Suy niệm Tam Nhật Vượt Qua với các phụ nữ trong Tân Ước – Bài 4

27/11/2018

Bài 4. Sáng thứ Bảy Tuần thánh

Đức Maria, Bà Eva Mới

Vào ngày thứ Bảy Tuần thánh, tại nhiều nơi, các tín hữu quay quần để suy gẫm về sự thông dự của Đức Maria vào thập giá Chúa Kitô, cách riêng qua việc lần chuỗi “Bảy sự đau đớn Đức Bà”. Lòng sùng kính này bắt nguồn từ Dòng Tôi tớ Đức Mẹ, kết hợp giữa Kinh Mân Côi và Đàng Thánh giá, xoay quanh 7 mầu nhiệm đã gây ra sự đau đớn cho Mẹ: 1/ Khi được ông Simêon loan báo một lưỡi gươm sẽ đâm thấu con tim (Lc 2,33-35). 2/ Khi bồng Con trốn qua Ai cập (Mt 2,13-15). 3/ Khi lạc Con trong đền thờ (Lc 2,46-49). 4/ Khi gặp Con vác thập giá lên núi Calvario (x. Lc 23,27-28). 5/ Khi chứng kiến cái chết của Chúa (Ga 19-5-27). 6/ Khi đón nhận xác Con được tháo từ thập giá xuống (Ga 19,38-40). 7/ Khi đi theo cuộc an táng Chúa trong mộ (Ga 19,41-42). Sau mỗi lần suy niệm thì đọc một kinh Lạy Cha và 7 kinh Kính mừng.

Tuy nhiên, sáng nay chúng ta suy gẫm một đề tài khác: “Đức Maria, Bà Eva mới”. Bài đọc thứ hai giờ kinh Sách của Thứ Bảy Tuần Thánh thuật lại việc Chúa Giêsu xuống gặp gỡ ông Adam dưới âm phủ để loan báo ơn cứu độ nhân loại. Thánh Phaolô gọi Chúa Giêsu là “Adam mới” (Rm 5,12-18; 1Cr 15,21-22.45). Thế rồi, ngay từ thế kỷ thứ II, các giáo phụ cũng đã khai triển đề tài “Mẹ Maria, bà Eva mới”: cũng như trước đây nhân loại đã bị hư mất do ông Adam và Eva, thì nay ơn cứu độ được ban cho nhân loại nhờ ông Adam mới và bà Eva mới. Xưa kia, loài người đã bị hư mất do tội bất tuân của một phụ nữ (bà Eva, mẹ các chúng sinh: St 3,16.20); ngày nay, loài người được cứu độ nhờ đức Maria là “người phụ nữ” được Chúa Giêsu đặt làm mẹ các môn đệ, tượng trưng cho nhân loại mới (Ga 19,25-27). Dựa trên những dữ kiện ấy, tông thư Mulieris dignitatem đã đặt Đức Maria như là “mẫu gương người phụ nữ” (hoặc “người phụ nữ điển hình”). Trước hết, chúng ta ôn lại những dữ kiện Kinh thánh và truyền thống Hội thánh; kế đó, chúng ta xét đến vài áp dụng vào thời nay.

I. Kinh thánh và Truyền thống

Trong Tân ước, bà Eva được thánh Phaolô nhắc đến 2 lần với một hình ảnh tiêu cực như là kẻ xúi giục phạm tội (2Cr 11,3; 1Tm 2,13-14). Tuy nhiên, Tin mừng của Gioan nhắc đến bà Eva nhiều lần cách gián tiếp và mang tính tích cực hơn. Thực vậy, có hai đoạn mà Chúa Giêsu thưa với Đức Maria: “Này người nữ” (Ga 2,1-12 và 19,25-27) gợi lên đoạn văn Cựu ước Sáng thế 3,15-20. Ngoài ra, chương 12 của sách Khải huyền còn nói đến người mẹ của Đấng Mêsia giao chiến với con rắn (mãng xà), khiến người đọc liên tưởng đến đoạn văn St 3,15.

Vị giáo phụ đầu tiên so sánh Đức Maria với bà Eva là thánh Giustinô tử đạo (+165): bà Eva đã nghe lời con rắn dụ dỗ, đưa đến sự bất tuân và cái chết; Đức Maria nghe lời sứ thần truyền tin mừng, và đã đón tiếp Chúa Kitô là nguồn sống (x. Đối thoại với Trypho). Nhất là với thánh Irênê (+202), đề tài được đào sâu thêm và trở thành cổ điển: tác giả không chỉ đối chiếu giữa hai người phụ nữ mà còn liên kết hai bà với nhau. Sự vâng phục của Đức Maria đã giúp cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành, khôi phục lại dự án nguyên thủy đã bị phá vỡ do nguyên tổ. Thánh nhân còn nói thêm: “Cũng như bà kia -nghĩa là bà Evà- đã bị quyến rũ do lời lẽ của một thiên sứ, đến nỗi đã lìa xa Thiên Chúa bởi vì làm lỗi lời của Người, thì bà này -nghĩa là bà Maria- đã tiếp nhận tin mừng do lời lẽ của một thiên thần đến nỗi đã cưu mang Thiên Chúa bởi vì vâng theo lời của Người. Cũng như bà kia đã bị dụ dỗ để bất tuân Thiên Chúa thì bà này đã được khuyến dụ để vâng lời Chúa. Vì thế mà Trinh Nữ Maria trở thành trạng sư cho bà trinh nữ Evà. Cũng như nhân loại đã bị cái chết đô hộ vì một trinh nữ, thì cũng được giải thoát khỏi cái chết nhờ một trinh nữ; như vậy sự bất tuân của một trinh nữ đã được chấn chỉnh lại nhờ sự tuân phục của một trinh nữ…” (Adversus Haereses 5,19.1). Nên ghi nhận là Đức Maria được coi như là trạng sư của Bà Eva, ra như bênh vực cho bà này, vì tội của bà cũng nằm trong kế hoạch của Chúa (cũng tương tự như tội của ông Ađam được phụng vụ ca ngợi là “hồng phúc” vì nhờ đó mà nhân loại đón nhận Chúa Cứu thế). Dù sao, sự so sánh giữa Đức Maria với bà Eva dựa trên sách Sáng thế 3,20, và mang tính đối chọi giữa ảnh hưởng của hai người phụ nữ.

Sang thời Trung cổ, các tác giả bắt đầu chuyển hướng. Đức Maria là người trợ lực cho Chúa Giêsu, cũng tựa như bà Eva là người trợ tá cho ông Adam. Như vậy, đoạn văn quy chiếu là Sáng thế 2,18 (“Adam ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”). Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng vào thời đó, bà Eva mới không luôn luôn ám chỉ Đức Maria, nhưng còn có thể hiểu về Hội thánh: Hội thánh được thành hình được cạnh sườn Chúa Giêsu chết trên thập giá.

Đề tài “Đức Maria như bà Eva mới” đã bị lãng quên một thời gian lâu dài, và mãi đến thế kỷ XIX mới được gợi lại (Hồng y John Newman). Công đồng Vaticanô II đã lấy lại đề tài ấy trong hiến chế Lumen gentium số 56.

II. Những áp dụng vào thời nay

Vào thời này, thần học thường nói đến Đức Maria là Eva mới để nói đến sự góp phần của Đức Maria vào công trình cứu độ của Chúa Giêsu. Đề tài này được trình bày khi chú giải tước hiệu “Đồng công cứu chuộc” của Đức Maria. Nhưng chúng ta sẽ không dừng lại ở điểm này.

Trong thông điệp Redemptoris mater(25/3/1987) và đặc biệt là trong tông thư Mulieris dignitatem (15/8/1988), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II muốn khai triển khía cạnh nữ tính nơi Đức Maria, được biểu lộ lúc đáp lại lời truyền tin của sứ thần, cũng như trong tư cách là Mẹ và là trinh nữ. Dựa theo một vài nhà chú giải Kinh thánh, cuộc truyền tin (Lc 1,26-38) là một nghi thức ký kết giao ước theo khuôn mẫu của Cựu ước (Xh 19,8; 4,3-7; Gs 24,24). Đức Maria đại diện cho dân chấp nhận giao ước của Chúa. Bữa tiệc Cana cũng có thể đọc trong bối cảnh ấy. Đoạn văn Đức Maria được mời gọi làm mẹ dưới chân thập giá tượng trưng cho vai trò của bà Eva trong dân mới của Hội thánh. Chính Đức Thánh Cha đã tóm kết ý tưởng trong hai bài huấn giáo vào ngày 29/11 và ngày 6/12 năm 1995 như sau:

1.- Trong thế kỷ thứ XX, Thánh-mẫu-học đã tiến triển dưới khía cạnh thần học và tu đức, gần đây đã tăng thêm tầm quan trọng dưới khía cạnh xã hội và mục vụ, kể cả trong việc hiểu biết thêm vai trò của người phụ nữ trong cộng đoàn Kitô hữu và trong xã hội, như đã được nêu bật trong vài văn kiện đầy ý nghĩa của Huấn quyền Giáo hội. Vào lúc kết thúc Công đồng Vaticanô II ngày 08.12.1965, các nghị phụ đã nói như sau trong sứ điệp gửi cho tất cả các phụ nữ trên thế giới : “Giờ đã đến, khi mà ơn gọi của phụ nữ đã được diễn tả trọn vẹn, giờ mà người phụ nữ đã chiếm được trong xã hội một tầm ảnh hưởng, một địa bàn và một thế lực chưa từng thấy xưa nay”.

Vài năm sau đó, tôi đã lặp lại những lời khẳng định đó trong Tông thư Phẩm giá người phụ nữ: “Trong những năm gần đây, phẩm giá và thiên chức của người phụ nữ, – đề tài tư duy của lý trí và của Kitô giáo -, đã mặc lấy một tầm quan trọng đặc biệt” (số 1).

Trong thế kỷ này, vai trò và phẩm giá người phụ nữ là đối tượng tranh đấu của phong trào nữ quyền. Phong trào này đã muốn phản đối, đôi khi với hình thức sôi nổi, chống lại những gì, trong quá khứ cũng như hiện tại, đã làm ngăn trở việc đánh giá cao và phát triển nhân cách của phụ nữ, cũng như việc tham gia của họ vào đời sống xã hội và chính trị. Những sự đòi hỏi này, phần nhiều là chính đáng, đã mang lại một cái nhìn quân bình hơn về vấn đề phụ nữ trong thế giới hiện đại. Trước những yêu sách đó, Hội thánh, nhất là trong thời gian gần đây, đã tỏ ra sự quan tâm đặc biệt, và cũng được thúc đẩy do sự kiện là nếu biết nhận ra chân dung đích thực của Đức Maria thì sẽ tìm gặp một lời giải đáp hữu hiệu cho khát vọng giải phóng phụ nữ. Đức Maria là người duy nhất đã thể hiện được cách tuyệt diệu chương trình yêu thương mà Thiên Chúa dành cho nhân loại.

2.- Kế hoạch của Thiên Chúa đã được biểu lộ ngay từ trong Cựu ước, với trình thuật của sự tạo dựng trình bày một cặp nam nữ đầu tiên được tạo dựng theo giống hình ảnh Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã dựng con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa dựa theo hình ảnh mình mà dựng nên con người có nam có nữ” (St 1,27). Như vậy người nữ không thua kém người nam, bởi cũng mang trong mình sự “tương tự” với Thiên Chúa. Đối với người phụ nữ, do việc xuất hiện trên mặt đất như là hiệu quả của công trình Thiên Chúa, như lời đánh giá sau đây cũng được ứng dụng: “ Thiên Chúa nhìn thấy những gì mình đã làm, và quả thật là một điều rất tốt đẹp” (St 1,31). Trong viễn ảnh đó, sự khác biệt giữa người nam và người nữ không hề bao hàm sự thấp kém của người phụ nữ hoặc sự bất bình đẳng, nhưng tạo thành một yếu tố mới mẻ tăng sự phong phú cho kế hoạch của Thiên Chúa, được biểu lộ như là một điều “rất tốt”.

Thế nhưng kế hoạch của Thiên Chúa còn đi xa hơn sự mặc khải của sách Sáng thế nữa. Thực vậy nơi Đức Maria, Thiên Chúa đã gợi lên một phụ nữ vượt xa hoàn cảnh bình thường của người phụ nữ được biểu lộ nơi sự tạo dựng bà Eva. Sự siêu việt độc đáo của Đức Maria trong thế giới ân sủng và sự hoàn thiện của Người là kết quả của lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa, Đấng đã muốn nâng hết mọi người, nam cũng như nữ, lên tới cấp hoàn hảo và thánh thiện của hàng thiên tử. Đức Maria là kẻ “được chúc phúc hơn các phụ nữ”; tuy vậy, có thể nói được rằng mỗi người phụ nữ cũng được tham dự cách nào đó vào phẩm giá siêu việt của Đức Maria trong chương trình của Thiên Chúa.

3. Hồng ân đặc biệt dành cho Thân mẫu của Chúa không những cho thấy điều mà chúng ta nói được là sự kính trọng mà Thiên Chúa dành cho phụ nữ, mà còn làm sáng tỏ vai trò không thể thay thế được của người phụ nữ trong lịch sử của nhân loại dựa theo ý định của Thiên Chúa.

Các phụ nữ cần phải khám phá sự quý trọng mà Thiên Chúa dành cho mình ngõ hầu ý thức hơn về phẩm giá cao quý của họ. Phong trào nữ quyền đã nổi lên để phản ứng lại một tình trạng lịch sử và xã hội không biết tôn trọng các giá trị của phụ nữ, những kẻ thường bị gạt vào vai trò thứ yếu và đôi khi bị gạt ra bên lề xã hội. Tình trạng này đã không cho phép người phụ nữ biểu lộ toàn vẹn những sự phong phú của mình về trí năng và khôn ngoan của nữ tính. Thực vậy, trải qua dòng lịch sử, nhiều lần các phụ nữ đã đau khổ vì tài năng của họ đã bị coi rẻ và đôi khi còn bị hạ thấp và gánh chịu những thiên kiến bất công. Đây là một tình trạng mà tiếc thay, mặc dù đã có một vài cải tiến, nhưng vẫn còn tồn tại ngày nay ở nhiều nước và không ít lãnh vực trên thế giới này.

4.- Dung nhan của Đức Maria đã bày tỏ sự quý trọng của Thiên Chúa dành cho người phụ nữ, chặt đứt hết mọi cơ sở lý thuyết cho mọi hình thức kỳ thị phụ nữ.

Công trình tuyệt diệu mà Đấng Tạo hóa đã thực hiện nơi Đức Maria cung cấp cho hết mọi người nam nữ một cơ hội để khám phá một vài chiều kích mà trước đây chúng ta chưa đánh giá đúng mức. Khi nhìn lên người Thân mẫu của Chúa, các phụ nữ có thể hiểu biết hơn về phẩm giá và thiên chức cao quý của mình. Kể cả người nam nữa, dưới ánh sáng của Đức Trinh nữ Maria, cũng có thể có một cái nhìn toàn diện và quân bình hơn về bản sắc của người phụ nữ, về gia đình và về xã hội.

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng khuôn mặt của Đức Maria, theo như Kinh Thánh trình bày và Giáo hội giải thích, cũng cần thiết để sửa chữa một vài lối giải thích của một vài trào lưu nữ quyền, khi họ hạ giá Người. Vài tác giả trình bày Đức Trinh nữ Nazarét như một biểu tượng của một người nữ khép kín giữa bốn bức tường chật hẹp của gia thất.

Trái lại, Đức Maria thật là khuôn mẫu của sự phát triển sung mãn của thiên chức phụ nữ, bởi vì, bất chấp những giới hạn khách thể áp đặt lên điều kiện xã hội của mình, Đức Maria đã gây được một ảnh hưởng vô biên đối với thân phận của nhân loại và đối với sự biến đổi xã hội.

5.- Ngoài ra, đạo lý về Đức Maria còn nêu bật những cách thức khác nhau mà đời sống ân sủng có thể cổ võ nơi vẻ đẹp tinh thần của người phụ nữ.

Đứng trước sự khai thác bỉ ổi của những kẻ muốn biến phụ nữ thành một đối tượng không còn phẩm giá, chỉ dành cho sự thỏa mãn đam mê dục tính, thì Đức Maria tái khẳng định giá trị cao vời của nét đẹp phụ nữ, một hồng ân và phản ánh vẻ đẹp của Thiên Chúa.

Thoạt tiên xem ra sự hoàn hảo của người nữ được thực hiện ở nơi Đức Maria là một trường hợp ngoại lệ, không tài nào bắt chước được, một mẫu gương quá cao xa không thể họa lại được. Thực vậy, sự thánh thiện độc nhất vô nhị của Đấng nhận được đặc ân thụ thai trinh khiết đã thường được coi như là dấu hiệu của một khoảng cách không vượt qua được. Tuy nhiên, sự thánh thiện tuyệt vời của Đức Maria, thay vì trở thành một sự ngăn cản trên con đường đi theo Chúa, thì theo chương trình của Chúa, phải trở nên dấu chỉ khuyến khích hết mọi Kitô hữu hãy cởi mở cho quyền năng thánh hóa của ơn Chúa: đối với Chúa không có chi mà không thể làm được. Vì thế nơi Đức Maria, hết mọi người được kêu gọi hãy tín thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa toàn năng, Đấng có thể thay đổi con tim, dìu dắt nó tới chỗ hoàn toàn thuận nhận tiếp đón kế hoạch yêu thương quan phòng của Người.

(Tiếp tục trong bài huấn giáo số 8: Vai trò của người phụ nữ dưới ánh sáng của Đức Maria)

1.- Như tôi đã có dịp trình bày trong những bài huấn giáo trước đây, vai trò mà Thiên Chúa ủy thác cho Đức Maria trong công trình cứu chuộc đã làm sáng tỏ thiên chức của người phụ nữ ở trong đời sống của Hội thánh và của xã hội, khi xác định sự khác biệt của người nữ so với người nam. Thực vậy, khuôn mẫu đã được thiết định nơi Đức Maria đã cho thấy rõ đâu là đặc trưng của nhân cách phụ nữ.

Trong thời gian gần đây, một vài trào lưu của phong trào nữ quyền, nhằm đẩy mạnh sự giải phóng người phụ nữ, đã muốn đồng hóa hoàn toàn người nữ với người nam. Tuy nhiên, ý định của Thiên Chúa được tỏ ra qua việc tạo dựng, tuy muốn người phụ nữ bình đẳng như người nam về phẩm chức và giá trị, nhưng cũng đồng thời khẳng định một cách rõ rệt về sự khác biệt và về đặc trưng của phụ nữ. Căn tính của người phụ nữ không thể nào nằm ở chỗ là một bản sao chép của người nam, bởi vì người nữ có những đức tính và yêu sách đặc hữu, mang lại cho họ một sự khác biệt cần phải được cổ võ và tán trợ.

Những yêu sách và đặc trưng của nhân cách phụ nữ đã đạt tới mức phát triển toàn vẹn nơi Đức Maria. Ơn sủng tràn trề của Chúa đã giúp cho mọi khả năng đặc hữu người phụ nữ được phát triển toàn diện ở nơi Người.

Vai trò của Đức Maria trong công trình cứu chuộc hoàn toàn tùy thuộc vào Đức Kitô. Đây là một chức vụ duy nhất, nằm trong kế hoạch hoàn tất mầu nhiệm Nhập thể: chức làm mẹ của Đức Maria cần thiết để trao ban cho thế giới Đấng Cứu chuộc, Con của Thiên Chúa thật, nhưng cũng hoàn toàn là con người.

Sự hợp tác cần thiết của một người nữ để cho Đức Kitô đến với trần gian đã được sáng tỏ trong sáng kiến của Thiên Chúa khi mà, qua trung gian của thiên sứ, Ngài đã thông báo cho trinh nữ Nazarét ý định cứu rỗi của Ngài, ngõ hầu Đức Trinh nữ có thể hợp tác một cách ý thức và tự do, bằng cách biểu lộ sự ưng thuận của mình một cách quảng đại.

Ở đây chúng ta thấy thể hiện khuôn mẫu cao cả nhất của sự hợp tác một cách có trách nhiệm của người phụ nữ vào việc cứu độ của con người, – của toàn thể con người-. Khuôn mẫu này tạo thành một điểm quy chiếu cho hết mọi khẳng định về vai trò và chức phân của người phụ nữ trong lịch sử.

2.- Khi thực hiện hình thức hợp tác cao cả đó, Đức Maria cũng tỏ cho chúng ta thấy một phong thái, nhờ đó mà người phụ nữ cần phải diễn tả sứ mạng của mình ra cụ thể.

Đứng trước lời loan báo của thiên sứ, Đức Trinh nữ đã không tỏ lộ một thái độ đấu tranh kiêu hùng, cũng không đòi đáp ứng những tham vọng cá nhân. Thánh Luca đã trình bày cho chúng ta thấy là Đức Trinh nữ chỉ ước mong cống hiến sự phục vụ khiêm tốn của mình trong tâm tình tín thác hoàn toàn vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa của lời đáp của Người: “Này đây tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy xảy ra nơi tôi điều mà Ngài đã nói” (Lc 1,38).

Thực vậy, đây không phải là một sự đón nhận hoàn toàn thụ động, bởi vì sự ưng thuận của Người đã được bộc lộ sau khi đã trình bày nỗi khó khăn gây ra bởi quyết định giữ mình trinh khiết, mà Người đã ôm ấp vì muốn thuộc trọn về Chúa.

Sau khi đã nhận được lời giải đáp của thiên sứ, Đức Maria đã lập tức bày tỏ thái độ sẵn sàng của mình, qua sự phục vụ khiêm tốn.

Chính sự phục vụ khiêm tốn quý giá mà biết bao nhiêu phụ nữ, dõi theo gương của Đức Maria đã và đang cống hiến cho Giáo hội nhằm mở rộng Nước Chúa.

3.- Hình ảnh của Đức Maria nhắc nhở cho các phụ nữ ngày nay giá trị của chức làm mẹ. Trong thế giới hôm nay, không phải lúc nào người ta cũng nhìn nhận giá trị đó một chỗ đứng quân bình. Tại một vài nơi, hiện tượng các phụ nữ phải đi kiếm việc làm để trám vào những yêu sách không ngừng gia tăng của gia đình và quan niệm sai lầm về tự do đã coi việc săn sóc con cái như là một trở ngại cho sự tự lập và những khả năng khẳng định của phụ nữ; não trạng đó đã làm lu mờ ý nghĩa của chức làm mẹ đối với sự phát triển nhân cách phụ nữ. Ngược lại, trong một vài trường hợp khác, người ta đề cao quá đáng khía cạnh sinh đẻ về thể chất đến nỗi đã làm mờ nhạt những khả năng khác mà người phụ nữ có thể biểu lộ chức năng thiên phú làm mẹ.

Nơi Đức Maria, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích đáng của thiên chức làm mẹ, được đạt tới cao điểm trong ý định cứu rỗi của Thiên Chúa. Đối với Người, việc làm mẹ không những mang lại sự phát triển trọn vẹn cho nhân cách phụ nữ, bởi vì người nữ đã được hướng tới việc trao ban sự sống, nhưng mà đồng thời nó còn tạo nên một sự đáp ứng trong đức tin cho thiên chức đặc hữu của người phụ nữ; thiên chức này chỉ đạt được giá trị chân chính trong ánh sáng của giao ước với Thiên Chúa (tông huấn Mulieris dignitatem, số 19).

4.- Khi chú ý ngắm nhìn Đức Maria, chúng ta khám phá nơi Người khuôn mẫu của sự trinh khiết vì Nước Trời.

Là Trinh nữ điển hình, Người đã nuôi dưỡng trong tâm hồn lòng ước ao muốn sống hoàn cảnh đó ngõ hầu có thể đạt tới sự thân mật khắng khít mãi mãi với Thiên Chúa.

Đối với những người nữ được gọi vào sự khiết tịnh đồng trinh, Đức Maria khi bày tỏ ý nghĩa cao cả của ơn gọi đặc biệt này, đã lôi kéo chú ý đến sự phong nhiêu tinh thần mà sự trinh khiết bao hàm ở trong chương trình của Thiên Chúa: một tình mẹ ở vào hệ trật cao cấp hơn, tình mẹ trong Chúa Thánh Thần (tông huấn Mulieris dignitatem, số 21).

Trái tim hiền mẫu của Đức Maria, được mở rộng tới hết mọi nỗi khổ đau của nhân loại, cũng nhắc nhở các phụ nữ rằng sự phát triển nhân cách phụ nữ đòi hỏi sự xả thân cho tình bác ái. Rất bén nhạy với những giá trị của con tim, người phụ nữ tỏ ra một khả năng cao cả biết trao hiến bản thân.

Đối lại với những ai vào thời đại hôm nay chỉ muốn trưng bày những khuôn mẫu ích kỷ để khẳng định nhân cách phụ nữ, thì khuôn mặt sáng ngời và thánh thiện của người Thân mẫu của Chúa cho thấy rằng chỉ có trong việc trao hiến bản thân và quên mình đi vì tha nhân thì mới có thể thực hiện cách chân chính kế hoạch Thiên Chúa dành cho cuộc đời của mỗi người.

Vì thế, sự hiện diện của Đức Maria khuyến khích các người phụ nữ nuôi dưỡng những tâm tình trắc ẩn và liên đới đối với những hoàn cảnh đau thương của nhân loại, và gợi lên những ý định muốn xoa dịu những nỗi khổ cực của những người đang đau khổ: những người nghèo, những người bệnh và những người hoạn nạn đang cần được cứu giúp. Nhờ mối dây liên kết đặc biệt với Đức Maria, người phụ nữ trải qua dòng lịch sử thường thể hiện việc Thiên Chúa gần gũi với nỗi mong chờ tình nhân ái âu yếm của nhân loại bị thương tổn do sự căm thù và do tội lỗi. Họ gieo vào thế giới những mầm mống của một nền văn minh lấy tình thương đáp lại hận thù.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

http://www.catechesis.net


Liên quan khác