Suy niệm Tam Nhật Vượt Qua với các phụ nữ trong Tân Ước – Bài 5

27/11/2018

Bài thứ năm: Chiều thứ Bảy Tuần thánh

Phụ Nữ Trong Các Dụ Ngôn Về Nước Trời

Trong những bài vừa qua chúng ta đã suy nghĩ về những phụ nữ bằng xương bằng thịt đã gặp gỡ Chúa Giêsu trong cuộc đời hoạt động. Chiều nay chúng ta muốn suy gẫm về những phụ nữ được Người nhắc đến trong các dụ ngôn về Nước Trời (x. MD số 13), một cách cụ thể qua bốn dụ ngôn sau: 1/ người phụ nữ vùi men trong bột (Mt 13,33); 2/ người phụ nữ đi tìm đồng tiền bị mất (Lc 15,8-10); 3/ bà góa kiên trì (Lc 18,1-8); 4/ Mười cô trinh nữ đi đón chàng rể (Mt 25,1-13).

1/ Người phụ nữ vùi men trong bột

Dụ ngôn này nằm trong chương 13 của Matthêu. Trong chương này, tác giả gom lại 7 dụ ngôn về Nước Trời (hoặc Nước / Vương quốc Thiên Chúa), với đặc tính chung là thái độ hy vọng vào tương lai (Nước sẽ đến) đang khi trung thành với bổn phận trong hiện tại.

Dụ ngôn thứ nhất là người gieo giống (13,3-9, chung cho cả ba Nhất Lãm), rồi đến dụ ngôn về cỏ lùng (13,24-30); thứ ba là dụ ngôn về hạt cải (13,31-32); thứ tư (nằm ở giữa) là dụ ngôn về người đàn bà vùi men trong bột (13,33); kế đó là hai dụ ngôn về kho tàng trong ruộng (13,44) và viên ngọc quý (13,45-46); cuối cùng là dụ ngôn chiếc lưới (13,47-50).

Dụ ngôn đang bàn rất ngắn, chỉ có một câu: “Nước trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”. Thoạt tiên xem ra không có kết luận, nhưng đọc trong bối cảnh của toàn chương 13, thì sẽ thấy ý nghĩa: Nước trời xảy đến cũng giống như chuyện một phụ nữ vùi một chút men vào ba thúng bột. Công việc đơn giản mà có lẽ các bà đã được mẹ dạy khi còn là thiếu nữ. Làm xong động tác rồi, bà chỉ còn chờ đợi một thời gian, cho đến khi bột dậy men.

Bài học ở đây là kiên nhẫn chờ đợi: chừng nào bột dậy men? Chừng nào Nước trời sẽ hoàn tất? Duy một mình Chúa Cha biết thôi (x. Mt 24,36). Một chút men vùi trong bột: tượng trưng cho mầu nhiệm Nước trời, mang tính ẩn kín; nhưng nó có sức làm cho tất cả thúng bột dậy men, nghĩa là biến đổi toàn thể nhân loại. Dụ ngôn này cũng tương tự như người gieo giống: anh ta gieo hạt giống, rồi chờ cho đến khi nó đâm chồi nảy hạt.

2/ Người phụ nữ tìm đồng tiền đã mất (Lc 15,8-10)

Dụ ngôn này nằm trong chương 15 của Luca, trong đó tác giả gom lại ba câu chuyện để nói về lòng thương xót của Chúa Cha, đặc biệt là niềm vui khi gặp lại tội nhân trở về, để trả lời cho những lời cáo buộc Đức Giêsu gần gũi phường tội lỗi. Thứ tự đi từ thấp lên cao: dụ ngôn về con chiên lạc (câu 3-7); du ngôn về đồng tiền rơi mất (câu 8-10), và tột đỉnh là đứa con hoang đàng (câu 11-30). Nói ngược lại cũng được: cao điểm là bữa tiệc hân hoan mà Thiên Chúa thiết đãi người con trở về; nó được chuẩn bị bằng một dụ ngôn nhìn từ phía người nam (một ông chủ có 100 con chiên) và từ phía người nữ (một bà có 10 quan tiền). Tất cả ba dụ ngôn đều cho thấy rằng quan điểm của Thiên Chúa khác xa sự tính toán của chúng ta: bỏ 99 con chiên tốt để tìm một con chiên lạc. Dụ ngôn về người nữ cho thấy việc đi tìm rất là tỉ mỉ, kỹ lưỡng, không bỏ qua một ngóc ngách nào hết, cho đến khi tìm thấy đồng tiền. Thiên Chúa cũng đi tìm chúng ta như vậy đó. Và nếu chúng ta để cho tình yêu của Ngài ôm ấp thì Ngài sẽ vui mừng khôn tả, Ngài sẽ chia vui với tất cả triều thần thiên quốc.

"Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: `Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.“ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối."

3/ Dụ ngôn về bà góa kiên trì (Lc 18,1-8)

Dụ ngôn này được Luca đặt giữa lời loan báo về Triều đại Thiên Chúa đến bất chợt (17,20-37) và dụ ngôn về hai người (Pharisêu và thu thuế) lên đền thờ cầu nguyện (18,9-14). Chúng ta hãy đọc bản văn:

Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói : "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông : `Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.“ Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng : `Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, 5nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.“" Rồi Chúa nói : "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó ! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?"

Ở đầu dụ ngôn, tác giả cho biết ý nghĩa của nó, đó là phải cầu nguyện liên lỉ, không mệt mỏi. Hai nhân vật chính là quan tòa và bà góa. Bà góa tượng trưng cho thành phần yếu ớt trong xã hội, thường bị lãnh quên. Tuy nhiên, ở đây bà không xin ân huệ mà chỉ xin công lý: bà yêu cầu quan tòa phán quyết cho quyền lợi của bà đã bị đối phương vi phạm. Kết quả là bà được toại nguyện, sau khi trải qua nhiều vất vả, bởi vì quan tòa là người bất chính, chẳng đếm xỉa đến Thiên Chúa hoặc công lý.

Dụ ngôn này muốn mời gọi chúng ta hãy kiên trì cầu nguyện, cách riêng bởi vì Thiên Chúa thì khác hẳn các thẩm phán trên đời: Ngài công minh, biết điều gì hợp lý cho người kêu xin. Trên thực tế, đâu là vấn đề? Thưa là chúng ta cầu nguyện nhiều mà chẳng được đáp ứng; vì thế ta dễ bỏ cuộc! Nói cách khác, chúng ta thiếu đức tin, như Chúa nói trong kết luận ở câu 8: “Khi Con Người ngự đến, liệu còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” Thế nào là thiếu đức tin? thiếu đức tin rằng Thiên Chúa sẵn sàng nghe lời ta cầu nguyện, nếu là cầu nguyện chân chính. Lời nguyện kiên trì chưa đủ; cần nhiều đức tính khác nữa. Dụ ngôn kế tiếp về người Pharisêu và người thu thế lên đền thờ nhắc ta điều ấy. Anh biệt phái lợi dụng buổi cầu nguyện để biểu dương chính mình, thay vì chúc tụng Thiên Chúa. Vì thế lời cầu của anh không được chấp nhận: anh ra khỏi đền thờ mà không được nên công chính. Nên biết là Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 2613) còn nhắc thêm một dụ ngôn nữa về sự cầu nguyện trong Phúc âm Luca, đó là “người bạn quấy rầy” (Lc 11,5-13).

4/ Mười cô trinh nữ (Mt 25,1-13)

Dụ ngôn này nằm trong bài giảng cánh chung của Matthêu (chương 24-25). Trong khung cảnh này, tác giả kể ra bốn dụ ngôn: về người đầy tớ trung tín (24,45-51); về mười trinh nữ (25,1-13); về những yến bạc (25,14-30). Giữa ba dụ ngôn này có điểm trùng nhau và khác biệt (như vậy là bổ túc cho nhau. Dụ ngôn thứ nhất (24,45-51) nêu bật tôi tới trung tín và khôn ngoan. Dụ ngôn các cô trinh nữ đào sâu khía cạnh khôn ngoan. Dụ ngôn thứ ba đào sâu khía cạnh trung tín. Điểm chung cho cả ba là chờ đợi, vì có sự chậm trễ, hay nói đúng hơn, không biết khi nào ông chủ đến. Cả ba dụ ngôn đều cho thấy những phản ứng trái ngược: a) người tôi tớ trung tín và khôn ngoan đối lại với người tôi tớ lạm quyền xử tệ với đồng bạn; b) có những cô khôn ngoan và những cô khờ dại; c) có hai người tôi tớ trung tín nhưng có một người lười biếng. Cả ba đều dẫn tới một kết luận là cuối cùng sẽ có một cuộc phân xử để định rõ phải trái.

Dụ ngôn đang bàn nói đến 10 trinh nữ đi đón chàng rể, nhưng không thấy đả động đến cô dâu. Phải chăng cô đã đến nhà rồi, vì thế chỉ cần chàng rể đến là mở tiệc mừng? Một điểm khó hiểu nữa là cả 10 đều thiếp ngủ hết: như vậy có trái với lời khuyên răn phải tỉnh thức chờ đợi không? (câu kết 13: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào”) Hai điểm này không được bản văn nói đến. Chỉ có sự đối chọi giữa một bên là 5 cô mang theo dầu, và bên kia là 5 cô không mang theo dầu. Các cô này phải chạy ra quán mua, nhưng khi đến nhà thì cửa đã đóng lại. Các cô bị từ chối không được vào dự tiệc.

“Dầu” được hiểu như thế nào? Phải chăng đó là những việc tốt lành, những việc bác ái cho tha nhân, như sẽ nói ở cuối chương 25 (câu 31-46 về sự phán xét chung)? Phải chăng nếu ai đã làm việc lành thì cứ yên trí ngủ? Có lẽ ở đây, ngủ mang một ý nghĩa ám dụ (giấc ngủ của cái chết, bước sang thế giới bên kia), chứ không phải là ăn no ngủ kỹ, là điều các tôi tớ khôn ngoan cần phải tránh. Điều quan trọng là phải liệu cho đèn luôn được thắp sáng nhờ những việc lành (theo sách Châm ngôn 13,9).

Kết luận

Phúc âm đã kể lại Nước Trời bằng những dụ ngôn lấy từ những kinh nghiệm quen thuộc của đời sống hằng ngày. Nhưng ta cũng có thể nói ngược lại: chính những công việc quen thuộc của đời sống hằng ngày có thể trở nên cơ hội để ta xây dựng Nước Trời, để đáp lại tình yêu của Chúa.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

http://www.catechesis.net


Liên quan khác