ĐỜI SỐNG ĐAN TU CHÍNH THỨC XUẤT HIỆN (phần II)

27/11/2018

Sau khi thánh Antôn qua đời, đời sống ẩn tu không những không mất đi, trái lại phong trào ẩn tu phát triển rất mạnh. Người ta kể lại rằng có khoảng trên 5000 ngàn ẩn sĩ sống ở các đồi núi, hay bên các dòng suối ở Aicập. Một con số đủ nói lên đời sống ẩn tu có sức cuốn hút đặc biệt đối với những tâm hồn thành tâm thiện chí muốn dâng đời mình để phụng sự Thiên Chúa.

Đời sống ẩn tu phát triển, nhưng đó chỉ là lối sống tự phát, nghĩa là mỗi vị được ơn Chúa soi dẫn, thúc đẩy rồi đi tìm cho mình một lối sống, một khung cảnh để tự tu, chứ không có một qui luật, một tổ chức hay thuộc một qui chế nào. Và dĩ nhiên lối sống này hoàn toàn mang tính cá nhân, chứ không có tính cộng đoàn. Vì mang tính cá nhân, cũng không thuộc một qui chế nào, nên tinh thần và trách nhiệm sống đời tu không cao. Nói cách khác, vì không có sự ràng buộc về tính pháp lý nên tinh thần tu không có gì bảo đảm.

Vì thế người ta lập ra những cộng đoàn, thay vì mỗi vị sống riêng lẻ biệt lập, thì ở đây tất cả đều sống chung với nhau, tất cả được gắn kết và ràng buộc với nhau qua một tu luật và dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của một bề trên. Đó là đời sống cộng đoàn.

1. Ở Đông Phương:

a. Thánh Pakôm(296-346).

Nếu gọi thánh Antôn là tổ phụ các nhà ẩn sĩ, thì thánh Pakôm thật xứng danh là tổ phụ các viện sĩ (đời sống cộng đoàn). Thánh Pakôm là một chiến binh quả cảm từng phục vụ trong đội quân hoàng gia Rôma, thánh nhân đã trở lại đạo Chúa bởi gương lành của một người kitô hữu. Sau khi trở lại, ngài cùng với người anh tên là Gioan vào rừng tu và lập một đan viện tại Thébaide (Aicập) vào năm 320. Đến năm 329, có nhiều người đến xin tu, nên có thêm năm đan viện khác được lập bên bờ sông Nil. Đan viện của ngài được lập thành cộng đoàn, tức là mọi sinh hoạt đều mang tính tập thể: sống chung, nguyện kinh chung, sinh hoạt chung. Nói cách khác, linh đạo của thánh Pakôm là linh đạo cộng đoàn. Lý tưởng hoàn thiện chỉ được thực hiện qua đời sống cộng đoàn, và một cuộc sống cộng đoàn thánh sẽ mang đến những trợ giúp hỗ tương trong đời sống thiêng liêng. Từ đó mỗi cá nhân giúp nhau hoàn thiện trong cộng đoàn qua việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

  Vì sống chung nên tổ chức cơ cấu của đan viện cũng theo tính tập thể: các đan viện lập ra được qui tụ lại thành từng tỉnh hội (hôị dòng), mỗi hội dòng gồm 3-4 nhà theo cơ cấu nhà mẹ nhà con để có sự tương trợ lẫn nhau.

Về thời khắc sinh hoạt hằng ngày tương đối thoáng, nhưng các đan sĩ vẫn được tự do trong việc khổ chế. Thánh Pakôm là người đầu tiên có công lập nên đời sống cộng tu và nó đã trở nên khuôn mẫu và là nền tảng cho mọi dòng tu trong Giáo hội. Tuy nhiên, trong tổ chức của ngài còn có những khuyết điểm, những giới hạn cần sửa đổi. Chẳng hạn con số trong mỗi cộng đoàn quá đông làm cho việc tuyển chọn, đào tạo gặp nhiều khó khăn; hoặc các đan sĩ được tự do trong việc khổ chế cũng không phải là điều tốt, vì nó làm cho đời sống cộng đoàn thêm phức tạp, đồng thời cũng tạo dịp phô trương không phải là điều tốt cho cá nhân. Tiếp đến là việc chưa có lời khấn. Đây là một khiếm khuyết lớn trong tổ chức của thánh Pakôm. Lời khấn là mối dây liên kết ràng buộc người đan sĩ với cộng đoàn, với bậc sống của mình. Vì thế, sau thánh Pakôm thì có thánh Basilio là người tiếp nối và bổ túc cho lối sống này.

 

b. Thánh Basilio(330-379)

Thánh Basilio chịu chức linh mục năm 364. Năm 370, sau khi Đức Giám mục Eusèbio từ trần thì thánh Basilio được bầu làm Giám mục và Tổng Giám mục Césarée. Ngài là bạn thân của thánh Grégorio Naziano hồi còn học ở Athènes (Hylạp). Khi chưa làm Giám mục, ngài vâng lời Đức cha Eusèbio sang Aicập, Mésopotamia, Palestina và Syria để nghiên cứu, thụ huấn và sống đời đan sĩ với các nhà ẩn sĩ thời danh ở đó. Ngài xem đây là cuộc hành hương về nguồn. Vì thời gian này không chỉ giúp ngài có những kinh nghiệm quí giá về đời sống đan tu, mà còn làm cho ngài thêm nên thánh thiện, thêm tinh thần dũng cảm của việc từ bỏ cũng như những đức tính cao quí mà ngài học được nơi các nhà ẩn sĩ như chống lại chính mình, chống lại ma quỷ. Sau này ngài viết: “Tôi thán phục đời sống của những con người chứng tỏ được họ thực sự mang cái chết của Chúa Giêsu trong thân xác mình và tôi mong ước chính tôi cũng sẽ đem hết năng lực bắt chước họ” (Quy luật thánh Basilio, chuyển dịch từ Pháp ngữ: Les Règles monastiques de saint Basile của Dom Léon, p 14).

Sau khi thụ huấn và sống với các nhà ẩn sĩ Aicập, Palestina, Mésopotamia và Syria, ngài đã lui về sống ở bờ sông Iris và lập tại đây một tu viện vào năm 358. Tại đây ngài soạn ra 2 cuốn tu luật mà quen gọi là luật lớn và luật nhỏ. Hai bộ luật này là kết quả thu lượm được từ những nhà ẩn sĩ mà ngài đã thụ huấn với họ. Luật của thánh Basilio dưới dạng hỏi thưa. Qua hai bộ luật này, ta có thể tóm kết những điều chính yếu sau đây:

– Quân bình: Thời khắc thường nhật của đời sống cộng đoàn được chia đều cho việc cầu nguyện, đọc Lời Chúa và lao động.

– Việc khổ chế: tất cả phải chừng mực (luật lớn 19, luật nhỏ 127). Kịch liệt chống lại những người theo chủ thuyết Manikê chủ trương khinh rẻ thân xác; tuyệt đối chống lại việc ăn chay theo ý riêng (luật nhỏ 129).

– Mỗi cộng đoàn với con số không quá đông.

– Chú tâm đến đời sống nội tâm: mục đích của việc huấn luyện là đạt tới sự trọn lành Phúc âm, người đan sĩ buộc giữ trọn các lời khuyên Phúc âm, không mảy may chuẩn chước.

Thánh Basilio đề cao đời sống chung, đời sống đó nhằm đến việc xây dựng con người trưởng thành. Người đan sĩ chỉ tìm gặp được Thiên Chúa và tha nhân, cũng như nhận ra con người thật của mình khi họ tìm được sự quân bình trong cuộc sống. Quân bình trong đời sống cầu nguyện, trong việc lao động, cũng như trong việc khổ chế. Thế nhưng những việc làm này lại được nuôi dưỡng, nâng đỡ, liên kết với nhau trong tình liên đới, tương thân tương ái trong đời sống cộng đoàn. Vì thế, quân bình đi liền với liên đới là điểm mạnh của luật thánh Basilio, và cô vắng là điều không có trong luật thánh Basilio. Vì sự cô vắng tuyệt đối làm cho con người ra nghèo nàn. Vì cô vắng thì còn đâu là liên đới, còn đâu sự cảm thông với tha nhân, với thế giới bên ngoài. Cũng chính sự liên đới làm cho người đan sĩ nhận ra chính mình, và cũng dám ra khỏi mình để đến với tha nhân. Đó là ý muốn của Thiên Chúa khi tạo dựng con người. Một người sống xa tha nhân thì không dễ nhận ra con người thật của mình, cũng không thể nhận ra những nết xấu của mình, và nếu khi họ sa ngã thì cũng chẳng có ai nâng đỡ họ; và nếu muốn tập luyện nhân đức, đặc biệt là đức khiêm nhường thì cũng không có ai bên cạnh để tuân phục.

Theo thánh Basilio: để yêu mến Thiên Chúa thì phải xa lánh thế gian, và để yêu tha nhân thì phải chung sống với nhau. Cộng đoàn (tức mọi thành viên trong cộng đoàn) đều liên đới trách nhiệm với nhau. Cộng đoàn không phải là những nhân vị đặt gần nhau, nhưng là những con người biết nhìn nhận nhân vị của nhau, và biết nhận ra tình thương của Chúa nơi mỗi anh em. Vì liên đới với nhau, nên đan viện của thánh Basilio được tổ chức với con số không quá đông, và đan viện phải trở nên một gia đình, ở đó mọi người liên đới chặt chẽ với nhau. Vì chỉ có tình huynh đệ mới bảo đảm một đời tu chân chính.

Tóm lại, thánh Basilio đã đúc kết và rút ra những kinh nghiệm quí giá từ chính bản thân mình, và cách riêng từ tổ chức đời sống tu trì của thánh Pakôm để xây dựng lên một lối tu cộng đoàn, tất cả được dựa trên một bộ luật, đó là sự quân bình. Cách tổ chức đời sống tu của thánh Basilio đã trở nên mẫu mực cho các đấng sáng lập dòng trong Giáo hội sau này. Các dòng tu trong Giáo hội phần lớn là lấy luật thánh Basilio làm kim chỉ nam. Từ đó đủ thấy tầm quan trọng và ảnh hưởng của bộ luật của thánh Basilio trong Giáo hội.

 

2. Đời Tu Phát Triển ở Phương Tây:

Ở Tây phương đời tu xuất hiện sau Đông phương, và cũng bắt nguồn từ Đông phương. Thánh Athanasio (môn đệ của thánh Antôn) đã bị lưu đày đến năm lần, và có lần bị đày đến Trèves từ năm 335-337 (miền Nam nước Đức). Tại đây thánh nhân đã truyền bá hạt giống tu hành qua tác phẩm “Cuộc Đời Của Thánh Antôn” do thánh Athanasio kể lại. Tác phẩm này có ảnh hưởng rất lớn trên nhiều tâm hồn, hay nói đúng hơn, từ khi tác phẩm cuộc đời của thánh Antôn được truyền tới châu âu thì nhiều trung tâm, nhiều dòng tu được mọc lên, chẳng hạn:

– Tu viện đầu tiên ở châu âu:

Thánh Hilario (315-367) giám mục Poitier, sau một thời gian tu luyện ở Palestina đã trở về Tây phương và dưới ảnh hưởng của thánh Athanasio, thánh Hilario đã lập tại Gaule một tu viện. Đây là tu viện đầu tiên của châu âu. Tu viện này có hướng đi truyền giáo hơn là chiêm niệm.

– Tu viện thứ hai: Marmoutier (năm 372). Tu viện này được thánh Giám mục Martino lập cạnh toà giám mục. Lối sống của tu viện này theo đường lối của các tu viện thánh Basilio: sống chung, nhưng có hướng đào tạo giáo sĩ để hướng đến việc truyền giáo cho các vùng tây âu.

– Tiếp theo hai đan viện Saint Victor dành cho nam và Saint Sauveur (Đấng Cứu Chuộc) dành cho nữ, do Gioan Cassiano (sinh khoảng năm 360-365) lập ở Marseilles. Sau bảy năm đi qua các vùng sa mạc Aicập, Palestina, Constantinople để sống và học hỏi kinh nghiệm sống đời đan tu với các vị ẩn tu trong sa mạc, sau đó về Rôma trước khi về Marseilles lập hai đan viện nói trên.  Gioan Cassiano đưa ra một đường lối tu trì thích hợp với hoàn cảnh tây phương, nghĩa là loại bỏ đi những lập dị của các vị ẩn sĩ Aicập, và cố gắng tối đa thích ứng với hoàn cảnh và lối sống địa phương. Gioan Cassiano đề cao giá trị của đức vâng phục, nhưng không chấp nhận lối vâng lời tối mặt, nghĩa là vâng lời phải đi đôi với trách nhiệm, có trách nhiệm.

Tóm lại, sau khi đời sống đan tu phát triển khởi đi từ thánh Antôn ở Đông phương, thì đời sống tu cộng đoàn cũng phát triển mạnh ở chính Đông phương với hai thánh Pakôm và Basilio. Và từ Đông phương, đời sống đan tu cũng bắt đầu phát triển sang Tây phương và cứ thế đời đan tu không ngừng phát triển trong Giáo hội dưới nhiều hình thức và lối tu khác nhau.

                                                                   M. Emmanuel Triệu vĩnh

 


Liên quan khác