, nơi mất đi các phần tử mạnh mẽ và dám nghĩ dám làm nhất của họ, và bởi các gia đình, nhất là khi một hoặc cả hai cha mẹ phải di cư, để lại con cái ở quê hương”[38]. Vì lý do này, “cũng cần phải khẳng định lại quyền không di cư, nghĩa là, quyền ở lại quê hương của người ta”[39].
  3. Cũng thế, “ở một số quốc gia chủ nhà, di dân gây ra nỗi sợ hãi và báo động, thường được thúc đẩy và khai thác cho các mục đích chính trị. Điều này có thể dẫn đến não trạng bài ngoại, khi người ta tự khép mình vào chính mình, và điều này cần được giải quyết một cách dứt khoát”[40]. Các di dân không được coi là có quyền, như những người khác, được tham gia vào đời sống của xã hội, và người ta quên rằng họ có phẩm giá nội tại như bất cứ người nào khác. Do đó, họ phải là “các tác nhân trong việc tự cứu chính họ”[41]. Không ai có thể công khai phủ nhận rằng họ là những hữu thể nhân bản, nhưng trên thực tế, bằng quyết định của chúng ta và cách chúng ta đối xử với họ, chúng ta có thể chứng tỏ rằng chúng ta xem họ ít xứng đáng hơn, kém quan trọng hơn, kém nhân bản hơn. Đối với các Kitô hữu, lối suy nghĩ và hành động này là điều không thể chấp nhận được, vì nó đặt một số sở thích chính trị nhất định lên trên các niềm xác tín sâu xa về đức tin của chúng ta: phẩm giá bất khả chuyển nhượng của mỗi con người bất kể nguồn gốc, chủng tộc hay tôn giáo, và luật tối cao của tình yêu thương huynh đệ.
  4. “Hơn bao giờ hết, những cuộc di dân sẽ đóng một vai trò chủ chốt trong tương lai của thế giới chúng ta”[42]. Nhưng ngày nay việc di dân bị ảnh hưởng bởi “sự đánh mất ý thức trách nhiệm của tình huynh đệ, nơi mà tất cả mọi xã hội dân sự vốn phải dựa vào”[43]. Châu Âu, chẳng hạn, đang có nguy cơ nghiêm trọng đi theo lối mòn đó. Tuy nhiên, “được truyền cảm hứng từ di sản văn hóa và tôn giáo vĩ đại của mình, nó có những công cụ cần thiết để bảo vệ vị trí trung tâm của con người và tìm ra sự cân bằng đúng đắn giữa trách nhiệm đạo đức kép của mình là bảo vệ quyền của công dân và bảo đảm việc hỗ trợ và chấp nhận di dân”[44].
  5. Tôi nhận ra rằng một số người còn do dự và sợ hãi đối với di dân. Tôi coi điều này như một phần trong bản năng tự vệ tự nhiên của chúng ta. Tuy nhiên, điều cũng đúng là một cá nhân và một dân tộc chỉ sinh hoa kết trái và có hiệu năng nếu họ có khả năng khai triển tính cởi mở sáng tạo với người khác. Tôi yêu cầu mọi người vượt ra khỏi những phản ứng ban sơ đó vì “có vấn đề khi những nghi ngờ và sợ hãi điều khiển cách suy nghĩ và hành động của chúng ta đến mức khiến chúng ta trở nên bất khoan dung, khép kín và thậm chí phân biệt chủng tộc mà mình không biết. Theo cách này, nỗi sợ hãi lấy mất nơi chúng ta ước nguyện và khả năng gặp gỡ người khác”[45].

Ảo tưởng của truyền thông

  1. Nghịch lý thay, trong khi thái độ khép kín và bất khoan dung phát triển khiến chúng ta không thể rời xa những người khác, khoảng cách được rút ngắn lại hoặc bị biến mất, đến mức quyền riêng tư không còn tồn tại nữa. Mọi thứ đều trở thành một loại cảnh tượng có thể bị điều tra, bị theo dõi, và đời sống của con người liên tục bị kiểm soát. Trong môi trường truyền thông kỹ thuật số, người ta muốn phơi bày mọi thứ, và mỗi cá nhân trở thành đối tượng của những ánh mắt dò xét, bị lột trần và bị tiết lộ, mà thường là từ những kẻ nặc danh. Sự tôn trọng dành cho người khác bị phá vỡ, theo cách đó, và ngay cả khi chúng ta gạt bỏ, phớt lờ hoặc giữ khoảng cách với người khác, chúng ta vẫn có thể vô liêm sỉ xâm phạm cuộc sống riêng tư của họ ta đến tột cùng.
  2. Mặt khác, các chiến dịch kỹ thuật số nhằm thù hận và hủy diệt, không phải là một hình thức tích cực để hỗ trợ lẫn nhau như một số người vẫn nghĩ, mà đơn giản chỉ là liên kết với nhau để chống lại những người bị cho là kẻ thù chung. “Các phương tiện truyền thông kỹ thuật số có thể tiềm ẩn nguy cơ phụ thuộc, cô lập và mất liên lạc với thực tại cụ thể, cản trở sự phát triển của các mối liên hệ thực sự giữa các cá nhân”[46]. Chúng thiếu các cử chỉ cơ thể, như nét mặt, sự im lặng, ngôn ngữ cơ thể, và thậm chí cả mùi nước hoa, cái bắt tay, sự đỏ mặt, đổ mồ hôi là cần thiết, bởi vì tất cả những điều đó nói lên và cũng chính là một phần của giao tiếp giữa con người với nhau. Các mối liên hệ kỹ thuật số, loại bỏ sự mất công vun đắp của tình bạn hữu, sự tương tác bền vững hoặc xây dựng một sự đồng thuận trưởng thành theo thời gian, có vẻ ngoài của sự hòa đồng. Các mối liên hệ như thế không thực sự xây dựng một cộng đồng “chúng ta”, nhưng có xu hướng che giấu và khuếch đại cùng một chủ nghĩa cá nhân, được thể hiện trong tư tưởng bài ngoại và khinh miệt kẻ yếu thế dễ bị tổn thương. Kết nối kỹ thuật số không đủ để xây lên nhựng nhịp cầu nối, không đủ để đoàn kết nhân loại lại với nhau.

Hung hăng vô liêm sỉ

  1. Ngay cả khi các cá nhân duy trì sự cô lập duy tiêu thụ được cho là thoải mái, họ vẫn có thể chọn một hình thức liên kết thường xuyên và cuồng nhiệt nhằm khuyến khích sự thù nghịch cực độ, các lăng mạ, lạm dụng, phỉ báng và bạo lực ngôn từ đến mức tiêu diệt hình ảnh người khác, trong một diễn biến không thể có trong tiếp xúc thể lý mà kết cục lại không tiêu diệt chính mình hết thảy. Tính hung hăng xã hội đã tìm được chỗ đứng vô song để phát triển quá các máy tính và thiết bị di động.
  2. Điều này hiện đang cho phép các ý thức hệ được hoàn toàn tự do hành động. Những điều mà cho đến vài năm trước đây không ai có thể nói ra nếu không liều mình đánh mất lòng tôn trọng phổ quát thì giờ đây có thể nói mà không sợ bị trừng phạt và nói một cách thô lỗ nhất, ngay cả bởi một số chính trị gia nữa. Chúng ta cũng không nên quên rằng “có những lợi ích kinh tế khổng lồ hoạt động trong thế giới kỹ thuật số, có khả năng thực hiện các hình thức kiểm soát vừa tinh vi vừa xâm lấn, tạo ra các cơ chế để thao túng lương tâm và tiến trình dân chủ. Cách thức hoạt động của nhiều nguyên lý nền tảng thường kết thúc cuộc gặp gỡ giữa những người có suy nghĩ giống nhau, chặn đứng sự đối đầu giữa những khác biệt. Các mạch khép kín này tạo điều kiện cho việc phổ biến thông tin và tin tức sai lệch, thúc đẩy thành kiến ​​và hận thù”[47].
  3. Chúng ta cần phải thừa nhận rằng những sự cuồng tín dẫn đến việc hủy hoại người khác cũng được thực hiện bởi tín đồ tôn giáo, kể cả các Kitô hữu nữa, những người “có thể là một phần của mạng lưới bạo lực bằng ngôn từ thông qua mạng internet và các diễn đàn hoặc không gian truyền thông kỹ thuật số khác nhau. Ngay cả trong giới Công giáo, các giới hạn có thể bị mất đi, sự phỉ báng và vu khống thường dễ được du nhập, và tất cả các tiêu chuẩn đạo đức và sự tôn trọng thanh danh của người khác dường như bị loại bỏ”[48]. Làm sao điều này có thể góp phần vào tình huynh đệ mà vị Cha chung của chúng ta yêu cầu nơi chúng ta được?

Thông tin thiếu khôn ngoan

  1. Sự khôn ngoan đích thực đòi hỏi một cuộc gặp gỡ với thực tại. Tuy nhiên, ngày nay, mọi sự đều có thể được chế tạo, ngụy trang và sửa đổi. Do đó, một cuộc gặp gỡ trực tiếp dù ở bên lề của thực tại vẫn bị coi là không thể dung thứ. Lúc đó, một cơ chế lựa chọn bắt đầu hoạt động, theo đó tôi có thể lập tức tách biệt người thích ra khỏi người không thích, thứ tôi cho là hấp dẫn khỏi thứ tôi cho là khó chịu. Cùng một cách như thế, chúng ta có thể chọn những người mà chúng ta muốn chia sẻ thế giới của mình. Những người hoặc tình huống chúng ta thấy khó chịu hoặc không đồng ý với chỉ đơn giản bị bôi xóa trong các mạng ảo ngày nay; một thế giới ảo sau đó được tạo ra, cô lập chúng ta với thế giới thực trong đó chúng ta đang sống.
  2. Khả năng ngồi xuống và lắng nghe người khác, nét đặc trưng của những cuộc gặp gỡ liên ngã, là điển hình của thái độ chào đón được thể hiện bởi những người vượt qua lòng yêu mình thái quá và chấp nhận người khác, quan tâm đến họ và chào đón họ vào cuộc sống của mình. Tuy nhiên, “thế giới ngày nay phần lớn là một thế giới của người điếc… Đôi khi, nhịp độ điên cuồng của thế giới hiện đại ngăn cản chúng ta chăm chú lắng nghe điều người khác đang nói. Giữa chừng, chúng ta ngắt lời họ và muốn nói ngược lại điều họ còn chưa nói hết. Chúng ta không được đánh mất khả năng lắng nghe của mình”. Thánh Phanxicô “đã nghe tiếng Thiên Chúa, ngài đã nghe tiếng người nghèo, ngài đã nghe tiếng người đau yếu và ngài đã nghe tiếng thiên nhiên. Thánh nhân đã biến chúng thành một lối sống. Mong muốn của tôi là hạt giống mà thánh Phanxicô đã gieo trồng có thể lớn lên trong trái tim nhiều người”[49].
  3. Khi sự thinh lặng và sự lắng nghe biến mất, biến mọi thứ thành những thao tác đánh máy và tin nhắn nhanh chóng và lo lắng, thì cấu trúc cơ bản trong sự truyền thông cách khôn ngoan của con người sẽ gặp nguy hiểm. Một lối sống mới được tạo ra khi một người xây dựng những gì anh ta muốn có trước mặt anh ta, loại trừ mọi thứ không thể kiểm soát hoặc chỉ nắm bắt một cách hời hợt và tức thời. Theo logic nội tại của nó, động lực này ngăn cản sự suy tư thanh thản có thể dẫn chúng ta đến một minh triết chung.
  4. Chúng ta có thể cùng nhau tìm kiếm sự thật trong đối thoại, trong cuộc trò chuyện thoải mái hoặc trong cuộc tranh luận sôi nổi. Làm như vậy đòi hỏi sự kiên trì; nó hàm nghĩa sẽ có những khoảnh khắc im lặng và đau khổ, nhưng nó có thể kiên nhẫn đón nhận kinh nghiệm rộng lớn hơn của các cá nhân và dân tộc. Việc tràn ngập thông tin trong tầm tay của chúng ta không tạo ra sự khôn ngoan nhiều hơn. Sự khôn ngoan không được tạo ra từ những tìm kiếm nhanh trên internet, cũng không phải là tổng hợp thông tin mà tính xác thực không có gì đảm bảo cả. Theo cách này, người ta không trưởng thành trong cuộc gặp gỡ với chân lý. Các cuộc trò chuyện chỉ xoay quanh các dữ kiện mới nhất, chỉ có tính ngang tầm và chồng đống đơn thuần. Chúng ta không dành sự tập trung chú ý vào đó, không đi sâu vào trọng tâm của vấn đề và nhận ra điều gì thiết yếu đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta. Do đó, tự do trở thành ảo tưởng người ta rao bán cho chúng ta, một ảo tưởng dễ bị nhầm lẫn với khả năng lục lọi trên màn ảnh. Tiến trình xây dựng tình huynh đệ, dù là địa phương hay phổ quát, chỉ có thể được thực hiện bởi những tinh thần tự do và cởi mở chào đón những cuộc gặp gỡ đích thực.

Những hình thức phục tùng và tự khinh bỉ

  1. Một số quốc gia thành công trên phương diện kinh tế thì lại được coi là một mô hình văn hóa cho các quốc gia kém phát triển hơn, thay vì cố gắng làm cho mỗi quốc gia phát triển theo phong cách riêng của họ, để họ phát triển năng lực đổi mới từ các giá trị văn hóa riêng của họ. Khát vọng bắt chước một cách hời hợt và buồn thảm này, dẫn đến việc sao chép và tiêu thụ sản phẩm thay vì phát huy sáng tạo, nhường chỗ rất thấp cho lòng tự tôn dân tộc của mình. Ở những thành phần khá giả của nhiều nước nghèo, và đôi khi ở những nơi đã thoát nghèo, người ta nhận thấy việc không thể chấp nhận những đặc điểm và quy trình của chính họ, họ coi thường bản sắc văn hóa của mình, như thể đó là nguyên nhân duy nhất của cái ác.
  2. Xóa bỏ lòng tự trọng của ai đó là một cách dễ dàng để thống trị người đó. Đằng sau những xu hướng tìm cách đồng nhất hóa thế giới này, những lợi ích quyền lực xuất hiện từ lòng tự trọng thấp, trong khi thông qua các phương tiện truyền thông và mạng lưới, một nỗ lực được thực hiện để tạo ra một nền văn hóa mới phục vụ những người quyền lực nhất. Điều này bị lợi dụng bởi lợi thế của việc đầu cơ tài chính và cướp bóc, trong đó người nghèo là những người luôn thua thiệt. Mặt khác, việc bỏ qua văn hóa của một dân tộc khiến nhiều nhà lãnh đạo chính trị không thực hiện được một dự án hiệu quả có thể được tự do đảm nhận và duy trì theo thời gian.
  3. Chúng ta quên rằng “không có sự tha hóa nào tồi tệ hơn việc trải nghiệm rằng, bạn không có cội nguồn, rằng bạn không thuộc về bất cứ ai. Một vùng đất sẽ màu mỡ, một dân tộc sẽ đơm hoa kết trái, và sẽ có thể sinh sôi nảy nở trong tương lai chỉ khi nó tạo ra mối liên hệ thuộc về các thành viên của nó, tạo ra mối liên hệ hòa nhập giữa các thế hệ và các cộng đồng khác nhau bao gồm chính nó; và cũng đến mức phá vỡ những vòng xoáy làm vẩn đục các giác quan, luôn làm chúng ta xa rời nhau hơn”[50].

Niềm hy vọng

  1. Bất chấp những bóng đêm dày đặc không nên bỏ qua này, trong vài trang tiếp theo, tôi muốn làm vang vọng rất nhiều con đường mới của hy vọng. Vì Thiên Chúa tiếp tục gieo nhiều hạt giống tốt lành trong gia đình nhân loại chúng ta. Một lần nữa, đại dịch gần đây cho phép chúng ta nhận ra và trân trọng tất cả những người ở quanh chúng ta, giữa cơn sợ hãi, vẫn đã phản ứng bằng cách trao ban mạng sống của chính họ trên những tuyến đầu. Chúng ta có thể nhận ra rằng, cuộc sống của chúng ta được dệt nên và được duy trì như thế nào bởi chính những con người rất bình dị, những người không hề nghi ngờ gì, đã viết nên những sự kiện quan trọng trong lịch sử chung của chúng ta: đó là các bác sĩ, y tá, dược sĩ, nhân viên siêu thị, người dọn dẹp, người chăm sóc, người vận chuyển, những người nam nữ làm việc để cung cấp các dịch vụ nhu yếu phẩm và an ninh, các tình nguyện viên, các linh mục, tu sĩ, v.v… họ hiểu rằng không ai được cứu một mình cả[51].
  2. Tôi mời mọi người bước vào niềm hy vọng đổi mới, vì hy vọng “nói với chúng ta về về một thực tại đã ăn sâu trong tâm hồn mọi con người, bất kể hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể mà người đó đang sống. Hy vọng nói với chúng ta về một cơn khát, một khát vọng, một ước mong để có được một cuộc sống viên mãn, một khát vọng đạt được những điều lớn lao hơn, những điều lấp đầy trái tim và nâng cao tinh thần của chúng ta lên những thực tại cao cả như chân thiện mỹ, công bình và yêu thương… Niềm hy vọng rất táo bạo; nó có thể nhìn xa hơn những tiện nghi cá nhân, những sự an toàn và những điều nhỏ nhen làm thu hẹp chân trời của chúng ta, và nó có thể mở lòng chúng ta ra đón nhận các lý tưởng lớn lao vốn làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp và đáng quý hơn”[52]. Vì thế, chúng ta hãy tiếp tục tiến bước trên những con đường hy vọng.

CHƯƠNG 2: MỘT NGƯỜI BỊ CƯỚP TRÊN ĐƯỜNG

  1. Tất cả những gì tôi đề cập trong chương trước không chỉ là một mô tả lạnh lùng và tách bạch với các vấn đề ngày nay, vì “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Đức Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không cảm nhận trong đáy lòng họ”[53]. Trong nỗ lực tìm kiếm một tia sáng giữa những gì chúng ta đang trải qua, và trước khi đề xuất một vài hướng hành động, lúc này, tôi muốn dành một chương cho dụ ngôn được Đức Giêsu Kitô kể lại cách nay hai nghìn năm. Mặc dù Thông điệp này được gửi đến tất cả mọi người thiện chí, bất kể niềm tin tôn giáo của họ là gì, nhưng dụ ngôn này được diễn tả theo cách mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể tự vấn về nó.

Có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.” Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Đức Giêsu đáp: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.” Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” Lc 10,25-37).

Bối cảnh

  1. Dụ ngôn trên liên quan đến một vấn đề rất xưa. Ngay sau khi tường thuật về sự sáng tạo ra thế giới và loài người, Sách Thánh đề cập đến vấn đề liên hệ giữa những con người với nhau. Cain đã giết em mình là Abel, và sau đó nghe Thiên Chúa hỏi rằng: “Abel em ngươi đâu rồi?” (St 4,9). Câu trả lời của Cain cũng chính là câu trả lời mà chúng ta cũng thường đưa ra: “Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?” (St 4,9). Do chính câu hỏi Người đã đặt ra, Thiên Chúa không đặt ra thuyết tiền định hay thuyết định mệnh hòng biện minh cho sự thờ ơ của chúng ta. Thay vào đó, Người khuyến khích chúng ta tạo ra một nền văn hóa khác, trong đó chúng ta giải quyết các xung đột và việc quan tâm đến nhau của chúng ta. vốn tuyên bố biện minh cho sự thờ ơ là câu trả lời khả dĩ duy nhất. Ngược lại, nó cho phép chúng ta tạo ra một nền văn hóa khác để hướng dẫn chúng tôi vượt qua những thù hận và chăm sóc lẫn nhau.
  2. Sách Gióp coi nguồn gốc của chúng ta từ một Đấng Tạo Hóa duy nhất là nền tảng của một số quyền lợi chung: “Chẳng phải Đấng đã tạo ra tôi trong lòng mẹ cũng đã tạo nên anh ta đó sao? Và không phải cùng một Đấng ấy đã tượng hình chúng ta trong bụng mẹ đó sao?” (G31,15). Nhiều thế kỷ sau, thánh Irênê đã sử dụng hình ảnh giai điệu (melody) để đưa ra cùng một quan điểm: “Người tìm kiếm sự thật không nên tập trung vào những sự khác biệt giữa nốt này và nốt nọ, nghĩ như thể mỗi nốt nhạc được tạo ra tách biệt và phân cách với các nốt nhạc khác; thay vào đó, họ nên nhận ra rằng, cùng một người và cũng chính người đó đã sáng tác ra toàn bộ giai điệu”[54].
  3. Trong các truyền thống Do Thái trước đây, mệnh lệnh yêu thương và chăm sóc người khác dường như chỉ giới hạn vào các mối liên hệ giữa các thành viên của cùng một quốc gia. Luật Cựu Ước đạy rằng: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv19,18), thường được hiểu như nói đến những đồng bào của mình, nhưng ranh giới dần dần được mở rộng, nhất là trong Do Thái giáo, phát triển bên ngoài lãnh thổ Israel. Chúng ta gặp thấy mệnh lệnh đừng làm cho người khác điều bạn không muốn họ làm cho bạn (x. Tb4,15). Vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, Giáo sĩ Hillel từng tuyên bố rằng: “Đây chính là toàn bộ Lề Luật. Mọi điều khác chỉ là giải thích thêm mà thôi”[55]. Xu hướng chỉ nghĩ đến những người cận thân nhất  đối với chúng ta, được biến đổi dần, qua khát vọng muốn noi theo cách hành động của Thiên Chúa: “Con người thì xót thương cận thân, còn Đức Chúa xót thương mọi xác phàm” (Hc 18,13).
  4. Trong Tân Ước, giới luật của Hillel đã được diễn tả bằng những từ ngữ tích cực hơn: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt7,12). Lời kêu gọi này có tính cách phổ quát, nó có khuynh hướng bao trùm tất cả mọi người, chỉ vì thân phận con người của họ, vì Đấng Tối Cao là Cha trên trời “vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt” (Mt5,45). Do đó, mà có lời kêu gọi “hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36).
  5. Có một động lực để mở rộng tấm lòng để không loại trừ người xa lạ, điều này có thể được tìm thấy trong các bản văn cổ xưa nhất của Kinh Thánh. Đó là do người Do Thái luôn ghi nhớ về việc chính họ đã từng sống như những người ngoại kiều bên đất Ai Cập:

Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai Cập” (Xh 22,20).

Người ngoại kiều, các ngươi không được áp bức; chính các ngươi đã biết thân phận của người ngoại kiều, vì các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai Cập” (Xh 23,9).

Khi có ngoại kiều cư ngụ với (các) ngươi trong xứ các ngươi, các ngươi đừng bức hiếp nó. (Các) ngươi phải đối xử với người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ, một người trong các ngươi; (các) ngươi phải yêu nó như chính mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Aicập. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,33-34).

Khi hái nho, thì anh (em) không được mót lại; những trái còn sót dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ. Anh em hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên đất Ai Cập” (Đnl 24,21-22).

Lời kêu gọi bước vào tình yêu thương huynh đệ cũng vang lên mạnh mẽ suốt cả bộ Tân Ước:

Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”(Gl 5,14).

Ai yêu thương anh em mình thì ở lại trong ánh sáng, và nơi người ấy không có gì nên cớ vấp phạm. Nhưng ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối mà chẳng biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho mắt người ấy ra mù quáng” (1Ga 2,10-11).

Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết” (1Ga 3,14).

Ai không yêu thương người anh em mà mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).

  1. Tuy nhiên, lời kêu gọi yêu thương này có thể bị hiểu lầm. Vì điều gì đó, trước sự cám dỗ của các cộng đồng Kitô hữu tiên khởi, tạo ra các nhóm khép kín và biệt lập, thánh Phaolô đã khuyến khích các môn đệ của mình phải có lòng bác ái “đối với nhau và đối với tất cả mọi người” (1Tx3,12). Trong cộng đoàn của thánh Gioan, các Kitô hữu đồng đạo phải được đón tiếp, “dù họ là những người xa lạ” (3Ga5). Bối cảnh này giúp ta hiểu giá trị của dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu: tình yêu thương thì không quan tâm việc người anh chị em đang bị thương phát xuất từ nơi này hay nơi kia. Bởi vì chính “tình yêu đã phá vỡ xiềng xích ngăn cách và chia cắt chúng ta, xây nên những nhịp cầu. Tình yêu thương cho phép chúng ta xây dựng một gia đình tuyệt vời, nơi đó tất cả chúng ta có thể cảm thấy như ở nhà mình… Tình yêu thì biết xót thương và đầy nhân phẩm”[56].

Bị bỏ rơi bên vệ đường

  1. Đức Giêsu kể câu chuyện về một người đàn ông bị kẻ cướp đánh và nằm bị thương bên vệ đường. Nhiều người đi ngang qua bên cạnh anh nhưng họ bỏ chạy, họ không dừng lại. Họ là những người có chức vụ quan trọng trong xã hội, nhưng thiếu quan tâm thực sự đến lợi ích chung. Họ không thể dành vài phút để chăm sóc những người bị thương hoặc ít nhất là để tìm kiếm sự giúp đỡ. Chỉ có một người dừng lại, tới gần anh ta và đích thân chăm sóc anh, thậm chí chi tiền riêng của mình để cung cấp những gì anh cần. Người này cũng cho anh ấy một thứ mà trong thế giới đảo điên của mình, chúng ta thường bám lấy thật chặt: ông đã cho anh ta thời gian của mình. Chắc chắn, ông đã có kế hoạch riêng cho ngày hôm đó, những nhu cầu, dấn thân và mong muốn của riêng ông. Nhưng ông đã có thể đặt mọi thứ sang một bên để đến trước người đàn ông bị thương, dù không hề quen biết anh ta, ông coi đó là điều xứng đáng để cống hiến thời gian và sự quan tâm của mình.
  2. Bạn đã đồng hóa mình với ai trong số những người này? Một câu hỏi thật thẳng thắn, trực tiếp và dứt khoát. Bạn giống người nào trong số họ? Chúng ta cần nhận ra cám dỗ bao quanh chúng ta để phớt lờ người khác; đặc biệt là của những người hèn mọn nhất. Hãy nhìn nhận điều đó, chúng ta đã trưởng thành về nhiều mặt, mặc dù chúng ta còn mù chữ trong việc đồng hành, chăm sóc và hỗ trợ những người yếu ớt nhất và dễ bị tổn thương nhất trong các xã hội phát triển của chúng ta. Chúng ta quen với việc nhìn sang một bên, đi ngang qua, bỏ qua các tình huống cho đến khi chúng ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta.
  3. Một người bị hành hung trên đường phố và nhiều người bỏ chạy như thể họ không thấy gì cả. Thông thường, có nhiều người lái xe tông vào ai đó rồi bỏ chạy khỏi hiện trường. Điều duy nhất quan trọng đối với họ là tránh các vấn đề; họ không quan tâm rằng một một người khác có thể mất mạng vì lỗi mình gây ra. Nhưng đây là những dấu hiệu của một lối sống phổ biến thể hiện theo nhiều cách khác nhau, có lẽ là tinh vi hơn. Ngoài ra, vì tất cả chúng ta đều rất ám ảnh về nhu cầu của bản thân, nên nhìn thấy ai đó đau đớn sẽ làm phiền chúng ta, khiến chúng ta khó chịu, bởi vì chúng ta không muốn lãng phí thời gian để giải quyết vấn đề của người khác. Đây là những triệu chứng của một xã hội bệnh hoạn, bởi vì nó tìm cách xây dựng bản thân bằng cách quay lưng lại với sự khổ đau.
  4. Mong rằng chúng ta đừng rơi vào cảnh khốn cùng đó! Chúng ta hãy nhìn vào mẫu gương người Samaritanô nhân hậu. Dụ ngôn của Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy tái khám phá ơn gọi của mình như những công dân của các quốc gia liên hệ và của toàn thế giới, những người xây dựng mối liên kết xã hội cách mới mẻ. Đó là một lời kêu gọi luôn mới mẻ, mặc dù nó được viết ra như một quy luật cơ bản của con người chúng ta: rằng xã hội nên hướng tới việc theo đuổi công ích và dựa trên mục đích này, kiên trì củng cố trật tự chính trị và xã hội, kết cấu liên hệ của nó, với các mục tiêu nhân văn hơn. Bằng hành động của mình, người Samaritanô nhân hậu đã chứng tỏ rằng: “Sự hiện hữu của mỗi người chúng ta gắn liền với sự hiện hữu của những người khác: cuộc sống không đơn giản chỉ thời gian trôi qua, mà còn là thời gian để gặp gỡ tương tác nữa”[57].
  5. Dụ ngôn này là một biểu tượng soi sáng, có khả năng làm nổi bật lựa chọn cơ bản mà chúng ta cần phải thực hiện để xây dựng lại thế giới bị thương của chúng ta. Đối diện với quá nhiều đau đớn, quá nhiều vết thương, cách duy nhất của chúng ta thoát ra, là noi gương người Samaritanô nhân hậu. Bất kỳ sự lựa chọn nào khác đều làm chúng ta trở thành một trong những tên cướp hoặc một trong những người đi ngang qua mà không biểu lộ lòng cảm thương trước những đau khổ của người đàn ông bên vệ đường. Dụ ngôn cho chúng ta thấy một cộng đoàn có thể được xây dựng lại ra sao bởi những người nam nữ biết cách biến sự mong manh của người khác thành của mình, những người không cho phép xuất hiện một xã hội loại trừ, mà trở thành những người thân cận, vì lợi ích chung, biết nâng đỡ và phục hồi những người vấp ngã. Đồng thời, dụ ngôn cũng cảnh báo chúng ta về một số thái độ của những người chỉ biết nghĩ tới bản thân mà không quan tâm đến những trách nhiệm không thể bỏ qua của thực tại con người.
  6. Chúng ta hãy nói rõ điều này, dụ ngôn không đưa ra một bài học về lý tưởng trừu tượng, cũng không thể rút gọn thành bài học về đạo đức xã hội. Nó tiết lộ cho chúng ta một đặc tính thiết yếu của con người, thường hay bị lãng quên: chúng ta được tạo dựng để đạt tới sự hoàn thiện mà chỉ có thể đạt được trong tình yêu mà thôi. Sống dửng dưng trước những nỗi đau không phải là một lựa chọn khả dĩ, chúng ta không thể để một ai đó ở lại “bên cạnh cuộc đời”. Thay vào đó, chúng ta nên cảm thấy phẫn nộ, bị thách thức thoát khỏi sự thanh thản của mình, và được biến đổi khi tiếp xúc với những đau khổ của con người. Đó chính là ý nghĩa của phẩm giá.

Một câu chuyện không ngừng được kể lại

  1. Dụ ngôn trên rõ ràng và thẳng thắn, nhưng nó cũng gợi lên cuộc đấu tranh nội tâm mà mỗi người chúng ta đều cảm nghiệm khi chúng ta dần dần hiểu được chính bản thân mình qua các mối liên hệ với anh chị em của mình. Không sớm thì muộn, chúng ta đều sẽ gặp một người đau khổ. Ngày nay càng ngày càng có nhiều người như họ. Quyết định bao gồm hoặc loại trừ những người nằm bị thương bên vệ đường có thể được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá mọi dự án kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo. Mỗi ngày, chúng ta phải quyết định trở thành người Samaritanô nhân hậu hay thành những người vô cảm thờ ơ. Và nếu chúng ta chịu nhìn vào lịch sử cuộc sống của chính mình và của toàn thế giới, tất cả chúng ta đều giống, hay từng giống, mỗi nhân vật trong câu chuyện dụ ngôn. Tất cả chúng ta đều có trong mình một điều gì đó của người đàn ông bị thương, một điều gì đó của tên cướp, một điều gì đó của những người qua đường, và một điều gì đó của người Samaritanô nhân hậu.
  2. Điều đáng chú ý là cách các nhân vật khác nhau trong câu chuyện thay đổi, khi phải đối diện với cảnh tượng đau đớn của người đàn ông khốn khổ bên vệ đường. Các phân biệt giữa người Giuđê và người Samaria, giữa thầy tư tế và thương gia, mờ dần ý nghĩa. Bây giờ chỉ còn hai loại người: những người chăm sóc một ai đó đang bị thương tích và những người đi ngang qua; những người cúi xuống giúp đỡ và những người nhìn đi hướng khác và vội vàng bỏ đi. Ở đây, mọi phân biệt, mọi nhãn hiệu và mặt nạ của chúng ta đều rơi xuống: đây là khoảnh khắc của sự thật. Liệu chúng ta có cúi xuống để chạm vào và chữa lành vết thương của người khác không? Liệu chúng ta có cúi xuống và giúp người khác đứng lên không? Đây là thách thức hiện nay và chúng ta không nên sợ hãi khi đối đầu với nó. Trong thời điểm khủng hoảng, các quyết định trở nên cấp thiết. Có thể nói rằng, ở đây và bây giờ, bất cứ ai không phải là kẻ trộm cướp hay người qua đường, đều là người bị thương hoặc đang mang người bị thương trên vai.
  3. Câu chuyện về người Samaritanô nhân hậu không ngừng được nhắc đi nhắc lại. Chúng ta có thể thấy điều này rõ ràng vì sức trì trệ chính trị và xã hội đang biến nhiều nơi trên thế giới của chúng ta thành một đường phụ hoang vắng, ngay cả khi các tranh chấp quốc nội và quốc tế và việc cướp đi các cơ hội đang khiến một số lượng lớn người bị gạt ra bên lề đường. Trong dụ ngôn của Người, Đức Giêsu không đưa ra những lựa chọn thay thế; Người không hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người đàn ông bị thương hoặc người đã giúp ông ta nghiêng về phía tức giận hoặc khao khát trả thù. Đức Giêsu tin tưởng vào điều tốt nhất của tinh thần con người; Với dụ ngôn này, Người khuyến khích chúng ta kiên trì trong yêu thương, khôi phục phẩm giá cho những người đau khổ và xây dựng một xã hội xứng đáng với tên gọi.

Các nhân vật của câu chuyện

  1. Dụ ngôn bắt đầu với những tên cướp. Đức Giêsu chọn bắt đầu câu chuyện khi vụ cướp đã xảy ra, kẻo chúng ta chăm chú vào chính tội ác hoặc những kẻ trộm đã phạm tội ác đó. Tuy nhiên, chúng ta biết rõ những người đó. Chúng ta đã thấy, đang tiến bước trong thế giới của chúng ta là những bóng đen của sự bỏ rơi và bạo lực nhằm phục vụ các quyền lợi nhỏ mọn của quyền lực, thu góp và chia rẽ. Câu hỏi thực sự là: chúng ta sẽ bỏ rơi người đàn ông bị thương để chạy tìm nơi trú ẩn khỏi bạo lực, hay chúng ta sẽ truy đuổi những tên cướp? Liệu người đàn ông bị thương có kết cục trở thành người biện minh cho các chia rẽ không thể hàn gắn, sự thờ ơ tàn nhẫn của chúng ta, các xung đột nội bộ của chúng ta hay không?
  2. Sau đó, dụ ngôn yêu cầu chúng ta xem xét kỹ hơn những người qua đường. Sự thờ ơ lo lắng khiến họ bước qua phía bên kia đường – bất kể là vô tội hay không, bất kể là do khinh bỉ hay chỉ là do lơ đễnh – khiến thầy tư tế và thầy Lêvi trở thành một hình ảnh phản chiếu đáng buồn khoảng cách ngày càng lớn giữa chúng ta và thế giới xung quanh. Có nhiều cách để bước qua ở một khoảng cách an toàn: chúng ta có thể rút vào chính mình, phớt lờ người khác, hoặc thờ ơ với cảnh ngộ của họ. Hoặc chỉ đơn giản nhìn đi nơi khác, như ở một số quốc gia, hoặc một số khu vực của họ, có sự khinh miệt đối với người nghèo và văn hóa của họ, và người ta nhìn đi chỗ khác, như thể một kế hoạch phát triển được nhập từ bên ngoài sẽ đẩy lui họ. Đây là cách một số người biện minh cho sự thờ ơ của họ: người nghèo, những người mà những lời cầu xin giúp đỡ có thể chạm đến trái tim của họ, đơn giản không hiện hữu. Người nghèo nằm ngoài phạm vi quan tâm của họ.
  3. Về những người qua đường, ta thấy một chi tiết nổi bật: họ là người tôn giáo, tận tâm thờ phượng Chúa: một tư tế và một thầy Lêvi. Không nên bỏ qua chi tiết này. Nó cho thấy niềm tin vào Thiên Chúa và sự thờ phượng Thiên Chúa không đủ để bảo đảm rằng chúng ta đang thực sự sống đẹp lòng Thiên Chúa. Một tín hữu có thể không chân thật đối với mọi điều được đức tin của họ đòi hỏi nơi họ, nhưng vẫn nghĩ rằng họ gần gũi với Thiên Chúa và tốt hơn những người khác. Mặt khác, có những cách sống đức tin tạo điều kiện cho việc cởi mở đối với người khác; và lối này mới bảo đảm việc cởi mở đích thực đối với Thiên Chúa. Thánh Gioan Kim Khẩu đã phát biểu điều này một cách sắc cạnh khi ngài thách thức các Kitô hữu nghe ngài rằng: “anh chị em có muốn tôn vinh thân thể của Đấng Cứu Thế không? Đừng khinh thường nó khi nó trần truồng. Đừng tôn vinh nó trong nhà thờ với lễ phục bằng lụa trong khi ở bên ngoài nó trần truồng và tê cóng vì lạnh”[58]. Nghịch lý thay, những người cho mình là người không tin đôi khi có thể thực hành ý muốn của Thiên Chúa tốt hơn các tín hữu.
  4. “Kẻ cướp” thường tìm đồng minh bí mật ở những người “đi ngang qua và nhìn đi hướng khác”. Có một sự tương tác nào đó giữa những kẻ thao túng và lừa đảo xã hội, và những người, trong khi tự cho mình là những người chỉ trích khách quan và vô tư, nhưng thực ra sống dựa nhờ hệ thống đó và các lợi ích của nó. Có một sự đạo đức giả đáng buồn khi quyền đặc miễn tội phạm, việc sử dụng các định chế để trục lợi cá nhân hoặc tập đoàn, và những tệ nạn khác dường như không thể diệt trừ được, thường đi kèm với việc chỉ trích không ngừng về đủ mọi chuyện, một việc không ngừng gieo rắc nghi ngờ dẫn đến việc mất lòng tin và nhầm lẫn. Khiếu nại cho rằng “mọi sự đều đã đổ vỡ” được trả lời bằng chủ trương cho là “nó không thể sửa được” hoặc “tôi làm gì được?” Điều này càng làm gia tăng sự vỡ mộng và tuyệt vọng, và khó mà khuyến khích tinh thần liên đới và quảng đại. Dấn sâu con người vào tuyệt vọng khép lại một vòng tròn hoàn toàn sai trái: đó là nghị trình của nền độc tài vô hình của các quyền lợi giấu mặt đã giành được quyền làm chủ cả các tài nguyên lẫn khả năng suy nghĩ và bày tỏ ý kiến.
  5. Cuối cùng chúng ta hãy hướng về người đàn ông bị thương. Có những lúc chúng ta cảm thấy như ông ta, bị tổn thương nặng nề và bị bỏ lại ở vệ đường. Chúng ta cũng có thể cảm thấy bất lực vì các định chế của chúng ta bị bỏ bê và thiếu tài nguyên, hoặc chỉ đơn giản phục vụ lợi ích của một thiểu số, bên ngoài và bên trong. Thật vậy, “xã hội toàn cầu hóa thường có một cách chuyển dịch cái nhìn một cách tao nhã. Dưới chiêu bài chính xác về chính trị hay hợp thời thượng ý thức hệ, chúng ta chỉ nhìn những người đau khổ chứ không chạm vào họ. Chúng ta truyền hình trực tiếp các hình ảnh về họ, thậm chí nói về họ bằng nhiều uyển ngữ và đầy khoan dung biểu kiến”[59].

Xuất phát lại

  1. Mỗi ngày đều mang đến cho chúng ta một cơ hội mới, một khả năng mới. Chúng ta không nên mong đợi mọi sự từ những người cai trị chúng ta, vì điều đó có tính con nít. Chúng ta có không gian cần thiết để cùng chịu trách nhiệm trong việc tạo ra và áp dụng các tiến trình và thay đổi mới. Chúng ta hãy tham gia tích cực vào việc đổi mới và hỗ trợ các xã hội đang gặp khó khăn của chúng ta. Hôm nay, chúng ta có cơ hội lớn để phát biểu tình huynh đệ bẩm sinh của mình, trở thành những người Samaritanô nhân hậu, những người gánh nỗi đau rắc rối của người khác thay vì xúi giục lòng căm thù và oán giận lớn hơn. Giống như người du hành tình cờ trong dụ ngôn, chúng ta chỉ cần có lòng mong muốn thuần túy và đơn giản được là một dân tộc, một cộng đồng, không ngừng và không mệt mỏi cố gắng bao gồm, hòa nhập và nâng đỡ những người vấp ngã. Có thể chúng ta thường thấy mình rơi vào não trạng của những kẻ bạo lực, tham vọng một cách mù quáng, những kẻ gieo rắc ngờ vực và dối trá. Có thể những người khác cứ tiếp tục coi chính trị hoặc kinh tế như một đấu trường cho những cuộc chơi quyền lực của họ. Về phần mình, chúng ta hãy cổ vũ điều tốt và đặt mình phục vụ nó.
  2. Chúng ta có thể bắt đầu từ bên dưới và tùy từng trường hợp, hành động ở các bình diện cụ thể nhất và có tính địa phương, và, sau đó mở rộng đến những vùng xa xôi nhất của đất nước và thế giới của chúng ta, với cùng sự quan tâm và chăm sóc mà người Samaritanô đã biểu lộ với từng vết thương của người đàn ông bị thương. Chúng ta hãy tìm kiếm người khác và đón nhận thế giới trong hiện trạng của có, mà không sợ đau đớn hay cảm thức bất cập, vì ở đó chúng ta sẽ khám phá ra tất cả những điều tốt lành mà Thiên Chúa đã gieo trồng vào lòng con người. Những khó khăn tưởng chừng như quá sức lại là cơ hội để phát triển, chứ không phải là lý do bào chữa cho một sự nhẫn nhục ủ rũ chỉ có thể dẫn đến sự phục tùng. Tuy nhiên, chúng ta đừng làm điều này một mình, với tư cách cá nhân. Người Samaritanô đã phát hiện được một người chủ quán vui lòng chăm sóc người đàn ông; chúng ta cũng được kêu gọi đoàn kết như một gia đình mạnh hơn tổng số các thành viên cá thể nhỏ mọn. Vì “toàn thể lớn hơn bộ phận, nhưng nó cũng lớn hơn tổng số các bộ phận của nó”[60]. Chúng ta hãy từ bỏ óc nhỏ nhen và oán giận của cuộc chiến nội bộ vô bổ và không ngừng đối kháng. Chúng ta hãy ngưng việc thương hại mình để thừa nhận tội ác, sự thờ ơ, các dối trá của mình. Sự đền bù và hòa giải sẽ mang lại cho chúng ta cuộc sống mới và giải thoát chúng ta khỏi sự sợ hãi.
  3. Người Samaritanô, người đã dừng lại dọc đường, đã lên đường mà không hề mong đợi được công nhận hay biết ơn. Nỗ lực giúp đỡ một người khác của ông đã mang lại cho ông một sự hài lòng to lớn trong cuộc sống và trước mặt Thiên Chúa của ông, và do đó trở thành một nghĩa vụ. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với những người bị thương, những người của dân tộc chúng ta và của mọi dân tộc trên trái đất. Chúng ta hãy quan tâm đến nhu cầu của mọi người nam và người nữ, người trẻ và người già, với cùng một tinh thần chăm sóc và gần gũi huynh đệ từng lên đặc điểm cho người Samaritanô nhân hậu.

Người thân cận không có biên giới

  1. Đức Giêsu kể dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu để trả lời cho câu hỏi: Ai là người thân cận của tôi? Chữ “người thân cận”, trong xã hội thời Đức Giêsu, thường có nghĩa là những người gần chúng ta nhất. Người ta cảm thấy sự giúp đỡ chủ yếu nên được dành cho những người thuộc nhóm và chủng tộc riêng của mình. Đối với một số người Do Thái thời đó, người Samaritanô bị coi thường, bị coi là không thanh sạch. Họ không nằm trong số những người phải giúp đỡ. Đức Giêsu, bản thân là một người Do Thái, hoàn toàn biến đổi cách tiếp cận này. Người yêu cầu chúng ta không nên quyết định xem ai là người đủ gần gũi để trở thành người thân cận của chúng ta, mà đúng hơn chính chúng ta phải trở thành người thân cận cho mọi người.
  2. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta hiện diện với những người cần giúp đỡ, bất kể họ có thuộc nhóm xã hội của chúng ta hay không. Trong trường hợp này, người Samaritanô trở thành hàng xóm của người Giuđê bị thương. Bằng cách tiếp cận và làm cho mình hiện diện, ông đã vượt qua mọi rào cản về văn hóa và lịch sử. Đức Giêsu kết thúc dụ ngôn bằng câu: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc10,37). Nói cách khác, Người thách thức chúng ta gạt bỏ mọi dị biệt và, đứng trước đau khổ, sẵn sàng đến gần người khác mà không cần thắc mắc. Tôi không nên nói tôi có người thân cận để giúp đỡ, mà bản thân tôi phải là người thân cận cho người khác.
  3. Tuy nhiên, dụ ngôn này có làm ta bối rối, vì Đức Giêsu nói rằng người bị thương là người Giuđê, trong khi người dừng lại và giúp đỡ ông ta là người Samaria. Chi tiết này khá có ý nghĩa đối với sự suy gẫm của chúng ta về một tình yêu bao gồm mọi người. Người Samaria sống trong một khu vực thực hành các nghi lễ ngoại giáo. Đối với người Do Thái, điều này khiến họ trở nên ô uế, đáng ghét và nguy hiểm. Thực thế, một bản văn cổ Do Thái đề cập đến các quốc gia bị ghét bỏ, khi nói về Samaria, thậm chí “chẳng phải là một dân” (Hc50,25); bản văn đó cũng nhắc tới “đám dân ngu xuẩn ở vùng Sikhem” (Hc 50,26).
  4. Điều này giải thích tại sao một phụ nữ Samaria, khi được Đức Giêsu xin uống nước, đã trả lời cộc lốc: “Làm sao mà ông, một người Do Thái, lại xin nước uống của tôi, một phụ nữ Samaria?” (Ga4,9). Lời buộc tội xúc phạm nhất mà những ai tìm cách làm mất uy tín của Đức Giêsu có thể đưa ra là Người bị “qủy ám” và là “người Samaritanô” (Ga8,48). Vì vậy, cuộc gặp gỡ lòng thương xót này giữa một người Samaritanô và một người Do Thái có tính kích thích; nó không chừa chỗ cho sự thao túng ý thức hệ và thách thức chúng ta mở rộng biên giới của chúng ta. Nó mang lại một chiều kích phổ quát cho ơn gọi yêu thương của chúng ta, một chiều kích vượt quá mọi định kiến, mọi rào cản lịch sử và văn hóa, mọi quyền lợi nhỏ nhặt.

Lời kêu xin của người khách lạ

  1. Cuối cùng, tôi xin lưu ý rằng trong một đoạn khác của Tin Mừng, Đức Giêsu nói: “Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước” (Mt25,35). Đức Giêsu có thể nói những lời đó vì Người có tấm lòng rộng mở, nhạy cảm đối với các khó khăn của người khác. Thánh Phaolô thúc giục chúng ta hãy “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15). Khi trái tim chúng ta làm được điều này, chúng có khả năng đồng nhất với những người khác mà không cần lo lắng về việc họ sinh ra hoặc phát xuất từ đâu. Trong khi đó, chúng ta cảm nghiệm được tha nhân như thể là “người anh em cốt nhục của chính mình” (Is 58,7).
  2. Đối với các Kitô hữu, lời của Đức Giêsu còn có một chiều kích siêu việt khác nữa; chúng hàm ý nhận ra chính Đức Kitô nơi từng người anh chị em bị bỏ rơi hoặc bị loại trừ (x. Mt25,40.45). Đức tin có năng lực vô hạn trong việc truyền cảm hứng và duy trì lòng tôn trọng của chúng ta đối với người khác, vì các tín hữu biết rằng Thiên Chúa yêu mọi người nam nữ bằng một tình yêu vô hạn và “do đó ban cho nhân loại phẩm giá vô hạn”[61]. Chúng ta cũng tin rằng Đức Kitô đã đổ máu mình vì mỗi người chúng ta và không ai nằm ngoài phạm vi tình yêu phổ quát của Người. Nếu chúng ta đi đến nguồn gốc cuối cùng của tình yêu đó, một tình yêu vốn là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta sẽ gặp gỡ nơi cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa chính là cội nguồn và khuôn mẫu hoàn hảo của mọi đời sống xã hội. Thần học tiếp tục được phong phú hóa bởi sự suy tư của nó về chân lý vĩ đại này.
  3. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao, dưới ánh sáng của điều này, phải mất quá nhiều thời gian để Giáo hội có thể dứt khoát lên án chế độ nô lệ và các hình thức bạo lực khác nhau. Ngày nay, với nền linh đạo và thần học phát triển của chúng ta, chúng ta không có lý do gì để bào chữa. Tuy nhiên, vẫn có những người dường như cảm thấy được khuyến khích hoặc ít nhất được đức tin cho phép ủng hộ hàng loạt các chủ nghĩa duy dân tộc đầy hẹp hòi và bạo lực, bài ngoại và khinh miệt, và thậm chí cả việc ngược đãi những người khác biệt. Đức tin, và chủ nghĩa nhân bản được đức tin truyền cảm hứng, phải duy trì một cảm thức có phê phán khi đứng trước những khuynh hướng này, và đưa ra phản ứng ngay lập tức bất cứ khi nào chúng xuất đầu lộ diện. Vì thế, điều quan trọng là việc dạy giáo lý và thuyết giảng phải nói một cách trực tiếp và rõ ràng hơn về ý nghĩa xã hội của hiện sinh, chiều kích huynh đệ của linh đạo, niềm xác tín của chúng ta về phẩm giá bất khả chuyển nhượng của mỗi con người, và các lý do khiến chúng ta yêu thương và đón nhận tất cả các anh chị em của mình.

CHƯƠNG 3: VẠCH RA VÀ PHÁT TRIỂN MỘT THẾ GIỚI CỞI MỞ HƠN

  1. Một con người được tạo ra theo cách mà họ không nhận ra chính mình, không phát triển và không thể tìm thấy sự hoàn thiện của mình “nếu đó không phải là sự chân thành hiến thân vì tha nhân”[62]. Họ cũng không thể nhận biết đầy đủ về bản thân mình nếu không biết gặp gỡ tha nhân: “Tôi chỉ thực sự tương giao cách hiệu quả với chính mình trong chừng mực biết tương giao với người khác”[63]. Không ai có thể kinh nghiệm vẻ đẹp thực sự của đời sống nếu không liên hệ với người khác, nếu không có những khuôn mặt thực sự để yêu thương. Đây là một phần của mầu nhiệm hiện sinh đích thực của con người. “Sự sống hiện hữu ở chỗ có một sự gắn bó, hiệp thông, huynh đệ; và sự sống mạnh hơn sự chết khi nó được xây dựng trên những tương quan thực sự và những ràng buộc về lòng trung tín. Trái lại, không có sự sống khi chúng ta tự nhận mình đầy đủ nơi chính mình, và sống như những ốc đảo: với những thái độ này, sự chết sẽ thống trị”[64].

Hãy ra khỏi chính mình

  1. Trong thẳm sâu mỗi trái tim, tình yêu tạo ra mối liên kết và mở rộng sự hiện hữu, vì nó kéo người ta ra khỏi chính mình để hướng tới tha nhân[65]. Được tạo ra vì tình yêu, trong mỗi chúng ta đều có “một quy luật xuất thần [ekstasis]: là ‘đi ra khỏi chính mình’ để tìm thấy hữu thể của mình một cách viên mãn hơn nơi tha nhân”[66]. Vì thế, “trong mọi trường hợp, con người phải thực hiện sự dấn thân này, đó là hãy ra khỏi chính mình”[67].
  2. Nhưng tôi không thể thu gọn cuộc sống của mình vào mối liên hệ chỉ với một nhóm nhỏ, thậm chí không phải chỉ là gia đình của mình mà thôi, bởi vì không thể hiểu bản thân mình nếu không có những mối quan hệ rộng lớn hơn, không chỉ mối liên hệ hiện tại mà còn là mối liên hệ đã có trước và đã định hình nên tôi xuyên suốt cuộc đời tôi. Mối liên hệ của tôi với một người mà tôi trân trọng không thể bỏ qua rằng, người đó không chỉ sống bằng mối liên hệ của người ấy với tôi, cũng như tôi không sống chỉ vì liên quan đến người đó mà thôi. Các mối liên hệ của chúng ta, nếu lành mạnh và chân thực, sẽ mở ra cho chúng ta tới những người khác, những người giúp chúng ta thêm triển nở và thêm phong phú cho chúng ta. Ý thức xã hội cao quý nhất ngày nay cũng dễ dàng bị xóa bỏ nhằm có lợi cho những ràng buộc ích kỷ, một ý thức vốn khuyến khích sự xuất hiện của các mối liên hệ bền chặt. Thay vào đó, tình yêu đích thực sẽ giúp phát triển, và những hình thức tình bạn cao quý nhất sống trong trái tim cho phép bản thân được hoàn thiện. Mối quan hệ của đôi lứa và tình bạn được định hướng để mở rộng trái tim ra xung quanh chúng ta, giúp chúng ta có thể ra khỏi chính mình để chào đón mọi người. Các nhóm khép kín và các cặp vợ chồng tự cho mình là cái “chúng tôi” đối lập với toàn thế giới, thường là những hình thức lý tưởng hóa của sự ích kỷ và chỉ nhằm bảo vệ bản thân mình mà thôi.
  3. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhóm dân cư nhỏ sống trong các vùng sa mạc đã phát triển khả năng rộng rãi để chào đón những người hành hương, do đó, là một dấu hiệu mẫu mực về nghĩa vụ thiêng liêng của lòng hiếu khách. Các cộng đoàn đan tu từ thời Trung cổ cũng đã thực hành như thế, như chúng ta thấy trong Tu Luật thánh phụ Biển Đức. Dù biết rằng điều đó có thể làm sao nhãng kỷ luật và sự thinh lặng của các đan viện, nhưng thánh Biển Đức vẫn nhấn mạnh rằng “với người nghèo và khách hành hương, ta phải hết sức ân cần đón tiếp”[68]. Lòng hiếu khách là một cách cụ thể để đón nhận sự thách đố và món quà tặng chứa đựng trong một cuộc gặp gỡ với những người bên ngoài cộng đoàn của mình. Các đan sĩ nhận ra rằng tất cả những giá trị mà họ có thể trau dồi phải đi kèm với khả năng vượt lên trên bản thân mình trong sự cởi mở đối với người khác.

Giá trị độc đáo của tình yêu thương

  1. Con người có thể phát triển những thái độ nhất định mà họ thể hiện dưới dạng các giá trị đạo đức: mạnh mẽ, tiết độ, chăm chỉ và các nhân đức tương tự. Nhưng để định hướng một cách thỏa đáng các hành vi của các nhân đức luân lý khác nhau, cũng cần phải xem xét mức độ nào chúng mang lại sự năng động cởi mở và hợp nhất đối với người khác. Sự năng động này chính là lòng bác ái mà Thiên Chúa đã ban cho. Nếu không có đức ái, có lẽ chúng ta chỉ có những nhân đức bề ngoài, không có khả năng nâng đỡ cuộc sống chung. Do đó, thánh Tôma Aquinô đã có thể nói, khi trích dẫn lời của thánh Augustinô rằng, tính khí của một người tham lam thậm chí không có đạo đức[69]. Về phần mình, thánh Bônaventura giải thích rằng, các nhân đức khác, nếu không có đức ái, thì rõ ràng không chu toàn các giới răn “theo cách mà Thiên Chúa muốn chúng được chu toàn”[70].
  2. Đỉnh cao tinh thần của một đời người được đánh dấu bằng tình yêu thương, là “tiêu chuẩn để xác định dứt khoát về giá trị hay vô giá trị của đời người”[71]. Tuy nhiên, một số tín hữu nghĩ rằng nó hệ ở việc áp đặt ý thức hệ riêng của họ lên mọi người khác, hoặc ở việc bảo vệ sự thật một cách bạo lực, hoặc trong những cuộc biểu dương sức mạnh đầy ấn tượng. Tất cả chúng ta, trong tư cách tín hữu, cần phải nhìn nhận rằng tình yêu chiếm vị trí hàng đầu: tình yêu không bao giờ được đặt vào thế nguy cơ, và nguycơ lớn nhất chính là việc không yêu thương (x. 1Cr 13,1-13).
  3. Thánh Tôma Aquinô đã tìm cách mô tả tình yêu mà ơn thánh Thiên Chúa vốn làm cho khả hữu như một chuyển động dẫn chúng ta tập trung chú ý vào một người khác, bằng cách “coi người như hiệp nhất nên một với chính mình vậy”[72]. Tình cảm của chúng ta dành cho người khác khiến chúng ta tự do khao khát tìm kiếm điều tốt đẹp cho họ một cách nhưng không. Tất cả những điều này bắt nguồn từ cảm thức quý mến, biết đánh giá cao giá trị của người khác. Cuối cùng, đó chính là ý tưởng đứng đằng sau chữ “bác ái”: những người được yêu rất “đắt giá” đối với tôi; nghĩa là “họ được định giá rất cao”[73]. Và “tình yêu nhờ đó một người nào đó trở nên đẹp lòng (grata) một người khác là lý do tại sao người khác này trao cho họ một thứ gì đó một cách nhưng không (gratis)”[74].
  4. Vậy thì tình yêu không chỉ là một chuỗi các hành động nhân từ. Những hành động này có nguồn gốc từ sự kết hợp ngày càng hướng tới những người khác, coi họ có giá trị, xứng đáng, đẹp lòng và đẹp đẽ bất chấp dáng vẻ thể lý hay đạo đức của họ. Tình yêu của chúng ta đối với người khác, đối với con người hiện thực của họ, thúc đẩy chúng ta tìm kiếm điều tốt nhất cho cuộc sống của họ. Chỉ bằng cách nuôi dưỡng cách liên hệ với nhau này, chúng ta mới tạo ra một tình bạn xã hội không loại trừ ai và một tình huynh đệ cởi mở chào đón mọi người.

Tình yêu thương rộng mở hơn

  1. Tình yêu, sau cùng, thúc đẩy chúng ta tiến tới sự hiệp thông phổ quát. Không ai có thể trưởng thành hoặc tìm thấy sự viên mãn bằng cách tự cô lập mình. Tự bản chất của nó, tình yêu đòi một tính cởi mở ngày một tăng tiến, một khả năng lớn hơn đón nhận người khác, trong cuộc phiêu lưu liên tục, một cuộc phiêu lưu hướng mọi vùng ngoại vi tới một cảm thức thực sự thuộc về nhau. Đức Giêsu từng nói với chúng ta rằng: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (Mt23,8).
  2. Nhu cầu phải vượt qua các giới hạn của chính chúng ta cũng áp dụng vào các khu vực và quốc gia khác nhau. Thật vậy, “số lượng ngày càng gia tăng các nối kết qua lại và truyền thông trong thế giới ngày nay khiến chúng ta ý thức mạnh mẽ được tính thống nhất và vận mệnh chung của các quốc gia. Trong những biến động của lịch sử, cũng như trong sự đa dạng của các dân tộc, xã hội và các nền văn hóa, chúng ta thấy ơn gọi đã gieo vào lòng để hình thành một cộng đồng gồm những người anh em đón nhận nhau, chăm sóc lẫn nhau”[75].

Các xã hội cởi mở gắn kết mọi người

  1. Có những vùng ngoại biên gần với chúng ta, ở trung tâm của một thành phố, hoặc trong chính gia đình mình. Ngoài ra còn có một khía cạnh của tình yêu rộng mở phổ quát không phải là địa lý mà là sự hiện hữu. Đó là khả năng hàng ngày để mở rộng vòng kết nối của tôi, tiếp cận những người mà tôi không tự dưng coi là một phần trong tâm điểm quan tâm của tôi, ngay cả khi họ ở gần tôi. Mặt khác, mỗi anh chị em bị xã hội của tôi làm đau khổ, bỏ rơi hoặc làm ngơ, đều là những người xa lạ hiện sinh, ngay cả khi họ sinh ra trên cùng một quê hương đất nước. Họ có thể là một công dân với tất cả các giấy tờ, nhưng họ bị đối xử như một người ngoại kiều ngay trên chính quê hương của mình. Sự phân biệt chủng tộc chính là một loại virus dễ dàng đột biến, và thay vì biến mất, thì nó chỉ bị ẩn núp và chờ đợi tái xuất hiện.
  2. Tôi muốn đề cập đến một số “người lưu vong giấu mặt” bị coi như những vật thể lạ trong xã hội[76]. Nhiều người khuyết tật “cảm thấy họ hiện hữu mà không thuộc về ai và không tham gia vào đâu cả”. Vẫn còn nhiều người khác nữa “bị ngăn cản quyền công dân đầy đủ”. Mối quan tâm của chúng ta không phải chỉ chăm sóc họ mà còn bảo đảm để họ “tham gia tích cực vào cộng đồng dân sự và Giáo hội. Đó là một tiến trình đòi hỏi và thậm chí đầy gian nan, sẽ ngày càng góp phần hình thành ý thức nhìn nhận mỗi cá nhân là một con người duy nhất, không thể thay thế”. Tôi cũng đang nghĩ đến “những người cao niên, đặc biệt là vì khuyết tật, đôi khi bị coi là một gánh nặng”. Tuy nhiên, mỗi người trong số họ có thể “đóng góp cách độc đáo cho lợi ích chung qua những câu chuyện đáng chú ý về cuộc sống của họ”. Tôi xin nhấn mạnh rằng, chúng ta phải có “can đảm để lên tiếng cho những người bị phân biệt đối xử vì khuyết tật của họ, bởi vì, thật không may, ở một số quốc gia, ngày nay vẫn còn khó khăn để công nhận họ là người của phẩm giá bình đẳng”[77].

Những hiểu biết chưa đầy đủ về tình yêu phổ quát

  1. Tình yêu vượt ra ngoài biên giới là cơ sở mà chúng ta gọi là “tình bạn xã hội” ở mọi thành phố và ở mọi quốc gia. Khi nó là chân chính, tình bạn xã hội này trong một xã hội là điều kiện để có thể có một sự cởi mở phổ quát thực sự. Đây không phải là chủ nghĩa phổ quát sai lầm của những người cần phải đi du lịch liên tục vì họ không thể bao dung và không yêu thương đồng bào của mình. Bất cứ ai nhìn dân tộc của mình với sự khinh thường có xu hướng tạo ra trong xã hội những hạng người hạng nhất và hạng hai, những người có phẩm giá cao hơn hoặc kém hơn, những người được hưởng nhiều quyền hơn hoặc ít hơn. Bằng cách này, họ phủ nhận chỗ đứng dành cho tất cả mọi người.
  2. Chắc chắn, tôi không đề nghị một chủ nghĩa phổ quát độc đoán và trừu tượng, được nghĩ ra hoặc lên kế hoạch bởi một nhóm nhỏ và được trình bày như một lý tưởng nhằm mục đích san bằng, thống trị và cướp bóc. Thực thế, một mô hình toàn cầu hóa “ý thức nhằm đạt tới sự độc dạng chỉ có một chiều và tìm cách xóa bỏ mọi khác biệt và truyền thống trong một cuộc mưu cầu thống nhất phiến diện… Nếu một loại toàn cầu hóa nào đó có cao vọng san bằng mọi người, như thể đây là một trái cầu, thì thứ toàn cầu hóa ấy sẽ phá hủy sự phong phú cũng như tính đặc thù của mỗi con người và mỗi dân tộc”[78]. Chủ nghĩa phổ quát sai lầm này kết cục tước đoạt của thế giới các màu sắc khác nhau, vẻ đẹp của nó và, cuối cùng, nhân tính của nó. Vì “tương lai không đơn sắc; nếu chúng ta can đảm, chúng ta có thể chiêm ngắm nó trong tất cả vẻ khác nhau và đa dạng của những gì mỗi cá nhân có dịp cống hiến. Gia đình nhân loại của chúng ta cần học hỏi biết bao cách chung sống hòa thuận và bình an, nhưng không cần tất cả chúng ta đều giống y như nhau!”[79].

Vượt qua một thế giới của “những đối tác”

  1. Bây giờ chúng ta hãy lại với dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, vì dụ ngôn này vẫn còn nhiều điều để nói với chúng ta. Một người bị thương nằm bên vệ đường. Các nhà chức trách đi qua đường với anh ta đã không chú ý đến lời kêu gọi trở nên thân thiết bên trong này, mà về chức năng của họ, về vị trí xã hội của họ, về một nghề cơ bản trong xã hội. Họ cảm thấy mình quan trọng đối với xã hội lúc này và sự cấp thiết của họ là vai trò mà họ phải thực hiện. Người đàn ông bị thương và bị bỏ rơi trên đường là một sự xấu hổ cho dự án này, một trở ngại, và hơn nữa, anh ta không thực hiện bất kỳ chức năng nào. Anh ta chẳng là gì cả, anh ta không thuộc một nhóm nổi tiếng, anh ta không có vai trò gì trong việc xây dựng lịch sử. Tuy nhiên, người Samaritanô hào phóng chống lại những phân loại hạn hẹp này, mặc dù anh ta không phù hợp với bất kỳ phân loại nào trong số này và chỉ là một người xa lạ không có vị trí cụ thể trong xã hội. Vì vậy, không có bất kỳ danh hiệu và bất kỳ khoản phí nào, người Samaritanô này có thể gián đoạn cuộc hành trình của mình, thay đổi kế hoạch, sẵn sàng mở ra trước sự ngạc nhiên của người bị thương đang cần ông ta cứu giúp.
  2. Ngày nay, phản ứng đối với câu chuyện y hệt như thế, trong một thế giới liên tục chứng kiến sự xuất hiện và phát triển của những nhóm xã hội bám riết vào một danh tính ngăn cách họ với những người khác, sẽ như thế nào? Nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến những người tự tổ chức mình nhằm ngăn chặn bất cứ sự hiện diện nào của người nước ngoài, một sự hiện diện có thể đe dọa danh tính và các cơ cấu khép kín và tự quy chiếu của họ? Ở đó, ngay cả khả năng hoạt động như một người hàng xóm cũng bị loại trừ; người ta chỉ là láng giềng với những người phục vụ mục đích của họ. Chữ “thân cận” mất hết mọi ý nghĩa; chỉ còn là “những đối tác” mà thôi, những đối tác theo đuổi những tư lợi[80].

Tự do, bình đẳng và tình huynh đệ

  1. Tình huynh đệ phát sinh không những từ một bầu khí tôn trọng các quyền tự do cá nhân, hoặc thậm chí từ một chính sách bình đẳng nào đó được chính phủ bảo đảm. Tình huynh đệ nhất thiết kêu gọi một điều gì đó lớn lao hơn, một điều, ngược lại, nâng cao tự do và bình đẳng. Điều gì xảy ra khi tình huynh đệ không được vun đắp một cách có ý thức, khi thiếu ý chí chính trị cổ vũ nó qua việc giáo dục tình huynh đệ, qua đối thoại và qua việc công nhận các giá trị của tính hỗ tương và làm giàu lẫn nhau? Lúc đó, tự do sẽ yếu đi, do đó, càng trở thành một điều kiện để sống cô lập, hoàn toàn độc lập trong việc thuộc về ai hay thuộc về điều gì, hoặc chỉ đơn giản là chiếm hữu hoặc thụ hưởng. Điều này vẫn không hề làm khô cạn sự phong phú của tự do, một tự do trước hết vốn hướng chúng ta tới tình yêu.
  2. Bình đẳng cũng không đạt được bằng một tuyên ngôn trừu tượng cho rằng “tất cả mọi người nam và nữ đều bình đẳng”. Thay vào đó, nó là kết quả của sự vun đắp tình huynh đệ một cách có ý thức và thận trọng. Những người chỉ có khả năng làm “người đồng hội đồng thuyền” tạo ra các thế giới khép kín. Trong khuôn khổ đó, đâu là nơi dành cho những người không thuộc nhóm đồng hội đồng thuyền của mình, nhưng vẫn mong muốn một cuộc sống tốt hơn cho bản thân và gia đình của họ?
  3. Chủ nghĩa cá nhân không làm chúng ta tự do hơn, bình đẳng hơn, huynh đệ hơn. Nguyên tổng số các quyền lợi cá nhân mà thôi không có khả năng tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể gia đình nhân loại. Nó cũng không thể cứu chúng ta khỏi nhiều tệ nạn đang ngày càng được toàn cầu hóa. Chủ nghĩa cá nhân triệt để là một thứ vi rút cực kỳ khó tận diệt, vì nó rất khôn khéo. Nó khiến chúng ta tin rằng mọi sự hệ ở việc để thả lỏng mọi tham vọng riêng của mình, như thể hễ cứ theo đuổi những tham vọng lớn hơn bao giờ hết và tạo ra các mạng lưới an toàn, là chúng ta sẽ phục vụ lợi ích chung cách nào đó.

Tình yêu thương đại đồng thúc đẩy con người

  1. Tình bạn xã hội và tình huynh đệ đại đồng nhất thiết kêu gọi sự nhìn nhận giá trị của mỗi nhân vị con người, ở mọi thời và mọi nơi. Nếu mỗi cá nhân đều có giá trị lớn lao như vậy, thì cần phải tuyên bố rõ ràng và chắc chắn rằng “nguyên sự kiện một số người sinh ra ở những nơi có ít tài nguyên hơn hoặc kém phát triển hơn không biện minh cho sự kiện này là họ phải sống với một phẩm giá kém hơn”[81]. Đây là một nguyên tắc căn bản của đời sống xã hội, một đời sống có xu hướng bị làm ngơ nhiều cách khác nhau bởi những người cảm thấy rằng nó không phù hợp với thế giới quan của họ hoặc phục vụ các mục đích của họ.
  2. Mọi hữu thể nhân bản đều có quyền được sống xứng đáng và được phát triển toàn diện; quyền căn bản này không thể bị bác bỏ bởi bất cứ quốc gia nào. Mọi người có quyền này ngay cả khi họ không sản xuất được chi, hoặc được sinh ra với hoặc phát triển nhiều hạn chế. Điều này không làm giảm phẩm giá tuyệt vời của họ như những con người nhân bản, một phẩm giá không dựa trên hoàn cảnh mà dựa trên giá trị nội tại của con người họ. Trừ khi nguyên tắc căn bản này được đề cao, sẽ không có tương lai cho tình huynh đệ hay cho sự tồn vong của nhân loại.
  3. Một số xã hội chấp nhận một phần nguyên tắc trên. Họ đồng ý rằng các cơ hội nên dành cho mọi người, nhưng sau đó lại nói rằng mọi sự tùy thuộc cá nhân. Theo quan điểm lệch lạc này, “tạo dễ dàng cho việc đầu tư các nỗ lực vào việc giúp đỡ những người chậm chạp, yếu kém hoặc kém tài năng để họ tìm được cơ hội trong cuộc sống” là điều vô nghĩa[82]. Các khoản đầu tư hỗ trợ những người dễ bị tổn thương có thể không có lợi; chúng có thể làm cho mọi sự kém hiệu năng đi. Không. Điều thực sự cần thiết là các nhà nước và định chế dân sự, đang hiện diện và hoạt động, phải có tầm nhìn quá bên kia sự vận hành tự do và có hiệu năng của một số hệ thống kinh tế, chính trị hoặc ý thức hệ nào đó, và chủ yếu quan tâm đến các cá nhân và lợi ích chung.
  4. Một số người sinh ra trong các gia đình ổn định về kinh tế, nhờ thế, nhận được nền giáo dục tốt, lớn lên được nuôi dưỡng tốt hoặc tự nhiên đã có những tài năng tuyệt vời. Họ chắc chắn sẽ không cần đến một nhà nước chủ động; họ chỉ cần đòi hỏi tự do của họ. Tuy nhiên, cùng một quy tắc y hệt rõ ràng không được áp dụng cho người khuyết tật, người sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, những người không được giáo dục tốt và ít được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe thỏa đáng. Nếu một xã hội được điều hành chủ yếu bởi các tiêu chuẩn tự do và hiệu năng của thị trường, thì sẽ không có chỗ cho những người như vậy, và tình huynh đệ sẽ mãi mãi chỉ là một lý tưởng mơ hồ khác nữa mà thôi.
  5. Thật vậy, “đòi hỏi tự do kinh tế trong khi các điều kiện thực tế ngăn cản nhiều người thực sự tiếp cận được với nó, và trong khi các khả năng có việc làm tiếp tục bị thu hẹp, là thực hành kiểu nói nước đôi”[83]. Những chữ như tự do, dân chủ hay tình huynh đệ tỏ ra vô nghĩa, vì sự thực là “chỉ khi nào hệ thống kinh tế và xã hội của chúng ta không còn tạo ra dù chỉ một nạn nhân, một người duy nhất bị gạt sang một bên, thì chúng ta mới có thể cử hành lễ hội tình huynh đệ phổ quát”[84]. Một xã hội thực sự nhân bản và huynh đệ sẽ có khả năng bảo đảm một cách hữu hiệu và ổn định để mỗi thành viên của nó được đồng hành trong mọi giai đoạn của cuộc sống. Không chỉ bằng cách chu cấp cho các nhu cầu căn bản của họ, mà còn bằng cách giúp họ có khả năng cống hiến điều tốt nhất của họ, mặc dù hiệu suất của họ có thể không ở mức tối ưu, nhịp độ của họ chậm hoặc hiệu năng của họ có giới hạn.
  6. Con người, được ban tặng cho những quyền bất khả xâm phạm, bản chất của họ là cởi mở với những ràng buộc. Lời kêu gọi vượt lên chính mình để gặp gỡ những người khác chính là gốc rễ của con người ấy. Đây là lý do tại sao “chúng ta phải cẩn thận để không rơi vào những mơ hồ có thể nảy sinh từ sự hiểu lầm về khái niệm nhân quyền và sự lạm dụng chúng một cách nghịch lý. Trên thực tế, ngày nay xu hướng đòi hỏi quyền cá nhân ngày càng lớn – tôi muốn nói là chủ nghĩa cá nhân – ẩn chứa một quan niệm về con người tách rời khỏi bất kỳ bối cảnh xã hội và nhân học nào, gần giống như một “đơn nguyên” (monás), ngày càng vô cảm… Nếu quyền của mỗi người không được sắp xếp một cách hài hòa theo hướng tốt hơn, thì quyền đó sẽ bị coi là không có giới hạn và do đó, trở thành nguồn gốc của xung đột và bạo lực”[85].

Cổ võ cho sự thiện luân lý

  1. Chúng ta không thể không nói rằng mong muốn và tìm kiếm điều tốt đẹp của người khác và của toàn thể nhân loại cũng ngụ ý tìm kiếm sự trưởng thành của con người và xã hội trong các giá trị đạo đức khác nhau dẫn đến sự phát triển toàn diện của con người. Trong Tân Ước, điều mô tả hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Ga 5,22), được diễn tả bằng chữ agathosynetrong tiếng Hy Lạp. Điều đó chỉ ra một sự gắn bó với điều tốt, tìm kiếm điều tốt lành. Hơn nữa, đó là tìm kiếm những gì tuyệt vời nhất, tốt nhất cho người khác: sự trưởng thành của họ, sự trưởng thành trong một cuộc sống lành mạnh, sự vun đắp các giá trị chứ không chỉ là hạnh phúc vật chất. Có một cách diễn đạt tương tự trong tiếng Latinh: Bene-volentia, có nghĩa là thái độ “mong muốn điều tốt đẹp” của người kia. Đó là một khát vọng mạnh mẽ đối với những điều tốt đẹp, một khao khát hướng tới tất cả những gì tốt đẹp và xuất sắc, thúc đẩy chúng ta lấp đầy cuộc sống của người khác bằng những điều đẹp đẽ, cao cả và thăng hoa.
  2. Cùng với những dòng này, tôi đau đớn nhấn mạnh một lần nữa rằng “chúng ta đã trải qua một thời gian dài suy thoái luân lý, coi thường lòng đạo đức, lòng tốt, đức tin, sự trung thực. Đã đến lúc phải thừa nhận rằng sự hời hợt nhẹ dạ đã không hề đem lại cho chúng ta một điều tốt lành nào cả. Sự phá hủy mọi nền tảng của đời sống xã hội này dẫn đến việc chúng ta phải đối đầu với nhau để bảo vệ lợi ích của riêng mình”[86]. Chúng ta hãy quay trở lại để phát huy những điều tốt đẹp, cho bản thân và cho cả gia đình nhân loại, và do đó, chúng ta sẽ cùng nhau hướng tới một sự phát triển chân chính và toàn vẹn. Mỗi xã hội cần đảm bảo rằng, các giá trị phải được lưu truyền, bởi vì nếu thiếu điều này, thì tính ích kỷ, bạo lực, tham nhũng dưới nhiều hình thức khác nhau, sự thờ ơ vô cảm, và cuối cùng, một cuộc sống khép kín với mọi sự siêu việt, và tính cố thủ vì tư lợi sẽ càng lan rộng thêm.

Giá trị của sự liên đới

  1. Tôi muốn nhấn mạnh đến tình liên đới, mà “như một phẩm chất đạo đức và thái độ xã hội, kết quả của sự hoán cải cá nhân, đòi hỏi sự dấn thân của tất cả những người có trách nhiệm giáo dục và đào tạo. Trước tiên, tôi đề cập đến các gia đình, được gọi là một sứ vụ giáo dục chính yếu và quan trọng. Gia đình là nơi đầu tiên truyền tải những giá trị của tình yêu thương và tình huynh đệ, sự chung sống và chia sẻ, quan tâm chăm sóc tha nhân. Gia đình cũng là môi trường đặc biệt để loan truyền đức tin, từ những cử chỉ sùng kính đơn sơ đầu tiên mà người mẹ dạy con cái họ. Các nhà giáo dục và nhà đào tạo, ở trường học hoặc ở các trung tâm hiệp hội trẻ em và thanh thiếu niên khác, có nhiệm vụ gian khổ là giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, được kêu gọi nhận thức rằng trách nhiệm của họ liên quan đến các chiều kích đạo đức, các khía cạnh tinh thần và xã hội của con người. Các giá trị tự do, tôn trọng lẫn nhau và liên đới có thể được lưu truyền từ thời thơ ấu sớm nhất… Những người cống hiến cho thế giới văn hóa và các phương tiện truyền thông xã hội cũng có trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong xã hội đương đại, trong đó tiếp cận với các công cụ đào tạo và truyền thông ngày càng rộng rãi”[87].
  2. Vào lúc mà mọi sự dường như tan rã và mất đi tính nhất quán, chúng ta nên kêu gọi tính “vững chắc”[88] nảy sinh từ việc biết rằng chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự mong manh của những người khác đang cố gắng xây dựng một tương lai chung. Tình liên đới được thể hiện cụ thể trong việc phục vụ, có thể thực hiện những hình thức rất khác nhau trong việc chăm sóc người khác. Phục vụ có nghĩa là quan tâm đến những người mỏng manh của gia đình chúng ta, của xã hội chúng ta, của người dân chúng ta. Trong nhiệm vụ này, mỗi người có khả năng “gác lại những tìm kiếm, lo lắng, khát khao quyền lực của mình, trước cái nhìn cụ thể của những người dễ bị tổn thương nhất… Phục vụ luôn nhìn vào khuôn mặt của họ, đụng đến da thịt của họ, cảm nhận sự gần gũi của họ, và thậm chí, trong một số trường hợp, phải ‘chịu đựng’ sự gần gũi đó và cố gắng giúp đỡ họ. Phục vụ không bao giờ có tính ý thức hệ, vì chúng ta không phục vụ các ý tưởng, mà chúng ta phục vụ những con người cụ thể”[89].
  3. Điều cuối cùng nói chung “thực hành tình liên đới rất đặc biệt tồn tại giữa những người đau khổ, những người nghèo khó, và nền văn minh của chúng ta dường như đã bị lãng quên, hoặc ít nhất cũng có một ý nghĩ là hãy quên đi. Liên đới là một từ không phải lúc nào cũng thích nghe; Tôi sẽ nói rằng đôi khi chúng ta đã biến nó thành một hạn từ xấu, một từ không thể được nói ra; nhưng nó là một từ thể hiện tốt hơn là một vài hành động quảng đại cách tùy hứng. Nó có nghĩa là suy nghĩ và hành động theo hướng cộng đồng. Nó có nghĩa là cuộc sống của mọi người có trước việc chiếm đoạt của cải của một số ít người. Nó cũng đấu tranh chống lại các nguyên nhân cơ cấu của nghèo đói, bất bình đẳng, thiếu việc làm, đất đai và nhà ở, bác bỏ các quyền lao động và xã hội. Nó đang phải đối mặt với những tác động hủy diệt của đế chế đồng tiền… Đoàn kết, hiểu theo nghĩa sâu xa nhất, là một cách làm nên lịch sử, và đây là điều mà các phong trào bình dân đang thực hiện”[90].
  4. Khi chúng ta nói về việc chăm sóc cho ngôi nhà chung là hành tinh này, chúng ta kêu gọi ý thức tối thiểu và sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau vẫn có thể còn tồn tại trong thâm tâm con người. Những ai được hưởng lượng nước dư thừa nhưng chọn cách tiết kiệm nước vì lợi ích chung của đại gia đình nhân loại lớn hơn, quả đã đạt được tầm vóc đạo đức giúp họ vượt ra khỏi chính mình và nhóm của mình. Đây chính là những con người tuyệt vời! Cũng chính thái độ này là một điều cần thiết để nhìn nhận các quyền của mỗi con người, ngay cả khi người đó được sinh ra bên ngoài biên giới của chính mình.

Tái đề xuất chức năng xã hội của quyền sở hữu

  1. Thế giới tồn tại cho tất cả mọi người, bởi vì tất cả chúng ta, là con người, được sinh ra trên trái đất này với phẩm giá bình đẳng. Sự khác biệt về màu da, tôn giáo, khả năng, nơi sinh, nơi ở, và rất nhiều khác biệt khác, không thể được ưu tiên hoặc sử dụng để biện minh cho đặc quyền của một số người hơn quyền của tất cả mọi người. Vì vậy, với tư cách là một cộng đồng, chúng ta được kêu gọi để đảm bảo rằng mỗi người sống trong phẩm giá và có những cơ hội thích hợp cho sự phát triển toàn diện của họ.
  2. Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, nhiều học giả khác nhau đã phát triển một ý thức phổ quát trong suy tư của họ về mục đích chung của những hàng hóa được tạo ra[91]. Điều này khiến chúng ta nhận ra rằng, nếu ai đó thiếu những gì cần thiết để sống có phẩm giá, thì đó là bởi vì người khác đang chiếm đoạt nó. Thánh Gioan Kim Khẩu đúc kết điều đó như sau: “Không chia sẻ cho người nghèo phần tài sản của mình là ăn cắp của người nghèo, nó đang tước đoạt mạng sống của họ; và những gì chúng ta sở hữu không phải của chúng ta, mà là của họ”[92]. Theo lời của thánh Grêgôriô Cả: “Khi chúng ta cung cấp những nhu cầu căn bản cho người nghèo, chúng ta không cho họ những gì của chúng ta, mà là trả lại cho họ những gì thuộc về họ”[93].
  3. Một lần nữa, tôi muốn nhắc lại câu nói của Thánh Gioan Phaolô II mà sức mạnh của nó có lẽ chưa được công nhận đầy đủ: “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn thể loài người để nuôi sống mọi thành viên của nó, không loại trừ hay ưu ái bất cứ ai”[94]. Về phần mình, tôi nhận xét rằng “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ công nhận quyền tư hữu là tuyệt đối hoặc bất khả xâm phạm, và đã nhấn mạnh đến mục đích xã hội của mọi hình thức tư hữu”[95]. Nguyên tắc sử dụng chung các hàng hóa được tạo ra là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự xã hội và đạo đức”[96]; nó là một quyền tự nhiên và cố hữu, có ưu tiên hơn những quyền khác[97]. Tất cả các quyền khác đối với tài sản cần thiết cho sự hoàn thiện toàn vẹn của con người, bao gồm quyền sở hữu tư nhân và bất kỳ quyền nào khác, “không được cản trở quyền này, trái lại, nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chúng”, như thánh Phaolô VI đã tuyên bố”[98]. Quyền sở hữu tư nhân chỉ có thể được coi là quyền tự nhiên thứ yếu và xuất phát từ nguyên tắc đích điểm phổ quát của hàng hóa được tạo ra. Điều này có những hệ quả rất cụ thể cần phải được phản ánh trong hoạt động của xã hội. Nhưng thường xảy ra rằng, các quyền thứ cấp bị chồng lên các quyền ưu tiên, và quyền nguyên thủy, và làm mất đi ý nghĩa thực tế của chúng.

Các quyền không bị giới hạn

  1. Vì vậy, không ai có thể bị loại trừ, bất kể họ sinh ra ở đâu, ít hơn nhiều vì những đặc quyền mà người khác có được vì được sinh ra ở những nơi có nhiều cơ hội hơn. Ranh giới và biên giới của các của các quốc gia không thể cản trở điều này xảy ra. Không thể chấp nhận được việc một số người ít có quyền hơn chỉ vì họ là người phụ nữ thế nào, thì cũng không thể chấp nhận được việc nơi sinh hoặc nơi cư trú của một người sẽ khiến họ ít có cơ hội hơn để có một cuộc sống phát triển và xứng đáng nhân phẩm hơn.
  2. Sự phát triển không được theo hướng tích lũy ngày càng nhiều của một nhóm người, mà phải bảo đảm “các quyền con người, cá nhân và xã hội, kinh tế và chính trị, bao gồm cả quyền của các quốc gia và các dân tộc nữa”[99]. Quyền tự do kinh doanh hoặc thị trường của một số người không thể cao hơn quyền của con người, phẩm giá của người nghèo, hơn nữa, cũng trong vấn đề này, việc tôn trọng môi trường tự nhiên, vì “nếu chúng ta tự làm ra được thứ gì đó, thì chỉ là để quản lý nó, vì thiện ích chung của mọi người mà thôi”[100].
  3. Hoạt động của các doanh nhân một cách hiệu quả, “chính là một thiên chức cao cả nhằm sản xuất ra của cải và cải thiện thế giới, dành cho tất cả mọi người”[101]. Thiên Chúa khuyến khích chúng ta phát triển các tài năng Người đã ban cho chúng ta, và Người đã biến vũ trụ của chúng ta thành một vũ trụ có tiềm năng mênh mông. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, mỗi cá nhân được kêu gọi cổ vũ sự phát triển của chính họ[102], và điều này bao gồm việc tìm ra các phương tiện kinh tế và kỹ thuật tốt nhất để gia tăng của cải và gia tăng thịnh vượng. Nhưng trong mọi trường hợp, những năng lực này của các doanh nhân, vốn là một quà tặng Thiên Chúa ban, nên luôn được điều hướng rõ ràng cho sự phát triển của người khác, nhằm xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là thông qua việc tạo ra các nguồn công việc đa dạng. Bên cạnh quyền sở hữu tư nhân, luôn có nguyên tắc, quan trọng hơn và ưu tiên hơn, là sự phụ thuộc của tất cả tài sản tư nhân vào mục đích chung của mọi hàng hóa trên trái đất, và do đó, tất cả mọi người đều có quyền sử dụng chúng[103].

Quyền của các dân tộc

  1. Sự chắc chắn về đích đến chung của hàng hóa trên trái đất ngày nay đòi hỏi nó cũng phải được áp dụng cho các quốc gia, vùng lãnh thổ và tài nguyên của họ. Nếu chúng ta xem xét nó không chỉ từ tính hợp pháp của tài sản tư nhân và quyền của công dân của một quốc gia nhất định, mà còn từ nguyên tắc đầu tiên về điểm đến chung của hàng hóa, thì chúng ta có thể nói rằng mọi quốc gia đều thuộc về người nước ngoài nữa, do đó, không được từ khước của cải của lãnh thổ đối với một người túng thiếu phát xuất từ một lãnh thổ khác. Thật vậy, như các giám mục Hoa Kỳ đã dạy rằng, có những quyền cơ bản “có trước bất kỳ xã hội nào, vì chúng bắt nguồn từ phẩm giá được ban cho mỗi người do Thiên Chúa tạo dựng”[104].
  2. Điều này cũng giả định một cách hiểu khác về mối tương quan và sự trao đổi giữa các quốc gia. Nếu mỗi người có một phẩm giá bất khả xâm phạm, nếu mỗi con người là anh chị em của tôi, và nếu thế giới thực sự thuộc về tất cả mọi người, thì việc ai đó sinh ra ở đây hay họ sống bên ngoài biên giới của đất nước họ đều không quan trọng. Quốc gia của tôi cũng chịu trách nhiệm chung cho sự phát triển của mình, mặc dù nó có thể hoàn thành trách nhiệm này theo những cách khác nhau: bằng cách rộng lượng chào đón khi nó có nhu cầu cấp thiết, bằng cách quảng bá nó trên đất của mình, bằng cách không sử dụng hoặc làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của toàn bộ quốc gia bằng cách ủng hộ các hệ thống tham nhũng ngăn cản sự phát triển xứng đáng với các dân tộc. Điều này, áp dụng cho các quốc gia, áp dụng cho các khu vực khác nhau của mỗi quốc gia, nơi thường xảy ra bất bình đẳng nghiêm trọng. Nhưng việc không thể thừa nhận phẩm giá bình đẳng của con người đôi khi khiến các khu vực phát triển hơn của một số quốc gia nhất định mong muốn thoát khỏi “những gánh nặng” của các khu vực nghèo hơn để tăng mức tiêu dùng của họ hơn nữa.
  3. Chúng ta đang nói về một mạng lưới mới trong quan hệ quốc tế, bởi vì không thể giải quyết các vấn đề nghiêm trọng của thế giới nếu chỉ nghĩ đến các hình thức hỗ trợ lẫn nhau giữa các cá nhân hoặc các nhóm nhỏ. Chúng ta hãy nhớ rằng “bất bình đẳng không chỉ ảnh hưởng đến các cá nhân mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ các quốc gia, và bắt buộc chúng ta phải suy nghĩ về đạo đức của quan hệ quốc tế”[105]. Thật vậy, công lý đòi hỏi phải công nhận và tôn trọng không những các quyền của cá nhân, mà còn cả các quyền xã hội và quyền của các dân tộc[106]. Điều này có nghĩa phải tìm ra cách để bảo đảm “quyền căn bản của các dân tộc được sống còn và tiến bộ”[107], một quyền đôi khi bị hạn chế nghiêm trọng bởi áp lực do nợ nước ngoài tạo ra. Trong nhiều trường hợp, việc trả nợ không những không cổ võ sự phát triển mà còn hạn chế và buộc điều kiện cho nó một cách nghiêm trọng. Mặc dù nguyên tắc được duy trì là mọi khoản nợ theo hợp đồng hợp pháp đều phải được thanh toán, nhưng cách thức thực hiện nghĩa vụ này mà nhiều nước nghèo áp dụng đối với các nước giàu, không được làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của họ.
  4. Chắc chắn, tất cả những điều này đòi hỏi một cách suy nghĩ khác. Nếu không cố gắng đi vào lối suy nghĩ này, những gì tôi đang nói ở đây sẽ nghe có vẻ không thực tiễn. Mặt khác, nếu chúng ta chấp nhận nguyên tắc rất quan trọng rằng có những quyền phát xuất từ nhân phẩm bất khả nhượng của chúng ta, thì chúng ta có thể đảm nhận thách đố về việc hình dung một nhân loại mới. Chúng ta có thể khao khát một thế giới biết cung cấp đất đai, nhà ở, và công việc cho mọi người. Đây chính là con đường thực sự dẫn đến hòa bình, chứ không phải là chiến lược thiển cận và vô nghĩa gieo rắc nỗi sợ hãi và ngờ vực khi đối mặt với các mối đe dọa bên ngoài. Bởi vì hòa bình thực sự và lâu dài chỉ có thể có được “từ một nền đạo đức toàn cầu về sự liên đới và hợp tác nhằm phục vụ một tương lai được hình thành bởi sự phụ thuộc lẫn nhau và đồng trách nhiệm giữa toàn thể gia đình nhân loại”[108].

CHƯƠNG 4: TRÁI TIM MỞ RA TOÀN THẾ GIỚI

  1. Nếu xác tín rằng tất cả mọi người là anh chị em không phải chỉ là một ý niệm trừu tượng mà trở thành hiện thực và hiện thực hóa, thì vô số vấn đề liên quan sẽ xuất hiện, buộc chúng ta phải nhìn sự việc dưới một ánh sáng mới và phát triển các giải đáp mới.

Các biên giới và các giới hạn của chúng

  1. Những thách thức phức tạp nảy sinh khi người thân cận của chúng ta vô tình là một người di dân[109]. Điều lý tưởng sẽ là tránh được những cuộc di dân không cần thiết; và để đạt được điều này, ở các quốc gia xuất xứ, cần phải tạo ra một khả năng hiệu quả để sống xứng đáng, lớn lên trong nhân phẩm, và một sự phát triển toàn diện. Nhưng khi thiếu sự tiến bộ đáng chú ý theo hướng này, chúng ta phải tôn trọng quyền của mỗi con người cần tìm được một nơi ở, không chỉ có thể đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình và của gia đình, mà còn hoàn thành đầy đủ tư cách là một con người. Những nỗ lực của chúng ta đối với những người di cư sắp đến có thể được tóm gọn trong bốn động từ: chào đón, bảo vệ, thúc đẩy và hòa nhập. Thật vậy, “vấn đề không phải là áp đặt các chương trình hỗ trợ từ bên trên, mà là cùng nhau hoàn thành một lộ trình thông qua bốn hành động này, để xây dựng các thành phố và các quốc gia mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa và tôn giáo của họ, cởi mở với những khác biệt và biết cách đánh giá chúng theo dấu chỉ của tình huynh đệ nhân loại”[110].
  2. Điều này ngụ ý các phản ứng cần thiết, đặc biệt khi đối diện với những người đang chạy trốn các cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng. Ví dụ: gia tăng và đơn giản hóa việc cấp thị thực, thông qua các chương trình bảo trợ tư nhân và cộng đồng, mở hành lang nhân đạo cho những người tị nạn dễ bị tổn thương nhất, cung cấp chỗ ở phù hợp và tươm tất, đảm bảo an toàn cá nhân và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, đảm bảo sự hỗ trợ lãnh sự phù hợp, đảm bảo quyền của họ luôn có các giấy tờ tùy thân, tiếp cận công lý một cách công bằng, khả năng mở tài khoản ngân hàng và có những gì cần thiết cho sự sống quan trọng của họ, trao quyền tự do đi lại và cơ hội làm việc, bảo vệ trẻ vị thành niên và đảm bảo cho chúng được tiếp cận giáo dục thường xuyên, xem xét các chương trình tiếp nhận hoặc tạm giữ, đảm bảo tự do tôn giáo, thúc đẩy hòa nhập xã hội, thúc đẩy đoàn tụ gia đình và chuẩn bị cho cộng đồng địa phương cho quá trình hội nhập[111].
  3. Điều quan trọng là phải áp dụng khái niệm “quyền công dân” cho những người di dân đã đến được một thời gian và mới hòa nhập vào xã hội, “dựa trên sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ mà tất cả mọi người đều được hưởng công lý. Đây là lý do tại sao cần phải cam kết thiết lập trong các xã hội của chúng ta khái niệm về quyền công dân đầy đủ và từ bỏ việc sử dụng phân biệt đối xử của thuật ngữ nhóm thiểu số, vốn mang trong mình mầm mống của cảm giác bị cô lập và thấp kém. Việc lạm dụng thuật ngữ này mở đường cho sự thù địch và bất hòa, đồng thời tước đi các cuộc chinh phạt của một số công dân và các quyền tôn giáo và dân sự, bằng cách phân biệt đối xử với họ”[112].
  4. Ngoài các hành động thiết yếu khác nhau, các quốc gia không thể tự mình tìm ra các giải pháp thỏa đáng “bởi vì hậu quả của các quyết định của mỗi quốc gia chắc chắn sẽ gây ra hậu quả đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế”. Kết quả là, “đáp ứng của chúng ta chỉ có thể là kết quả của một cố gắng chung”[113] nhằm khai triển một hình thức quản trị toàn cầu liên quan đến các phong trào di dân. Vì vậy, “cần có việc lên kế hoạch trung hạn và dài hạn không giới hạn vào các đáp ứng khẩn cấp mà thôi. Việc lập kế hoạch như thế cần bao gồm việc hỗ trợ hữu hiệu để hội nhập các di dân vào các nước tiếp nhận họ, trong khi cũng cổ vũ việc phát triển các quốc gia gốc của họ qua các chính sách lấy cảm hứng từ tình liên đới, chứ không liên kết việc hỗ trợ vào các chiến lược và thực hành ý thức hệ xa lạ hoặc trái ngược với nền văn hóa của các dân tộc được hỗ trợ”[114].

Trao đổi các hồng ân

  1. Sự xuất hiện của những người khác nhau, đến từ một bối cảnh khác của cuộc sống và văn hóa, trở thành một món quà, bởi vì “câu chuyện của những người di dân cũng là câu chuyện gặp gỡ giữa con người và nền văn hóa. Đối với cộng đồng và xã hội của nước chủ nhà, thì người di dân đem lại một cơ hội làm phong phú và phát triển con người toàn diện cho tất cả mọi người”[115]. Vì lý do này, “tôi đặc biệt mời gọi những người trẻ đừng nghe theo những kẻ đặt họ chống lại những người trẻ khác, mới đến đất nước của họ, và những kẻ khuyến khích người trẻ coi những nhập cư này như một mối đe dọa, chứ không có cùng một phẩm giá bất khả xâm phạm giống như mọi người khác”[116].
  2. Thật vậy, khi chúng ta mở lòng ra với những người khác biệt, điều này cho phép họ phát triển một cách mới mẻ, trong khi vẫn là chính họ. Các nền văn hóa khác nhau, những nền văn hóa vốn phát triển mạnh mẽ qua nhiều thế kỷ, cần được bảo tồn, kẻo thế giới của chúng ta trở nên đơn điệu. Đồng thời, những nền văn hóa đó nên được khuyến khích cởi mở đối với những trải nghiệm mới mẻ qua cuộc gặp gỡ của họ với những thực tại khác, vì nguy cơ sa vào chứng xơ cứng văn hóa luôn hiện diện. Đây là lý do tại sao “chúng ta cần giao tiếp, khám phá sự phong phú của mỗi người, đánh giá cao những gì gắn kết chúng ta và coi sự khác biệt như những khả năng phát triển với sự tôn trọng dành cho tất cả mọi người. Đối thoại kiên nhẫn và tự tin là cần thiết, để các cá nhân, gia đình và cộng đồng có thể truyền tải các giá trị văn hóa của chính mình và chào đón những điều tốt đẹp phát xuất từ kinh nghiệm của người khác”[117].
  3. Ở đây tôi sẽ đề cập đến một số ví dụ mà tôi đã sử dụng trong quá khứ. Nền văn hóa Latinh đã làm “dậy men các giá trị và có khả năng làm phong phú rất lớn lao cho Hoa Kỳ”, bởi vì “việc di dân mạnh mẽ luôn luôn có sức tác động và biến đổi nền văn hóa của một nơi… như việc di dân mạnh mẽ từ nước Ý đến Argentina chẳng hạn, đã để lại dấu ấn trong nền văn hóa của xã hội, và sự hiện diện của khoảng 200,000 người Do Thái có ảnh hưởng lớn đến ‘phong cách’ văn hóa của thủ đô Buenos Aires. Những người di dân, nếu được giúp đỡ để hòa nhập, sẽ là một phúc lành, một nguồn lực làm phong phú và là quà tặng mới, mời gọi xã hội phát triển”[118].
  4. Trên phạm vi rộng hơn nữa, Đại Giáo trưởng Hồi giáo Ahmad Al-Tayyeb và tôi đã nhận thấy rằng “các tương quan tốt đẹp giữa Đông phương và Tây phương là rõ ràng cần thiết cho cả hai. Chúng không được bỏ qua, để mỗi bên có thể được thêm phong phú bằng nền văn hóa của bên kia qua việc trao đổi và đối thoại hữu hiệu. Phương Tây có thể khám phá ra ở phương Đông các phương pháp chữa trị cho những căn bệnh tâm linh và tôn giáo do chủ nghĩa duy vật thịnh hành gây ra. Và phương Đông có thể tìm thấy ở phương Tây nhiều yếu tố có thể giúp giải phóng mình khỏi yếu kém, chia rẽ, xung đột và suy thoái về khoa học, kỹ thuật và văn hóa. Cần lưu ý những khác biệt về tôn giáo, văn hóa, lịch sử vốn là thành phần thiết yếu trong việc hình thành nhân cách, văn hóa và văn minh phương Đông. Điều quan trọng là phải củng cố các quyền con người căn bản và phổ quát, để giúp đảm bảo một cuộc sống xứng nhân phẩm cho tất cả mọi người nam nữ ở Đông phương và Tây phương, tránh nền chính trị hai mặt”[119].

Một cuộc trao đổi hữu hiệu

  1. Sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia chứng tỏ sự phong phú cho mỗi bên. Một quốc gia phát triển trong khi vẫn giữ được nền tảng vững chắc trong nền tảng cội nguồn văn hóa của mình là một kho báu cho toàn thể nhân loại. Chúng ta cần nâng cao nhận thức rằng ngày nay, hoặc tất cả chúng ta đều được cứu, hoặc sẽ không ai được cứu. Nghèo đói, suy thoái, những đau khổ của một khu vực trên trái đất là nguồn gốc tiềm ẩn cho những vấn đề mà cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến toàn hành tinh. Nếu lo lắng về sự tuyệt chủng của một số loài, chúng ta nên bị ám ảnh bởi suy nghĩ rằng ở khắp mọi nơi đều có những người và những dân tộc không phát triển được tiềm năng và vẻ đẹp của họ do nghèo đói hoặc những hạn chế về cơ cấu khác. Bởi vì điều này cuối cùng tất cả chúng ta nghèo nàn đi.
  2. Mặc dù điều trên luôn luôn đúng, nhưng chưa bao giờ rõ ràng hơn thời đại chúng ta, khi thế giới được liên kết với nhau bằng chính sách toàn cầu hóa. Chúng ta cần đạt được một trật tự pháp lý, chính trị và kinh tế toàn cầu “có thể gia tăng và định hướng cho sự hợp tác quốc tế nhằm phát triển mọi dân tộc trong tình liên đới”[120]. Cuối cùng, điều này sẽ mang lại ích lợi cho toàn thế giới, vì “viện trợ phát triển cho các nước nghèo” hàm nghĩa “tạo ra thịnh vượng cho mọi người”[121]. Theo quan điểm phát triển toàn diện, điều này giả định “đem lại cho các quốc gia nghèo hơn một tiếng nói hữu hiệu trong việc ra quyết định chung”[122] và khả năng “tạo điều kiện tiếp cận thị trường quốc tế cho các quốc gia nghèo và kém phát triển”[123].

Sự vô vị lợi mở ra đối với người khác

  1. Mặc dù vậy, tôi không muốn giới hạn việc trình bày này vào một kiểu tiếp cận thực dụng. Luôn có nhân tố “cho đi nhưng không”: khả năng làm một số việc đơn giản chỉ vì tự chúng, chúng vốn là điều tốt, không quan tâm chi đến lợi ích hay đền đáp bản thân. Sự cho không khiến chúng ta có thể chào đón người lạ, dù điều này không mang lại lợi ích hữu hình tức khắc nào cho chúng ta. Tuy nhiên, một số nước giả thiết chỉ chấp nhận các nhà khoa học hoặc nhà đầu tư.
  2. Cuộc sống không có việc cho đi nhưng không một cách đầy tình huynh đệ trở thành một hình thức thương mại điên cuồng, trong đó chúng ta không ngừng cân nhắc những gì chúng ta cho đi và những gì chúng ta nhận lại được. Mặt khác, Thiên Chúa cho đi một cách tự do, đến mức giúp đỡ ngay cả những người bất trung; Người “làm cho mặt trời mọc trên kẻ dữ và người lành” (Mt 5,45). Có một lý do tại sao Đức Giêsu nói với chúng ta: “Khi bố thí, anh em đừng cho tay phải biết việc tay trái làm, để việc bố thí của anh em được bí mật” (Mt 6,3-4). Chúng ta đã nhận được cuộc sống một cách nhưng không; chúng ta không phải trả giá chi cả để nhận được nó. Do đó, mọi người chúng ta đều có thể cho đi mà không mong nhận lại bất cứ điều gì, làm điều tốt cho người khác mà không đòi hỏi họ phải đối xử tốt với mình. Như Đức Giêsu đã nói với các môn đệ rằng: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8).
  3. Giá trị đích thực của các quốc gia khác nhau trên thế giới được đo lường bằng khả năng suy nghĩ không chỉ như một quốc gia mà còn như một gia đình nhân loại to lớn. Và điều này đặc biệt được chứng minh trong những thời kỳ khủng hoảng. Các hình thức hẹp hòi của chủ nghĩa dân tộc là một biểu hiện cực đoan của việc không thể hiểu được ý nghĩa của sự cho đi nhưng không này. Họ sai lầm khi nghĩ rằng họ có thể tự phát triển, không cần để ý đến sự hủy hoại cho người khác, bằng cách sống khép kín đối với người khác, họ sẽ được bảo vệ tốt hơn. Các di dân được coi là những kẻ kẻ soán ngôi không cống hiến được điều gì cả. Do đó, chúng ta ngây thơ nghĩ rằng người nghèo chính là một mối nguy hiểm hoặc vô dụng, và những người quyền lực mới chính là những nhà hảo tâm quảng đại. Chỉ có một nền văn hóa xã hội và chính trị, có tính đến sự đón nhận một cách nhưng không, mới có thể có tương lai mà thôi.

Địa phương và hoàn vũ

  1. Cần lưu ý rằng “hiện có sự căng thẳng cố hữu giữa việc toàn cầu hóa và địa phương hóa. Chúng ta cần chú ý đến khía cạnh toàn cầu để tránh sự hẹp hòi và tầm thường. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn khía cạnh địa phương, nơi giữ chúng ta luôn ở thế có cơ sở thực tiễn. Cùng với nhau, cả hai khía cạnh ngăn chúng ta rơi vào một trong hai thái cực sau đây: Đầu tiên, con người bị cuốn vào một chủ nghĩa vũ trụ trừu tượng, toàn cầu hóa… Mặt khác, họ tự biến mình thành một viện bảo tàng văn hóa dân gian ẩn dật khép kín, cứ phải lặp đi lặp lại cùng những điều y như nhau, không có khả năng để mình bị chất vấn bởi những gì khác biệt, hoặc đánh giá được vẻ đẹp mà Thiên Chúa vốn ban tặng ở bên ngoài biên giới của họ”[124]. Chúng ta cần có một cái nhìn toàn cầu để tự cứu chúng ta khỏi chủ nghĩa tỉnh lẻ nhỏ nhen. Khi ngôi nhà của chúng ta không còn là một ngôi nhà và bắt đầu trở thành một khu bị rào vây quanh, một phòng giam, thì nhân tố toàn cầu sẽ đến giải cứu chúng ta, như một “chính nghĩa cuối cùng” lôi kéo chúng ta hướng đến việc viên mãn của mình. Trong khi cùng một lúc, nhân tố địa phương cũng cần được đón nhận một cách thiết tha, vì nó có một điều mà nhân tố toàn cầu không có được: nó có khả năng là một chất men, đem lại sự phong phú hóa, phát khởi các cơ chế phụ đới. Vì vậy, tình huynh đệ phổ quát và tình bạn xã hội là hai cực không thể tách rời và quan trọng như nhau trong mọi xã hội. Tách chúng ra sẽ làm biến dạng mọi điều và tạo ra sự phân cực đầy thành kiến.

Hương vị địa phương

  1. Giải pháp không phải là một sự cởi mở nhằm bác bỏ sự phong phú của chính mình. Cũng như không thể có cuộc đối thoại với “những người khác” nếu không có ý thức về bản sắc riêng của chúng ta, vì vậy không thể có sự cởi mở giữa các dân tộc ngoại trừ trên cơ sở tình yêu đối với mảnh đất của riêng mình, dân tộc mình, cội nguồn văn hóa của riêng mình. Tôi không thể thực sự gặp gỡ người khác trừ khi tôi đứng trên những nền tảng vững chắc, vì chính dựa trên cơ sở của những điều này, tôi mới có thể chấp nhận tặng phẩm mà người kia mang lại và đến lượt mình, tôi tặng một tặng phẩm đích thực của riêng tôi. Tôi có thể chào đón những người khác, những người khác biệt, và đánh giá cao việc đóng góp độc đáo mà họ sẽ thực hiện, chỉ khi nào tôi bén rễ vững chắc vào chính dân tộc và văn hóa của mình. Mọi người đều yêu và quan tâm đến quê hương và làng mạc của mình, cũng như họ yêu và chăm sóc cho ngôi nhà của họ và đích thân chịu trách nhiệm đối với việc duy trì nó. Lợi ích chung cũng thế, đòi hỏi chúng ta phải bảo vệ và yêu thương quê hương của chúng ta. Nếu không, các hậu quả của một thảm họa ở một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hành tinh. Tất cả điều này mang lại ý nghĩa tích cực cho quyền đối với tài sản: Tôi chăm sóc và vun đắp một điều được tôi sở hữu, một cách khiến nó có thể đóng góp vào lợi ích của mọi người.
  2. Nó cũng làm nảy sinh các trao đổi lành mạnh và làm ta phong phú. Kinh nghiệm được lớn lên ở một nơi đặc thù và chia sẻ nền văn hóa đặc thù đem lại cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc vào các khía cạnh của thực tại mà những người khác không thể dễ dàng tri nhận. Yếu tố hoàn vũ không nhất thiết có nghĩa là nhạt nhẽo, độc dạng và được tiêu chuẩn hóa, dựa trên một mô hình văn hóa đơn nhất đương thịnh, vì điều này cuối cùng sẽ dẫn đến việc mất đi một bảng phong phú gồm nhiều sắc thái và màu sắc, và kết quả là một đơn điệu hoàn toàn. Đó là cơn cám dỗ được nhắc đến trong câu chuyện xưa về tháp Babel. Nỗ lực xây dựng một tòa tháp có thể vươn tới trời không phải là biểu hiện của sự thống nhất giữa các dân tộc khác nhau nói với nhau từ tính đa dạng của họ. Thay vào đó, đó là một nỗ lực sai lầm, phát sinh từ niềm kiêu căng và tham vọng, muốn tạo ra một sự thống nhất khác với sự thống nhất được Thiên Chúa mong muốn trong kế hoạch quan phòng của Người cho các quốc gia (x. St 11,1-9).
  3. Có thể có một sự cởi mở sai lầm đối với yếu tố hoàn vũ, phát sinh từ sự nông cạn của những người thiếu cái nhìn sâu sắc vào thiên tài của quê hương họ hoặc nuôi dưỡng sự oán hận chưa được giải quyết nhằm vào dân tộc họ. Dù thế nào đi nữa, “chúng ta liên tục phải mở rộng các chân trời của chúng ta và nhìn thấy điều tốt đẹp hơn sẽ mang lại lợi ích cho tất cả chúng ta. Nhưng điều này phải được thực hiện mà không tránh né hoặc mất gốc. Chúng ta cần phải cắm rễ sâu hơn vào mảnh đất và lịch sử màu mỡ của quê hương, vốn là hồng phúc của Thiên Chúa. Chúng ta có thể làm việc trên một quy mô nhỏ, trong khu vực lân cận của chúng ta, nhưng với viễn ảnh rộng lớn hơn… Yếu tố toàn cầu không cần phải gò bó, mà yếu tố đặc thù cũng không cần phải chứng tỏ là cằn cỗi”[125]; mô hình của chúng ta phải là một hình đa diện, trong đó giá trị của mỗi cá nhân được tôn trọng, nơi “toàn thể lớn hơn bộ phận, nhưng cũng lớn hơn tổng số các bộ phận của nó”[126].
  4. Có một loại yêu mình thái quá có tính “địa phương” không liên quan đến tình yêu lành mạnh đối với dân tộc và văn hóa riêng của mình. Nó phát sinh từ một nỗi bất an và sợ hãi nào đó về người khác dẫn đến việc bác bỏ và mong muốn dựng lên những bức tường để tự vệ. Tuy nhiên, không thể “địa phương” một cách lành mạnh nếu không chân thành cởi mở đối với phổ quát, không cảm thấy được thách thức bởi những gì đang xảy ra ở những nơi khác, không có sự cởi mở để làm giàu bởi các nền văn hóa khác, và không có tình liên đới và quan tâm đến những thảm kịch đang ảnh hưởng đến các dân tộc khác. Thay vào đó, “lòng yêu mình thái quá địa phương” chỉ lưu tâm đến một số ý tưởng, phong tục và hình thức an ninh hạn chế; không có khả năng chiêm ngưỡng tiềm năng rộng lớn và vẻ đẹp được thế giới rộng lớn hơn cung cấp, nó thiếu hẳn một tinh thần liên đới chân chính và quảng đại. Cuộc sống ở bình diện địa phương vì vậy ngày càng trở nên ít chào đón hơn, người ta ít cởi mở hơn đối với việc bổ túc cho nhau. Các khả thể phát triển của nó hẹp dần; nó trở nên mệt mỏi và ốm yếu. Mặt khác, một nền văn hóa lành mạnh, tự bản chất của nó, có tính cởi mở và chào đón; quả tình, “một nền văn hóa nếu không có các giá trị phổ quát thì không thực sự là một nền văn hóa”[127].
  5. Chúng ta hãy nhận ra rằng khi tâm trí chúng ta càng hạn hẹp, thì khả năng hiểu thế giới xung quanh càng kém đi. Nếu không gặp gỡ và tương quan với các khác biệt, thì khó mà đạt được một sự hiểu biết rõ ràng và đầy đủ về chính bản thân và quê hương của chúng ta. Các nền văn hóa khác không phải là “kẻ thù” mà chúng ta cần phải tự vệ chống lại, mà là những phản ảnh khác nhau của một sự phong phú vô tận của sự sống con người. Nhìn bản thân chúng ta theo quan điểm của người khác, của một người khác biệt, chúng ta có thể nhận ra tốt hơn những nét độc đáo của chúng ta và của nền văn hóa chúng ta: sự phong phú, các khả thể và hạn chế của nó. Kinh nghiệm địa phương của chúng ta cần phát triển “tương phản với” và “hài hòa với” các kinh nghiệm của những người khác sống trong các bối cảnh văn hóa đa dạng[128].
  6. Thực thế, sự cởi mở lành mạnh không bao giờ đe dọa bản sắc riêng của người ta. Một nền văn hóa sống động, được làm giàu bởi các yếu tố từ những nơi khác, không du nhập một bản sao đơn thuần các yếu tố mới đó, mà hòa nhập chúng một cách độc đáo riêng của nó. Kết quả là một cuộc tổng hợp mới, một cuộc tổng hợp, cuối cùng, có lợi cho mọi người, vì nền văn hóa nguyên gốc kết cục được nuôi dưỡng. Đó là lý do tại sao tôi đã thúc giục người dân bản địa quý trọng cội nguồn và văn hóa tổ tiên của họ. Mặc dù, cùng một lúc, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng tôi không có ý định đề nghị “một ‘chủ nghĩa duy bản địa’ hoàn toàn khép kín, phi lịch sử, tĩnh tụ, muốn bác bỏ bất cứ kiểu pha trộn nào (mestizaje)”. Vì “bản sắc văn hóa riêng của chúng ta được củng cố và phong phú hóa nhờ đối thoại với những người không giống chúng ta. Danh tính chân chính của chúng ta cũng không được bảo tồn bởi một sự cô lập nghèo nàn”[129]. Thế giới phát triển và tràn ngập vẻ đẹp mới, nhờ các cuộc tổng hợp tiếp theo nhau được tạo ra giữa các nền văn hóa biết cởi mở và không có bất cứ hình thức áp đặt văn hóa nào.
  7. Đối với mối tương quan lành mạnh giữa tình yêu quê hương đất nước và cảm thức lành mạnh được thuộc về một gia đình nhân loại lớn hơn của chúng ta, điều hữu ích là ghi nhớ rằng xã hội toàn cầu không phải là tổng số các quốc gia khác nhau, mà là sự hiệp thông hiện hữu giữa họ. Cảm thức hổ tương được thuộc về nhau có trước việc xuất hiện các nhóm cá thể. Mỗi nhóm đặc thù trở thành một phần của cơ cấu hiệp thông phổ quát và ở đó khám phá ra vẻ đẹp riêng của nó. Mọi cá nhân, bất kể nguồn gốc, đều biết rằng họ là một phần của gia đình nhân loại lớn hơn, nếu không có gia đình này, họ sẽ không thể hiểu được chính họ một cách đầy đủ.
  8. Việc nhìn mọi sự theo cách này sẽ giúp ta vui mừng nhận ra rằng, không một dân tộc nào, một nền văn hóa nào, hay cá nhân nào có thể tự mình đạt được mọi sự: chính tha nhân giúp ta đạt được sự viên mãn trong đời sống. Ý thức về những giới hạn và bất toàn của mình thì không hề là một mối đe dọa, nhưng trở thành chìa khóa để ước mơ và theo đuổi một dự án chung. Bởi vì “con người là một hữu thể vừa hữu hạn lại vừa vô biên”[130].

Xuất phát từ các khu vực của mình

  1. Nhờ việc trao đổi trên bình diện các khu vực, từ đó các nước nghèo mở cửa với toàn thế giới, và tính phổ quát không nhất thiết dập tắt những nét đặc thù của các khu vực khác nhau. Một sự cởi mở đầy đủ và đích thực với thế giới giả thiết khả năng mở ra cho những người thân cận, trong gia đình các dân tộc. Hội nhập văn hóa, kinh tế và chính trị với các vùng lân cận cần được gắn liền với một tiến trình giáo dục giúp cổ võ giá trị của tình yêu đối với láng giềng, đó là bài tập cần thiết đầu tiên để đạt được sự hội nhập phổ quát lành mạnh.
  2. Ở một số khu phố bình dân, tinh thần “tình làng nghĩa xóm” vẫn được duy trì, ở đó mỗi người tự phát cảm thấy có bổn phận phải đồng hành và giúp đỡ hàng xóm. Ở những nơi mà các giá trị cộng đồng này được gìn giữ, người ta kinh nghiệm một sự gần gũi in dấu ấn của lòng biết ơn, tình liên đới và sự hỗ tương. Tình là nghĩa xóm mang lại cho họ một cảm thức về bản sắc chung[131]. Ước mong các quốc gia láng giềng có thể khích lệ một tinh thần láng giềng tương tự giữa các dân tộc của mình! Nhưng tinh thần cá nhân chủ nghĩa cũng ảnh hưởng trên các mối quan hệ giữa các quốc gia. Sự nguy hiểm khi nghĩ rằng chúng ta phải tự vệ để chống lại người khác, coi người khác là đối thủ cạnh tranh hoặc là kẻ thù nguy hiểm, điều đó cũng ảnh hưởng đến các tương quan giữa các dân tộc trong cùng một khu vực. Có lẽ chúng ta đã được huấn luyện trong cảm thức sợ hãi và ngờ vực như thế.
  3. Có những cường quốc và những doanh nghiệp lớn hưởng lợi từ sự cô lập này, và thích đàm phán riêng với từng quốc gia. Ngược lại, đối với các nước nhỏ hoặc nghèo, có khả năng đạt được các thỏa thuận trong khu vực với các nước láng giềng, cho phép họ đàm phán như một khối và tránh trở thành các phân khúc phụ thuộc vào các cường quốc khác. Ngày nay, không có quốc gia dân tộc nào sống biệt lập mà lại có thể đảm bảo được lợi ích chung của dân mình.

CHƯƠNG 5: MỘT NỀN CHÍNH TRỊ TỐT ĐẸP HƠN

  1. Để có thể phát triển một cộng đồng thế giới, có khả năng đạt được tình huynh đệ từ các dân tộc và quốc gia sống tình hữu nghị xã hội, thì cần phải có chính sách tốt nhất nhằm phục vụ công ích đích thực. Thay vào đó, thật buồn thay, các thể chế chính trị ngày nay thường có những hình thức gây khó khăn trở ngại cho sự tiến bộ hướng tới một thế giới đẹp tươi.

Chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa tự do

  1. Sự thiếu quan tâm đến những người dễ bị tổn thương có thể được che giấu phía sau một chủ nghĩa dân túy, sử dụng họ theo cách giáo dục cho mục đích của họ, hoặc theo những cách tự do để phục vụ lợi ích kinh tế của những kẻ quyền lực. Trong cả hai trường hợp, thật khó để nghĩ đến một thế giới mở có chỗ cho tất cả mọi người, kể cả những người dễ bị tổn thương nhất, và biểu lộ lòng tôn trọng đối với các nền văn hóa khác nhau.

Bình dân hay dân túy

  1. Trong những năm gần đây, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” hay là “dân túy” đã xâm nhập vào các phương tiện truyền thông và các ngôn ngữ nói chung. Do đó, nó mất đi giá trị mà nó có thể chứa đựng và trở thành một trong những phân cực của xã hội bị chia rẽ. Điều này đạt đến mức cố gắng phân loại tất cả mọi người, các nhóm, xã hội và chính phủ dựa trên sự phân chia nhị phân: “dân túy” hoặc “không dân túy”. Không còn có thể để một người bày tỏ ý kiến ​​của họ về một chủ đề mà không cố gắng phân loại họ vào một trong hai phe, đôi khi làm mất uy tín của họ một cách bất công, hoặc là đề cao họ một cách thái quá.
  2. Tuyên bố thiết lập chủ nghĩa dân túy như một khuôn khổ để đọc thực tại xã hội có một nhược điểm khác: nó bỏ qua tính hợp pháp của ý niệm về con người. Nỗ lực loại bỏ khái niệm này khỏi ngôn ngữ có thể dẫn đến việc loại bỏ chính thuật ngữ “dân chủ”, tức là “chính quyền của nhân dân”. Ngay cả khi chúng ta không muốn khẳng định rằng xã hội không chỉ là tổng thể đơn thuần của các cá nhân, thì thuật ngữ “nhân dân” là điều chứng tỏ cần thiết. Thực tế là có những hiện tượng xã hội cấu trúc đa số, có những xu hướng lớn và những khát vọng cộng đồng. Chúng ta cũng có thể nghĩ đến những mục tiêu chung, vượt ra ngoài sự khác biệt, để cùng nhau thực hiện một dự án chung. Cuối cùng, rất khó để hoạch định một điều gì đó lớn lao về lâu về dài, nếu nó không đạt được để trở thành ước mơ chung của cả tập thể. Tất cả điều này tìm thấy biểu thức trong danh từ “mọi người” và trong tính từ “phổ biến”. Nếu chúng không được đưa vào – cùng với sự phê phán vững chắc về tính cách sư phạm – thì một khía cạnh cơ bản của thực tế xã hội sẽ bị loại bỏ.
  3. Trên thực tế, có một sự hiểu lầm: “Con người không phải là một phạm trù logic học, cũng không phải là một phạm trù thần bí, nếu chúng ta hiểu nó theo nghĩa rằng, mọi việc mà con người làm là tốt, hay theo nghĩa là con người, một thể loại thiên thần. Đây là một phạm trù thần thoại… Khi bạn giải thích dân tộc là gì, bạn sử dụng các phạm trù logic học, vì bạn phải giải thích nó: thực sự, điều đó là cần thiết. Nhưng bạn không giải thích ý nghĩa của việc thuộc về một dân tộc. Có một điều gì đó lớn hơn nữa đối với thuật ngữ con người mà không thể giải thích một cách hợp lý. Trở thành một phần của một dân tộc là trở thành một phần của một bản sắc chung được tạo thành từ các mối quan hệ xã hội và văn hóa. Và đây không phải là thứ tự động, hoàn toàn ngược lại: nó là một tiến trình tiệm tiến, đầy khó khăn… để hướng tới một kế hoạch chung”[132].
  4. Có những nhà lãnh đạo phổ biến có khả năng giải thích tình cảm của một dân tộc, động lực văn hóa của nó và các xu hướng chính của xã hội. Chức năng của họ, tập hợp và dẫn dắt, có thể là cơ sở cho một dự án chuyển đổi và tăng trưởng lâu dài, cũng liên quan đến khả năng nhường chỗ cho người khác vì lợi ích chung. Nhưng nó biến thành một chủ nghĩa dân túy không lành mạnh khi nó trở thành khả năng quyến rũ của một cá nhân để trở thành công cụ chính trị cho nền văn hóa của người dân, nhờ một biểu tượng ý thức hệ nào đó, phục vụ cho dự án cá nhân và duy trì quyền lực của mình. Đôi khi người ta tìm cách trở nên nổi tiếng bằng cách làm trầm trọng thêm khuynh hướng ích kỷ và thấp nhất của một số thành phần dân cư. Nó có thể trở nên tồi tệ hơn khi trở thành, dưới những hình thức thô thiển hoặc tinh vi, trở thành nô dịch của các thể chế và luật pháp.
  5. Các nhóm dân túy khép kín định hình thuật ngữ “nhân dân”, vì trên thực tế những gì nó đang nói đến không phải là một “nhân dân” đích thực. Thật vậy, phạm trù “nhân dân” phải được mở ra. Đó là một con người năng động, với một tương lai sống động, luôn mở ra cho những tổng hợp mới, đón nhận những con người khác biệt. Bằng cách này, nó không phủ nhận bản sắc riêng của nó, nhưng bằng cách sẵn sàng thay đổi, đặt vấn đề, phát triển, để được thêm phong phú qua những người khác, và do đó, nó có thể phát triển hơn nữa.
  6. Một dấu hiệu khác cho thấy sự suy giảm của khả năng lãnh đạo được lòng dân là quan tâm tới lợi thế ngắn hạn. Một lợi thế thoả mãn đòi hỏi thu được nhiều phiếu bầu hay sự ủng hộ hơn, nhưng không thúc đẩy, bằng một nỗ lực gian khổ và liên tục, việc tạo ra các nguồn tài nguyên mà nhân dân cần để phát triển và kiếm sống bằng chính nỗ lực và óc sáng tạo của họ. Về phương diện này, tôi đã nói rõ rằng “tôi không có ý định đề xướng một chủ nghĩa dân túy vô trách nhiệm nào Một dấu hiệu khác cho thấy sự suy thoái của khả năng lãnh đạo phổ biến là tính tức thời. Các nhu cầu phổ biến được đáp ứng để đảm bảo phiếu bầu hoặc sự ủng hộ hơn, nhưng không tiến triển trong một nhiệm vụ khó khăn và liên tục, cung cấp cho mọi người các nguồn lực để phát triển, để họ có thể kiếm sống bằng nỗ lực và sáng tạo của mình. Theo nghĩa này, tôi đã tuyên bố rõ ràng rằng việc đề xuất chủ nghĩa dân túy vô trách nhiệm là điều “còn xa vời đối với tôi”[133]. Một mặt, việc khắc phục tình trạng bất bình đẳng giả định trước sự phát triển kinh tế, bằng cách khai thác các khả năng của từng khu vực, và do đó, đảm bảo công bằng lâu dài [134]. Mặt khác, “các kế hoạch hỗ trợ đối mặt với một số trường hợp khẩn cấp nhất định chỉ nên được coi là phản ứng tạm thời mà thôi”[135].
  7. Vấn đề lớn nhất là công ăn việc làm. Điều thực sự phổ biến – vì nó góp phần mang lại lợi ích cho con người – là đảm bảo rằng mọi người đều có khả năng làm cho những hạt giống mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng họ, năng lực, ý thức chủ động và sức mạnh của họ. Đó là sự giúp đỡ tốt nhất mà người ta có thể dành cho một người nghèo, đó là cách tốt nhất để tồn tại một cách hợp với nhân phẩm. Đây là lý do tại sao tôi nhấn mạnh rằng “giúp đỡ người nghèo bằng tiền luôn phải là một giải pháp tạm thời khi gặp trường hợp khẩn cấp. Mục tiêu chính luôn phải là giúp họ có một cuộc sống tốt đẹp thông qua công ăn việc làm”[136]. Cho dù cơ chế sản xuất thay đổi như thế nào, chính trị cũng không thể từ bỏ mục tiêu đảm bảo rằng, tổ chức xã hội đảm bảo cho mỗi người một số cách đóng góp năng lực và nỗ lực của họ. Bởi vì “không có cái nghèo nào tồi tệ hơn cái nghèo làm mất đi công việc và phẩm giá của công việc”[137]. Trong một xã hội phát triển thực sự, công việc là một khía cạnh bất khả xâm phạm của đời sống xã hội, vì nó không chỉ là phương tiện kiếm sống, mà còn là con đường phát triển cá nhân, nhằm mục đích thiết lập các mối quan hệ lành mạnh, để được thực hiện, để chia sẻ quà tặng, để cảm thấy đồng trách nhiệm trong việc cải thiện thế giới, và cuối cùng là sống như một con người.

Giá trị và giới hạn của quan điểm tự do

  1. Khái niệm “nhân dân”, một khái niệm tự nhiên bao hàm quan điểm tích cực về các mối liên kết cộng đồng và văn hóa, thường bị các phương thức tự do của chủ nghĩa cá nhân bác bỏ; các phương thức này vốn coi xã hội chỉ là tổng số các lợi ích cùng sống chung với nhau. Người ta nói tới việc tôn trọng tự do, nhưng không có gốc rễ trong một của lịch sử chung; Trong một số bối cảnh, người ta thường thấy tất cả những người bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế nhất trong xã hội được gọi là những người theo chủ nghĩa dân túy. Ý niệm nhân dân bị coi như một cấu trúc trừu tượng, một điều không thực sự hiện hữu. Nhưng điều này tạo ra một phân cực không cần thiết. Cũng không thể coi khái niệm “nhân dân” hay “người thân cận” chỉ thuần túy có tính trừu tượng hay lãng mạn, đến nỗi việc tổ chức xã hội, khoa học và các thể chế của xã hội dân sự có thể bị bác bỏ hoặc bị đối xử một cách miệt thị[138].
  2. Mặt khác, đức ái hợp nhất cả hai chiều kích – trừu tượng và thể chế – vì nó đòi hỏi một tiến trình hữu hiệu thay đổi lịch sử bao trùm mọi sự: các thể chế, luật pháp, kỹ thuật, kinh nghiệm, chuyên môn nghề nghiệp, phân tích khoa học, thủ tục hành chính, v.v… Bởi vì “trên thực tế, không có cuộc sống riêng tư nếu nó không được bảo vệ bởi trật tự công cộng, một ngôi nhà ấm áp sẽ không có sự riêng tư nếu nó không được bảo vệ bởi tính hợp pháp, một trạng thái yên bình dựa trên luật pháp và an ninh, và với những điều kiện tối thiểu được đảm bảo bởi sự phân công lao động, trao đổi thương mại, công bằng xã hội và quyền công dân chính trị”[139].
  3. Lòng bác ái chân chính có khả năng kết hợp tất cả các yếu tố này trong mối quan tâm của nó đối với người khác. Trong trường hợp gặp gỡ bản thân, kể cả những cuộc gặp gỡ liên quan đến anh chị em ở xa hoặc bị lãng quên, nó có thể làm như vậy nhờ biết sử dụng mọi tài nguyên mà các định chế của một xã hội có tổ chức, tự do và sáng tạo có khả năng tạo ra. Chẳng hạn, ngay cả người Samaritanô nhân hậu cũng cần có một quán trọ gần đó để có thể cung cấp sự giúp đỡ mà bản thân ông không thể cung cấp. Tình yêu người lân cận có tính cụ thể và không lãng phí bất cứ nguồn tài nguyên nào cần thiết cho việc mang lại thay đổi có tính lịch sử có thể sinh lợi ích cho người nghèo và người bị thiệt thòi. Tuy nhiên, đôi khi, các ý thức hệ cánh tả hoặc các học thuyết xã hội liên kết với phương thức hành động cá nhân chủ nghĩa và các thủ tục không hữu hiệu chỉ ảnh hưởng đến một số ít người, trong khi phần lớn những người bị bỏ quên vẫn phải phụ thuộc vào thiện chí của những người khác. Điều này chứng tỏ sự cần thiết phải có một tinh thần huynh đệ lớn hơn, nhưng cũng cần một tổ chức thế giới hữu hiệu hơn nhằm giải quyết các vấn đề đang gây họa cho những người bị bỏ rơi đang đau khổ và ngắc ngoải ở các nước nghèo. Nó cũng cho thấy sẽ không có một giải pháp nào, không có một phương pháp luận duy nhất có thể chấp nhận nào, không có một công thức kinh tế nào có thể được áp dụng một cách không phân biệt cho mọi người. Ngay các nghiên cứu khoa học nghiêm ngặt nhất cũng chỉ có thể đề xướng các hướng hành động khác nhau.
  4. Tất cả những điều này sẽ trở nên bấp bênh nếu chúng ta mất khả năng nhận thức sự cần thiết của việc thay đổi trong tâm hồn, trong thói quen và lối sống của con người. Nếu không, các tuyên truyền chính trị, các phương tiện truyền thông và những kẻ định hướng dư luận sẽ tiếp tục cổ vũ một nền văn hóa cá nhân chủ nghĩa và không phê phán, lệ thuộc lợi ích kinh tế và định chế xã hội không bị kiểm soát nhằm phục vụ những người đã được hưởng quá nhiều quyền lực. Những lời chỉ trích của tôi về mô hình kỹ trị không chỉ đơn giản nghĩ rằng nếu chúng ta kiểm soát được các thái quá của nó thì mọi sự sẽ yên ổn. Nguy cơ lớn hơn không phát sinh từ các đối tượng chuyên biệt, các thực tại hoặc thể chế vật chất, mà từ cách chúng được sử dụng. Nó liên quan đến sự yếu đuối của con người, xu hướng ưa thích ích kỷ vốn là một phần của điều mà truyền thống Kitô giáo gọi là “dục vọngconcupiscentia”: khuynh hướng của con người là chỉ quan tâm đến bản thân tôi, nhóm của tôi, những quyền lợi nhỏ nhen của riêng tôi. Dục vọng không phải là một thiếu sót chỉ giới hạn ở thời đại của chúng ta. Nó đã hiện hữu từ thuở sơ khai của loài người, nó chỉ thay đổi và mặc lấy những hình thức khác nhau qua các thời đại, sử dụng bất cứ phương tiện nào mà mỗi khoảnh khắc lịch sử có thể cung cấp. Tuy nhiên, dục vọng có thể được khắc phục với ơn trợ giúp của Thiên Chúa.
  5. Nhiệm vụ dưỡng dục, phát triển những thói quen vững chắc, khả năng suy nghĩ về cuộc sống của con người toàn diện hơn, về chiều sâu tâm linh, là cần thiết để tạo ra chất lượng cho các mối liên hệ của con người, theo cách mà chính xã hội phản ứng lại với những bất bình đẳng của nó, như sự lệch lạc, lạm dụng quyền lực, kinh tế, công nghệ, chính trị hoặc truyền thông. Có những quan điểm tự do bỏ qua yếu tố mong manh này của con người, và tưởng tượng một thế giới đáp ứng với một trật tự nhất định mà chỉ một mình nó có thể đảm bảo tương lai tươi sáng và giải pháp cho mọi vấn đề.
  6. Thị trường, tự nó, không thể giải quyết mọi vấn đề, dù chúng ta được yêu cầu tin vào tín điều tân tự do này đến mức nào. Dù thử thách là gì, trường phái tư tưởng nghèo nàn và lặp đi lặp lại này luôn đưa ra những công thức giống nhau. Chủ nghĩa tân tự do chỉ đơn giản là tự tái tạo bằng cách sử dụng các lý thuyết ma thuật về sự “chảy tràn” hoặc “nhỏ giọt” – mà không dùng đến tên – như một giải pháp duy nhất cho các vấn đề xã hội. Nó ít đánh giá được thực tại này là điều được cho là “chảy tràn” không giải quyết được sự bất bình đẳng từng phát sinh ra các hình thức bạo lực mới đe dọa chính kết cấu của xã hội. Mặt khác, một chính sách kinh tế tích cực nhằm “thúc đẩy một nền kinh tế ủng hộ sự đa dạng trong sản xuất và sự sáng tạo trong kinh doanh” là cấp thiết[140], giúp có thể tạo thêm công ăn việc làm chứ không bị cắt giảm đi. Về căn bản, việc đầu cơ tài chính nhằm thu lợi nhuận nhanh chóng tiếp tục gây tàn phá. Thật vậy, “nếu không có các hình thức nội tại về sự liên đới và tin tưởng lẫn nhau, thì thị trường không thể hoàn thành chức năng kinh tế của nó cách trọn vẹn được. Và ngày nay, sự tin tưởng này đang bị mất dần đi”[141]. Lịch sử không kết thúc như dự kiến của nó, và các công thức giáo điều của lý thuyết kinh tế hiện hành được chứng tỏ không phải là không có sai lầm. Sự mong manh của các hệ thống thế giới khi đối mặt với đại dịch đã cho thấy rằng không phải mọi thứ đều được giải quyết bằng thị trường tự do. Nó cũng chứng tỏ rằng, ngoài việc khôi phục một đời sống chính trị lành mạnh không bị chi phối bởi lệnh lạc tài chính, “chúng ta phải đặt nhân phẩm trở lại trung tâm, và trên trụ cột đó, xây dựng các cấu trúc xã hội thay thế mà chúng ta vốn cần đến”[142].
  7. Ví dụ, trong một số phương thức kinh tế đơn điệu và khép kín nhất định, dường như không có chỗ cho các phong trào bình dân nhằm kết hợp những người thất nghiệp, lao động tạm thời, bán chính thức, và nhiều người khác không dễ dàng tìm được chỗ đứng trong các cơ cấu hiện có. Tuy nhiên, những phong trào đó quản lý nhiều hình thức kinh tế bình dân và sản xuất cộng đồng. Điều cần là một mô hình tham gia xã hội, chính trị và kinh tế “có thể bao gồm các phong trào bình dân và tiếp thêm sức mạnh cho các cơ cấu quản lý địa phương, quốc gia và quốc tế với luồng năng lực đạo đức phát sinh từ việc bao gồm cả những người bị loại trừ trong việc xây dựng một vận mệnh chung”, trong khi cũng bảo đảm để “những kinh nghiệm liên đới lớn lên từ bên dưới, từ lòng đất của hành tinh này – có thể đến với nhau, được phối hợp nhiều hơn, tiếp tục gặp gỡ nhau hơn”[143]. Tuy nhiên, điều này phải xảy ra một cách không phản bội cách hoạt động khác biệt của họ như “những người gieo rắc thay đổi, cổ vũ một tiến trình bao gồm hàng triệu hành động, lớn và nhỏ, đan xen một cách sáng tạo như lời lẽ trong một bài thơ”[144]. Theo nghĩa này, những phong trào như vậy là “những nhà thơ xã hội”, theo cách riêng của họ, đã làm việc, đề xướng, cổ vũ và giải phóng. Họ giúp làm cho khả hữu một sự phát triển con người toàn diện vượt ra ngoài “ý niệm coi các chính sách xã hội như chính sáchcho người nghèo, chứ không bao giờ vớingười nghèo và không bao giờ của người nghèo, càng không như một phần của dự án nhằm tái hợp nhất mọi người”[145]. Họ có thể gấy rắc rối, và một số “lý thuyết gia” có thể khó phân loại được họ, nhưng chúng ta phải tìm đủ can đảm để thừa nhận rằng, nếu không có họ, “dân chủ sẽ teo tóp, biến thành một hạn từ đơn thuần, một lề thói; nó mất đi đặc tính đại diện của nó và trở thánh thất thân, vì nó bỏ rơi con người trong cuộc đấu tranh hàng ngày giành phẩm giá, trong việc xây dựng tương lai của họ”[146].

Quyền lực quốc tế

  1. Một lần nữa tôi nhận xét rằng “cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 đã tạo cơ hội để phát triển một nền kinh tế mới, chú ý hơn đến các nguyên tắc đạo đức và những cách thức mới để điều chỉnh các hoạt động đầu cơ tài chính và sự thịnh vượng ảo. Nhưng phản ứng đối với cuộc khủng hoảng không bao gồm việc xem xét lại các tiêu chí lỗi thời vẫn tiếp tục thống trị thế giới”[147]. Thật vậy, có vẻ như các chiến lược thực tế được phát triển khắp thế giới sau cuộc khủng hoảng đã cổ vũ chủ nghĩa cá nhân nhiều hơn, ít hội nhập hơn và tăng cường tự do cho những người thực sự có quyền lực, những người luôn tìm cách trốn thoát mà không hề hấn chi.
  2. Tôi cũng xin nhấn mạnh rằng “dành cho mỗi người phần của họ – trích dẫn định nghĩa cổ điển về công lý – có nghĩa là không một cá nhân hay nhóm người nào có thể coi mình là tuyệt đối, có quyền phớt lờ phẩm giá và quyền lợi của các cá nhân khác hoặc các nhóm xã hội của họ. Sự phân bổ hữu hiệu quyền lực (nhất là quyền lực chính trị, kinh tế, quốc phòng và kỹ thuật) giữa tính đa nguyên của nhiều chủ thể và việc tạo ra một hệ thống pháp lý để điều chỉnh các yêu sách và quyền lợi, là một trong những cách cụ thể để hạn chế quyền lực. Tuy nhiên, thế giới ngày nay trình bầy với chúng ta nhiều quyền lợi sai lầm và – đồng thời – nhiều bộ phận to lớn dễ bị tổn thương, nạn nhân của quyền lực bị thi hành một cách tồi tệ”[148].
  3. Thế kỷ XXI “đang chứng kiến sự suy yếu quyền lực của các nhà nước quốc gia, chủ yếu vì các bộ phận kinh tế và tài chính, vốn có tính đa quốc gia, có xu hướng lấn lướt bộ phận chính trị. Trước tình hình đó, điều chủ yếu là thiết kế các định chế quốc tế được tổ chức mạnh mẽ và hữu hiệu hơn, với các viên chức được bổ nhiệm một cách công bằng theo thỏa thuận giữa các chính phủ quốc gia và được quyền áp đặt các biện pháp trừng phạt”[149]. Khi chúng ta nói tới việc có thể có một số hình thức thẩm quyền thế giới được luật pháp quy định[150], chúng ta không nhất thiết phải nghĩ đến một thẩm quyền cá nhân. Tuy nhiên, một cơ quan như vậy ít nhất phải cổ vũ các cơ quan thế giới hữu hiệu hơn, được trang bị quyền được cung ứng cho lợi ích chung toàn cầu, xóa bỏ đói nghèo và bảo vệ chắc chắn các nhân quyền căn bản.
  4. Về khía cạnh này, tôi cũng xin lưu ý sự cần thiết phải cải tổ “Cơ quan Liên hiệp quốc, cũng như các định chế kinh tế và tài chính quốc tế tương tự, để khái niệm gia đình các quốc gia có thể có được thực tại”[151]. Không cần phải nói, điều này đòi hỏi phải có những giới hạn pháp lý rõ ràng để tránh quyền lực chỉ được đồng chọn bởi một số quốc gia và ngăn chặn những áp đặt văn hóa hoặc hạn chế các quyền tự do căn bản của các quốc gia yếu hơn trên cơ sở các khác biệt ý thức hệ. Vì “cộng đồng quốc tế là một cộng đồng pháp lý được thành lập dựa trên chủ quyền của mỗi quốc gia thành viên, không bị ràng buộc bởi một sự phụ thuộc đến phủ nhận hoặc hạn chế sự độc lập của quốc gia đó”[152]. Đồng thời, “công việc của Liên hiệp quốc, theo các nguyên tắc nêu trong Lời mở đầu và các Điều khoản đầu tiên của Hiến chương thành lập, có thể được coi như sự phát triển và cổ vũ việc thượng tôn pháp luật, dựa trên việc nhận ra rằng công lý là điều kiện thiết yếu để đạt được lý tưởng huynh đệ phổ quát… Cần phải bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật không bị thách thức và không mệt mỏi sử dụng thương lượng, hòa giải và trọng tài, như Hiến chương Liên hiệp quốc đã đề xướng, những điều vốn thực sự tạo nên một quy phạm pháp lý nền tảng”[153]. Cần phải ngăn chặn việc Cơ quan này bị phi hợp pháp hóa, vì các vấn đề và thiếu sót của nó có thể được cùng nhau bàn thảo và giải quyết.
  5. Lòng can đảm và sự rộng lượng là những điều cần thiết để tự do thiết lập các mục tiêu chung và bảo đảm việc tuân thủ khắp thế giới các chuẩn mực thiết yếu nào đó. Để điều này thực sự hữu ích, điều cần thiết là phải đề cao “sự cần thiết phải trung thành với các thỏa thuận đã được ký kết (pacta sunt servanda [các hiệp định phải được phục vụ])”[154], và tránh “cơn cám dỗ muốn nại tới luật sức mạnh hơn là sức mạnh của luật”[155]. Điều này có nghĩa phải củng cố “các công cụ có tính quy phạm để giải quyết hòa bình các tranh cãi… để tăng cường phạm vi và sức trói buộc của chúng”[156]. Trong số các công cụ có tính quy phạm này, nên dành ưu tiên cho các hiệp định đa phương giữa các quốc gia, vì, hơn các hiệp định song phương, các hiệp định này bảo đảm việc cổ vũ một lợi ích chung thực sự phổ quát và bảo vệ các quốc gia yếu hơn.
  6. Nhờ Chúa quan phòng, nhiều nhóm và tổ chức trong xã hội dân sự giúp bù đắp các thiếu sót của cộng đồng quốc tế, sự thiếu phối hợp của nó trong các tình huống phức tạp, sự thiếu quan tâm của nó đến các nhân quyền căn bản và các nhu cầu thiết yếu của một số nhóm nào đó. Ở đây, chúng ta có thể thấy một ứng dụng cụ thể của nguyên tắc phụ đới, một nguyên tắc biện minh cho sự tham gia và hoạt động của các cộng đồng và tổ chức ở cấp thấp hơn như một phương tiện để tích hợp và bổ sung cho hoạt động của nhà nước. Các nhóm và tổ chức này thường thực hiện những nỗ lực đáng khen ngợi trong việc phục vụ lợi ích chung và các thành viên của họ đôi khi chứng tỏ một tính anh hùng thực sự, cho thấy một điều gì đó vĩ đại mà nhân loại của chúng ta vẫn còn có khả năng thực hiện.

Bác ái xã hội và chính trị

  1. Đối với nhiều người ngày nay, chính trị là một chữ gây khó chịu, thường là vì các sai lầm, tham nhũng và kém hiệu quả của một số chính trị gia. Cũng có những cố gắng làm mất uy tín chính trị, thay thế nó bằng kinh tế học hoặc bóp méo nó thành ý thức hệ này hay ý thức hệ nọ. Tuy nhiên, liệu thế giới của chúng ta có thể hoạt động mà không cần tới chính trị hay không? Liệu có thể có một tiến trình tăng trưởng hữu hiệu hướng tới tình huynh đệ phổ quát và hòa bình xã hội mà không cần một sinh hoạt chính trị lành mạnh hay không?[157].

Nền chính trị mà chúng ta cần

  1. Ở đây một lần nữa tôi xin nhận xét rằng “chính trị không nên phụ thuộc kinh tế, mà kinh tế cũng không nên phụ thuộc sự sai khiến của một mô hình kỹ trị dựa trên hiệu năng”[158]. Mặc dù rõ ràng phải bác bỏ việc lạm dụng quyền lực, tham nhũng, coi thường luật pháp và thiếu hiệu năng, nhưng “kinh tế mà không có chính trị thì không thể biện minh, vì điều này sẽ khiến chúng ta không thể ủng hộ các cách khác trong việc xử lý các khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng hiện nay”[159]. Thay vào đó, “điều cần thiết là một nền chính trị có tầm nhìn xa và có khả năng thực hiện một phương thức mới, toàn diện và liên ngành để xử lý các khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng”[160]. Nói cách khác, một “nền chính trị lành mạnh… có khả năng cải cách và phối hợp các định chế, cổ vũ các thực hành tốt nhất và vượt qua áp lực không xứng đáng và sức trì trệ bàn giấy”[161]. Chúng ta không thể mong đợi kinh tế làm được điều này, cũng như không thể cho phép kinh tế tiếp quản quyền lực thực sự của nhà nước.
  2. Trước nhiều hình thức chính trị nhỏ mọn chi biết tập chú vào lợi ích trước mắt, tôi xin nhắc lại rằng “nghệ thuật lãnh đạo đất nước chân thực được biểu lộ rõ ràng khi, trong những thời điểm khó khăn, chúng ta đề cao các nguyên tắc cao cả và nghĩ đến lợi ích chung lâu dài. Các thế lực chính trị không thấy việc đảm nhận nhiệm vụ này trong công cuộc xây dựng đất nước là chuyện dễ dàng”[162], càng không dễ dàng trong việc tạo dựng một dự án chung cho gia đình nhân loại, ngay lúc này và trong tương lai. Nghĩ tới những người sẽ đến sau chúng ta không phục vụ mục đích bầu cử, nhưng đó là điều công lý chân chính đòi hỏi. Như các Giám mục Bồ Đào Nha từng dạy, trái đất “là một vay mượn mà mỗi thế hệ đã tiếp nhận để trao lại cho thế hệ đến sau”[163].
  3. Xã hội toàn cầu đang mắc phải những khiếm khuyết nghiêm trọng về cơ cấu, những khiếm khuyết không thể giải quyết bằng các giải pháp từng phần hoặc sửa chữa nhanh chóng. Nhiều điều cần phải thay đổi, qua cải cách từ nền tảng và canh tân lớn lao. Chỉ một nền chính trị lành mạnh, bao gồm phần lớn các lĩnh vực và kỹ năng đa dạng nhất, mới có khả năng giám sát tiến trình này. Nền kinh tế nào chịu làm một bộ phận tạo thành chương trình chính trị, xã hội, văn hóa và đại chúng hướng đến lợi ích chung mới có thể mở đường cho “những khả thể khác nhau không liên quan đến việc ngăn cản óc sáng tạo của con người và các lý tưởng tiến bộ của nó, nhưng đúng hơn liên quan đến việc hướng năng lực đó theo những đường hướng mới”[164].

Tình yêu chính trị

  1. Thừa nhận rằng mọi người đều là anh chị em của chúng ta, và tìm kiếm các hình thức hữu nghị xã hội bao gồm mọi người, không phải chỉ là điều không tưởng. Nó đòi hỏi một cam kết cương quyết để thiết kế ra các phương tiện hữu hiệu cho mục đích này. Mọi nỗ lực theo những đường hướng này đều trở thành một việc thực thi đức ái cao thượng. Vì trong khi các cá nhân có thể giúp đỡ những người khác đang gặp khó khăn, khi họ cùng tham gia vào việc khởi xướng các tiến trình xã hội cổ vũ tình huynh đệ và công bằng cho mọi người, họ quả tình đã bước vào “lĩnh vực bác ái ở bình diện rộng lớn nhất, tức bác ái chính trị”[165]. Điều này bao hàm việc ta phải làm việc cho một trật tự xã hội và chính trị mà linh hồn của nó chính là đức bác ái xã hội[166]. Một lần nữa, tôi xin kêu gọi sự đánh giá lại chính trị như “một ơn gọi cao cả và như một trong những hình thức bác ái cao nhất, vì nó tìm kiếm công ích”[167].
  2. Mọi cam kết được gợi hứng bởi học thuyết xã hội của Giáo hội đều “phát xuất từ lòng bác ái, một lòng bác ái, theo lời dạy của Đức Giêsu, vốn là tổng hợp của toàn bộ Lề luật (x. Mt22,36-40)”[168]. Điều này có nghĩa thừa nhận rằng “tình yêu, tràn ngập những cử chỉ quan tâm nhỏ nhặt lẫn nhau, cũng mang tính dân sự và chính trị, và nó thể hiện trong mọi hành động nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”[169]. Vì lý do này, lòng bác ái được phát biểu không những trong các mối liên hệ gần gũi và thân thiết mà còn trong “các mối liên hệ vĩ mô: có tính xã hội, kinh tế và chính trị”[170].
  3. Lòng bác ái chính trị này phát sinh từ một ý thức xã hội vượt lên trên mọi tư duy cá nhân chủ nghĩa: “Lòng bác ái xã hội làm cho chúng ta yêu công ích’, nó khiến chúng ta tìm kiếm một cách hữu hiệu lợi ích của mọi người, được coi không những như các cá nhân hay tư nhân, mà còn trong chiều kích xã hội nhằm hợp nhất họ”[171]. Mỗi chúng ta hoàn toàn là một con người khi chúng ta là một phần của một dân tộc; đồng thời, không có dân tộc nào mà không tôn trọng cá tính riêng của mỗi con người. “Dân tộc” và “con người” là các thuật ngữ có tương quan qua lại với nhau. Tuy nhiên, ngày nay đang có những mưu toan nhằm giản lược con người thành những cá nhân cô lập dễ bị thao túng bởi các quyền lực chỉ biết theo đuổi lợi ích giả mạo. Nền chính trị tốt sẽ tìm cách xây dựng các cộng đồng ở mọi bình diện của đời sống xã hội, nhằm điều chỉnh và định hướng lại việc toàn cầu hóa và do đó tránh được những hậu quả phá hoại nó.

Tình yêu hữu hiệu

  1. Bắt đầu từ “tình yêu xã hội”[172] có thể tiến tới tiến một nền văn minh tình thương, mà tất cả chúng ta đều có thể cảm thấy được mời gọi tiến bước. Lòng bác ái, với tính năng động phổ quát của nó, có thể xây dựng một thế giới mới[173]. Bởi vì đó không phải là thứ tình cảm đơn thuần, mà là cách tốt nhất để đạt được những cách phát triển hiệu quả cho tất cả mọi người. Tình yêu xã hội là một “sức mạnh có khả năng khơi dậy những cách thức mới để đối mặt với các vấn đề của thế giới ngày nay, và đổi mới sâu sắc từ bên trong các cấu trúc, tổ chức xã hội, hệ thống luật pháp”[174].
  2. Bác ái chính là trọng tâm của mọi xã hội lành mạnh và cởi mở, tuy nhiên ngày nay “nó dễ bị bác bỏ như là không thích hợp để giải thích và đưa ra định hướng cho trách nhiệm luân lý”[175]. Bác ái còn lớn hơn nhiều so với tình cảm chủ quan, nếu nó được đi kèm với sự dấn thân cho chân lý, để không dễ trở thành “con mồi cho cảm xúc và ý kiến ​​trái chiều của đối tượng”[176]. Thật vậy, mối liên hệ chặt chẽ của bác ái đối với chân lý thúc đẩy tính phổ quát của nó và giữ cho nó khỏi bị “giới hạn trong những mối liên hệ hạn hẹp và cá nhân”[177]. Nếu không, nó sẽ bị “loại khỏi các dự án và quy trình xây dựng sự phát triển con người có ý nghĩa toàn cầu, trong cuộc đối thoại giữa tri thức và hoạt động”[178]. Nếu không có sự thật, cảm xúc sẽ không có nội dung liên hệ và xã hội. Do đó, sự cởi mở với sự thật bảo vệ lòng bác ái khỏi “chủ thuyết tín ngưỡng ngăn chặn tình yêu nhân bản và phổ quát của nó”[179].
  3. Bác ái cần ánh sáng chân lý mà chúng ta không ngừng tìm kiếm. “Ánh sáng đó vừa là ánh sáng của lý trí vừa là ánh sáng đức tin”[180], và không nhìn nhận bất cứ hình thức nào của thuyết duy tương đối. Tuy nhiên, nó cũng tôn trọng sự phát triển của các ngành khoa học và sự đóng góp thiết yếu của chúng trong việc tìm ra các phương tiện khả dĩ nhất và thực tiễn nhất để đạt được các kết quả mong muốn. Vì khi lợi ích của người khác bị đe dọa, những thiện chí mà thôi chưa đủ. Những nỗ lực cụ thể phải được thực hiện để đem lại bất cứ điều gì mà họ và các quốc gia của họ cần để phát triển.

Thực thi tình yêu chính trị

  1. Có một điều gọi là tình yêu “được gợi ý ”, tức là nói tới những hành vi phát xuất trực tiếp từ đức ái, hướng tới cá nhân và dân tộc. Ngoài ra, còn có một tình yêu “được ban truyền”: những hành động bác ái thúc đẩy chúng ta tạo ra các thể chế lành mạnh hơn, mệnh lệnh công bằng hơn, cơ cấu hỗ trợ nhiều hơn[181]. Theo đó, “một hành động bác ái không thể thiếu được là nỗ lực nhằm tổ chức và cấu trúc xã hội để những người khác không phải khổ đau nữa”[182]. Đây là một hành động bác ái nhằm giúp đỡ ai đó đang đau khổ, nhưng nó cũng là một hành vi bác ái, ngay cả khi chúng ta không biết người đó, làm việc để thay đổi các điều kiện xã hội đã gây ra đau khổ cho họ. Nếu ai đó giúp người già qua sông, thì đó là một hành vi bác ái tinh tế tốt đẹp. Mặt khác, chính trị gia nào xây dựng một cây cầu thì đó cũng là một hành vi bác ái. Trong khi một người có thể giúp đỡ người khác bằng cách cung cấp cho họ thức ăn, thì chính trị gia tạo công ăn việc làm cho họ, đó cũng là thực hành một hình thức bác ái cao cả sẽ tôn vinh hoạt động chính trị của họ.

Những hy sinh nảy sinh từ tình yêu thương

  1. Lòng bác ái trên, vốn là trái tim thiêng liêng của chính trị, luôn là tình yêu thương ưu tiên hơn dành cho những người hèn mọn nhất; nó nâng đỡ mọi điều chúng ta làm thay cho họ[183]. Chỉ với cái nhìn mà chân trời của họ được biến đổi bởi lòng bác ái, dẫn họ đến nhận thức phẩm giá của người kia, thì người nghèo mới được khám phá và đánh giá cao phẩm giá cao cả của họ, được tôn trọng theo phong cách và văn hóa của họ, và do đó thực sự hòa nhập vào xã hội. Cái nhìn này là cốt lõi của tinh thần chính trị chân chính. Nó nhìn thấy những con đường mở rộng khác với những con đường của một chủ nghĩa thực dụng vô hồn. Nó khiến chúng ta nhận ra rằng “không thể giải quyết tai tiếng nghèo đói bằng cách cổ vũ các chiến lược ngăn chặn chỉ làm an lòng người nghèo và làm cho họ thuần phục và không gây tổn thương. Thật buồn biết bao khi chúng ta thấy, đằng sau những công việc được cho là có lòng vị tha, người khác lại bị thu hẹp thành thụ động”[184]. Điều cần thiết là có nhiều kênh biểu đạt và sự tham gia của xã hội. Giáo dục phục vụ cho con đường này để mỗi con người có thể là kiến ​​trúc sư tương lai của chính mình. Đây là nguyên tắc bổ trợ, không thể tách rời nguyên tắc liên đới, cho thấy giá trị của nó.
  2. Những xem xét trên giúp chúng ta nhận ra nhu cầu cấp thiết phải chống lại tất cả những gì đe dọa hoặc vi phạm các nhân quyền căn bản. Các chính trị gia được kêu gọi “phục vụ nhu cầu của các cá nhân và các dân tộc. Phục vụ những người gặp khó khăn đòi hỏi sức mạnh và sự dịu dàng, cố gắng và sự quảng đại giữa một não trạng duy chức năng và tư hữu hóa vốn nhất thiết dẫn tới ‘nền văn hóa vứt bỏ’… Điều này có nghĩa lãnh trách nhiệm đối với con người hiện tại với tình huống hoàn toàn bị gạt ra ngoài lề và lo âu xao xuyến của họ, và có khả năng đem lại phẩm giá cho họ”[185]. Lẽ dĩ nhiên, nó cũng tạo ra một sinh hoạt mãnh liệt vì “tất cả phải… được thực hiện để bảo vệ cương vị xã hội và phẩm giá của con người”[186]. Chính trị gia là một nhà sáng tạo, một nhà xây dựng với những mục tiêu lớn lao, với một cái nhìn rộng lớn, thực tế và thực dụng, thậm chí vượt ra ngoài quốc gia của mình. Mối quan tâm chính của một chính trị gia không phải là do không điều tra được, mà là do không tìm ra giải pháp hữu hiệu cho “hiện tượng loại trừ kinh tế và xã hội, với hậu quả đáng buồn của nạn buôn người, buôn bán nội tạng và tế bào mô của con người, bóc lột tình dục trẻ em, lao động nô lệ, kể cả mại dâm, buôn bán ma túy và vũ khí, khủng bố và tội phạm quốc tế có tổ chức. Mức độ nghiêm trọng của những tình huống này, và số lượng sinh mạng vô tội liên quan, đến mức chúng ta phải tránh bất kỳ sự cám dỗ nào để rơi vào chủ nghĩa hư danh, tuyên bố có tác dụng xoa dịu lương tâm. Chúng ta phải quan tâm rằng các tổ chức của chúng ta thực sự hiệu quả trong cuộc chiến chống lại tất cả những tai họa này”[187]. Điều này được thực hiện bằng cách khai thác một cách thông minh các nguồn lực to lớn của sự phát triển công nghệ tiến bộ kỹ thuật mang lại.
  3. Chúng ta vẫn còn một chặng đường dài nữa mới có thể toàn cầu hóa các quyền con người căn bản nhất. Đó là lý do tại sao chính trị thế giới cần phải biến việc xóa bỏ hữu hiệu nạn đói thành một trong những mục tiêu hàng đầu và cấp bách của nó. Thật vậy, “khi đầu cơ tài chính thao túng giá cả lương thực, coi nó như một loại hàng hóa khác, hàng triệu người phải đau khổ và chết vì đói. Đồng thời, hàng tấn thức ăn bị vứt bỏ. Điều này tạo nên một tai tiếng thực sự. Nạn đói là một tội ác; lương thực là quyền bất khả xâm phạm”[188]. Thông thường, trong khi tiếp tục tranh cãi về ngữ nghĩa hoặc ý thức hệ, thì chúng ta đã để cho anh chị em của mình chết vì đói và khát, không nơi nương tựa hoặc không được chăm sóc sức khỏe. Bên cạnh những nhu cầu căn bản vẫn chưa được đáp ứng này, buôn bán người còn biểu lộ một nguồn xấu hổ khác cho nhân loại, một nguồn mà nền chính trị quốc tế, vượt lên trên các diễn từ đẹp đẽ và các ý hướng tốt lành, không nên dung thứ nữa. Những điều này rất chủ yếu; chúng không thể được trì hoãn nữa.

Một tình yêu hòa nhập và hiệp nhất

  1. Bác ái chính trị còn được thể hiện ở sự cởi mở với tất cả mọi người. Đặc biệt là những người có trách nhiệm điều hành được kêu gọi hy sinh để cuộc gặp gỡ có thể diễn ra, và tìm kiếm sự đồng thuận ít nhất về một số vấn đề. Họ nên biết cách lắng nghe quan điểm của đối phương, để mọi người có không gian riêng. Với sự hy sinh và kiên nhẫn, một người cai trị có thể giúp tạo ra khối đa diện tốt đẹp, nơi mọi người đều tìm thấy một vị trí. Trong bối cảnh này, các cuộc đàm phán kinh tế không có kết quả. Ta cần một điều khác nữa: đó là một sự trao đổi các tài năng vì lợi ích chung. Đó có vẻ là một điều không tưởng và ngây thơ, nhưng chúng ta không thể từ bỏ mục tiêu rất cao cả này.
  2. Khi chúng ta thấy tất cả các hình thức bất khoan dung cực đoan đang làm xấu đi các mối quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm và các dân tộc, chúng ta hãy sống và dạy về giá trị của sự tôn trọng, tình yêu thương có khả năng chấp nhận mọi khác biệt, ưu tiên phẩm giá của mỗi mỗi con người hơn là các ý tưởng, quan điểm, thực hành và thậm chí cả tội lỗi của họ. Ngay cả khi các hình thức cuồng tín, sống khép kín và sự phân hóa xã hội và văn hóa ngày càng gia tăng trong xã hội ngày nay, một chính trị gia tốt sẽ đi bước trước và nhấn mạnh việc phải lắng nghe các tiếng nói khác nhau. Các bất đồng quan điểm có thể tạo ra những xung đột, nhưng sự độc đoán lại tạo ra sự ngột ngạt và dẫn đến suy đồi văn hóa. Ước mong chúng ta đừng cam chịu sống khép kín trong một thực tại bị phân mảnh.
  3. Trong bối cảnh này, tôi muốn nhắc lại rằng, Đại Giáo trưởng Hồi giáo Ahmad Al-Tayyeb và tôi đã kêu gọi “các kiến trúc sư của chính sách quốc tế và nền kinh tế thế giới làm việc tích cực để truyền bá nền văn hóa khoan dung và chung sống trong hòa bình; can thiệp ở cơ hội sớm nhất để ngăn chặn việc đổ máu người vô tội”[189]. Và khi một chính sách cụ thể gieo rắc sự hận thù và sợ hãi đối với các quốc gia khác nhân danh lợi ích của đất nước mình, thì người ta cần phải quan tâm, phản ứng kịp thời và ngay lập tức, để điều chỉnh các chính sách đó.

Thành quả vượt trên mọi chiến thắng

  1. Trong khi thực hiện hoạt động không mệt mỏi này, mỗi chính khách vẫn là một con người. Họ được mời gọi thực hành tình yêu thương trong các mối liên hệ hàng ngày giữa các cá nhân với nhau. Với tư cách là những con người, họ cần cần nhận ra rằng “thế giới hiện đại, với sự hoàn thiện về kỹ thuật của nó, có xu hướng hợp lý hóa ngày càng nhiều việc thỏa mãn mong muốn của con người, được phân loại và phân chia giữa các dịch vụ khác nhau. Ngày càng ít người được gọi bằng tên riêng của mình, càng ngày càng ít người được coi là con người độc đáo trên thế giới này, người có trái tim, những đau khổ, những vấn đề của mình, niềm vui và gia đình của mình. Bệnh tật của họ chỉ được biết đến để chữa trị, tài chính của họ chỉ cần lo chu cấp cho họ, việc họ không có nhà ở chỉ để cho họ nơi ở, các mong muốn tiêu khiển và giải trí của họ chỉ là để thỏa mãn chúng”. Tuy nhiên, “yêu những gì tầm thường nhất của con người như một người anh em, như thể không có ai khác ngoài anh ta trên thế giới, không thể bị coi là lãng phí thời gian”[190].
  2. Ngay cả trong chính trị cũng có chỗ cho yêu thương bằng sự dịu dàng. “Sự dịu dàng là gì? Đó là tình yêu trở nên gần gũi và cụ thể. Đó là một chuyển động bắt đầu từ trái tim và đến mắt, tai, tay… Sự dịu dàng chính là con đường được những người nam nữ can đảm nhất và mạnh mẽ nhất hằng theo đuổi”[191]. Giữa những lo lắng hàng ngày của đời sống chính trị, “những người nhỏ bé nhất, yếu đuối nhất, nghèo khổ nhất phải làm cho chúng ta mềm lòng ra: quả thật, họ có ‘quyền’ kêu gọi tới tâm trí của chúng ta. Họ là anh chị em của chúng ta, và vì thế, chúng ta phải yêu thương và chăm sóc họ”[192].
  3. Điều này giúp chúng ta nhận ra rằng không phải lúc nào cũng đạt được kết quả mỹ mãn, mà đôi khi là không thể. Trong hoạt động chính trị cần phải nhớ rằng “ngoài bất kỳ vẻ bề ngoài nào, mọi người đều vô cùng thiêng liêng và xứng đáng với tình cảm và sự cống hiến của chúng ta. Vì vậy, nếu tôi có thể giúp một người sống tốt đẹp hơn, điều này đã đủ để chứng tỏ cho sự hiến dâng của đời tôi. Được trở thành dân trung tín của Thiên Chúa quả là một điều tuyệt vời biết bao. Chúng ta đạt được sự viên mãn khi chúng ta phá vỡ những bức tường ngăn cách và lòng chúng ta tràn ngập những khuôn mặt và những tên tuổi đáng yêu!”[193]. Các mục tiêu lớn được mơ ước trong các chiến lược đã đạt được một phần. Ngoài ra, những ai yêu mến và không còn hiểu chính trị đơn thuần như một cuộc tìm kiếm quyền lực, “có thể chắc chắn rằng không một hành vi yêu thương nào của chúng ta, cũng như bất cứ hành vi quan tâm chân thành nào của chúng ta đối với người khác, sẽ bị mất đi. Không một hành vi yêu thương nào đối với Thiên Chúa sẽ mất đi, không một nỗ lực quảng đại nào là vô nghĩa, không một sự chịu đựng đau đớn nào bị lãng quên. Tất cả những điều này bao bọc thế giới của chúng ta như một sinh lực”[194].
  4. Mặt khác, thật là cao cả khi có thể bắt đầu các quá trình mà thành quả của họ sẽ được người khác gặt hái, với niềm hy vọng được đặt vào sức mạnh tiềm ẩn của điều tốt đã được gieo vãi, đó chính là một điều thật sự cao thượng. Nền chính trị tốt giúp gắn kết yêu thương, hy vọng, tin tưởng vào những điều tốt đẹp vốn hiện diện trong trái tim con người. Thật vậy, “đời sống chính trị đích thực, dựa trên luật pháp và đối thoại thẳng thắn giữa mọi người, được đổi mới với niềm tin rằng, mỗi con người nam nữ và mỗi thế hệ mang trong mình một lời hứa có thể giải phóng năng lượng mới về mối liên hệ, trí thức, văn hóa và tâm linh”[195].
  5. Nhìn theo cách này, chính trị thì cao quý hơn vẻ bề ngoài, hơn là marketing [tiếp thị], hơn các hình thức make-up[trang điểm]truyền thông khác nhau. Trong tất cả những điều này, điều duy nhất có thể gieo rắc là sự chia rẽ, xung đột và sự hoài nghi tàn khốc không có khả năng hấp dẫn theo đuổi một mục tiêu chung. Đôi khi nghĩ tới tương lai, chúng ta nên tự hỏi mình rằng: “Tại sao tôi lại làm điều này?”, “Mục tiêu đích thực của tôi là gì?” Bởi vì, với thời gian trôi qua, nhìn lại quá khứ của chính mình, câu hỏi sẽ không phải là: “Có bao nhiêu người tán thành tôi?”, “Bao nhiêu người đã bỏ phiếu cho tôi?”, “Bao nhiêu người có hình ảnh tích cực về tôi?” Có lẽ một cách nhức nhối, những câu hỏi sẽ là: “Tôi đã đặt bao nhiêu tình yêu thương vào công việc của mình?”, “Tôi đã thăng tiến con người như thế nào?”, “Tôi đã để lại dấu ấn gì trong đời sống xã hội?”, “Tôi đã xây dựng được những mối liên kết đích thực nào?”, “Tôi đã giải phóng những động lực tích cực nào?”, “Tôi đã kiến tạo hòa bình xã hội được bao nhiêu?”, “Tôi đã hoàn thành được điều gì tốt đẹp trên cương vị của mình mà tôi được giao phó?”

CHƯƠNG 6: ĐỐI THOẠI VÀ TÌNH BẠN HỮU TRONG XÃ HỘI

  1. Tiếp cận nhau, nói chuyện, lắng nghe, quan tâm tới nhau, để hiểu biết nhau, và tìm ra những điểm tương đồng: tất cả những điều này được tóm gọn trong một chữ “đối thoại”. Nếu chúng ta muốn gặp gỡ và giúp đỡ nhau, chúng ta cần phải đối thoại với nhau. Tôi không cần nhấn mạnh những lợi ích của việc đối thoại. Tôi chỉ cần nghĩ tới việc thế giới của chúng ta sẽ ra sao nếu không có những cuộc đối thoại kiên nhẫn của những con người quảng đại, những người giữ cho các gia đình và cộng đoàn gắn kết với nhau. Không giống như bất đồng và xung đột, cuộc đối thoại kiên trì và can đảm không tạo ra những hàng tít lớn, nhưng lặng lẽ giúp thế giới sống tốt hơn nhiều so với những gì chúng ta hình dung ra được.

Đối thoại xã hội cho một nền văn hóa mới

  1. Một số người cố gắng trốn chạy thực tại bằng cách ẩn náu trong thế giới riêng biệt của mình, những người khác đối đầu với nó bằng cách sử dụng bạo lực hủy diệt. Tuy nhiên, “giữa sự thờ ơ ích kỷ và sự phản kháng bạo lực luôn có một lựa chọn khả thi: đó là lựa chọn đối thoại. Đối thoại giữa các thế hệ, đối thoại trong nhân dân, vì tất cả chúng ta đều là con người, khả năng cho và nhận, trong khi vẫn mở cửa cho sự thật. Một quốc gia phát triển khi có sự đối thoại mang tính xây dựng giữa các nền văn hóa đa dạng của nó: văn hóa đại chúng, văn hóa đại học, văn hóa thanh niên, văn hóa nghệ thuật và công nghệ kỹ thuật, văn hóa kinh tế, văn hóa gia đình, và văn hóa truyền thông”[196].
  2. Đối thoại thường bị nhầm lẫn với một điều gì đó rất khác: một cuộc trao đổi ý kiến ​​đang gây sốt trên mạng xã hội, rất thường được hướng dẫn bởi thông tin từ các phương tiện truyền thông mà không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Đây chỉ là những cuộc độc thoại bên lề có lẽ thu hút sự chú ý của người khác hơn là vì giọng điệu cao và hung hãn của chúng. Nhưng độc thoại không lôi cuốn bất cứ ai, đến mức nội dung của chúng thường mang tính cơ hội và mâu thuẫn.
  3. Thông thường, việc phổ biến một cách vang dội các sự kiện và lời phàn nàn trên các phương tiện truyền thông thực sự có xu hướng cản trở khả năng đối thoại, bởi vì nó cho phép mọi người giữ ý tưởng, sở thích và quan điểm của họ, vô hình và không đủ tiêu chuẩn, với, bao biện, những sai lầm của người khác. Thói quen loại bỏ ngay lập tức đối thủ bằng cách áp dụng các thuật ngữ sỉ nhục chiếm ưu thế, thay vì đối thoại cởi mở và tôn trọng nhằm mục đích tổng hợp cao hơn. Điều tồi tệ nhất là ngôn ngữ này, thông thường trong bối cảnh truyền thông của một chiến dịch chính trị, đã trở nên phổ biến đến mức mọi người đều sử dụng nó hàng ngày. Cuộc tranh luận thường bị thao túng bởi một số lợi ích nhất định có quyền lực lớn hơn và không trung thực tìm cách thu hút dư luận theo hướng có lợi cho mình. Tôi không chỉ nghĩ đến một chính phủ tại vị, bởi vì quyền lực thao túng này có thể là kinh tế, chính trị, truyền thông, tôn giáo hoặc bất kỳ hình thức nào khác. Đôi khi, chúng ta biện minh cho thực tiễn này, hoặc chúng ta bào chữa cho nó, khi các động lực của nó phản ứng với các lợi ích kinh tế hoặc ý thức hệ, nhưng, sớm hay muộn, nó sẽ chống lại chính những lợi ích này.
  4. Thiếu đối thoại có nghĩa là trong các lĩnh vực khác nhau, không ai quan tâm đến việc thúc đẩy lợi ích chung; nhưng mọi người đều muốn có được những lợi thế mà quyền lực mang lại, hoặc, cùng lắm, cũng là để áp đặt một lối suy nghĩ của riêng họ. Vì vậy, các cuộc đối thoại trở thành các cuộc đàm phán đơn giản để mọi người có thể chinh phục toàn bộ quyền lực và lợi nhuận cao nhất có thể, ngoài nhiệm vụ chung tạo ra lợi ích chung. Những anh hùng của tương lai sẽ là những người biết cách phá vỡ logic không lành mạnh này và quyết định bảo vệ một cách trân trọng một ngôn ngữ chứa đầy chân lý, vượt ra ngoài lợi lộc cá nhân. Cầu xin Chúa cho những anh hùng này được âm thầm xuất hiện giữa lòng của xã hội chúng ta hôm nay!

Cùng nhau xây dựng

  1. Đối thoại xã hội chân chính giả định khả năng tôn trọng quan điểm của đối phương bằng cách chấp nhận khả năng nó chứa đựng một số xác tín và mối quan tâm chính đáng. Dựa trên danh tính và kinh nghiệm của họ, những người khác có điều để đóng góp, và người ta mong muốn rằng, họ nên trình bày rõ ràng các lập trường của họ có lợi cho một cuộc tranh luận công khai được hữu hiệu hơn. Khi các cá nhân hoặc các nhóm nhất quán trong suy nghĩ của họ, chịu bảo vệ các giá trị và niềm tin của họ, và khai triển lập luận của họ, thì điều này chắc chắn có lợi cho xã hội, bằng cách này hay cách khác. Nhưng điều này chỉ được thực hiện trong chừng mực mà quá trình được đề cập diễn ra trong đối thoại và trên tinh thần cởi mở với người khác. Trên thực tế, “trong tinh thần đối thoại thực sự, nuôi dưỡng khả năng hiểu ý nghĩa của những gì người kia nói và làm, mặc dù ngay cả khi người ta không thể coi đó là niềm xác tín riêng của mình. Nhờ cách này, chúng ta có thể chân thành và cởi mở đối với niềm tin của mình, trong khi tiếp tục thảo luận, tìm kiếm các điểm tiếp xúc, và trên hết, cùng hoạt động và cùng nhau chiến đấu”[197]. Thảo luận công khai, nếu nó thực sự mang lại không gian cho mọi người và không thao túng hoặc che giấu thông tin, đó là bàn đạp vững chắc cho phép chúng ta tiếp cận sự thật tốt hơn, hoặc ít nhất, để thể hiện nó tốt hơn. Nó ngăn cản các nhóm khác nhau bám lấy sự tự tin và tự mãn vào quan niệm về thực tế và những lợi ích hạn chế của họ. Chúng ta hãy tin chắc rằng “sự khác biệt là sáng tạo, chúng tạo ra căng thẳng và trong việc giải quyết căng thẳng, đó chính là sự tiến bộ của nhân loại”[198].
  2. Càng ngày người ta càng xác tín rằng, cùng với các tiến bộ khoa học chuyên ngành, chúng ta cần có sự giao tiếp giữa các môn khoa với nhau. Mặc dù thực tại là một, nhưng nó có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ và những phương pháp luận khác nhau. Có một nguy cơ tiềm ẩn là một bước đột phá khoa học có thể được coi cách tiếp cận khả thi nhất để nắm bắt mọi khía cạnh của đời sống, xã hội và thế giới. Mặt khác, một nhà nghiên cứu, dù tiến bộ với hiệu quả trong các phân tích của mình, mà vẫn sẵn sàng nhận ra các khía cạnh khác của thực tại mà mình đang nghiên cứu, thì sẽ hiểu thực tại một cách toàn vẹn và đầy đủ hơn nhờ vào công việc của những người khác về khoa học và kiến ​​thức.
  3. Trong thế giới toàn cầu hóa này “phương tiện truyền thông có thể giúp chúng ta cảm thấy gần gũi với nhau hơn; để làm cho chúng ta nhận thức được một ý thức mới về sự hiệp nhất của gia đình nhân loại, từ đó có thể gợi hứng cho tình liên đới và nỗ lực nghiêm túc để bảo đảm một cuộc sống xứng đáng hơn cho mọi người… Các phương tiện truyền thông có thể giúp chúng ta rất nhiều trong việc này, nhất là ngày nay, khi các mạng lưới truyền thông đạt tới một bước tiến phi thường. Đặc biệt, internet có thể mang đến nhiều cơ hội gặp gỡ và liên đới giữa tất cả mọi người. Đây chính là một điều thực sự tốt đẹp, một quà tặng của Thiên Chúa”[199]. Nhưng cần phải thường xuyên đảm bảo rằng các hình thức giao tiếp hiện tại thực sự hướng chúng ta tới một cuộc gặp gỡ quảng đại, hướng tới việc chân thành tìm kiếm chân lý toàn vẹn, phục vụ người nghèo, gần gũi với họ, hướng tới nhiệm vụ xây dựng vì lợi ích chung. Đồng thời, như các giám mục Úc châu đã dạy rằng, “chúng ta không thể chấp nhận một thế giới kỹ thuật số, được thiết kế chỉ để khai thác điểm yếu của chúng ta và mang lại điều tồi tệ nhất trong con người”[200].

Cơ sở của sự đồng thuận

  1. Thuyết tương đối không phải là giải pháp tốt. Dưới vỏ bọc của sự khoan dung, cuối cùng, thuyết tương đối cho phép giải thích các giá trị đạo đức bởi những người nắm quyền bính, để được giải thích theo ý muốn của họ. Cuối cùng, nếu “không có sự thật khách quan hoặc các nguyên tắc vững chắc, ngoài việc đáp ứng các dự án và nhu cầu trước mắt của chúng ta… chúng ta không thể nghĩ rằng các dự án chính trị hoặc hiệu lực của pháp luật là đủ. Khi văn hóa trở nên băng hoại và không còn chân lý khách quan hay các nguyên tắc có giá trị phổ biến nào được thừa nhận nữa, thì luật pháp chỉ được hiểu là những áp đặt độc đoán và là những trở ngại cần phải vượt qua mà thôi”[201].
  2. Liệu có thể quan tâm đến sự thật, tìm kiếm sự thật tương ứng với thực tại sâu xa nhất của chúng ta không? Luật pháp nào mà không có sự xác tín, có được sau một hành trình dài suy tư và sáng suốt, rằng mỗi con người là thiêng liêng và bất khả xâm phạm? Để một xã hội có tương lai, nó phải nuôi dưỡng ý thức tôn trọng sự thật của phẩm giá con người mà chúng ta phải phục tùng. Vì vậy, chúng ta sẽ không tránh giết một ai đó chỉ để trốn tránh sự khiển trách của xã hội và sức nặng của luật pháp, mà bằng cách kết án. Đó là một sự thật không thể chối cãi mà chúng ta nhận ra bằng lý trí và chúng ta chấp nhận bằng lương tâm. Một xã hội cao quý và đáng kính trọng cũng bởi ý thức tìm kiếm chân lý và gắn bó với những chân lý cơ bản nhất.
  3. Chúng ta cần học cách vạch trần các loại thao túng, bóp méo và che giấu sự thật, cả trong các lĩnh vực công cộng và lĩnh vực riêng tư. Điều mà chúng ta gọi là “sự thật” thì không chỉ là việc phổ biến sự thật thông qua báo chí mà thôi. Nhưng trên hết, đó là việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc nhất cho các lựa chọn của chúng ta, cũng như cho luật pháp của chúng ta. Điều này giả định chúng ta thừa nhận rằng, trí thông minh của con người có thể vượt ra ngoài những mối quan tâm tức thời, và nắm bắt những sự thật vĩnh cửu, những điều đã đúng từ xa xưa và sẽ luôn còn đúng như vậy. Bằng cách khám phá bản chất con người, lý trí khám phá ra những giá trị mang tính phổ quát bởi vì chúng bắt nguồn từ chính bản chất đó.
  4. Nếu không, có thể nào không xảy ra rằng, các quyền căn bản của con người hôm nay được coi là bất khả xâm phạm, lại bị chính quyền bác bỏ, một khi họ đã đạt được “sự đồng thuận” của một quần chúng thờ ơ hoặc bị đe dọa đó sao? Một sự đồng thuận đơn giản giữa các dân tộc khác nhau, cũng có thể bị thao túng, cũng không đủ để bảo vệ. Có rất nhiều bằng chứng về bao điều tốt đẹp mà chúng ta có thể đạt được, nhưng đồng thời, chúng ta phải nhận ra khả năng hủy diệt ngay trong nội tại của chính mình. Chẳng phải chủ nghĩa cá nhân thờ ơ và tàn nhẫn mà chúng ta đã sa ngã cũng là kết quả của sự lười biếng trong việc tìm kiếm những giá trị cao nhất vượt quá nhu cầu trước mắt của chúng ta đó sao?Cùng với thuyết tương đối là nguy cơ kẻ quyền lực hoặc kẻ xảo quyệt nhất sẽ áp đặt một sự thật bị áp đặt. Mặt khác, “so với các chuẩn mực đạo đức ngăn cấm sự ác nội tại, không có đặc quyền hay ngoại lệ cho bất kỳ ai. Dù một người là chủ nhân thế giới hay kẻ khốn khổ bần cùng trên trái đất, điều đó không có gì khác biệt: trước những đòi hỏi của luân lý đạo đức, tất cả chúng ta đều tuyệt đối bình đẳng như nhau”[202].
  5. Điều xảy ra với chúng ta ngày nay, kéo chúng ta vào một thứ logic băn hoại và trống rỗng, đó là có sự đồng hóa giữa đạo đức và chính trị với vật lý. Không có thiện và ác riêng, mà chỉ có sự tính toán về các ưu và nhược điểm. Sự thay đổi của lý trí đạo đức, dẫn đến hậu quả là luật pháp không thể đề cập đến một quan niệm cơ bản về công lý, mà trở thành một tấm gương phản chiếu những ý tưởng thống trị. Ở đây chúng ta bước vào một giai đoạn suy thoái: sự “đi xuống” thông qua sự đồng thuận hời hợt và thỏa hiệp. Vì vậy, cuối cùng, logic của quyền lực chiến thắng.

Sự đồng thuận và sự thật

  1. Trong một xã hội đa nguyên, đối thoại là cách thích hợp nhất để nhận ra điều phải luôn được khẳng định và tôn trọng, bất kể sự đồng thuận phù phiếm nào. Cuộc đối thoại như vậy cần được làm phong phú và soi sáng bởi các biện minh, các lập luận hợp lý, vì nhiều quan điểm, vì những đóng góp từ kiến ​​thức và quan điểm đa dạng. Cuộc đối thoại này cũng không được loại trừ xác tín cho rằng có thể đạt được một số chân lý nền tảng nào đó luôn cần được đề cao. Việc chấp nhận rằng có một số giá trị vĩnh viễn, mặc dù không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra chúng, mang lại sự vững chắc và ổn định cho đạo đức xã hội. Ngay cả khi các giá trị căn bản đó được công nhận và chào đón nhờ đối thoại và đồng thuận, chúng ta thấy chúng vẫn vượt lên trên bất cứ sự đồng thuận nào; chúng ta nhìn nhận chúng như các giá trị vượt quá các bối cảnh của chúng ta và không bao giờ thương lượng được. Sự hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa và phạm vi của chúng có thể gia tăng – và theo nghĩa đó, sự đồng thuận chính là một sự năng động – nhưng tự bản chất, chúng được xem là ổn định đối với ý nghĩa nội tại của chúng.
  2. Nếu điều gì đó luôn thuận lợi cho sự vận hành đúng đắn của xã hội, chẳng phải vì đằng sau nó là một sự thật vĩnh viễn, mà trí thông minh nào có thể nắm bắt được? Trong chính thực tại của con người và của xã hội, trong bản chất thân thiết của nó, có một loạt cấu trúc cơ bản hỗ trợ cho sự phát triển và tồn tại của nó. Từ đó suy ra những yêu cầu nhất định có thể được khám phá nhờ đối thoại, mặc dù chúng không được tạo ra một cách chặt chẽ bởi sự đồng thuận. Thực tế là một số chuẩn mực không thể thiếu trong đời sống xã hội tự nó là một dấu hiệu bên ngoài cho thấy bản thân chúng là một điều tốt. Vì vậy, không nhất thiết phải đối chiếu giữa tính hiệu quả của xã hội, sự đồng thuận và thực tế của một sự thật khách quan. Ba điều này có thể kết hợp với nhau một cách hài hòa khi thông qua đối thoại, mọi người dám đi đến tận cùng của một vấn đề.
  3. Nếu phẩm giá của người khác phải được tôn trọng trong mọi tình huống, đó là vì chúng ta không ngụy tạo hay giả mạo phẩm giá của người khác, mà bởi vì thực sự ở họ một giá trị vượt trên vật chất và hoàn cảnh, và điều đó đòi hỏi họ phải được đối xử như những người khác. Rằng mỗi con người sở hữu một phẩm giá bất khả xâm phạm là chân lý đáp ứng với bản chất con người vượt ra ngoài bất kỳ sự thay đổi văn hóa nào. Đó là lý do tại sao con người có cùng phẩm giá bất khả xâm phạm vào bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử và không ai có thể tự cho mình là người được ủy quyền bởi bất cứ tình huống đặc thù nào có thể bác bỏ xác tín này hoặc hành động chống lại nó. Trí khôn có thể tìm hiểu thực tại của sự vật qua suy tư, kinh nghiệm và đối thoại, và tiến đến chỗ nhận ra trong thực tại đó, một thực tại vốn vượt quá nó, cơ sở của một số đòi hỏi đạo đức phổ quát nào đó.
  4. Đối với những người chất phác ít học, nền tảng này có thể chứng tỏ là đủ để đem lại một giá trị phổ quát vững chắc và ổn định cho các nguyên tắc luân lý căn bản và không thể thương lượng có thể giúp ngăn ngừa các thảm họa hơn nữa. Là các tín hữu, chúng ta tin chắc rằng bản chất con người, vốn là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, được Thiên Chúa tạo dựng, và cuối cùng chính Người là Đấng ban nền tảng vững chắc cho những nguyên tắc này[203]. Điều này không dẫn đến một nền luân lý cứng ngắc, cũng như không dẫn đến việc áp đặt bất cứ hệ thống luân lý nào, vì các nguyên tắc luân lý có giá trị từ trong nền tảng và một cách phổ quát có thể được hiện thân trong các quy tắc thực tiễn khác nhau. Vì vậy, luôn có chỗ dành cho đối thoại.

Một nền văn hóa mới

  1. “Cuộc sống là nghệ thuật của việc gặp gỡ giữa mọi người với nhau, ngay cả khi có rất nhiều bất đồng trong cuộc sống”[204]. Trong một vài trường hợp, tôi đã mời gọi sự phát triển của một nền văn hóa gặp gỡ vượt ra ngoài phép biện chứng mà gây xung đột. Đó là một lối sống nhằm định hình khối đa diện, nhiều mặt khác nhau nhưng lại cùng nhau tạo thành một thể thống nhất đầy sắc thái, vì “cái tổng thể lớn hơn cái bộ phận”[205]. Khối đa diện tượng trưng cho một xã hội, nơi những khác biệt cùng tồn tại bằng cách bổ sung, làm phong phú và soi sáng lẫn nhau, ngay cả khi điều này ngụ ý các cuộc thảo luận và thiếu tin tưởng. Thật vậy, chúng ta có thể học được điều gì đó từ tất cả mọi người, không ai vô dụng, không ai bị loại bỏ. Điều này ngụ ý rằng các vùng ngoại vi được tích hợp. Bất cứ ai ở đó có quan điểm khác, họ nhìn thấy những khía cạnh của thực tế không được công nhận bởi các trung tâm quyền lực nơi đưa ra những quyết định quan trọng nhất.

Cuộc gặp gỡ trở thành văn hóa

  1. Thuật ngữ “văn hóa” chỉ một điều gì đó đã bám rễ vào bên trong một dân tộc, trong niềm tin tưởng sâu sắc nhất và trong cách sống của họ. Nếu chúng ta đang nói về một nét “văn hóa” trong một con người, thì đó không chỉ là một ý tưởng hay một sự trừu tượng. Điều này bao gồm những mong muốn, sự nhiệt tình và cuối cùng là lối sống đặc trưng cho một nhóm người như vậy. Vì thế, để nói về “văn hóa gặp gỡ” có nghĩa là, với tư cách là một dân tộc, chúng ta say mê tìm cách gặp gỡ nhau, tìm kiếm sự tương tác, xây dựng cầu nối, hình dung một điều gì đó bao gồm tất cả mọi người. Nó trở thành một khát vọng và một cách sống. Chủ thể của nền văn hóa này là con người chứ không phải một thành phần xã hội tìm cách trấn an người khác thông qua các phương tiện truyền thông và nghề nghiệp.
  2. Hòa bình xã hội đòi hỏi sự chăm chỉ, khéo léo. Sẽ dễ dàng hơn nếu hạn chế các quyền tự do và sự khác biệt bằng một thủ thuật và phương tiện nhỏ. Nhưng hòa bình này sẽ chỉ là vẻ bề ngoài và mong manh; nó sẽ không phải là thành quả của một nền văn hóa gặp gỡ mang lại sự ổn định lâu dài. Việc hòa nhập những khác biệt khó hơn và chậm hơn nhiều, nhưng đó là bảo đảm cho hòa bình thực sự và vững chắc. Điều này không thể đạt được bằng cách chỉ tập hợp những người trong sạch, vì “ngay cả những người có thể bị chỉ trích vì sai lầm của họ cũng có đóng góp gì đó mà không được bỏ qua”[206]. Nó cũng không đến từ việc phớt lờ những đòi hỏi của xã hội hoặc dập tắt những xáo trộn, vì nó không phải là “sự đồng thuận trên giấy tờ hay một nền hòa bình thoáng qua cho một thiểu số hài lòng”[207]. Điều quan trọng là tạo ra các tiến trình gặp gỡ, tiến trình xây dựng một con người có thể chấp nhận sự khác biệt. Chúng ta hãy trang bị cho con cái mình vũ khí đối thoại! Chúng ta hãy dạy con cái biết chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp của văn hóa gặp gỡ!

Niềm vui khi nhận biết tha nhân

  1. Tất cả những điều trên đòi hỏi khả năng để nhận ra quyền được là chính mình và khác biệt của người kia. Bắt đầu từ sự thừa nhận này đã trở thành văn hóa, có thể tạo ra một hiệp ước xã hội. Nếu không có sự công nhận này, những cách thức tinh vi sẽ xuất hiện để làm cho người khác trở thành vô nghĩa, trở nên không còn phù hợp, không có giá trị gì đối với xã hội cả. Đằng sau việc từ chối một số hình thức bạo lực có thể nhìn thấy được, một hình thức bạo lực khác tinh vi hơn thường ẩn giấu: bạo lực của những người coi thường người khác, đặc biệt khi những yêu cầu làm tổn hại đến lợi ích của họ theo một cách nào đó.
  2. Khi một thành phần xã hội cố gắng tận hưởng mọi thứ mà thế giới cung cấp, như thể người nghèo không hề hiện hữu, thì điều đó ở một thời điểm nào đó sẽ có hậu quả của nó. Việc phớt lờ sự hiện hữu và quyền lợi của người khác thì sớm hay muộn cũng gây ra một số hình thức bạo lực, thường là bất ngờ. Những ước mơ về tự do, bình đẳng và tình huynh đệ có thể chỉ dừng lại ở mức độ đơn thuần về hình thức mà thôi, bởi vì chúng không hiệu quả cho tất cả mọi người. Do đó, vấn đề không chỉ là tìm kiếm một cuộc gặp gỡ giữa những người nắm giữ nhiều hình thức quyền lực kinh tế, chính trị hay học thuật. Một cuộc gặp gỡ xã hội đích thật mang lại những hình thức đối thoại văn hóa tuyệt vời đại diện cho phần đa dân số. Các đề xuất tốt thường không được các thành phần nghèo nhất tiếp thu vì chúng được trình bày với một bộ trang phục văn hóa không phải của họ và họ không thể cảm thấy được nhìn nhận. Do đó, một hiệp ước xã hội thực tiễn và bao trùm cũng phải là một “hiệp ước văn hóa” biết tôn trọng và nhìn nhận sự khác biệt về vũ trụ quan, về các nền văn hóa và các lối sống khác nhau cùng tồn tại trong xã hội.
  3. Chẳng hạn, các dân tộc bản địa không chống lại sự tiến bộ, mặc dù họ có quan niệm khác về sự tiến bộ, nhân văn hơn nhiều lần so với nền văn hóa hiện đại của những người phát triển. Đó không phải là một nền văn hóa hướng đến lợi ích của những người có quyền lực, của những người cần tạo ra một loại thiên đường vĩnh cửu trên trái đất. Bất khoan dung và khinh thường các nền văn hóa đại chúng bản địa là một hình thức bạo lực thực sự, là điển hình của những “nhà đạo đức học” thiếu tử tế, luôn phán xét người khác. Nhưng không thể có sự thay đổi đích thực, sâu sắc và ổn định nếu nó không được tạo ra từ các nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là người nghèo. Một hiệp ước văn hóa có nghĩa là từ bỏ việc hiểu bản sắc của một địa điểm một cách đơn lẻ, và yêu cầu tôn trọng sự đa dạng bằng cách đưa ra những phương thức thúc đẩy và hòa nhập xã hội dành cho tất cả mọi người.
  4. Hiệp ước này cũng ngụ ý chấp nhận khả năng cống hiến một điều gì đó vì lợi ích chung. Không ai có thể sở hữu toàn bộ chân lý được, hoặc thỏa mãn tất cả mọi khát vọng của mình, bởi vì yêu cầu đó sẽ dẫn đến việc muốn tiêu diệt người khác bằng cách bác bỏ mọi quyền lợi của họ. Việc tìm kiếm một sự khoan dung cách sai lầm phải nhường chỗ cho chủ nghĩa hiện thực đối thoại của những người tin rằng, họ phải trung thành với các nguyên tắc của họ, nhưng thừa nhận rằng người khác cũng có quyền cố gắng trung thành với nguyên tắc của mình. Đó là sự thừa nhận đích thực về đối phương, điều mà chỉ tình yêu thương mới có thể thực hiện được, và có nghĩa là đặt mình vào vị trí của đối phương để khám phá ra điều gì là đích thực, hoặc ít nhất là có thể hiểu được, ở giữa động cơ và lợi ích của họ.

Khôi phục lòng nhân hậu

  1. Những người khác bị coi như chỉ là chướng ngại vật cho sự thanh thản dễ chịu của chính chúng ta. Cuối cùng họ bị coi như một kẻ phiền toái cho ta và tính hung hăng của chúng ta ngày càng gia tăng. Điều này được nhấn mạnh và càng đúng hơn trong thời điểm khủng hoảng, trong những cơn đại dịch, trong những thời điểm khó khăn mà ý tưởng “thân ai nấy lo” lại càng được nhen lên. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể lựa chọn việc vun trồng lòng nhân hậu. Có những người thực hiện được điều đó thì trở thành ngôi sao sáng giữa màn đêm.
  2. Thánh Phaolô mô tả lòng nhân hậu là hoa trái của Chúa Thánh Thần (Gl 5,22). Thánh nhân sử dụng từ tiếng Hy Lạp chrestótes, từ này diễn tả một trạng thái tâm hồn không khắc nghiệt, thô lỗ, nhưng dễ mến, nhẹ nhàng, nâng đỡ và ủi an. Những cá nhân có phẩm chất này giúp cuộc sống của người khác dễ chịu hơn, đặc biệt là bằng cách chia sẻ sức nặng của các vấn đề, nhu cầu và nỗi sợ hãi của họ. Cách đối xử với người khác này có thể có nhiều hình thức khác nhau: một hành động tử tế, một sự quan tâm không xúc phạm bằng lời nói hoặc việc làm, một sự sẵn sàng để giảm bớt gánh nặng của họ. Nó bao gồm “nói những lời an ủi, mạnh mẽ, an ủi và khuyến khích” chứ không phải “những lời hạ thấp, buồn bã, tức giận hoặc thể hiện sự khinh bỉ”[208].
  3. Lòng nhân hậu là sự giải thoát khỏi sự tàn nhẫn đôi khi xâm nhập vào các mối liên hệ của con người, khỏi sự lo lắng vốn ngăn cản chúng ta nghĩ đến người khác, khỏi sự bức bách bị phân tâm mà phớt lờ rằng người khác cũng có quyền được hưởng hạnh phúc. Ngày nay thường không có thời gian và sức lực để dừng lại để đối xử tốt với người khác, để nói “xin phép”, “xin lỗi”, và “cám ơn”. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, một cách lạ lùng, một người tốt bụng bỗng xuất hiện và sẵn sàng gạt mọi sự khác sang một bên để thể hiện sự quan tâm, để nở một nụ cười, nói một lời kích thích, cho phép có một không gian lắng nghe giữa quá nhiều sự thờ ơ chung. Nỗ lực này, được thực hiện mỗi ngày, có khả năng tạo ra sự chung sống lành mạnh, vượt qua những hiểu lầm và ngăn ngừa xung đột. Việc nuôi dưỡng lòng nhân ái không phải là một tiểu tiết hay một thái độ hời hợt, tư sản. Vì nó bao hàm sự đánh giá cao và tôn trọng, khi văn hóa được hình thành trong một xã hội, nó biến đổi sâu sắc lối sống, các mối quan hệ xã hội, cách tranh luận và đối thoại với các ý tưởng khác. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm sự đồng thuận và mở ra những con đường mà sự xung đột sẽ phá hủy tất cả các cây cầu.

CHƯƠNG 7: HÀNH TRÌNH GẶP GỠ MỚI

  1. Ở nhiều nơi trên thế giới, những cuộc hành trình hòa bình dẫn đến việc chữa lành các vết thương đang lở loét là một điều cần thiết. Cũng cần có những người kiến tạo hòa bình, sẵn sàng bắt đầu các hành trình chữa lành và gặp gỡ mới mẻ với sự khéo léo và táo bạo.

Bắt đầu lại từ sự thật

  1. Sự gặp gỡ mới mẻ không có nghĩa là quay trở lại với thời gian trước khi xảy ra xung đột. Theo thời gian, tất cả chúng ta đều đã đổi thay. Nỗi đớn đau và sự xung đột làm thay đổi chúng ta. Chúng ta không còn dùng lối ngoại giao sáo rỗng, ngụy biện, nói nước đôi, ẩn ý, và những cung cách tỏ ra tử tế để che đậy thực tại. Những người vốn là kẻ thù hung hăng của nhau phải nói sự thật rõ ràng và trọn vẹn với nhau. Họ phải học cách thực hành một ký ức sám hối, một ký ức có thể chấp nhận quá khứ để không làm vẩn đục tương lai với những hối tiếc, vấn đề và kế hoạch của chính mình. Chỉ từ sự thật lịch sử của các sự kiện, người ta mới có thể cố gắng bền bỉ và lâu dài để hiểu nhau và phấn đấu đạt được một tổng hợp mới, vì lợi ích của tất cả mọi người. Mọi “tiến trình hòa bình đều đòi sự dấn thân bền bỉ theo thời gian. Đó là một công việc kiên nhẫn tìm kiếm sự thật và công lý, tôn vinh ký ức của các nạn nhân và từng bước mở ra một hy vọng chung, mạnh hơn là khát vọng trả thù”[209]. Như các giám mục Côngô đã nói về những cuộc xung đột luôn tái diễn: “Các thỏa thuận hòa bình trên giấy tờ sẽ không bao giờ là đủ cả. Nó sẽ là cần thiết để đi xa hơn, bao gồm cả nhu cầu sự thật về nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tái lặp này. Người dân có quyền biết những gì đã xảy ra”[210].
  2. Trên thực tế, “sự thật chính là người bạn đồng hành không thể tách rời của công lý và lòng thương xót. Cả ba kết hợp với nhau là điều cần thiết để xây dựng hòa bình; hơn nữa, mỗi bên giúp giữ cho các các bên khác không bị biến dạng… Sống sự thật thì không nên dẫn đến việc trả thù, mà là sự hòa giải và thứ tha. Sống sự thật có nghĩa là nói cho các gia đình bị chia cắt bởi nỗi đau, những điều đã xảy ra với những người thân của họ bị mất tích. Sống sự thật có nghĩa là thú nhận những gì đã xảy ra với trẻ vị thành niên được tuyển mộ bởi những người tàn ác và bạo lực. Sự thật có nghĩa là nhận ra nỗi đau của những người phụ nữ là nạn nhân của bạo lực và lạm dụng… Mỗi hành động bạo lực chống lại một con người là một vết thương trên da thịt của nhân loại; mỗi cái chết do bạo lực làm cho chúng ta bị suy thoái trong tư cách là một con người… Bạo lực dẫn tới bạo lực nhiều hơn, oán hận càng sinh oán hận thêm, giết người gây thêm giết người. Chúng ta phải bẻ gãy cái vòng luẩn quẩn tưởng chừng như không thể thoát ra được này”[211].

Nghệ thuật và kiến trúc xây dựng hòa bình

  1. Con đường dẫn đến hòa bình không có nghĩa là làm cho xã hội đồng nhất một cách đơn điệu, mà là để mọi người sát cánh làm việc cùng nhau, theo đuổi những mục tiêu có lợi cho mọi người. Nhiều đề xuất thực tiễn và kinh nghiệm đa dạng có thể giúp đạt được các mục tiêu chung và phục vụ lợi ích chung. Các vấn đề mà một xã hội đang trải qua cần được xác định rõ ràng, để có thể đánh giá được sự tồn tại của những cách hiểu và cách giải quyết khác nhau. Con đường dẫn đến sự thống nhất xã hội luôn đòi hỏi phải thừa nhận khả năng những người khác, ít nhất là một phần, có một quan điểm chính đáng, một cái gì đó đáng giá để đóng góp, ngay cả khi họ mắc sai lầm hoặc hành động cách tệ hại. “Chúng ta đừng bao giờ giới hạn người khác về những gì họ có thể đã nói hoặc đã làm, nhưng hãy coi trọng họ vì lời hứa mà họ thể hiện”[212], bởi mỗi lời hứa đều mang theo một tia hy vọng mới.
  2. Như các Giám mục Nam Phi đã dạy, sự hòa giải đích thực đạt được một cách chủ động, “hình thành một xã hội mới dựa trên việc phục vụ người khác, thay vì ham muốn thống trị; một xã hội dựa trên việc chia sẻ với người khác những gì mình có, thay vì cuộc đấu tranh ích kỷ của mỗi người để giành được của cải lớn nhất có thể; một xã hội mà ở đó giá trị của việc chung sống với nhau như con người thì chắc chắn quan trọng hơn bất kỳ nhóm nhỏ nào, dù đó có thể là gia đình, quốc gia, chủng tộc hay văn hóa”[213]. Các Giám mục Hàn Quốc lưu ý rằng, “hòa bình thực sự chỉ có thể đạt được khi chúng ta đấu tranh cho công lý thông qua sự đối thoại, tìm kiếm sự hòa giải, và giúp nhau cùng thăng tiến”[214].
  3. Hoạt động để vượt qua sự chia rẽ của chúng ta mà không đánh mất căn tính của mình, với tư cách là các cá nhân, giả định cách căn bản rằng, một cảm thức thân thuộc vẫn hiện hữu trong mọi người. Thật vậy, “xã hội của chúng ta chiến thắng khi mỗi người, mỗi nhóm xã hội, thực sự cảm thấy tự nhiên như ở nhà.  Cha mẹ, ông bà và con cái đều cảm thấy tự nhiên trong một mái ấm gia đình, mà không ai bị loại trừ. Nếu một người trong số họ gặp khó khăn, thậm chí là nghiêm trọng, mặc dù người đó đã tự xoay sở, những người khác sẽ giúp đỡ người ấy, hỗ trợ họ; nỗi đau của người ấy được tất cả gia đình cùng sẻ chia… Trong gia đình, mọi người đều đóng góp vào mục đích chung, mọi người đều làm việc vì lợi ích chung, mà không hủy hoại từng cá nhân; ngược lại, nhưng khích lệ và nâng đỡ gia đình. Họ tranh luận, nhưng có một thứ không lay chuyển: đó là tình cảm gia đình. Những cuộc va chạm trong gia đình rồi cũng sẽ được hòa giải với nhau. Niềm vui và nỗi buồn của mỗi người cũng là của mọi người trong nhà. Đó chính là gia đình! Nếu chúng ta có thể nhìn thấy đối thủ chính trị hoặc người hàng xóm bằng cùng một cách mà chúng ta nhìn nơi con cái, vợ, chồng, cha và mẹ. Thật tuyệt làm sao! Chúng ta có yêu thương xã hội của chúng ta, hay vẫn còn một cái gì đó xa vời, một cái gì đó vô nghĩa, không liên quan đến chúng ta, không ảnh hưởng đến mình, một điều gì mà chúng ta không dấn thân cho nó chăng?”[215].
  4. Thông thường, rất cần sự đàm phán, và thông qua đó, để phát triển các tiến trình cụ thể cho hòa bình. Nhưng các quá trình hiệu quả của hòa bình lâu bền, trên hết là sự biến đổi được thực hiện bởi các dân tộc, nơi mỗi con người có thể là một nắm men xúc tác hiệu quả thông qua cách sống hàng ngày của mình. Những biến đổi lớn thì không được tạo ra trong văn phòng hoặc nơi bàn đàm phán. Do đó, “mỗi người đóng một vai trò cơ bản, trong một kế hoạch đổi mới duy nhất, để viết nên một trang sử mới, một trang tràn ngập hy vọng, tràn ngập hòa bình và hòa giải”[216]. Có một “kiến trúc” của hòa bình, nơi mà các thể chế khác nhau của xã hội góp phần, mỗi thể chế từ khả năng riêng của mình, nhưng cũng có một “nghệ thuật” hòa bình liên quan đến tất cả chúng ta. Từ các tiến trình hòa bình khác nhau đã diễn ra ở các khu vực khác nhau trên thế giới “chúng ta đã học được rằng những con đường kiến tạo hòa bình này, ưu thế của lý trí hơn là trả thù, của sự hài hòa tinh tế giữa chính trị và luật pháp, không thể làm mất đi con đường của người dân. Hòa bình không đạt được bằng các khuôn khổ quy chuẩn và các thỏa thuận thể chế giữa các nhóm chính trị hoặc kinh tế có ý nghĩa… Sẽ luôn là điều hữu ích việc tháp nhập vào các tiến trình hòa bình của chúng ta kinh nghiệm của những thành phần vốn thường bị bỏ qua, để chính các cộng đồng có thể tác động đến sự phát triển của một ký ức tập thể”[217].
  5. Việc xây dựng hòa bình trong xã hội của một quốc gia không bao giờ kết thúc; đúng hơn, đó là “một nhiệm vụ không ngừng đòi hỏi sự dấn thân của tất cả mọi người. Công việc đòi hỏi chúng ta không ngừng nỗ lực xây dựng khối đoàn kết dân tộc, bất chấp những trở ngại, sự khác biệt và các cách tiếp cận khác nhau về cách đạt được chung sống hòa bình, hãy kiên trì đấu tranh để cổ võ một ‘nền văn hóa gặp gỡ’. Điều này yêu cầu chúng ta phải dành vị trí trọng tâm của mọi hoạt động xã hội, chính trị và kinh tế cho nhân vị con người, vốn có phẩm giá cao nhất, và phải tôn trọng công ích. Ước mong nỗ lực này giúp chúng ta tránh được mọi cám dỗ trả thù và chỉ tìm kiếm những tư lợi trước mắt và chỉ nhất thời mà thôi”[218]. Những cuộc biểu tình bạo lực công khai, ở cả hai bên, không giúp ích gì cho việc tìm ra lối thoát. Trên hết là bởi vì, như các Giám mục Côlômbia đã nhận xét rõ, khi “các cuộc vận động công dân được khuyến khích, nguồn gốc và mục tiêu của chúng không phải lúc nào cũng rõ ràng, có một số hình thức thao túng và chiếm đoạt chính trị chỉ nhằm có lợi cho các phe nhóm mà thôi”[219].

Bắt đầu với những người hèn mọn nhất

  1. Tìm kiếm tình bạn xã hội không chỉ ngụ ý sự xích lại gần nhau của các nhóm xã hội xa xôi sau một thời kỳ xung đột trong lịch sử, mà còn là mong muốn xích lại gần nhau của những thành phần nghèo khó và dễ bị tổn thương nhất. “Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, nhưng còn là sự dấn thân không ngừng – nhất là về phía chúng ta, những người đang gánh trên vai một trách nhiệm lớn lao hơn – để nhìn nhận, bảo đảm và tái xây dựng cách cụ thể phẩm giá, mà biết bao lần bị quên lãng hay bị phớt lờ, của các anh chị em của chúng ta, để họ cảm nhận được những tác nhân chính của vận mệnh dân tộc mình”[220].
  2. Thường thì những người dễ bị tổn thương nhất của xã hội chính là những nạn nhân của sự xúc phạm với những lời khái quát thiếu công bằng. Mặc dù đôi khi những người nghèo nhất và những người bị loại trừ đó có phản ứng bằng những hành vi có vẻ chống đối xã hội, thì điều quan trọng là phải hiểu rằng, những phản ứng này rất thường liên quan đến tiền sử bị khinh thường và thiếu hòa nhập xã hội. Như các giám mục Mỹ châu Latinh đã ghi nhận rằng, “chỉ có sự gần gũi với người nghèo mới làm cho chúng ta trở thành bạn của họ, cho phép chúng ta đánh giá sâu sắc những giá trị của người nghèo hôm nay, những ước muốn chính đáng và cách sống đức tin của họ. Lựa chọn sống cho người nghèo phải đưa chúng ta đến tình bạn với người nghèo”[221].
  3. Những ai đang tìm cách bình ổn một xã hội thì đừng quên rằng, sự bất bình đẳng và thiếu sự phát triển con người toàn diện làm cho chúng ta không thể đạt được hòa bình. Thật vậy, “nếu không có sự bình đẳng về các cơ hội, những hình thức quá khích và xung đột khác nhau sẽ tìm thấy một mảnh đất màu mỡ để lớn lên và cuối cùng bùng nổ. Khi xã hội – địa phương, quốc gia hoặc toàn cầu – loại bỏ một phần của chính mình ở vùng ngoại vi, thì sẽ không có chương trình chính trị, hoặc cảnh sát, hoặc nguồn lực tình báo nào có thể đảm bảo sự bình yên luôn mãi được”[222]. Nếu chúng ta phải bắt đầu lại, thì luôn luôn phải bắt đầu từ những người nhỏ bé nhất trong các anh chị em của chúng ta.

Giá trị và ý nghĩa của sự tha thứ

  1. Một số người không muốn nói về hòa giải vì họ tin rằng xung đột, bạo lực và đổ vỡ là một phần của hoạt động bình thường của một xã hội. Trên thực tế, trong bất kỳ nhóm người nào, ít nhiều đều có những cuộc tranh giành quyền lực giữa các lĩnh vực khác nhau. Những người khác cho rằng nhường chỗ cho sự tha thứ là từ bỏ vị trí của mình và để người khác thống trị tình hình. Đây là lý do tại sao họ cho rằng tốt hơn là nên bảo tồn luật chơi của quyền lực để có thể duy trì sự cân bằng lực lượng giữa các phe nhóm khác nhau. Những người khác tin rằng hòa giải là công việc của những người yếu thế, những người không có khả năng đối thoại thực sự, và do đó, họ chọn cách trốn tránh khó khăn bằng cách che đậy những bất công. Vì không thể đối diện với các vấn đề được, nên họ đưa ra lựa chọn về một thứ hòa bình vẻ bề ngoài mà thôi.

Xung đột bất khả kháng

  1. Tha thứ và hòa giải là những chủ đề trọng tâm của Kitô giáo, và một cách nào đó, cũng được tìm thấy trong các tôn giáo khác. Tuy nhiên, có nguy cơ rằng một sự hiểu biết và trình bày không phù hợp về những xác tín sâu sắc ấy có thể dẫn đến thuyết định mệnh, sự lãnh đạm và bất công, hay thậm chí thái độ bất bao dung và bạo lực.
  2. Đức Giêsu không bao giờ cổ võ bạo lực và tinh thần bất bao dung. Người công khai tố cáo việc sử dụng sức mạnh để nắm quyền lực trên người khác: “Anh em biết, thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy” (Mt 20,25-26). Thay vào đó, Tin Mừng dạy chúng ta tha thứ “bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22) và cung cấp một ví dụ về người đầy tớ độc ác được tha thứ, nhưng đến lượt mình thì không có khả năng tha thứ cho kẻ khác (x. Mt 18,23-35).
  3. Đọc các bản văn khác của Tân Ước, chúng ta có thể nhận thấy các cộng đoàn Kitô hữu sơ khai sống trong thế giới dân ngoại đầy những sự hư hỏng và lộn xộn, đã tìm cách cho thấy sự kiên nhẫn vững vàng, tinh thần bao dung và cảm thông. Một số bản văn rất rõ ràng về khía cạnh này: chúng ta được dạy phải đáp trả những kẻ chống đối mình “với lòng hiền hòa” (2Tm 2,25) và được khuyến khích “không nói xấu ai, tránh cãi vã, cư xử hiền hòa, luôn luôn tỏ lòng nhân từ với mọi người. Vì chính chúng ta đã từng ngu xuẩn” (Tt 3,2-3). Sách Công vụ Tông đồ khẳng định rằng, các môn đệ, bị một số nhà cầm quyền bắt bớ, đã “được toàn dân thương mến” (Cv 2,47; x. 4,21.33; 5,13).
  4. Tuy nhiên, khi suy gẫm về sự tha thứ, hòa bình và hòa hợp xã hội, chúng ta thấy một biểu hiện của Đức Kitô khiến chúng ta ngạc nhiên: “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà” (Mt 10,34-36). Những lời lẽ của Đức Kitô không khuyến khích chúng ta tìm kiếm xung đột, mà chỉ đơn giản chịu đựng nó khi khi không tránh được, để sự tôn trọng của con người không dẫn đến sự thiếu trung thành trong việc theo đuổi một gia đình hoặc hòa bình xã hội. Thánh Gioan Phaolô II đã nói rằng: Giáo hội “không có ý định lên án mỗi và mọi hình thức xung đột xã hội. Giáo hội biết rất rõ rằng, trong suốt lịch sử, xung đột lợi ích chắc chắn nảy sinh giữa các nhóm xã hội khác nhau, và khi đối mặt với những xung đột đó, người Kitô hữu thường phải có một lập trường cách trung thực và dứt khoát”[223].

Xung đột chính đáng và sự tha thứ

  1. Vấn đề không phải là đề nghị sự tha thứ bằng cách từ bỏ quyền của mình khi đối mặt với một thế lực tham nhũng, các tên tội phạm hay những ai sỉ nhục phẩm giá chúng ta. Chúng ta được kêu gọi yêu thương mọi người, không loại trừ ai; đồng thời, việc yêu thương một kẻ áp bức không có nghĩa là cho phép kẻ ấy tiếp tục áp bức mình, hay cho phép kẻ ấy nghĩ rằng điều y làm có thể được chấp nhận. Ngược lại, cách tốt để yêu thương người ấy, nghĩa là cố gắng bằng nhiều cách khác nhau để khiến anh ta ngừng áp bức chúng ta, đó là tước bỏ sức mạnh mà anh ta không biết cách sử dụng, và sức mạnh người ấy tự hạ thấp nhân tính của mình cũng như của những người khác. Tha thứ không có nghĩa là cho phép họ tiếp tục chà đạp lên nhân phẩm của mình và của người khác, hoặc để tội phạm tiếp tục gây tội ác. Bất cứ ai phải chịu sự bất công phải mạnh mẽ bảo vệ quyền lợi của họ và của gia đình họ một cách chính xác vì họ phải giữ gìn phẩm giá đã được ban cho họ, một phẩm giá mà Thiên Chúa đã yêu thương. Nếu một tên tội phạm đã làm hại tôi hoặc một người thân yêu của tôi, không ai cấm tôi đòi hỏi công lý và tìm cách để bảo đảm rằng kẻ ấy – hay bất cứ ai khác – sẽ không hại tôi hay những người khác nữa. Điều đó hoàn toàn công bằng; sự tha thứ không những không hủy bỏ sự cần thiết này mà thực sự yêu cầu tôi làm điều đó.
  2. Điều quan trọng không phải là làm điều đó để nuôi một cơn giận dữ làm tổn thương tâm hồn người khác và tâm hồn của chúng ta, và cũng đừng bị ám ảnh với việc trả thù và tiêu diệt người khác. Không ai đạt được bình an nội tâm hoặc hòa hợp với cuộc sống theo cách này. Sự thật là “không một gia đình nào, không một nhóm láng giềng nào, không một sắc tộc nào và thậm chí ít hơn, một quốc gia nào, có tương lai, nếu động cơ gắn kết họ, tập hợp họ và che đậy sự khác biệt là trả thù và hận thù. Chúng ta không thể đồng lòng và đoàn kết để trả thù, làm điều tương tự với những kẻ đã từng bạo lực như anh ta đã làm với chúng ta, hoạch định cơ hội trả thù bằng những hình thức hợp pháp rõ ràng”[224]. Chúng ta sẽ không đạt được điều gì theo cách này, và cuối cùng, sẽ mất tất cả.
  3. Chắc chắn “không dễ dàng gì để vượt qua di sản cay đắng của sự bất công, thù địch và sự ngờ vực do cuộc xung đột để lại. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách chiến thắng sự dữ bằng sự thiện (x. Rm 12,21) và bằng cách trau dồi các nhân đức thiên về sự hòa giải, liên đới và hòa bình mà thôi”[225]. Theo cách này, “bất cứ ai nuôi dưỡng lòng thiện hảo trong bản thân mình sẽ nhận lại một lương tâm trong sáng, một niềm vui sâu sắc ngay cả khi đang gặp khó khăn và hiểu lầm. Ngay cả khi đối mặt với những hành vi phạm tội, sự thiện không bao giờ yếu đi, mà là sức mạnh đích thực, có khả năng từ bỏ sự trả thù”[226]. Trong cuộc sống của mỗi người, cần phải nhận ra rằng “bản án nặng nề mà tôi mang trong lòng đối với người anh chị em mình, vết thương chưa được chữa trị, tội ác chưa được đền bù, sự tàn bạo chỉ làm tổn thương tôi, là một phần của cuộc chiến mà tôi mang trong lòng…, nó là một ngọn lửa nhỏ trong sâu tâm hồn tôi cần phải bị dập tắt trước khi nó bùng cháy”[227].

Cách tốt nhất để tiến bước

  1. Khi những mâu thuẫn không được giải quyết mà bị che giấu hoặc chôn vùi trong quá khứ, có những khoảng lặng có thể đồng nghĩa với việc trở thành đồng lõa với những sai lầm và tội lỗi nghiêm trọng. Nhưng hòa giải thực sự không nhằm thoát ra khỏi xung đột mà là đạt được qua sự xung đột, khắc phục xung đột thông qua đối thoại và thương lượng kiên trì, chân thành và cởi mở. Xung đột giữa các nhóm khác nhau – “nếu kiềm chế được sự thù địch và thù hận lẫn nhau – sẽ dần dần đổi thành một cuộc thảo luận chân thành về những khác biệt, dựa trên khát vọng yêu chuộng công lý”[228].
  2. Tôi đã nhiều lần đề xuất “một nguyên tắc thiết yếu để xây dựng tình bạn xã hội: hiệp nhất thì ưu việt hơn là xung đột… Đây không phải là chọn một loại chủ nghĩa đồng hóa, hay bên này bị hút bởi bên kia, nhưng đúng hơn đây là một giải pháp xảy ra ở một bình diện cao hơn, và bảo tồn được những gì có hiệu lực và có ích ở cả hai phía”[229]. Tất cả chúng ta biết rằng “khi chúng ta, trong tư cách cá nhân và cộng đồng, học cách nhìn quá chính mình và những lợi ích riêng của mình, thì sự hiểu biết và dấn thân cho nhau sẽ sinh hoa trái… trong một lĩnh vực mà xung đột, căng thẳng và thậm chí cả những chúng có thể được coi là đối lập trong quá khứ, chúng có thể đạt đến sự hiệp nhất trong đa dạng tạo ra cuộc sống mới”[230].

Ký ức 

  1. Đối với những người đã hứng chịu nhiều đau khổ do bất công và tàn nhẫn, thì không được đòi hỏi họ một loại “tha thứ xã hội” nào đó. Hòa giải là một hành động cá nhân, và không ai có thể áp đặt nó trên toàn thể một xã hội, cho dù nhu cầu thúc đẩy điều đó lớn đến mấy đi nữa. Bằng một cách rất riêng tư, do một quyết định quảng đại và tự nguyện, một người nào đó có thể chọn không đòi hỏi sự trừng phạt (x. Mt 5,44-46), ngay cả dù điều này được đòi hỏi cách hoàn toàn chính đáng bởi xã hội và hệ thống tư pháp của nó. Tuy nhiên, không thể công bố một “sự hòa giải toàn thể” bằng cách dùng một lời tuyên bố để đóng các vết thương lại, hay cố gắng chôn lấp các bất công bằng một ‘phù phép lãng quên”. Ai có thể có quyền tha thứ nhân danh những người khác? Thật cảm kích khi ta nhìn thấy sự tha thứ được thể hiện bởi những người có khả năng bỏ lại sau lưng sự thiệt hại mà họ đã phải chịu, nhưng cũng dễ cảm thông phận người trong trường hợp của những người không thể bỏ qua như thế. Trong mọi trường hợp, sự lãng quên không bao giờ là câu trả lời.
  2. Không được lãng quên những thảm họa diệt chủng (Shoah). Đó là “biểu tượng cho thấy sự xấu xa của con người có thể đi xa đến đâu khi bị thúc đẩy bởi những ý thức hệ tư tưởng sai lầm, chúng quên đi phẩm giá căn bản của con người đáng được tôn trọng tuyệt đối bất kể người đó thuộc về chủng tộc hay tôn giáo mà họ tuyên xưng”[231]. Mỗi khi tôi nghĩ về nạn diệt chủng đó, tôi không thể không lặp lại lời cầu nguyện này: “Lạy Chúa, xin nhớ đến chúng con trong lòng thương xót của Chúa. Xin ban cho chúng con ơn biết xấu hổ vì những gì chúng con đã làm, xấu hổ vì đã thờ ngẫu tượng kinh khủng này, vì đã khinh thường và tự hủy hoại chính thân xác chúng con, mà chính Chúa đã dựng nên từ bùn đất, đã ban sự sống bằng hơi thở sự sống của Chúa. Đừng bao giờ nữa, Chúa ơi, đừng để như thế bao giờ nữa!”[232].
  3. Chúng ta cũng không được quên những quả bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagasaki. Một lần nữa, “tôi tưởng niệm tất cả các nạn nhân, và tôi nghiêng mình trước sức mạnh và phẩm giá của những người sống sót qua những khoảnh khắc đầu tiên ấy, nhiều năm sau họ vẫn mang trên da thịt mình sự đau đớn khủng khiếp, và mang trong tinh thần mình những hạt giống của sự chết tiếp tục tiêu hao sức sống của họ… Chúng ta không thể cho phép các thế hệ hiện tại và tương lai đánh mất ký ức về những gì đã xảy ra. Đó là một ký ức giúp bảo đảm và khích lệ việc xây dựng một tương lai công bằng và huynh đệ hơn”[233]. Chúng ta cũng không được quên những cuộc bách hại, nạn buôn nô lệ, và những vụ tàn sát người bản xứ vẫn tiếp tục tại nhiều nước khác nhau, cũng như nhiều biến cố lịch sử khác nữa vẫn làm cho chúng ta xấu hổ về nhân loại của mình. Cần phải nhớ những biến cố ấy, nhớ lại luôn luôn. Chúng ta không bao giờ được trơ lì mất cảm xúc trước các biến cố ấy.
  4. Ngày nay, thật dễ bị cám dỗ để lật sang trang khác, để nói rằng mọi chuyện ấy xảy ra lâu rồi và ta nên nhìn về tương lai. Đừng như vậy, nhân danh Chúa! Chúng ta không bao giờ có thể tiến tới trước mà không hồi tưởng về quá khứ; chúng ta không tiến bộ nếu không có một ký ức trung thực và rõ ràng. Chúng ta cần “giữ sống động ngọn lửa của lương tâm tập thể, làm chứng cho các thế hệ theo sau về sự kinh dị của những gì đã xảy ra”, vì lời chứng ấy “đánh thức và bảo tồn ký ức về các nạn nhân, để lương tâm nhân loại có thể trổi dậy khi đứng trước mọi tham vọng thống trị và hủy diệt”[234]. Chính các nạn nhân – các cá nhân, các nhóm xã hội, và các quốc gia – cần phải làm như thế, để họ không đầu hàng trước tâm thức dẫn đến việc biện minh cho những sự trả đũa và mọi loại bạo lực nhân danh sự dữ nặng nề mà họ đã chịu. Vì lý do này, tôi nghĩ cần phải nhớ lại không chỉ những điều kinh tởm ấy, mà còn tất cả những ai – ở giữa sự phi nhân và tồi tệ như thế – đã giữ phẩm giá của mình, và với những cử chỉ lớn hay nhỏ, họ đã chọn đứng về phía liên đới, tha thứ và huynh đệ. Nhớ lại điều tốt lành cũng là một điều tốt lành.

Thứ tha không phải là quên lãng

  1. Tha thứ không có nghĩa là quên lãng. Hay nói đúng hơn, đứng trước một thực tại không thể phủ nhận được, không thể giảm nhẹ hay che giấu được, thì sự tha thứ vẫn là điều có thể. Đứng trước một hành động không bao giờ có thể được chấp nhận, được biện minh hay bỏ qua, thì chúng ta vẫn có thể tha thứ. Đứng trước một điều gì đó không thể bị quên lãng vì bất cứ lý do nào, chúng ta vẫn có thể tha thứ. Nếu tha thứ là nhưng không, thì nó có thể được thể hiện ngay cả cho một người không hối hận và không có khả năng xin sự tha thứ.
  2. Những ai tha thứ thực sự thì không quên lãng, nhưng là từ bỏ việc bị chiếm hữu bởi chính sức mạnh hủy diệt này mà họ đã từng là nạn nhân. Họ phá vỡ cái vòng ác nghiệt; họ chặn đứng sự lấn tới của các lực tàn phá. Họ chọn không làm lan tràn trong xã hội cái tinh thần trả thù mà sớm hay muộn nó sẽ quay lại đòi trả giá. Sự trả thù không bao giờ thực sự làm thỏa mãn các nạn nhân. Một số tội ác thì kinh khủng và tàn độc đến nỗi hình phạt đối với những người gây ra chúng không đền bù được sự thiệt hại. Ngay cả việc tử hình kẻ phạm tội cũng sẽ không đủ, cũng không có bất cứ hình thức hành hạ nào là tương xứng với những đau khổ đã gây ra cho nạn nhân. Trả thù không giải quyết được gì cả.
  3. Điều này không có nghĩa là miễn hình phạt. Công lý được tìm kiếm cách đúng đắn chỉ từ tình yêu đối với chính công lý, từ lòng tôn trọng đối với các nạn nhân, như một cách phòng tránh những tội ác mới và bảo vệ công ích, chứ không phải như một nút xả trút giận. Sự tha thứ, đó chính là những gì cho phép tìm kiếm công lý mà không rơi vào cái vòng luẩn quẩn của sự báo thù, cũng không rơi vào sự bất công của sự quên lãng.
  4. Khi các bất công xảy ra ở cả hai phía, thì thật quan trọng việc xem xét kỹ liệu chúng có hệ trọng như nhau, hay hơn kém nhau cách nào đó. Bạo lực gây ra bởi nhà nước, với việc sử dụng các cơ cấu và quyền lực, thì không ở trên cùng bình diện như bạo lực do các nhóm riêng biệt nào đó. Trong mọi tình huống, người ta không thể nói rằng những đau khổ do bất công của chỉ một bên cần phải được ghi nhớ. Các giám mục Croatia đã tuyên bố rằng “chúng ta mắc nợ cùng một lòng kính trọng đối với mọi nạn nhân vô tội. Không thể có những khác biệt do chủng tộc, quốc gia, tôn giáo hay đảng phái”[235].
  5. Tôi nguyện xin Thiên Chúa “chuẩn bị tâm hồn chúng ta để gặp gỡ những người anh chị em vượt qua những khác biệt về ý tưởng, ngôn ngữ, văn hóa, và tôn giáo. Chúng ta hãy xin Chúa xức dầu cho toàn thể chúng ta để chữa lành vết thương của những sai sót, hiểu lầm và tranh cãi. Và chúng ta hãy xin Chúa sai chúng ta đi, với sự khiêm tốn và hiền lành, đến những con đường đầy rủi ro nhưng hiệu quả của việc tìm kiếm hòa bình”[236].

Chiến tranh và án tử hình

  1. Có hai tình huống cực đoan có thể được đưa ra như một giải pháp trong những hoàn cảnh đặc biệt gay cấn, mà không nhận ra rằng, đó là những giải pháp sai lầm, không giải quyết được những vấn đề mà họ đang cố gắng vượt qua và cuối cùng chỉ thêm những nhân tố hủy diệt mới vào cấu trúc xã hội, quốc gia và toàn cầu. Đó là về chiến tranh và hình phạt tử hình.

Sự bất công của chiến tranh

  1. “Lòng kẻ mưu điều ác chất đầy chuyện lừa đảo, người cổ võ hoà bình được chan chứa niềm vui” (Cn 12,20). Tuy nhiên có những người tìm các giải pháp trong chiến tranh, vốn thường phát triển mạnh bằng một sự đổ vỡ các mối liên hệ, những tham vọng thống trị, những lạm dụng quyền lực, nỗi sợ những người khác, và khuynh hướng nhìn sự đa dạng như một chướng ngại vật[237]. Chiến tranh không phải là bóng ma của quá khứ, mà đã trở thành mối đe dọa thường trực. Thế giới ngày càng nhận thấy khó khăn hơn trên hành trình chậm chạp tìm kiếm hòa bình mà nó đã thực hiện và đang bắt đầu sinh hoa kết trái.
  2. Vì các điều kiện bùn nổ chiến tranh lại đang được tạo ra, tôi nhắc nhớ rằng “chiến tranh là sự phủ nhận mọi quyền và là một hành động xâm lược mạnh mẽ đối với môi trường. Nếu mong muốn phát triển con người toàn diện thực sự cho tất cả mọi người, thì nhiệm vụ tránh chiến tranh giữa các quốc gia và các dân tộc phải được tiếp tục không mệt mỏi. Để đạt được mục tiêu này, cần phải đảm bảo nguyên tắc pháp luật không bị kiểm soát và luôn luôn tìm kiếm thương lượng, vai trò trung gian và trọng tài, như trong Hiến chương Liên hợp quốc đã đề xuất, là một quy phạm pháp luật cơ bản thực sự”[238]. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, 75 năm của Liên hợp quốc, và kinh nghiệm của 20 năm đầu tiên của thiên niên kỷ này cho thấy rằng, việc áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế là thực sự hiệu quả, và việc không tuân thủ các chuẩn mực ấy sẽ là điều rất tệ hại. Các Hiến chương của Liên Hiệp Quốc, tôn trọng và áp dụng với tính minh bạch và sự chân thành, là một điểm bắt buộc của tài liệu tham khảo cho công lý và là một kênh cho hòa bình. Nhưng điều này có nghĩa là không che giấu ý định giả mạo hoặc đặt lợi ích cục bộ của một quốc gia, hoặc lợi ích nhóm lên trên lợi ích chung toàn cầu. Nếu quy chuẩn được coi là một công cụ được sử dụng khi nó thuận lợi, và tránh được điều đó khi nó không thuận lợi, các lực lượng không thể kiểm soát được tung ra gây tổn hại lớn cho xã hội, những người yếu nhất, tình huynh đệ, môi trường và di sản văn hóa, với những tổn thất không thể bù đắp được cho cộng đồng toàn cầu.
  3. Đây là cách dễ dàng lựa chọn chiến tranh đằng sau tất cả các loại lý do được cho là nhân đạo, tự vệ hoặc phòng ngừa, thậm chí sử dụng đến việc thao túng bóp méo thông tin. Trên thực tế, trong những thập kỷ gần đây, tất cả các cuộc chiến tranh đều được cho là “chính đáng”.  Sách Giáo Lý của Giáo hội Công giáonói về khả năng của một hợp pháp bảo vệ thông qua lực lượng quân sự, mà mục đích chứng minh rằng một số “điều kiện nghiêm ngặt cho tính chính đáng về luân lý”[239] phải được đáp ứng. Nhưng nó dễ dàng rơi vào cách giải thích quá rộng về quyền khả thi này. Đây là cách họ muốn biện minh cho các cuộc tấn công thậm chí được coi là “phòng vệ”, hay những hành động chiến tranh vốn khó tránh, họ gây ra “những sự dữ và hỗn loạn trầm trọng hơn cả sự dữ cần được loại trừ”[240]. Vấn đề là sự phát triển các vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học, và những khả năng to lớn ngày càng được cung ứng bởi các công nghệ mới, đã trao cho chiến tranh một sức mạnh hủy diệt không thể kiểm soát được trên vô số người dân vô tội. Sự thật là “chưa bao giờ nhân loại có sức mạnh như thế trên chính mình, nhưng không có gì bảo đảm rằng sức mạnh ấy sẽ được sử dụng một cách khôn ngoan”[241]. Chúng ta không còn có thể nghĩ về chiến tranh như một giải pháp, bởi vì sự nguy hiểm của nó xem ra luôn luôn lớn hơn những ích lợi được kỳ vọng của nó. Với thực tế này, ngày nay rất khó để duy trì các tiêu chí hợp lý đã thành toàn trong các thế kỷ trước để nói về một “cuộc chiến tranh chính nghĩa” nào đó có thể xảy ra. Hãy chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá![242].
  4. Điều quan trọng cần nói thêm là, với sự phát triển của toàn cầu hóa, có thể xuất hiện như một giải pháp tức thì hoặc thiết thực cho một vài địa điểm trên trái đất, giải phóng một chuỗi các yếu tố bạo lực thường xuyên ngầm ảnh hưởng đến toàn bộ hành tinh và mở ra một hành trình mới và những cuộc chiến trong tương lai tồi tệ hơn. Trong thế giới của chúng ta không còn chỉ có những “mảng” chiến tranh ở nước này hay nước khác, mà còn là một “cuộc thế chiến được phân từng mảnh”, bởi vì vận mệnh của các quốc gia được liên kết chặt chẽ với nhau trên bình diện quốc tế.
  5. Như thánh Gioan XXIII đã nói: “thật vô lý khi cho rằng chiến tranh là một phương tiện thích hợp để sửa chữa quyền công lý bị vi phạm”[243]. Ngài khẳng định điều này trong thời kỳ quốc tế đang căng thẳng mạnh mẽ, và do đó bày tỏ mong muốn lớn về hòa bình đang lan rộng trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Ngài củng cố niềm tin rằng, các lý do cho hòa bình thì mạnh hơn bất kỳ tính toán nào về lợi ích cá nhân và mạnh hơn bất kỳ sự tin tưởng nào vào việc sử dụng vũ khí. Tuy nhiên, các cơ hội có được khi kết thúc chiến tranh lạnh đã không được nắm bắt thỏa đáng, do thiếu một tầm nhìn về tương lai và thiếu một ý thức về vận mệnh chung của chúng ta. Vì thế, nỗi kinh hoàng lừa dối của chiến tranh lại xuất hiện.
  6. Mỗi cuộc chiến đều khiến thế giới trở nên tồi tệ hơn những gì nó đã tìm thấy. Chiến tranh là một thất bại của chính trị và của nhân loại, một sự đầu hàng đáng xấu hổ, một thất bại trước những sức mạnh của sự dữ. Chúng ta đừng chỉ ở trong những cuộc thảo luận lý thuyết mà thôi, nhưng chúng ta hãy tiếp xúc với những vết thương, hãy để chúng ta chạm vào thân thể đầy thương tích của các nạn nhân. Một lần nữa, chúng ta hãy nhìn lại biết bao nhiêu thường dân bị thảm sát, bị coi như “thiệt hại tài sản thế chấp”. Chúng ta hãy hỏi chính các nạn nhân ấy. Chúng ta hãy chú ý đến những người tị nạn, những người bị nhiễm phóng xạ nguyên tử hoặc các cuộc tấn công hóa học, những phụ nữ mất con, những trẻ em bị tật nguyền hoặc bị tước mất tuổi thơ của chúng. Chúng ta hãy chú ý đến sự thật của những nạn nhân bị bạo hành này, hãy nhìn vào thực tế bằng con mắt của họ và lắng nghe câu chuyện của họ với tấm lòng rộng mở. Do đó, chúng ta sẽ có thể nhận ra vực thẳm của sự ác nằm ở trọng tâm của chiến tranh. Và chúng ta cũng sẽ không bối rối khi bị coi là ngây thơ vì đã chọn lựa hòa bình.
  7. Ngay cả các tiêu chuẩn sẽ là không đủ, nếu chúng ta nghĩ rằng giải pháp cho các vấn đề hiện tại là việc người ta chùn tay lại vì lo sợ, hay sự đe dọa của các vũ khí hạt nhân, hóa học hay sinh học. Bởi vì “nếu chúng ta xem xét những mối đe dọa lớn đối với hòa bình và an ninh trong nhiều khía cạnh của họ trong thế giới đa cực này của thế kỷ XXI, chẳng hạn như chủ nghĩa khủng bố, những xung đột không cân sức, an ninh mạng, các vấn đề môi trường, nghèo đói, thì nhiều nghi ngờ nảy sinh về việc không có khả năng răn đe hạt nhân như một phản ứng hữu hiệu đối với những thách thức này. Những lo ngại này càng có ý nghĩa lớn hơn khi chúng ta xem xét những hậu quả thảm khốc về nhân đạo và môi trường bắt nguồn từ việc sử dụng vũ khí hạt nhân với những tác động tàn phá bừa bãi và không thể kiểm soát theo thời gian và không gian… Chúng ta cũng phải tự hỏi mình rằng sự cân bằng dựa trên nỗi sợ hãi bền vững như thế nào, khi nó thực sự có xu hướng làm gia tăng nỗi sợ hãi và phá hoại mối quan hệ tin cậy giữa các dân tộc. Hòa bình và ổn định quốc tế không thể được xây dựng dựa trên cảm giác an toàn giả tạo, dựa trên nguy cơ hủy diệt lẫn nhau hoặc tiêu diệt hoàn toàn, đơn giản chỉ dựa trên việc duy trì cân bằng quyền lực… Trong bối cảnh này, mục tiêu cuối cùng là loại bỏ toàn bộ vũ khí hạt nhân trở thành vừa là một thách thức vừa là một mệnh lệnh luân lý và nhân đạo… Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng hơn và hiện tượng toàn cầu hóa có nghĩa rằng bất cứ sự đáp trả nào đối với sự đe dọa của vũ khí hạt nhân phải có tính tập thể và phối hợp, dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Sự tin tưởng này chỉ có thể được xây dựng xuyên qua việc đối thoại được định hướng phục vụ công ích, chứ không phải nhằm bảo vệ những lợi ích riêng hay được che đậy Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và toàn cầu hóa có nghĩa là bất kỳ phản ứng nào mà chúng ta đưa ra đối với mối đe dọa từ vũ khí hạt nhân đều phải mang tính tập thể và phối hợp, dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Sự tin tưởng này chỉ có thể được xây dựng thông qua một cuộc đối thoại thực sự hướng tới lợi ích chung chứ không phải hướng tới việc bảo vệ các lợi ích bị che đậy hoặc hoặc riêng tư”[244]. Với nguồn tài chính dành cho vũ khí cũng như các khoản chi tiêu quân sự khác, chúng ta hãy thiết lập một Quỹ toàn cầu[245] với mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ nạn đói và vì sự phát triển của các nước nghèo nhất, để cư dân của họ không còn sử dụng các giải pháp bạo lực hoặc lừa đảo, cũng như họ không cần phải rời bỏ quê hương đất nước của mình để tha phương cầu thực nhằm có một cuộc sống xứng nhân phẩm hơn.

Án tử hình

  1. Vẫn có một cách khác nữa để loại trừ người khác, không nhắm các quốc gia mà nhắm các cá nhân. Đó là án tử hình. Thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố rõ ràng và chắc chắn rằng, điều này là không phù hợp trong lĩnh vực luân lý và không còn cần thiết trong lĩnh vực hình sự nữa[246]. Chúng ta không thể thoái lui khỏi lập trường này. Ngày nay chúng ta tuyên bố rõ ràng rằng “án tử hình là điều không thể chấp nhận được”[247] và Giáo hội dấn thân mạnh mẽ để kêu gọi bãi bỏ án tử hình trên toàn thế giới[248].
  2. Trong Tân Ước, khi các cá nhân được yêu cầu không tự ý mình đòi công lý (x. Rm 12,17.19), cũng có một sự nhìn nhận rằng các nhà cầm quyền cần áp đặt các án phạt đối với những kẻ làm điều ác (x. Rm 13,4; 1Pr 2,14). Thật vậy, “cuộc sống dân sự, được cấu trúc xung quanh các cộng đồng có tổ chức, cần có các quy tắc chung sống, việc vi phạm tự do cần phải có phản ứng thích hợp”[249]. Điều này có nghĩa rằng cơ quan công quyền hợp pháp có thể và phải “áp dụng các hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của các hành vi tội phạm”[250], và “sự độc lập cần thiết trong lĩnh vực luật pháp phải được bảo đảm cho cơ quan tư pháp”[251].
  3. Từ những thế kỷ đầu của Giáo hội, một số người rõ ràng đã chống lại án tử hình. Ví dụ như Lactantius lập luận rằng “không nên phân biệt đối xử; việc giết một con người luôn luôn là một tội ác”[252]. Đức Giáo hoàng Nicôla I đã kêu gọi phải có các cố gắng để “tránh dùng án tử hình không chỉ đối với người vô tội, mà còn đối với tất cả những kẻ phạm tội nữa”[253]. Trong phiên tòa xét xử những kẻ sát nhân đã sát hại hai linh mục, thánh Augustinô yêu cầu quan tòa không lấy mạng họ. Và ngài đã tự biện minh cho mình như vậy: “Chúng tôi không phản đối việc các vị tước quyền tự do phạm tội của những kẻ ác này. Đúng hơn, chúng tôi mong rằng công lý phải được thực thi mà không tước đi mạng sống của họ, hay hủy hoại phần nào đó của thân thể họ. Đồng thời, chúng tôi mong ước rằng, bằng những biện pháp chế tài theo luật pháp, họ sẽ chuyển từ trạng thái điên cuồng, mất lý trí, trở thành con người điềm tĩnh và sáng suốt, từ những kẻ làm những điều ác thành những con người hữu ích. Đây cũng gọi là sự lên án, nhưng mọi người sẽ hiểu đó là lợi ích chứ không phải là tra tấn, và cần thời gian còn lại để sám hối ăn năn, phải được gọi là một lợi ích hơn là một hình phạt… Hãy căm giận tội ác mà đừng quên yếu tố con người. Đừng nhằm thỏa mãn ước muốn trả thù trước những hành động tàn bạo của tội nhân, nhưng hãy thực hiện ý định chữa lành vết thương của những tội nhân đó”[254].
  4. Nỗi sợ hãi và thù hận dễ dẫn đến việc hiểu các hình phạt một cách đầy thù hận, nếu không muốn nói là tàn nhẫn, thay vì hiểu chúng như một phần của một tiến trình chữa lành và tái hòa nhập xã hội. Ngày nay, “cả trong một số lĩnh vực chính trị và một số phương tiện truyền thông, bạo lực và trả thù đôi khi được kích động, công khai và riêng tư, không chỉ chống lại những người có trách nhiệm gây ra tội ác, mà còn chống lại những người bị nghi ngờ phạm pháp nữa, dù có chứng cứ hay không. Có xu hướng cố tình tạo ra những kẻ thù: những nhân vật điển hình, những người tập trung vào bản thân tất cả những đặc điểm mà xã hội cho là nguy hiểm. Cơ chế hình thành những hình ảnh này cũng giống như vào thời điểm đó, cho phép mở rộng các ý tưởng phân biệt chủng tộc”[255]. Điều này đã làm tăng thêm nguy hiểm cho biện pháp đang phổ biến tại một số quốc gia, đó là giam giữ, bỏ tù người ta mà không qua xét xử, và đặc biệt là án tử hình.
  5. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh “không thể tưởng tượng rằng ngày nay các Quốc gia không thể có bất kỳ biện pháp nào khác ngoài hình phạt tử hình để bảo vệ cuộc sống của người dân khác trước những kẻ hung dữ quá khích”. Đặc biệt trầm trọng ở đây là những vụ hành quyết một cách phi pháp, đó là những vụ “cố ý giết người do một số nhà nước hay mật vụ của họ ra tay, thường được ngụy trang dưới dạng như những vụ chạm súng với các tội phạm, hay được giải thích như là hậu quả ngoài ý muốn của việc dùng vũ lực đúng mức, cần thiết và có lý do, theo đúng quy định của pháp luật”[256].
  6. “Các lý do chống lại án tử hình thì có rất nhiều và cũng được nhiều người biết đến. Giáo hội đã có dịp kêu gọi chú ý đến một số lý do, như khả năng xét xử sai lầm và việc sử dụng hình phạt ấy bởi các chế độ độc tài và toàn trị, vốn sử dụng nó như một công cụ để đàn áp bất đồng chính kiến ​​hoặc đàn áp các nhóm thiểu số tôn giáo và văn hóa, tức tất cả các nạn nhân mà luật pháp của các chế độ ấy gọi là ‘những kẻ chống đối’. Tất cả các Kitô hữu và những người thiện chí ngày nay được mời gọi đấu tranh không chỉ cho việc hủy bỏ án tử hình, dù án hợp pháp hay bất hợp pháp, trong mọi hình thức của nó, mà còn được mời gọi làm việc để cải thiện các điều kiện lao tù, vì tôn trọng nhân phẩm của những con người bị tước mất tự do. Tôi muốn nối kết những điều này với án tù chung thân… Một án chung thân chính là một án tử hình được che giấu”[257].
  7. Chúng ta hãy nhớ rằng “ngay cả kẻ sát nhân cũng không đánh mất phẩm giá cá nhân của mình và chính Thiên Chúa trở thành người bảo lãnh cho hắn”[258]. Việc kiên quyết bác bỏ án tử hình cho thấy mức độ có thể nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người và chấp nhận rằng họ có một vị trí trong vũ trụ này. Bởi vì, nếu tôi không phủ nhận phẩm giá ấy nơi những kẻ tội phạm tệ hại nhất, tôi cũng sẽ không chối bỏ phẩm giá với bất kỳ ai. Tôi sẽ cho mọi người khả năng chia sẻ hành tinh này với tôi, bất chấp những gì có thể chia cắt chúng ta.
  8. Tôi kêu gọi những Kitô hữu còn nghi ngờ và bị cám dỗ nhượng bộ trước bất kỳ hình thức bạo lực nào, hãy ghi nhớ những lời này trong sách ngôn sứ Isaia: “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày” (2,4). Đối với chúng ta, lời tiên tri này ứng nghiệm nơi Đức Giêsu Kitô. Đấng đã nói dứt khoát khi trông thấy một môn đệ bị cám dỗ dùng bạo lực: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52). Những lời này vang âm lại lời cảnh cáo xưa: “Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra” (St 9,5-6). Phản ứng của Đức Giêsu, phát xuất từ chính Thánh Tâm Người một cách tự phát, vượt qua khoảng cách hàng thế kỷ và cho đến ngày nay như một lời nhắc nhở liên tục cho ta.

CHƯƠNG 8:

CÁC TÔN GIÁO PHỤC VỤ TÌNH HUYNH ĐỆ TRÊN THẾ GIỚI

  1. Các tôn giáo khác nhau, dựa trên việc đánh giá mỗi con người như một thụ tạo được gọi là con cái Thiên Chúa, cống hiến một đóng góp quý giá cho việc xây dựng tình huynh đệ và bảo vệ công lý trong xã hội. Đối thoại giữa những người thuộc các tôn giáo khác nhau không chỉ được thực hiện vì mục đích ngoại giao, lòng nhân hậu hay sự khoan dung mà thôi. Như các Giám mục Ấn Độ đã dạy, “mục tiêu của đối thoại là thiết lập tình hữu nghị, hòa bình, hòa hợp, và chia sẻ các giá trị và kinh nghiệm đạo đức và thiêng liêng trên tinh thần chân lý và tình yêu thương”[259].

Nền tảng tối ưu

  1. Các tín hữu chúng ta nghĩ rằng, nếu không có sự cởi mở với Cha của tất cả mọi người, sẽ không có lý do vững chắc và ổn định để kêu gọi tình huynh đệ. Chúng ta tin chắc rằng “chỉ với nhận thức rằng chúng ta không phải là trẻ mồ côi, mà là những người con, thì chúng ta mới có thể sống hòa bình với nhau”[260]. Bởi vì “tự nó, lý trí có khả năng đón nhận sự bình đẳng giữa những con người với nhau, và mang lại sự ổn định cho sự chung sống công dân của mình, nhưng nó không thể thiết lập tình huynh đệ”[261].
  2. Về vấn đề này, tôi muốn trích dẫn câu nói đáng nhớ sau đây: “Nếu không có chân lý siêu việt, trong sự vâng phục mà con người đạt được bản sắc đầy đủ của mình, thì không có nguyên tắc chắc chắn nào để đảm bảo mối liên hệ giữa con người với nhau. Tư lợi của họ với tư cách là một giai cấp, một nhóm hay một quốc gia chắc chắn sẽ khiến họ đối lập với nhau. Nếu một người không đón nhận chân lý siêu việt, thì sức mạnh quyền lực sẽ lấn át, và mỗi người có xu hướng sử dụng đầy đủ các phương tiện theo ý mình để áp đặt lợi ích của mình hoặc ý kiến ​​của mình mà không quan tâm đến quyền lợi của người khác. … Căn nguyên của chủ nghĩa toàn trị hiện đại được tìm thấy trong việc phủ nhận phẩm giá siêu việt của con người, như hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, do đó, về bản chất, bản tính của Người là chủ thể của các quyền mà không ai có thể vi phạm – không cá nhân nào, nhóm nào, tầng lớp, quốc gia hoặc liên bang. Thậm chí không phải số đông của các cơ quan xã hội có thể vi phạm những quyền này, bằng cách đi ngược lại với các nhóm thiểu số”[262].
  3. Từ kinh nghiệm đức tin của chúng ta và từ sự khôn ngoan tích lũy qua nhiều thế kỷ, nhưng cũng từ những bài học rút ra từ nhiều yếu kém và thất bại của chúng ta, chúng ta là những tín đồ của các tôn giáo khác nhau, biết rằng việc làm chứng cho Chúa có lợi cho xã hội của chúng ta. Nỗ lực tìm kiếm Thiên Chúa với tấm lòng chân thành, miễn là không bao giờ bị các mục đích tư tưởng hoặc tư lợi làm cho chúng ta nhụt chí, giúp chúng ta nhìn nhận nhau như những người bạn đồng hành, thực sự là anh chị em của nhau. Chúng ta tin chắc rằng “khi nhân danh một ý thức hệ, dù có nỗ lực loại bỏ Thiên Chúa khỏi một xã hội, thì xã hội đó sẽ bị kết liễu với việc thờ ngẫu tượng, và rất nhanh sau đó mọi con người nam nữ đánh mất phương hướng, nhân phẩm của họ bị chà đạp và quyền của họ bị vi phạm. Chúng ta thấu hiểu biết bao đau khổ gây ra bởi sự phủ định tự do lương tâm và tự do tôn giáo, và vết thương đó đã để lại cho một nhân loại nghèo khổ vì thiếu hy vọng và lý tưởng dẫn dắt nó như thế nào”[263].
  4. Cần phải thừa nhận rằng “trong số những nguyên nhân quan trọng nhất gây ra các cuộc khủng hoảng của thế giới hiện đại là lương tâm con người vô cảm, xa rời các giá trị tôn giáo và chủ nghĩa cá nhân thịnh hành kèm theo những triết lý duy vật coi thường con người và đưa ra các giá trị vật chất và thế tục, thay cho những nguyên tắc tối cao và siêu việt”[264]. Thật sai lầm khi tiếng nói duy nhất được lắng nghe trong cuộc tranh luận công khai là tiếng nói của những “chuyên gia” và quyền lực. Cần có chỗ cho những suy tư phát sinh từ các truyền thống tôn giáo, vốn là kho tàng kinh nghiệm và minh triết qua hàng thế kỷ. Vì “các tác phẩm kinh điển về tôn giáo có thể chứng tỏ ý nghĩa trong mọi thời đại; các tác phẩm này có một sức mạnh bền bỉ [để mở ra những chân trời mới, kích thích suy tư, mở rộng tâm trí]”. Tuy nhiên, chúng lại dễ bị xem thường, bởi hệ quả của “sự thiển cận của một chủ nghĩa duy lý nhất định nào đó”[265].
  5. Vì những lý do này, trong khi tôn trọng quyền tự trị của đời sống chính trị, Giáo hội không hạn chế sứ vụ của mình trong phạm vi riêng tư. Ngược lại, “Giáo hội không thể và không được đứng bên lề” trong việc xây dựng một thế giới tươi đẹp hơn, hoặc không “đánh thức năng lượng tinh thần” có thể đóng góp vào sự tốt đẹp hơn của xã hội[266]. Đúng là các lãnh đạo tôn giáo không được tham gia vào các đảng phái chính trị, vốn là lãnh vực thích hợp của giáo dân, nhưng họ cũng không được phủ nhận chiều kích chính trị của chính cuộc sống[267], liên quan đến sự quan tâm thường xuyên đến lợi ích chung và quan tâm đến sự phát triển toàn diện của con người. Giáo hội “có vai trò công cộng hơn và trên các hoạt động bác ái và giáo dục của mình”. Giáo hội làm việc cho “sự tiến bộ của nhân loại và tình huynh đệ phổ quát”[268]. Giáo hội không tuyên bố phải cạnh tranh với các quyền lực trần thế, mà tự hiến mình là “một gia đình giữa các gia đình, đây là Giáo hội, mở ra để làm chứng trong thế giới ngày nay, mở ra cho niềm hy vọng và tình yêu đối với Chúa và những người. anh ấy yêu bằng một tình yêu ưu đãi. Một ngôi nhà với những cánh cửa rộng mở. Giáo hội là một ngôi nhà với những cánh cửa rộng mở, bởi vì Giáo hội chính là một người mẹ”[269]. Và noi gương Đức Maria, Thân Mẫu của Đức Giêsu, “chúng ta muốn trở thành một Giáo hội phục vụ, đi ra khỏi nhà và đi ra khỏi nơi thờ phượng của mình, đi ra khỏi các bí tích của mình, để đồng hành với cuộc sống, để duy trì hy vọng, là dấu chỉ của sự hiệp nhất… xây những cây cầu, phá bỏ mọi bức tường ngăn cách, ươm mầm cho sự hòa giải[270].

Bản sắc Kitô giáo

  1. Giáo hội coi trọng những cách thức mà Thiên Chúa hoạt động trong các tôn giáo khác, và “không bao giờ phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo ấy. Giáo hội luôn chân thành tôn trọng những cách hành động và lối sống cũng như những huấn giới và giáo thuyết của các tôn giáo… vẫn thường phản ánh một tia sáng nào đó của chính Chân lý đang chiếu soi tất cả mọi người”[271]. Tuy nhiên, các Kitô hữu chúng ta ý thức rất nhiều rằng “nếu âm nhạc của Tin Mừng không còn vang lên trong chính con người chúng ta, chúng ta sẽ mất đi niềm vui bắt nguồn từ lòng trắc ẩn, tình yêu dịu dàng sinh ra từ lòng tin tưởng, khả năng hòa giải vốn có nguồn gốc của nó, trong sự hiểu biết rằng chúng ta đã được tha thứ và được sai đi. Nếu âm nhạc của Tin Mừng không còn vang lên trong nhà của chúng ta, nơi quảng trường của chúng ta, nơi làm việc của chúng ta, đời sống chính trị và kinh tế của chúng ta, thì chúng ta sẽ dập tắt giai điệu thúc giục chúng ta đấu tranh cho phẩm giá của mọi người nam nữ”[272]Những người khác uống từ các nguồn khác. Đối với chúng ta, nguồn gốc của phẩm giá con người và tình huynh đệ là trong Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Chính từ đó, nảy sinh “cho tư tưởng Kitô giáo và cho hành động của Giáo hội, quyền ưu tiên được trao cho mối tương quan, cho sự gặp gỡ với mầu nhiệm thiêng liêng của bên kia, đối với sự hiệp thông phổ quát với toàn thể nhân loại, như một ơn gọi cho tất cả mọi người”[273].
  2. Được kêu gọi nhập thể ở khắp mọi nơi và hiện diện trong nhiều thế kỷ ở khắp mọi nơi trên trái đất – đó chính là ý nghĩa của từ ngữ “công giáo” – Giáo hội có thể hiểu, từ kinh nghiệm của mình về ân sủng và tội lỗi, vẻ đẹp của lời mời gọi đến tình yêu phổ quát. Bởi vì “tất cả mọi thứ là con người đều liên quan đến chúng ta… Bất cứ nơi nào hội đồng các dân tộc họp nhau để thiết lập các quyền và nghĩa vụ của con người, khi họ cho phép, chúng tôi rất vinh dự được ngồi lại với nhau”[274]. Đối với nhiều Kitô hữu, cuộc hành trình huynh đệ này còn có một người Mẹ, đó là Đức Maria. Khi lãnh nhận tình mẫu tử phổ quát này dưới chân thập giá (x. Ga 19,26), Mẹ không chỉ quan tâm đến Đức Giêsu mà còn quan tâm đến “những người con còn lại trong dòng dõi của Mẹ” (x. Kh 12,17). Với quyền năng của Đấng Phục Sinh, Mẹ muốn sinh ra một thế giới mới, nơi tất cả chúng ta là anh chị em với nhau, nơi có chỗ cho mỗi người bị vứt bỏ khỏi xã hội của chúng ta, nơi công lý và hòa bình được tỏa sáng.
  3. NhữngKitô hữu chúng tôi yêu cầu rằng, ở những quốc gia mà chúng tôi là thiểu số, quyền tự do phải được đảm bảo, cũng như chúng tôi ưu tiên quyền tự do đó cho những người không phải là là Kitô hữu nơi họ là thiểu số. Có một quyền cơ bản của con người không được quên trên con đường của tình huynh đệ và hòa bình. Đó là quyền tự do tôn giáo cho tín đồ của mọi tôn giáo. Sự tự do đó tuyên bố rằng chúng ta có thể “xây dựng sự hòa hợp và hiểu biết giữa các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau; làm chứng rằng những điểm chung mà chúng ta có là rất nhiều và quan trọng đến mức chúng ta có thể tìm thấy một cách chung sống thanh thản, có trật tự và hòa bình, chào đón những khác biệt và với niềm vui được trở thành anh chị em với nhau, trong tư cách là con cái của một Thiên Chúa”[275].
  4. Đồng thời, chúng ta cầu xin Chúa củng cố sự hiệp nhất trong Giáo hội, một sự hiệp nhất được phong phú hóa với những khác biệt được hòa giải nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Bởi vì “chúng ta đã được rửa tội trong cùng một Thần Khí để tạo thành một thân thể duy nhất” ( 1Cr 12,13), ​​mà trong đó mỗi thành viên đều có sự đóng góp đặc biệt của mình. Như thánh Augustinô đã nói, “tai nhìn qua mắt, mắt nghe qua tai”[276]. Việctiếp tục làm chứng cho cuộc hành trình gặp gỡ giữa các giáo đoàn Kitô hữu khác nhau cũng là điều cấp thiết. Chúng ta không thể quên ước muốn này được Đức Giêsu Kitô bày tỏ rằng: “để tất cả nên một” (Ga 17,21). Nghe lời kêu gọi của Người, chúng ta buồn bã nhận ra rằng, sự đóng góp về tính ngôn sứ và tinh thần của sự hiệp nhất giữa tất cả các Kitô hữu vẫn còn thiếu trong tiến trình toàn cầu hóa. Mặc dù vậy, “ngay cả khi chúng ta thực hiện cuộc hành trình hướng tới sự hiệp thông trọn vẹn, chúng ta đã có bổn phận phải làm chứng chung cho tình yêu của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người bằng cách cùng nhau phục vụ nhân loại”[277].

Tôn giáo và bạo lực

  1. Một hành trình hòa bình là có thể giữa các tôn giáo. Điểm xuất phát của nó phải là cách nhìn của Thiên Chúa. “Chúa không nhìn bằng con mắt, nhưng Chúa thấy bằng trái tim. Và tình yêu của Chúa thì chan hòa đối với tất cả mọi người như nhau, không phân biệt tôn giáo. Ngay cả khi họ là người vô thần đi chăng nữa, thì tình yêu của Chúa vẫn như thế. Khi ngày cuối cùng đến, và có đủ ánh sáng để nhìn mọi thứ như thực tế, chúng ta sẽ thấy mình khá ngạc nhiên”[278].
  2. Theo đó, “chúng ta là những người tin Chúa, cần tìm dịp để đối thoại với nhau và cùng nhau hành động vì lợi ích chung và thúc đẩy người nghèo. Điều này không có nghĩa là chúng ta chấp nhận thỏa hiệp hoặc che giấu những xác tín sâu sắc nhất của mình, khi chúng ta gặp gỡ những người có suy nghĩ khác với mình… Vì căn tính của chúng ta càng sâu sắc, mạnh mẽ và phong phú, chúng ta càng có khả năng làm phong phú cho người khác bằng sự đóng góp thích đáng của mình”[279]. Chúng ta là những người tin vào Chúa, được thách thức trở về cội nguồn của mình, để tập trung vào những gì là thiết yếu: tôn thờ Thiên Chúa và yêu thương người thân cận, kẻo một số chứng từ của chúng ta, lại bị loại ra khỏi bối cảnh, kết thúc bằng những hình thức khinh miệt, thù hận, bài ngoại hoặc loại trừ người khác. Sự thật rằng bạo lực không có chỗ trong các niềm tin tôn giáo căn bản của chúng ta, mà chỉ là một sự xuyên tạc tôn giáo mà thôi.
  3. Sựthờ phượng chân thành và khiêm tốn đối với Thiên Chúa “không phải do phân biệt đối xử, hận thù và bạo lực, mà là tôn trọng tính thánh thiêng của sự sống, tôn trọng phẩm giá và tự do của người khác, và dấn thân yêu thương đối vì lợi ích của mọi người”[280]. Quả thật, “ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Vì thế, “chủ nghĩa khủng bố là đáng trách và đe dọa an ninh của con người – cho dù họ ở phương Đông hay phương Tây, phương Bắc hay phương Nam – và gieo rắc sự hoảng sợ, kinh hoàng và bi quan, nhưng điều này không phải do tôn giáo, ngay cả khi những kẻ khủng bố lấy tôn giáo làm công cụ khủng bố. Vì vậy, đó là do sự diễn giải sai lầm về các văn bản tôn giáo và các chính sách liên quan đến đói nghèo, bất công, áp bức và kiêu căng. Đó là lý do tại sao cần phải ngừng hỗ trợ các phong trào khủng bố được thúc đẩy bằng tài chính, cung cấp vũ khí và chiến lược, và bằng các nỗ lực biện minh cho các phong trào này, thậm chí sử dụng các phương tiện truyền thông. Tất cả những điều này phải được coi là tội ác quốc tế đe dọa an ninh và hòa bình thế giới. Chủ nghĩa khủng bố đó phải bị lên án dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó”[281]. Niềm tin tôn giáo về ý nghĩa thánh thiêng của cuộc sống con người cho phép chúng ta “nhận ra những giá trị căn bản của nhân loại chung, những giá trị nhân danh chúng ta có thể và phải hợp tác, xây dựng và đối thoại, tha thứ và phát triển; điều này sẽ cho phép các tiếng nói khác nhau hiệp nhất trong việc tạo ra một giai điệu của sự cao quý và vẻ đẹp siêu phàm, thay vì tiếng hò hét cuồng tín của hận thù”[282].
  4. Đôi khi bạo lực theo chủ nghĩa chính thống, trong một số nhóm của bất kỳ tôn giáo nào, được bộc phát bởi sự liều lĩnh của các nhà lãnh đạo của họ. Nhưng “điều răn về hòa bình được khắc sâu trong các truyền thống tôn giáo mà chúng tôi đại diện… Là những nhà lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi được kêu gọi trở thành ‘những người đối thoại’ thực sự, hợp tác xây dựng hòa bình không phải với tư cách là người trung gian mà là những người hòa giải đích thực. Người trung gian tìm cách làm hài lòng tất cả các bên, nhằm tạo ra lợi nhuận cho chính họ. Trái lại, người hòa giải là người không giữ gì cho riêng mình, nhưng quảng đại dấn thân, cho đến khi tiêu hao, vì hiểu rằng lợi ích duy nhất là hòa bình. Mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành một người kiến tạo hòa bình, hiệp nhất chứ không chia rẽ, dập tắt hận thù chứ không nuôi dưỡng hận thù, bằng cách mở ra những con đường đối thoại chứ không phải bằng cách xây dựng những bức tường mới”[283].

Lời đề nghị

  1. Trong cuộc gặp gỡ huynh đệ mà tôi vui mừng nhớ lại đó, cùng với Đại giáo trưởng Ahmad Al-Tayyeb, “chúng tôi tuyên bố rằng, các tôn giáo không bao giờ được kích động chiến tranh, thái độ thù hận, thù địch và cực đoan, cũng như không được kích động bạo lực hoặc đổ máu. Những thực tế bi thảm này là hậu quả của sự hiểu sai lệch các giáo lý của các tôn giáo. Chúng là kết quả của sự thao túng chính trị đối với các tôn giáo và từ những diễn giải của các nhóm tôn giáo, trong quá trình lịch sử, đã lợi dụng sức mạnh của tình cảm tôn giáo trong trái tim của những con người nam nữ… Thiên Chúa, Đấng Toàn năng, không cần phải như vậy, không cần được ai bảo vệ và không muốn dùng danh của mình để khủng bố mọi người[284]. Vì thế, tôi muốn nhắc lại ở đây lời kêu gọi vì hòa bình, công lý và tình huynh đệ mà chúng ta đã cùng nhau thực hiện:

“Nhân danh Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng nên mọi người bình đẳng về quyền lợi, bổn phận và phẩm giá, và đã kêu gọi họ sống với nhau như anh chị em một nhà, cư ngụ trên trái đất, và loan truyền những giá trị tốt đẹp trên hành tinh này, đó là bác ái và hòa bình;

“Nhân danh mạng sống những con người vô tội mà Thiên Chúa đã cấm sát hại, khẳng định rằng, ai giết một người thì coi như giết cả nhân loại, ai cứu một người thì coi như cứu cả nhân loại;

Nhân danh những người nghèo, những người bất hạnh, thiếu thốn và bị gạt ra ngoài lề xã hội mà Thiên Chúa đã truyền cho chúng ta phải giúp đỡ họ, như một bổn phận bắt buộc đối với tất cả mọi người, cách riêng, những người giàu có và những người có phương tiện;

“Nhân danh trẻ mồ côi, người góa phụ, người tị nạn và những người bị lưu vong khỏi quê hương và đất nước của họ; nhân danh tất cả các nạn nhân của chiến tranh, những người bị bắt bớ và bất công; nhân danh kẻ yếu, những người sống trong sợ hãi, các tù nhân chiến tranh, và những người bị tra tấn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, không có bất kỳ sự phân biệt nào;

“Nhân danh những dân tộc đã đánh mất an ninh, hòa bình và khả năng chung sống, trở thành nạn nhân của sự hủy diệt, thiên tai và chiến tranh;

“Nhân danh tình huynh đệ đại đồng bao trùm tất cả mọi người, liên kết họ lại với nhau, và làm cho họ được bình đẳng;

“Nhân danh tình huynh đệ này đã bị tấn công bởi các chính sách cực đoan và chia rẽ, bởi các hệ thống lợi nhuận vô độ hoặc bởi các khuynh hướng tư tưởng thù hận thao túng hành động và tương lai của mọi con người nam nữ;

“Nhân danh tự do mà Thiên Chúa đã ban cho tất cả loài người, Đấng dựng lên họ tự do và phân phát cho họ những ân huệ này;

“Nhân danh công lý và lòng thương xót, nền tảng của sự thịnh vượng và nền tảng của đức tin;

“Nhân danh tất cả mọi người thiện chí hiện diện ở khắp nơi trên thế giới;

“Nhân danh Thiên Chúa và mọi điều đã nêu trên, chúng tôi tuyên bố đón nhận một nền văn hóa đối thoại làm con đường; hợp tác lẫn nhau như quy tắc ứng xử; hiểu biết lẫn nhau như là phương pháp và tiêu chuẩn”[285].

* * *

  1. Trong không gian suy tư về tình huynh đệ đại đồng này, tôi đặc biệt được cảm hứng cách bởi thánh Phanxicô Assisi, và cũng bởi những anh chị em khác ngoài Công giáo: như Martin Luther King, Desmond Tutu, Mahatma Gandhi, và còn nhiều người khác nữa. Nhưng tôi muốn kết thúc bằng cách tưởng nhớ một người có đức tin sâu sắc, một người, từ kinh nghiệm sâu sắc của mình về Chúa, đã thực hiện một cuộc hành trình biến đổi, cho đến khi cảm thấy mình là anh em với tất cả mọi người. Đó là Chân phước Charles de Foucauld.
  2. Với lý tưởng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, Chân phước Charles de Foucauld đã đi đến đồng hóa mình với những người nghèo, những người bị bỏ rơi ở những góc xa khuất nhất của sa mạc Phi Châu. Trong khung cảnh đó, ngài đã diễn tả ao ước cảm nhận mình là một người anh em của mọi người[286], và đã xin một người bạn rằng, “hãy cầu xin Chúa cho tôi thực sự là người anh em của tất cả mọi người”[287]. Cuối cùng, ngài muốn trở thành “một người anh em đại đồng”[288]. Dĩ nhiên, chỉ bằng cách tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ nhất mà ngài đã có thể trở thành người anh em của tất cả mọi người. Nguyện xin Thiên Chúa khơi dậy những ước mơ này nơi mỗi chúng ta. Amen.

Lời cầu nguyện với Đấng Sáng Tạo

Lạy Chúa là Cha của gia đình nhân loại chúng con,

Chúa đã dựng nên loài người với phẩm giá bình đẳng:

xin đổ tràn tâm hồn chúng con một tinh thần huynh đệ,

và khơi lên trong chúng con ước mơ gặp gỡ cách mới mẻ,

một ước mơ đối thoại, công lý và hòa bình.

Xin thúc đẩy chúng con kiến tạo một xã hội lành mạnh hơn,

và một thế giới có phẩm giá hơn,

một thế giới không còn đói nghèo, bạo lực và chiến tranh.

 

Xin mở lòng chúng con

hướng đến mọi dân nước trên trái đất này.

Xin giúp chúng con nhận ra sự thiện hảo và vẻ đẹp

mà Chúa đã gieo vãi nơi mỗi người chúng con,

nhờ đó chúng con kiến tạo những mối dây hiệp nhất,

những dự án chung, và cùng chia sẻ những ước mơ. Amen.

Lời cầu nguyện hiệp nhất các Kitô hữu

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi tình yêu,

từ sự hiệp thông sâu sắc nơi sự sống thánh thiêng của Chúa,

xin tuôn đổ trên chúng con tình yêu thương huynh đệ dạt dào.

Xin ban cho chúng con tình yêu

biểu lộ nơi các hành động của Đức Giêsu,

nơi gia đình Nadarét, và trong cộng đoàn tín hữu sơ khai.

 

Xin giúp các Kitô hữu chúng con biết sống Tin Mừng,

Nhận ra Đức Kitô nơi mọi người,

nhận ra Chúa chịu đóng đinh,

trong những nỗi thống khổ của những người bị bỏ rơi,

và bị lãng quên trên thế giới này,

và nhận ra Chúa sống lại nơi mỗi anh chị em,

những người đang kiến tạo một khởi đầu mới.

 

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến,

và tỏ cho chúng con thấy vẻ đẹp của Chúa,

được chiếu tỏa nơi mọi dân tộc trên khắp địa cầu,

để một lần nữa chúng con có thể nhận ra rằng,

mọi người đều quan trọng, và mọi người đều cần thiết,

là những vẻ mặt khác nhau của một nhân loại duy nhất

mà Thiên Chúa đã yêu thương. Amen.

Ban hành tại Assisi, tại mộ thánh Phanxicô, ngày 3.10.2020, trước ngày Lễ thánh Phanxicô, năm thứ tám triều Giáo hoàng của tôi.

Phanxicô

 

 

[1] Huấn Ngôn, 6,1. Bản dịch tiếng Anh trong cuốn sách Thánh Phanxicô Assisi: Các Văn Kiện Sơ khởi, vol 1., New York, London, Manila (1999), tr. 131.

[2] Sđd., số 25: op. cit., tr. 136.

[3] THÁNH PHANXICÔ ASSISI, Tu Luật Sơ khởi của Dòng Anh Em Hèn Mọn (Regula non bullata), 16: 3.6: op. cit. tr. 74.

[4] ELOI LECLERC, OFM, Kiếp lưu đày và sự ngọt ngào, Nxb Phan Sinh, Paris, 1962, tr. 205.

[5] Văn kiện về Tình Huynh đệ Nhân loại vì Hòa bình thế giới và Chung Sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano, ngày 4-5.2.2019, tr. 6.

[6] Diễn từ tại Cuộc gặp Đại kết và Liên tôn với Giới Trẻ, Skopje, Bắc Macedonia (ngày 7.5.2019): L’Osservatore Romano, ngày 9.5.2019, tr. 9.

[7] Bài phát biểu trước Nghị viện Châu Âu, Strasbourg (25.11.2014): AAS 106 (2014), tr. 996.

[8] Cuộc gặp gỡ với các nhà chức trách, xã hội dân sự và đoàn ngoại giao, Santiago, Chile (16.1.2018): AAS 110 (2018), 256.

[9] Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 19: AAS 101 (2009), tr. 655.

[10] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus vivit (25.3.2019), số 181.

[11] CARDINAL RAÚL SILVA HENRÍQUEZ, Bài giảng Te Deum, Santiago de Chile (18.9.1974).

[12] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 57: AAS 107 (2015), 869.

[13] Diễn văn với Đoàn Ngoại giao được Tòa Thánh công nhận (11.1.2016): AAS 108 (2016), tr. 120.

[14] Diễn văn với Đoàn Ngoại giao được Tòa thánh công nhận (13.1.2014): AAS 106 (2014), tr. 83-84.

[15] x. Bài phát biểu trước Tổ chức “Centesimus Annus pro Pontifice” (25.5.2013): Insegnamenti I, 1 (2013), 238.

[16] x. THÁNH PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967): AAS 59 (1967), 264.

[17] Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 22: AAS 101 (2009), 657.

[18] Bài phát biểu trước các Cơ quan Dân sự, Tirana, Albania (ngày 21.9.2014): AAS 106 (2014), 773.

[19] Sứ điệp gửi tới những người tham gia Hội thảo quốc tế “Nhân quyền trong thế giới đương đại: Thành tựu, Thiếu sót và Hạn chế” (ngày 10.12.2018): L’Osservatore Romano, ngày 10-11.12.2018, tr. 8.

[20] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 212: AAS 105 (2013), tr. 1108.

[21] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2015 (8.12.2014), số 3-4: AAS 107 (2015), tr. 69-71.

[22] Sđd., số 5: AAS 107 (2015), tr. 72.

[23] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2016 (8.12.2015), số 2: AAS 108 (2016), tr. 49.

[24] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2020 (8.12.2019), 1: L’Osservatore Romano, ngày 13.12.2019, tr. 8.

[25] Bài diễn văn về Vũ khí hạt nhân, Nagasaki, Nhật Bản (24.11.2019): L’Osservatore Romano, ngày 25-26.11.2019, tr. 6.

[26] Đối thoại với Sinh viên và Giáo sư của Đại học San Carlo ở Milan (6.4.2019): L’Osservatore Romano, ngày 8-9.4.2019, tr. 6.

[27] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano, ngày 4-5.2.2019, tr. 6.

[28] Diễn văn với Thế giới Văn hóa, Cagliari, Ý (22.9.2013): L’Osservatore Romano, 23-24.9.2013, tr. 7.

[29] Cộng đồng Nhân loại. Thư gửi Giám đốc Học viện Giáo hoàng về Sự sống nhân Kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập (6.1.2019), số 2.6: L’Osservatore Romano, ngày 16.1.2019, tr. 6-7.

[30] Sứ điệp video tới Hội nghị TED tại Vancouver (26.4.2017): L’Osservatore Romano , ngày 27.4.2017, tr. 7.

[31] Khoảnh khắc cầu nguyện ngoại thường trong thời gian đại dịch (27.3.2020): L’Osservatore Romano, 29.3.2020, tr. 10.

[32] Bài giảng ở Skopje, Bắc Macedonia (ngày 7.5.2019): L’Osservatore Romano, ngày 8.5.2019, tr. 12.

[33] x. Aeneid 1, 462: “Sunt lacrimae rerum et mentem mortalia tangunt”.

[34] “Historia… magistra vitae” (CICERO, De Oratore, 2, 6).

[35] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 204: AAS 107 (2015), tr. 928.

[36] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25.3.2019), số 91.

[37] Sđd., số 92.

[38] Sđd., số 93.

[39] ĐỨC BIỂN ĐỨC XVI, Sứ điệp Ngày Thế giới về Người di dân và Tị nạn 2013 (12.10.2012): AAS 104 (2012), 908.

[40] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25.3.2019), số 92.

[41] Sứ điệp Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn 2020 (13.5.2020): L’Osservatore Romano, 16.5.2020, tr. 8.

[42] Diễn văn trước Đoàn ngoại giao bên cạnh Tòa thánh (11.1.2016): AAS 108 (2016), 124.

[43] Diễn văn trước Đoàn ngoại giao bên cạnh Tòa thánh (ngày 13.1.2014): AAS 106 (2014), 84.

[44] Diễn văn trước Đoàn ngoại giao bên cạnh Tòa thánh (11.1.2016): AAS 108 (2016), 123.

[45] Sứ điệp Ngày Thế giới về Người Di dân và Tị nạn năm 2019 (27.5.2019): L’Osservatore Romano , 27-28.5.2019, tr. 8.

[46] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25.3.2019), số 88.

[47] Sđd., số 89.

[48] Tông huấn Gaudete et Exsultate (ngày 19.3.2018), số 115.

[49] Từ phim Pope Francis: A Man of His Word, của Wim Wenders (2018).

[50] Diễn văn trước các nhà chức trách, xã hội dân sự và đoàn ngoại giao, Tallinn, Estonia (25.9.2018): L’Osservatore Romano, 27.9.2018, tr. 7.

[51] x. Khoảnh khắc cầu nguyện đặc biệt trong thời kỳ đại dịch (27.3.2020): L’Osservatore Romano, ngày 29.3.2020, tr. 10; Sứ điệp cho Ngày Thế giới vì Người nghèo năm 2020 (13.6.2020), số 6: L’Osservatore Romano, ngày 14.6.2020, tr. 8.

[52] Lời chào đến những người trẻ tuổi tại Trung tâm Văn hóa Padre Félix Varela, Havana, Cuba (20.9.2015): L’Osservatore Romano, 21-22.9.2015, tr. 6.

[53] CÔNG ĐỒNG ĐẠI KẾT VATICANÔ II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes, số 1.

[54] THÁNH IRÊNÊ THÀNH LYONS, Adversus Haereses, II, 25, 2: PG 7/1, 798tt.

[55] Talmud Bavli (Talmud Babylon), Shabbat, 31a.

[56] Diễn văn với những người được hỗ trợ bởi các công trình từ thiện của Giáo hội, Tallinn, Estonia (25.9.2018): L’Osservatore Romano, 27.9.2018, tr. 8.

[57] Sứ điệp video tới Hội nghị TED tại Vancouver (26.4.2017): L’Osservatore Romano, ngày 27.4.2017, tr. 7.

[58] Bài giảng, trong Matthaeum, 50: 3-4: PG 58, 508.

[59] Sứ điệp tới Cuộc họp của các Phong trào Phổ quát, Modesto, California, Hoa Kỳ (10.2.2017): AAS 109 (2017), 291.

[60] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 235: AAS 105 (2013), 1115.

[61] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Sứ điệp cho Người khuyết tật, buổi đọc kinh Truyền Tin tại Osnabrück, Đức, (16.11.1980): Insegnamenti III, 2 (1980), 1232.

[62] CÔNG ĐỒNG ĐẠI KẾT VATICANÔ II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay Gaudium et Spes, số 24.

[63] Gabriel Marcel, Từ chối lời kêu gọi, ed. NRF, Paris, 1940, tr. 50.

[64] Buổi đọc kinh Truyền Tin (10.11.2019): L’Osservatore Romano, 11-12.11.2019, tr. 8.

[65] x. Thánh Tôma Aquinô: Scriptum super Sententiis, lib. 3, dist. 27, q. 1, a. 1, 4: “Dicitur amor extasim facere et fervere, quia quod fervet extra se bullit et explat”.

[66] Karol Wojtyła, Tình yêu và Trách nhiệm, London, 1982, tr. 126.

[67] Karl Rahner, Kleines Kirchenjahr. Ein Gang durch den Festkreis, Herderbücherei 901, Freiburg, 1981, tr. 30.

[68] Tu luật thánh phụ Biển Đức, chương 53,15: “Pauperum et peregrinorum maxime senstioni cura sollicite exhibeatur”.

[69] x. Tổng luận Thần học, II-II, q. 23, a. Số 7; thánh Augustinô, Contra Julianum , 4, 18: PL 44, 748: “Bao nhiêu thú vui mà những kẻ khốn nạn đã từ bỏ, hoặc để tăng kho báu của họ hoặc vì sợ thấy chúng giảm đi!”.

[70] “Secundum accepttionem divinam” (Scriptum super Sententiis, lib. 3, dist. 27, a. 1, q. 1, concl. 4).

[71] Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, Thông điệp Deus Caritas Est (25.12.2005), số 15: AAS 98 (2006), 230.

[72] Tổng luận Thần học, II-II, q. 27, a. 2, tương ứng.

[73] x. Sđd., I-II, q. 26, a. 3, tương ứng.

[74] Sđd., q. 110, a. 1, tương ứng.

[75] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2014 (8.12.2013), số 1: AAS 106 (2014), tr. 22.

[76] x. Buổi đọc kinh Truyền Tin (29.12.2013): L’Osservatore Romano, 30-31.12.2013, tr. 7; Diễn văn trước Đoàn ngoại giao bên cạnh Tòa thánh (ngày 12.1.2015): AAS 107 (2015), tr. 165.

[77] Sứ điệp Ngày thế giới về người khuyết tật (3.12.2019): L’Osservatore Romano, 4.12.2019, tr. 7.

[78] Diễn văn tại Hội nghị vì Tự do Tôn giáo với Cộng đồng Người nói tiếng Tây Ban Nha và Nhóm Di cư, Philadelphia, Pennsylvania, Hoa Kỳ (26.9.2015): AAS 107 (2015), 1050-1051.

[79] Diễn từ dành cho Giới trẻ, Tokyo, Nhật Bản (25.11.2019): L’Osservatore Romano, 25-26.11.2019, tr. 10.

[80] Trong những suy tư này, tôi đã được truyền cảm hứng bởi tư tưởng của Paul Ricoeur, “Le Socius et le prochain”, trong Histoire et Verité , ed. Le Seuil, Paris, 1967, tr. 113-127.

[81] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 190: AAS 105 (2013), 1100.

[82] Sđd., số 209: AAS 105 (2013), 1107.

[83] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 129: AAS 107 (2015), 899.

[84] Sứ điệp cho Sự kiện “Nền kinh tế Phanxicô” (ngày.5.2019): L’Osservatore Romano, ngày 12.5.2019, tr. 8.

[85] Bài phát biểu trước Nghị viện Châu Âu, Strasbourg (25.11.2014): AAS 106 (2014), tr. 997.

[86] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 229: AAS 107 (2015), 937.

[87] Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình 2016 (8.12.2015), số 6: AAS 108 (2016), tr. 57-58.

[88] Sự vững chắc có liên quan từ nguyên với thuật ngữ “đoàn kết liên đới”. Sự đoàn kết, theo nghĩa đạo đức – chính trị mà nó đã thực hiện trong hơn hai thế kỷ qua, dẫn đến một tổ chức xã hội ổn định và an toàn.

[89] Bài giảng, tại Havana, Cuba (20.9.2015): L’Osservatore Romano, 21-22.9.2015, tr. 8.

[90] Diễn văn trước những người tham gia hội nghị các phong trào phổ biến (28.10.2014): AAS 106 (2014), 851-852.

[91] x. Thánh Basiliô, Bài giảng XXI, Quod rebus mundanis adhaerendum non sit, 3.5: PG 31, 545-549; Regulae brevius linesatae, 92: PG 31, 1145-1148; Thánh Phêrô Kim Ngôn , Sermo 123: PL 52, 536-540; Thánh Ambrosio, De Nabuthe, 27.52 : PL 14, 738ff .; Thánh Augustinô, trong Iohannis Evangelium, 6, 25: PL 35, 1436tt.

[92] De Lazaro Concio, II, 6: PG 48, 992D.

[93] Regula Pastoralis, III, 21: PL 77, 87.

[94] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (ngày 1.5.1991), số 31: AAS 83 (1991), 831.

[95] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 93: AAS 107 (2015), 884.

[96] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens (14.9.1981), số 19: AAS 73 (1981), 626.

[97] x. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 172.

[98] Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967): AAS 59 (1967), 268.

[99] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), số 33: AAS 80 (1988), 557.

[100] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 95: AAS 107 (2015), 885.

[101] Sđd., số 129: AAS 107 (2015), 899.

[102] x. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967): AAS 59 (1967), 265; Đức Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 16: AAS 101 (2009), tr. 652.

[103] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 93: AAS 107 (2015), 884-885; Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 189-190: AAS 105 (2013), 1099-1100.

[104] Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, Thư mục vụ chống phân biệt chủng tộc, Hãy mở rộng tâm hồn chúng ta: Lời kêu gọi bền bỉ vì tình yêu thương (tháng 11.2018).

[105] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 51: AAS 107 (2015), 867.

[106] x. Đức Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 6: AAS 101 (2009), 644.

[107] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (ngày 1.5.1991), số 35: AAS 83 (1991), 838.

[108] Bài phát biểu về Vũ khí Hạt nhân, tại Nagasaki, Nhật Bản (24.11.2019): L’Osservatore Romano, 25-26.11.2019, tr. 6.

[109] x. CÁC GIÁM MỤC MÊXICÔ VÀ HOA KỲ, Thư Mục vụ Liên quan đến Di Dân: “Những người xa lạ không còn cùng nhau trên hành trình hy vọng” (tháng 1.2003).

[110] Buổi tiếp kiến chung (3.4.2019): L’Osservatore Romano, ngày 4.4.2019, tr. 8.

[111] x. Sứ điệp Ngày Thế giới về Người Di dân và Tị nạn năm 2018 (14.1.2018): AAS 109 (2017), 918-923.

[112] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano, 4-5.2.2019, tr. 7.

[113] Diễn văn trước Đoàn ngoại giao bên cạnh Tòa thánh, ngày 11.1.2016: AAS 108 (2016), tr. 124.

[114] Sđd., tr. 122.

[115] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25.3.2019), số 93.

[116] Sđd., số 94.

[117] Diễn văn trước các nhà chức trách, Sarajevo, Bosnia và Herzegovina (6.6.2015): L’Osservatore Romano, ngày 7.6.2015, tr. 7.

[118] Latinoamérica. Conversaciones con Hernán Reyes Alcaide, ed. Planeta, Buenos Aires, 2017, 105.

[119] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano, 4-5.2.2019, tr. 7.

[120] ĐỨC BIỂN ĐỨC XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 67: AAS 101 (2009), 700.

[121] Sđd., số 60: AAS 101 (2009), 695.

[122] Sđd., số 67: AAS 101 (2009), 700.

[123] HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 447.

[124] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 234: AAS 105 (2013), 1115.

[125] Sđd., số 235: AAS 105 (2013), 1115.

[126] Sđd.

[127] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Diễn văn với Đại diện Văn hóa Argentina, Buenos Aires, Argentina (12.4.1987), 4: L’Osservatore Romano, 14.4.1987, tr. 7.

[128] x. ID., Diễn văn dành cho Giáo triều Rôma (21.12.1984), số 4: AAS 76 (1984), tr. 506.

[129] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Querida Amazonia (ngày 2.2.2020), số 37.

[130] GEORG SIMMEL, Brücke und Tür. Essays des Philosophen zur Geschichte, religion, Kunst und Gesellschaft, ed. Michael Landmann, Köhler-Verlag, Stuttgart, 1957, tr. 6.

[131] x. JAIME HOYOS-VÁSQUEZ, SJ, “Lógica de las relaciones sociales. Reflexión onto-lógica ”, Revista Universitas Philosophica, 15-16 (12.1990-6.1991), Bogotá, tr. 95-106.

[132] ANTONIO SPADARO, SJ, Le orme di un pastore. Una talkingazione con Papa Francesco, in JORGE MARIO BERGOLIO – PAPA FRANCESCO, Nei tuoi Tachi è la mia parola. Omelie e discorsi di Buenos Aires 1999-2013 , Rizzoli, Milan 2016, XVI; x. Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 220-221: AAS 105 (2013), 1110-1111.

[133] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 204: AAS 105 (2013), 1106.

[134] x. Sđd.: AAS 105 (2013), 1105-1106.

[135] Sđd., số 202: AAS 105 (2013), 1105.

[136] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 128: AAS 107 (2015), 898.

[137] Diễn văn trước Đoàn ngoại giao cạnh Tòa thánh (ngày 12.1.2015): AAS 107 (2015), 165; x. Diễn văn với những người tham gia Hội nghị Thế giới về Các Phong trào Phổ biến (28.10.2014): AAS 106 (2014), 851-859.

[138] Có thể thấy một điểm tương tự đối với phạm trù Kinh Thánh về Vương quốc Thiên Chúa.

[139] PAUL RICOEUR, Histoire et Verité, ed. Le Seuil Paris, 1967, tr. 122.

[140] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 129: AAS 107 (2015), 899.

[141] ĐỨC BIỂN ĐỨC XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 35: AAS 101 (2009), 670.

[142] Diễn văn dành cho những người tham gia Hội nghị Thế giới về các Phong trào Phổ biến (28.10.2014): AAS 106 (2014), tr. 858.

[143] Sđd.

[144] Diễn văn dành cho những người tham gia Hội nghị Thế giới về các Phong trào Phổ biến (ngày 5.11.2016): L’Osservatore Romano, ngày 7-8.11.2016, trang 4-5.

[145] Sđd.

[146] Sđd.

[147] Thông điệp Laudato Si’  (24.5.2015), số 189: AAS 107 (2015), 922.

[148] Bài phát biểu trước các Thành viên của Đại hội đồng Tổ chức Liên hợp quốc, New York (25.9.2015): AAS 107 (2015), 1037.

[149] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 175: AAS 107 (2015), 916-917.

[150] x. ĐGH BIỂN ĐỨC XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 67: AAS 101 (2009), 700-701.

[151] Sđd.,: AAS 101 (2009), 700.

[152] HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 434.

[153] Bài phát biểu trước các Thành viên của Đại hội đồng Tổ chức Liên hợp quốc, New York (ngày 25.9.2015): AAS 107 (2015), 1037, 1041.

[154] HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 437.

[155] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới năm 2004, số 5: AAS 96 (2004), 117.

[156] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 439.

[157] UB TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI CỦA CÁC GIÁM MỤC PHÁP, Tuyên bố Régeoniter la Politique (17.2.1999).

[158] Thông điệp Laudato Si’  (24.5.2015), số 189: AAS 107 (2015), 922.

[159] Sđd., số 196: AAS 107 (2015), 925.

[160] Sđd., số 197: AAS 107 (2015), 925.

[161] Sđd., số 181: AAS 107 (2015), 919.

[162] Sđd., số 178: AAS 107 (2015), 918.

[163] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC BỒ ĐÀO NHA, Thư Mục vụ Responsabilidade Solidária pelo Bem Comum (15.9.2003), 20; x. Thông điệp Laudato Si’  (24.5.2015), số 159: AAS 107 (2015), 911.

[164] Thông điệp Laudato Si’  (24.5.2015), số 191: AAS 107 (2015), 923.

[165] ĐỨC PIÔ XI, Diễn văn với Liên đoàn Sinh viên Đại học Công giáo Ý (18.12.1927): L’Osservatore Romano, 23.12.1927, tr. 3.

[166] x. ID., Thông điệp Quadragesimo Anno (15.5.1931): AAS 23 (1931), 206-207.

[167] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 205: AAS 105 (2013), 1106.

[168] ĐGH Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 2: AAS 101 (2009), 642.

[169] Thông điệp Laudato Si’  (24.5.2015), số 231: AAS 107 (2015), 937.

[170] ĐGH Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 2: AAS 101 (2009), 642.

[171] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 207.

[172] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Redemptor Hominis (4.3.1979), số 15: AAS 71 (1979), 288.

[173] x. THÁNH PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), số 44: AAS 59 (1967), 279.

[174] Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 207.

[175] ĐGH Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 2: AAS 101 (2009), 642.

[176] Sđd., số 3: AAS 101 (2009), 643.

[177] Sđd., số 4: AAS 101 (2009), 643.

[178] Sđd.

[179] Sđd., số 3: AAS 101 (2009), 643.

[180] Sđd., số: AAS 101 (2009), 642.

[181] Học thuyết luân lý Công giáo, theo giáo huấn của thánh Tôma Aquinô, phân biệt giữa các hành vi “được gợi ý” và hành vi “được ban truyền”; x. Summa Theologiae, I-II, qq. 8-17; M. ZALBA, SJ, Theologiae Moralis Summa. Theologia Moralis Funfamentalis. Tractatus de Virtutibus Theologicis, ed. BAC, Madrid, 1952, vol. I,69; A. ROYO MARÍN, Teología de la Perfección Cristiana, ed. BAC, Madrid, 1962, 192-196.

[182] HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH, Bản tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 208.

[183] x. THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), số 42: AAS 80 (1988), 572-574; Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), số 11: AAS 83 (1991), 806-807.

[184] Phát biểu trước những người tham gia Cuộc họp Thế giới về các Phong trào Phổ biến (28.10.2014): AAS 106 (2014), 852.

[185] Bài phát biểu trước Nghị viện Châu Âu, Strasbourg (25.11.2014): AAS 106 (2014), 999.

[186] Bài phát biểu tại cuộc họp với các nhà chức trách và đoàn ngoại giao ở Cộng hòa Trung Phi, Bangui (29.11.2015): AAS 107 (2015), 1320.

[187] Bài phát biểu trước Hội đồng Liên hợp quốc, New York (25.9.2015): AAS 107 (2015), 1039.

[188] Diễn văn với những người tham gia Cuộc họp Thế giới về các Phong trào Phổ biến (28.10.2014): AAS 106 (2014), 853.

[189] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano , 4-5.2.2019, tr. 6.

[190] RENÉ VOILLAUME, Frères de tous, ed. Cerf, Paris, 1968, tr. 12-13.

[191] Sứ điệp video tới Hội nghị TED ở Vancouver (26.4.2017): L’Osservatore Romano, ngày 27.4.2017, tr. 7.

[192] Buổi tiếp kiến chung (18.2.2015): L’Osservatore Romano, ngày 19.2.2015, tr. 8.

[193] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 274: AAS 105 (2013), 1130.

[194] Sđd., số 279: AAS 105 (2013), 1132.

[195] Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình năm 2019 (8.12.2018), 5: L’Osservatore Romano, ngày 19.12.2018, tr. 8.

[196] Cuộc họp với các nhà lãnh đạo chính trị, kinh tế và văn hóa Brazil, Rio de Janeiro, Brazil (27.7.2013): AAS 105 (2013), 683-684.

[197] Tông huấn Querida Amazonia (ngày 2.2.2020), số 108.

[198] Từ phim Pope Francis: A Man of His Word, của Wim Wenders (2018).

[199] Sứ điệp Ngày Truyền thông Thế giới 2014 (24.1.2014): AAS 106 (2014), tr. 113.

[200] HỘI NGHỊ CÁC GIÁM MỤC CÔNG GIÁO ÚC, Ủy ban Công bằng Xã hội, Sứ mệnh và Phục vụ, Biến nó thành Sự thật: Cuộc gặp gỡ giữa con người thực sự trong thế giới kỹ thuật số của chúng ta (tháng 11.2019).

[201] Thông điệp Laudato Si’ (24.5.2015), số 123: AAS 107 (2015), 896.

[202] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Veritatis Splendor (6.8.1993), số 96: AAS 85 (1993), 1209.

[203] Là Kitô hữu, chúng ta cũng xác tín rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng của Người để chúng ta hành động như anh chị em với nhau.

[204] VINICIUS DE MORAES, Samba da Benção, từ bản thu âm Um encontro no Au bon Gourmet, Rio de Janeiro (2.8.1962).

[205] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 237: AAS 105 (2013), 1116.

[206] Sđd., số 236: AAS 105 (2013), 1115.

[207] Sđd., số 218: AAS 105 (2013), 1110.

[208] Tông huấn Amoris Laetitia (ngày 19.3.2016), số 100: AAS 108 (2016), 351.

[209] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2020 (8.12.2019), số 2: L’Osservatore Romano, ngày 13.12.2019, tr. 8.

[210] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC CÔNGÔ, Message au Peuple de Dieu et aux femmes et aux hommes de bonne volonté (9.5.2018).

[211] Bài phát biểu tại National Reconcmony Encunter, Villavicencio, Colombia (8.9.2017): AAS 109 (2017), 1063-1064, 1066.

[212] Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình 2020 (8.12.2019), số 3: L’Osservatore Romano, 13.12.2019, tr. 8.

[213] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC NAM PHI, Thư Mục vụ về Niềm Hy vọng Kitô giáo trong cuộc khủng hoảng hiện nay (tháng 5.1986).

[214] HỘI NGHỊ CÁC GIÁM MỤC HÀN QUỐC, Lời kêu gọi của Giáo hội Công giáo ở Hàn Quốc vì Hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên (15.8.2017).

[215] Gặp gỡ các nhà lãnh đạo chính trị, kinh tế và dân sự, Quito, Ecuador (7.7.2015): L’Osservatore Romano, ngày 9.7.2015, tr. 9.

[216] Cuộc gặp gỡ liên tôn với giới trẻ, Maputo, Mozambique (5.9.2019): L’Osservatore Romano, ngày 6.9.2019, tr. 7.

[217] Bài giảng, Cartagena de Indias, Colombia (10.9.2017): AAS 109 (2017), 1086.

[218] Cuộc họp với các nhà chức trách, Đoàn ngoại giao và Đại diện của Xã hội Dân sự, Bogotá, Colombia (ngày 7.9.2017): AAS 109 (2017), 1029.

[219] HỘI NGHỊ CÁC GIÁM MỤC CÔLÔMBIA, Por el bien de Colombia: diálogo, reconciliación y desarrollo integral (26.11.2019), tr. 4.

[220] Cuộc gặp với các nhà chức trách, xã hội dân sự và đoàn ngoại giao, Maputo, Mozambique (5.9.2019): L’Osservatore Romano, ngày 6.9.2019, tr. 6.

[221] HỘI NGHỊ KHOÁNG ĐẠI LẦN THỨ NĂM CỦA CÁC GIÁM MỤC MỸ CHÂU LATINH VÀ VÙNG CARIBBEAN, Tài liệu Aparecida (29.6.2007), tr. 398.

[222] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 59: AAS 105 (2013), 1044.

[223] Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), số 14: AAS 83 (1991), 810.

[224] Bài giảng trong Thánh lễ vì sự tiến bộ của các dân tộc, Maputo, Mozambique (6.9.2019): L’Osservatore Romano, ngày 7.9.2019, tr. 8.

[225] Arrival Ceremony, Colombo, Sri Lanka (13.1.2015): L’Osservatore Romano, 14.1.2015, tr. 7.

[226] Gặp gỡ các Trẻ em của “Trung tâm Bethany” và Đại diện của các Trung tâm Bác ái khác của Albania, Tirana, Albania (21.9.2014): Insegnamenti II, 2 (2014), 288.

[227] Sứ điệp video tới Hội nghị TED tại Vancouver (ngày 26.4. 2017): L’Osservatore Romano, ngày 27.4.2017, tr. 7.

[228] ĐỨC PIÔ XI, Thông điệp Quadragesimo Anno (15.5.1931): AAS 23 (1931), 213.

[229] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 228: AAS 105 (2013), 1113.

[230] Cuộc họp với Chính quyền Dân sự, Xã hội Dân sự và Đoàn Ngoại giao, Riga, Latvia (24.9.2018): L’Osservatore Romano, 24-25.9.2018, tr. 7.

[231] Arrival Ceremony, Tel Aviv, Israel (25.5.2014): Insegnamenti II, 1 (2014), 604.

[232] Thăm Đài tưởng niệm Yad Vashem, Giêrusalem (26.5.2014): AAS 106 (2014), 228.

[233] Diễn văn tại Đài tưởng niệm Hòa bình, Hiroshima, Nhật Bản (24.11.2019): L’Osservatore Romano, 25-26.11.2019, tr. 8.

[234] Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình 2020 (8.12.2019), số 2: L’Osservatore Romano, 13.12.2019, tr. 8.

[235] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC CROATIA, Thư nhân kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc Đại Chiến Thế giới thứ hai (1.5.1995).

[236] Bài giảng, tại Amman, Jordan (24.5.2014): Insegnamenti II, 1 (2014), 593.

[237] x. Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2020 (8.12.2019), số 1: L’Osservatore Romano, ngày 13.12.2019, tr. 8.

[238] Diễn văn trước các Thành viên của Đại hội đồng Liên hợp quốc, New York (25.9.2015): AAS 107 (2015), tr. 1041-1042.

[239] Tr. 2309.

[240] Sđd.

[241] Thông điệp Laudato Si’  (24.5.2015), số 104: AAS 107 (2015), 888.

[242] Ngay cả thánh Augustinô, người đã đặt ra khái niệm “chiến tranh chính nghĩa” một khái niệm mà ngày nay chúng ta không còn đề cao nữa, thánh nhân cũng khẳng định rằng “cần chấm dứt chiến tranh bằng đàm phán hơn là dùng vũ lực, bằng cách theo đuổi và giành lấy hòa bình thông qua hòa bình, và nhân loại không tôn vinh chiến tranh” (Epistola 229, 2: PL 33, 1020).

[243] Thông điệp Pacem in Terris (11.4.1963): AAS số 55 (1963), tr. 291.

[244] Sứ điệp gửi tới Hội nghị Liên hợp quốc để đàm phán về một công cụ ràng buộc hợp pháp để chấm dứt vũ khí hạt nhân (23.3.2017): AAS 109 (2017), 394-396.

[245] x. THÁNH PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967): AAS số 59 (1967), tr. 282.

[246] x. Thông điệp Evangelium Vitae (25.3.1995), số 56: AAS 87 (1995), 463-464.

[247] Diễn từ nhân Kỷ niệm 25 năm Ngày Ban hành Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo (11.10.2017): AAS 109 (2017), 1196.

[248] x. BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Thư gửi các Giám mục Về việc Sửa đổi Số 2267 của Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo về Án Tử hình (1.8.2018): L’Osservatore Romano, ngày 3.8.2018, tr. 8.

[249] Phát biểu trước các đại biểu của Hiệp hội Luật Hình sự Quốc tế (23.10.2014): AAS 106 (2014), 840.

[250] HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH, Bản Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 402.

[251] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Diễn văn trước Hiệp hội Thẩm phán Quốc gia (31.3.2000), số 4: AAS 92 (2000), 633.

[252] Divinae Institutiones VI, 20, 17: PL 6, 708.

[253] Epistola 97 (Responsa ad Consulta Bulgarorum), 25: PL 119, 991. “ipsi (Christo) non solum innoxios quosque, verum etiam et noxios a mortis exitio satagite cunctos eruere…”.

[254] Epistola ad Marcellinum 133, 1.2: PL 33, 509.

[255] Bài phát biểu trước các đại biểu của Hiệp hội Luật Hình sự Quốc tế (23.10.2014): AAS 106 (2014), 840-841.

[256] Sđd., 842.

[257] Sđd.

[258] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium Vitae (25.3.1995), số 9: AAS 87 (1995), 411.

[259] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC ẤN ĐỘ, Đáp ứng của Giáo hội ở Ấn Độ trước những thách thức ngày nay (9.3.2016).

[260] Bài giảng trong Thánh lễ tại Nhà Nguyện Sanctae Marthae (ngày 17.5.2020).

[261] ĐỨC BIỂN ĐỨC XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 19: AAS 101 (2009), 655.

[262] THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Centesimus Annus (1.5.1991), số 44: AAS 83 (1991), 849.

[263] Diễn văn với các nhà lãnh đạo của các tôn giáo khác và các nhóm Kitô hữu khác, tại Tirana, Albania (ngày 21.9.2014): Insegnamenti II, 2 (2014), tr. 277.

[264] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, tại Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano, 4-5.2.2019, tr. 6.

[265] Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 256: AAS 105 (2013), 1123.

[266] ĐỨC BIỂN ĐỨC XVI, Thông điệp Deus Caritas Est (25.12.2005), số 28: AAS 98 (2006), 240.

[267] “Con người là động vật chính trị”, ARISTOTLE, Chính trị, 1253a 1-3.

[268] ĐỨC BIỂN ĐỨC XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29.6.2009), số 11: AAS 101 (2009), 648.

[269] Diễn văn với các Cộng đồng Công giáo, tại Rakovski, Bulgaria (6.5.2019): L’Osservatore Romano, 8.5.2019, tr. 9.

[270] Bài giảng, tại Santiago de Cuba (22.9.2015): AAS 107 (2015), tr. 1005.

[271] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Tuyên ngôn về mối quan hệ của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo Nostra Aetate, số 2.

[272] Cầu nguyện Đại kết, tại Riga, Latvia (24.9.2018): L’Osservatore Romano, 24-25.9.2018, tr. 8.

[273] Lectio Divina, tại Đại học Giáo hoàng Lateranô, Rôma (26.3.2019): L’Osservatore Romano, 27.3.2019, tr. 10.

[274] THÁNH PHAOLÔ VI, Thông điệp Ecclesiam Suam (6.8.1964): AAS 56 (1964), tr. 650.

[275] Diễn văn với các nhà chức trách dân sự, tại Bethlehem, Palestine (ngày 25.5.2014): Insegnamenti II, 1 (2014), tr. 597.

[276] Enarrationes in Psalmos, 130, 6: PL 37, 1707.

[277] Tuyên bố chung của Đức Giáo hoàng Phanxicô và Thượng phụ Đại kết Batôlômeô, Giêrusalem (25.5.2014), số 5: L’Osservatore Romano, 26-27.5.2014, tr. 6.

[278] Trích từ bộ phim Pope Francis: A Man of His Word, của Wim Wenders (2018).

[279] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Querida Amazonia (ngày 2.2.2020), số 106.

[280] Bài giảng, tại Colombo, Sri Lanka (14.1.2015): AAS 107 (2015), tr. 139.

[281] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Roman , 4-5.2.2019, tr. 7.

[282] Bài phát biểu trước các nhà chức trách dân sự, Sarajevo, Bosnia-Herzegovina (6.6.2015): L’Osservatore Romano, ngày 7.6.2015, tr. 7.

[283] Diễn văn tại Hội nghị Quốc tế vì Hòa bình do Cộng đồng thánh Êgiđiô tổ chức (30.9.2013): Insegnamenti I, 1 (2013), 301-302.

[284] Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và Chung sống, Abu Dhabi (4.2.2019): L’Osservatore Romano, 4-5.2.2019, tr. 6.

[285] Sđd.

[286] x. CHARLES DE FOUCAULD, Suy Niệm về Kinh Lạy Cha (23.1.1897).

[287] Thư gửi Henry de Castries (ngày 29.11.1901).

[288] Thư gửi Madame de Bondy (ngày 7.1.1902). Thánh Phaolô VI đã dùng những lời này để ca ngợi sự dấn thân của Madame de Bondy: Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967): AAS số 59 (1967), tr. 263.


Liên quan khác