ĐẶT NỀN TẢNG TRÊN ĐỨC KITÔ: Kim Chỉ Nam Thánh Hiến Đan Tu (kết thúc) New 

12/02/2020

Mục Lục

CHƯƠNG VII:VĨNH CƯ CỘNG TU

Vĩnh cư là yếu tố đầu tiên được Thánh Biển Đức đề cập đến khi ngài miểu tả nội dung của việc tuyên khấn đan tu[1]. Dường như Thánh Biển Đức bắt đầu mô tả bộ ba của ngài với một cấu trúc chung nhất đối với đời sống đan tu một cách hết sức tự nhiên, cụ thể là, ở một nơi với cùng một nhóm người. Tiếp đến ngài đề cập đến Conversatio morum (canh tân) như là lối sống cần phải được tuân thủ bởi những con người ở nơi đó. Và cuối cùng là “vâng phục” như là yếu tố năng động, là cội nguồn năng lượng của đời sống đan tu. Sở dĩ Thánh Biển Đức đề cập đến vĩnh cư như là yếu tố đầu tiên của việc tuyên khấn đan tu bởi sự thật rằng năng lực thiêng liêng được mở ra bởi lối sống đan tu sẽ mất đi nhiều sức mạnh của nó nếu người đan sĩ thường xuyên lang thang hết đan viện này đến đan viện khác.

Người ta cho rằng khấn vĩnh cư cách công khai là một trong những phần độc đáo nhất được Thánh Biển Đức thêm vào khái niệm truyền thống của đời sống đan tu. Thật vậy, vĩnh cư đã luôn luôn là yếu tố then chốt trong lối sống của người đan sĩ. Nếu một ai đó ôm ấp một cuộc sống hoán cải và vâng phục theo gương Đức Kitô, thì họ cần phải được tiếp tục cho đến chết[2] như Đức Kitô đã làm. Vĩnh cư cộng tu một cách cơ bản là kiên tâm và bền chí trong sự hoán cải và vâng phục. Đóng góp của Thánh Biển Đức cốt ở tại ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của vĩnh cư cộng tu bằng cách đề cập đến nó trong sự nối kết với việc cử hành lễ tuyên khấn, và liên kết nó với đời sống chung. Có lẽ, như nhiều nhà chú giải đã đề cập đến, Thánh Biển Đức nhấn mạnh yếu tố vĩnh cư của đời sống đan tu vì ngài không có thiện cảm với lối sống của một số đan sĩ “gọi là đan sĩ du tu, suốt đời họ lang thang từ miền này sang xứ nọ, trọ mỗi nhà ba bốn hôm, nay đây mai đó, không khi nào chịu ở yên một nơi. Họ quả là nô lệ ý riêng và ham mê ăn uống”[3]. Cũng cùng một cách thế như thế, Thánh Biển Đức đề cập đến vâng phục một cách rõ ràng như một yếu tố của việc tuyên khấn. Điều này có thể được thúc đẩy bởi ngài không chấp nhận việc tự quản “tự tu” (sarabites). Và lời khấn canh tân (conversatio morum), Thánh Biển Đức có lẽ có ý bảo vệ các đan sĩ của ngài khỏi những nguy hiểm của đời sống ẩn tu.

Trong những trang sau đây, trước hết chúng ta xem xét những nét đặc trưng mang tính bên ngoài hơn của lời khấn vĩnh cư như nó được áp dụng trong đời sống đan tu hôm nay, sau đó chúng ta đi vào ý nghĩa đầy đủ hơn của nó như một thành phần quan trọng của lịch sử cứu độ.

            1. LỜI CAM KẾT ĐỐI VỚI VĨNH CƯ

Đòi hỏi căn bản của lời khấn đối với chúng ta thì rất đơn giản. Khi chúng ta khấn vĩnh cư theo Tu luật Thánh Biển Đức là chúng ta cam kết với chính mình ở lại trong cộng đoàn mà chúng ta tuyên khấn suốt cả cuộc đời cho đến chết. Đây là nền tảng những gì theo sau đó.

Lời khấn vĩnh cư là cộng tu một các riêng biệt. Nó không phải là vấn đề của sự bền đỗ trong bậc tu sĩ, trong Dòng hay Hội Dòng của đương sự. Nó cũng không phải là lời hứa kiên vững trong những thực hành chung chung những luật lệ đan tu vốn là đối tượng của lời khấn canh tân (conversatio morum). Vấn đề ở đây là vĩnh cư trong cộng đoàn mà mình đã khấn. Thậm chí một cách chính xác hơn, như được Thánh Biển Đức trình bày trong Tu luật, vĩnh cư có nghĩa là một sự hòa quyện với lời khấn canh tân và vâng phục để biểu thị sự kiên vững trong vâng phục của đời sống đan tu trong cộng đoàn này. Nói cách khác, vĩnh cư cộng tu có nghĩa là trao ban phần còn lại của cuộc đời cho Đức Kitô hằng sống trong cộng đoàn mà họ tuyên khấn, bằng cách không ngừng từ bỏ chính mình và đặt cuộc sống của mình trên Đức Kitô, Đấng là lý do của sự tồn tại của cộng đoàn.

          Những Cách Hiểu Khác Nhau

Xuyên suốt lịch sử đan tu, ân sủng của vĩnh cư được sống trong những cách thế khác nhau. Sau đây là những cách thức chủ yếu được thực hành.

  • Vĩnh cư trong phòng. Đây là ý nghĩa đầu tiên của vĩnh cư đan tu. Nó là phương thuốc và khí giới chống lại cám dỗ đi lang thang chung quanh hoặc thăm viếng hết phòng này đến phòng khác của các tôi tớ Thiên Chúa. Thực hành khổ tu của việc ở yên một nơi đã tạo nên một phần của kỷ luật đan tu mà không phải là đối tượng của một lời hứa rõ ràng, kém xa một lời khấn và không có bất kỳ ràng buộc pháp lý nào. Đây là tinh thần của các Linh Phụ Sa mạc trong Thể kỷ IV và của Gioan Cassianô trong Thể kỷ V.
  • Vĩnh cư dưới một Viện phụ, người có thể có nhiều nhà dưới quyền. Đây là thực hành tại Cluny trong Thế kỷ XI và XII, cũng như trong các hội dòng Biển Đức và Xitô, nơi mà họ duy trì sự vĩnh cư trong hội dòng hoặc tỉnh dòng. Người đan sĩ có thể chu toàn lời khấn vĩnh cư của mình trong bất cứ nhà nào của hội dòng. Đây là một sự chú giải thoáng nhưng nó có thể cần thiết trong giai đoạn cải tổ dòng tu.
  • Vĩnh cư “trên một cái cột”, đó là vĩnh cư triệt để, ở trong một đan viện duy nhất, không đi tới bất cứ nhà nào khác dưới bất cứ lý do nào. Đây là cách chú giải được thực hiện bởi một số vị ẩn sĩ xích chân vào tường của cái hang, họ sống hoặc nhốt mình trong một căn phòng suốt cuộc đời của họ. Một vài đan sĩ cột ở Syria trải qua phần lớn cuộc đời của họ trên một cái cột. Quả là một ơn gọi ngoại thường.
  • Vĩnh cư của người du hành. Trong một vài Hội dòng đan tu, bạn có thể là thành viên vĩnh viễn của một cộng đoàn cụ thể, nhưng trong thực tế bạn di chuyển đến những nơi khác và sống tạm thời trong những đan viện khác nhau.
  • Vĩnh cư trong một cộng đoàn. Đây là chú giải của Thánh Biển Đức. Nó có nghĩa là ở với cộng đoàn nơi họ tuyên khấn suốt cả cuộc đời cho đến chết và chỉ xuất hành khỏi đan viện khi có lý do cần thiết. Điều này ám chỉ rằng đan sĩ sẽ không chuyển đến một đan viện khác khi không có lý do đặc biệt, chẳng hạn như đi lập nhà mới hoặc những nhu cầu về sức khỏe thể lý và tâm linh. Điều này dường như đã được Thánh Pacômiô ở Thế kỷ IV nghĩ đến và là chú giải truyền thống của Xitô và của nhiều hội dòng Biển Đức. Nó là hình thức vĩnh cư mà chúng ta đang thảo luận ở đây.

          Vĩnh Cư Theo Truyền Thống Biển Đức

Cam kết bề ngoài của vĩnh cư theo truyền thống Biển Đức là sống với cộng đoàn cho đến chết. Lời hứa hoặc lời khấn vĩnh cư ràng buộc chúng ta với cộng đoàn, nhưng không nhất thiết là với một nơi chốn và càng không nhất thiết với con người viện phụ. Đây rõ ràng là ý nghĩa của sự vĩnh cư mà Tu luật muốn nói đến trong chương nói về việc tiếp nhận các tân đan sĩ. Theo Tu luật, kết quả lập tức của việc tuyên khấn là tập sinh được đón nhận vào trong cộng đoàn[4]. Đây là ý nghĩa của sự tiếp nhận diễn ra ngay sau khi tuyên khấn: “Tiếp đó khấn sinh đến phủ phục dưới chân từng người xin cầu nguyện cho mình. Và từ giờ đó được kể là thành phần của cộng đoàn”[5].

Câu cuối của Lời mở của Tu luật cho chúng ta thấy một cách rõ ràng rằng, thuộc về một cộng đoàn như thế này có một số kết quả vô cùng quan trọng về mặt khổ chế và thần bí: “Không bao giờ chúng ta lìa xa giáo huấn Người, trái lại chúng ta kiên trì trong giáo huấn của Người nơi đan viện cho đến chết, kiên nhẫn chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô để đáng dự phần trong nước Người”[6].

Từ chương 4 đến chương 7, Tu luật đưa ra yếu tố nền tảng của giáo huấn của Thiên Chúa mà người đan sĩ kiên trì tuân giữ. Cuối chương 4 về “những khí cụ làm việc lành”, Thánh Biển Đức một lần nữa cho biết phần thưởng của vĩnh cư, sau đó ngài phân biệt giữa vĩnh cư và nội vi đan viện. Ngài viết: “Nếu ngày đêm chúng ta không ngừng đem ra sử dụng, và đến ngày chung thẩm chúng ta hoàn lại cho Chúa, thì Chúa sẽ ban cho chúng ta phần thưởng chính Người đã hứa: ‘Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người’. Còn xưởng thợ nơi chúng ta cần mẫn sử dụng các dụng cụ này, chính là nội vi đan viện và lời khấn bền đỗ trong cộng đoàn”[7].

Câu cuối cùng này giúp chúng ta thấy sự khác biệt giữa việc ở trong nội vi của đan viện và sự vĩnh cư. Nội vi ngụ ý nói lên một sự xa cách thể lý khỏi xã hội bên ngoài và có liên quan hơn tới việc trung tín với những luật lệ đan tu. Trong khi đó, vĩnh cư Biển Đức có liên quan tới việc trở thành một thành viên lâu bền của một nhóm người sống trong nội vi đó. Nội vi là cấu trúc thể lý. Vĩnh cư có tính cách cá nhân. Vĩnh cư là một sự hiệp thông giữa các thành viên, hay chính xác hơn, đó là sự kiên trì trong sự hiệp thông này. Điều đó có nghĩa là một sự cam kết để kiên trì trong sự năng động của sự biến đổi từ ý riêng mình đến tình yêu của Đức Kitô, vốn là điều thiết lập nên trái tim của cộng đoàn đan tu. Ví dụ, một người rời khỏi nội vi trong một vài giờ mà không có phép. Điều này có thể vi phạm lời khấn canh tân, và có thể tạo ra một số vấp phạm nhất định, nhưng họ lại không phạm lời khấn vĩnh cư một cách trực tiếp, vì họ vẫn là một thành viên của cộng đoàn.

Tuy nhiên, nếu không có sự trung tín thực sự với những nguyên tắc đan tu cơ bản thì rất khó để chu toàn những đòi hỏi thiêng liêng sâu xa hơn của vĩnh cư. Đây là một thí dụ về cách các yếu tố khác nhau của việc tuyên khấn đan tu hòa quyện vào nhau, như chúng ta đã thấy trong chương trước, khi thảo luận về mối liên hệ giữa vâng phục và đời sống đan tu. Một cách tương tự như vậy, vĩnh cư là một diễn tả của tinh thần trinh khiết thánh hiến, của khó nghèo và của vâng phục.

          Thiếu Vĩnh Cư

Các cam kết bề ngoài của vĩnh cư cộng tu có thể được nhìn thấy rõ ràng hơn khi so sánh với sự đối nghịch của nó. Khi nào sự vĩnh cư bị lỗi phạm?

  • Một cách bề ngoài, đào tu là một sự vi phạm lời khấn vĩnh cư cách trực tiếp nhất. Đó là sự từ bỏ đời sống tu cách bất hợp pháp với ý định không bao giờ quay trở lại đan viện nữa, hoặc sau khi rời đan viện cách hợp pháp nhưng ở lại bên ngoài luôn với ý định tách mình ra khỏi sự vâng phục đời tu một cách lâu dài. Cùng một lúc, kẻ đào tu vi phạm ba lời khấn: Canh tân, Vâng phục và Vĩnh cư. Một người cũng có thể vi phạm lời khấn vĩnh cư một cách nghiêm trọng bởi sự bỏ trốn sang một đan viện khác mà không có phép của bề trên liên hệ, và với ý định không bao giờ quay trở lại cộng đoàn của mình trước đây nữa. Nếu với ý định sẽ trở về sau này, thì hành động trên chỉ vi phạm hình thức của nội vi và lời khấn vâng phục mà thôi, nhưng một cách chính xác họ không vi phạm lời khấn vĩnh cư. Dĩ nhiên hành động đó vi phạm tinh thần của lời khấn vĩnh cư.
  • Một cách bề trong, một người có thể tỏ cho thấy người đó thiếu sự vĩnh cư bằng sự quyết tâm đạt cho bằng được, không có lý do chính đáng, đặc ân tạm sống ngoài nội vi hoặc thay đổi đời sống vĩnh cư sang một đan viện khác. Trong sự nối kết này, chúng ta nên cẩn thận để tránh ý nghĩ lãng mạn về “một nơi tốt hơn”. Sự mơ mộng hảo huyền như thế chẳng có gì là tốt đẹp cả, và nó tạo nên những chướng ngại vật ngăn cản chúng ta đi vào trong tinh thần của việc tuyên khấn đan tu. Chúng ta sẽ nói đến chủ đề của “một nơi tốt hơn” trong mục kế tiếp.
  • Một cách gián tiếp, một người có thể hành động chống lại lời khấn vĩnh cư bằng cách đe dọa rời bỏ đan viện để đạt được sự cho phép đặc biệt từ bề trên. Đây có thể là một sự thiếu vĩnh cư trầm trọng nếu nó được đưa ra với sự cân nhắc đầy đủ để thực hiện sự đe dọa, nhưng không phải là như thế nếu sự đe dọa được đưa ra trong giây phút giận dữ không kiềm chế được, hoặc do sự kích động, nhiều khả năng nó là thế.

2. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT TRONG ĐÓ MỘT NGƯỜI CÓ THỂ RỜI MỘT CỘNG ĐOÀN ĐỂ GIA NHẬP MỘT CỘNG ĐOÀN KHÁC

    Thành Lập Các Nhà Mới

Người đan sĩ được hiệp nhất nên một với cộng đoàn bằng đời sống vĩnh cư. Sự hiến mình cho Thiên Chúa được tuôn chảy vào việc phục vụ cộng đoàn, là Thân Thể của Đức Kitô, trong bất cứ khả năng nào mà bề trên có thể mong muốn. Sự vĩnh cư không phải chỉ là ở nguyên một nơi chốn nào đó một cách thể lý, nhưng nó còn là sự gắn bó chặt chẽ với cộng đoàn suốt cả cuộc đời, trong tất cả công việc của cộng đoàn, trong những lúc thăng trầm, những căng thẳng, niềm vui và nỗi buồn của cộng đoàn. Thiết lập nhà mới hoặc giúp đỡ một nhà đã hiện hữu là một trong những công việc hữu ích nhất trong đời sống cộng đoàn. Tất cả sự cộng tác, bởi tính xác thực của đời sống đan tu của họ, nhằm chuẩn bị cho dự án. Nếu một ngày nào đó việc thiết lập nhà mới được chuẩn nhận, chỉ một số ít người sẽ thực hiện công việc ở nơi mới, nhưng tất cả mọi người sẽ đóng góp phần mình vào đó bằng lời cầu nguyện và hy sinh cho mầm sống mới của đời sống đan tu được chăm sóc bởi một nhóm người được chọn nhân danh toàn thể cộng đoàn.

Là thành viên của nhóm được chọn để đi thành lập nhà mới, chúng ta không lỗi phạm lời khấn vĩnh cư, nhưng là chu toàn và biến đổi nó. Chúng ta phải hy sinh một số thuận lợi của cuộc sống đã được thiết lập – chẳng hạn như nếp sống hoàn toàn quy củ, cơ sở vật chất khang trang – để hoàn thành công việc mà cộng đoàn, Hội dòng hoặc Dòng và Giáo hội hoàn vũ mong muốn.

Tuy nhiên, trong thực tế có thể xảy ra là một số anh chị em lợi dụng những cơ hội của việc thiết lập nhà mới – hoặc bất cứ một dự án nào bên ngoài – để trốn khỏi bầu khí ngột ngạt trong chính cộng đoàn của họ. Chúng ta có thể cố gắng giải quyết vấn đề của đức vâng phục bằng cách thay đổi môi trường và bề trên, trong khi thực tế cho thấy nguyên nhân của những khó khăn lại ở trong chính chúng ta. Chúng ta mang theo những vấn đề của chúng ta với chính mình. Vì vậy chúng ta cần phải hành động một cách cẩn trọng nếu muốn xung phong cho một dự án đặc biệt ở ngoài cộng đoàn. Về phần mình, bề trên cần phải chống lại cơn cám dỗ để giải thoát mình khỏi những anh chị em khó tính, khó nết với mình bằng cách gửi họ đi thành lập nhà mới. Đây là một số đề nghị:

  • Nếu chúng ta muốn đi thành lập nhà mới hoặc một cách nào đó giúp đỡ cho một đan viện khác, chúng ta phải chắc chắn rằng đó không phải là vấn đề của sự trốn thoát, được núp bóng dưới vỏ bọc của tấm áo hy sinh, nhưng thực ra đó lại là một sự đầu hàng cơn cám dỗ.
  • Sự chấp thuận tự phát của người có thẩm quyền thiêng liêng nên có trước thỉnh cầu chính thức của chúng ta để ra đi.
  • Quyết định vẫn nằm trong tay bề trên. Cách hành xử của chúng ta nên khiêm tốn và diễn tả sự tin tưởng trọn vẹn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Nếu bề trên nói không hoặc chỉ ra những lý do nghiêm trọng không đồng ý với kiến nghị của chúng ta, chúng ta nên chấp nhận với một thái độ vui vẻ, coi đó là thánh ý Thiên Chúa và quên nó đi.
  • Nói chung, không nên đệ trình sự phục vụ của chúng ta (muốn được đi lập nhà mới) cho tới khi chúng được yêu cầu cách rõ ràng. Tuy nhiên, chúng ta có thể đi bước trước, nhưng lý do để làm điều đó phải mạnh hơn và thái độ của chúng ta phải rất khách quan.

   Vâng Phục

Đan sĩ có thể được gửi tới một đan viện khác trong một vài năm, như một công nhân, tuyên úy, bề trên hay sinh viên. Khi sáng kiến đến từ bề trên của đương sự, thì không có vấn đề gì. Trong trường hợp như thế thì đương sự chẳng hề vi phạm lời khấn vĩnh cư xét cả trên chữ viết lẫn tinh thần của lời khấn. Mọi thứ được điều hành bởi đức vâng phục. Tuy nhiên, nếu một người chủ động tìm kiếm một trong những vị trí này ở một nhà khác, đặc biệt là để trốn thoát khỏi những sự bực mình tại cộng đoàn, đây dường như là một sự thiếu – ít nhất là tinh thần – vĩnh cư.

  Sức Khỏe

Ở lại bệnh viện một vài tuần hoặc một vài tháng chẳng ảnh hưởng gì đến lời khấn vĩnh cư cả, nhưng liệu sức khỏe có phải là lý do chính đáng để rời cộng đoàn này một cách vĩnh viễn đến một cộng đoàn khác không?

Nếu rõ ràng thay đổi vĩnh viễn đến một cộng đoàn khác với khí hậu khác sẽ cải thiện một cách đáng kể và thậm chí chữa khỏi hẳn những vấn đề sức khỏe của người đan sĩ, thì thay đổi lời khấn vĩnh cư chẳng những là hợp pháp mà còn là điều nên làm, với điều kiện là các yếu tố khác, đặc biệt là các yếu tố thiêng liêng, không xen vào.

Tuy nhiên, chỉ trong những trường hợp thực sự đặc biệt, khi bác sĩ đề nghị sự di chuyển với những lý do vững chắc khách quan thì người đan sĩ mới nên nghĩ đến việc thay đổi lời khấn vĩnh cư. Chúng ta nên cự tuyệt với khuynh hướng nghĩ đến một nơi tốt hơn. Tốt hơn chúng ta nên thuyết phục mình rằng Thiên Chúa biến đổi các tôi tớ của Người nên giống hình ảnh Con Một của Người giữa những thử thách, như Công đồng Vatican II khẳng định: “Các Hội dòng sống đời chiêm niệm góp phần rất lớn vào việc trở lại của các linh hồn nhờ những kinh nguyện, hy sinh và thử thách”[8]. Do đó, tốt hơn nên cẩn thận không cố trốn thoát khi những thử thách xuất hiện, nhưng thay vào đó hãy cầu xin một đức tin sống động để chấp nhận chết đi cho chính mình, và ôm ấp lời mời gọi của Đức Giêsu gọi ta đến với Người bằng tình huống đau khổ này.

    Lợi Ích Thiêng Liêng Lớn Hơn

Nếu lời khấn vĩnh cư có thể được thay đổi vì lý do sức khỏe thể lý, thì trên lý thuyết, nó cũng có thể được thay đổi vì lý do thiêng liêng: đi đến một nhà khác hoặc một dòng khác, nơi đương sự có thể mở ra cho Thiên Chúa một cách trọn vẹn và đạt tới một sự kết hiệp với Đức Kitô cách mật thiết hơn.

Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng một trong những lý do chính của việc tuyên khấn cách trọng thể lời khấn vĩnh cư là để bảo vệ chúng ta khỏi cám dỗ đi tìm kiếm lợi ích lớn hơn trong một cộng đoàn khác. Lời khấn vĩnh cư dựa trên thực tế là người đan sĩ nam nữ, dưới sự theo đuổi lợi ích lớn hơn, có thể rơi vào con đường có thể làm thiệt hại đến những lợi ích chắc chắn mà họ đã có và cuối cùng nó có thể hủy hoại ơn gọi đời tu của họ.

Những yếu tố khác của việc tuyên khấn đan tu nuôi dưỡng sự kháng cự lại những điều tai hại mà không ít thì nhiều là hiển nhiên: khoái lạc tội lỗi, ý riêng, một cuộc sống thế tục buông thả, tích lũy của cải vật chất. Vĩnh cư được nhắm tới chống lại khả năng của sự dữ được cải trang như lợi ích thiêng liêng.

Tự nó, lời khấn vĩnh cư làm cho người đan sĩ nam nữ không thể thay đổi từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác. Nhưng mục đích của nó thì sâu xa hơn. Nó làm cho chúng ta nhận ra một điều gì đó thường bị che khuất bởi nền văn hóa nông cạn và sự vội vã của chúng ta: Tự nó vĩnh cư là một thiện ích rất tốt đối với con người, là một điều cần thiết thực sự cho sự nhận biết những nhu cầu sâu thẳm nhất, những nhịp điệu và ơn gọi của trái tim con người. Trong đa số các trường hợp, vĩnh cư kiến tạo nhiều lợi ích lớn lao hơn là những gì có thể đạt được bằng cách thay đổi sang một cộng đoàn khác hay một Hội dòng khác. Nếu người đan sĩ giữ vĩnh cư, họ sẽ có khả năng thực hiện một sự thay đổi lớn lao, là sự thay đổi quan trọng duy nhất, đó là thay đổi chính mình, biến đổi trong Đức Kitô, cởi mở một cách trọn vẹn cho Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta tìm kiếm sự thỏa mãn (bằng lòng) ở một nơi nào khác, chúng ta không cố gắng phấn đấu để đạt được điều thiện hảo có thể là của chúng ta ở đây và lúc này.

Bởi đó, lời khấn vĩnh cư cách công khai bao hàm sự từ bỏ ý nghĩ tìm kiếm một lợi ích lớn hơn, thậm chí đó là lợi ích thiêng liêng, trong một cộng đoàn khác. Chúng ta cần phải đối phó một cách cẩn thận với những suy nghĩ liên quan đến việc thay đổi cộng đoàn, bởi vì chúng ta có thể lỗi sự vĩnh cư bằng suy nghĩ một cách chủ ý về sự thay đổi sang một nhà khác khi chúng ta tin rằng ý nghĩ đó là một cám dỗ. Tuy nhiên với sự cởi mở và sẵn sàng với vị linh hướng, với sự phân định lành mạnh thì mọi cơ hội đều có thể xảy ra.

Khi nào là lúc thích hợp để thay đổi sự vĩnh cư vì lợi ích thiêng liêng lớn hơn? Những thể thức chuyển dòng khác nhau thì có thể và thỉnh thoảng nên theo.

     Chuyển sang một nhà khác

Bất kể những gì vừa nói ở trên, cũng có thể xảy ra là một đan viện khác rất có thể thật sự là nơi tốt hơn cho sự phát triển thiêng liêng của một cá nhân. Một cách chung chung, khả thể này nên được tìm hiểu trước khi khấn trọn đời. Tuy nhiên, nếu bề trên và vị linh hướng đều đồng ý rằng sự thay đổi vĩnh cư có thể là điều tốt nhất, thì dĩ nhiên mọi sự sẽ xuôi thuận và rất có thể là điều khôn ngoan để thay đổi lời khấn vĩnh cư, ngay cả khi đã tuyên khấn trọn đời. Tuy nhiên những điều kiện sau đây thì rất quan trọng, cần phải lưu ý:

  • Ước nguyện thay đổi sự vĩnh cư không phải là một ý thích bất chợt. Nó phải được thử thách với thời gian một cách đặc biệt.
  • Người đan sĩ nam nữ ước nguyện thay đổi sự vĩnh cư phải là một con người trưởng thành với một tính cách chững chạc.
  • Cần phải loại bỏ ý riêng, nhưng phải tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa. Do đó tinh thần căn bản của sự tìm kiếm này phải là sự phục tùng ý kiến của những người có trách nhiệm. Bằng sự đón nhận quyết định của bề trên một cách điềm tĩnh, người đan sĩ có thể cho thấy lý do xin chuyển sự vĩnh cư của họ đến từ sự tìm kiếm thánh ý Chúa cách thực sự.
  • Sự chuyển vĩnh cư phải đảm bảo không phải là sự đào tẩu. Những vấn đề bình thường của đời sống cộng đoàn phải được đối diện chứ không nên tránh né. Những ai nghi ngờ ơn gọi đan tu của họ trong cộng đoàn mà họ tuyên khấn, hiếm khi cứu vãn được nó bằng cách chuyển sang một cộng đoàn khác. Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra là một số cá nhân thích ứng với môi trường đan viện này cách tốt hơn so với môi trường của một đan viện khác. Chúng ta có thể có ơn gọi sống trong một cộng đoàn nhỏ, nhưng lại không trong một cộng đoàn lớn; sống tại một nhà trong chính quê hương đất nước chúng ta nhưng lại không trong một miền truyền giáo. Tuy nhiên, trong thực tế, những nghi ngờ này phải được giải quyết trước khi tuyên khấn. Sau khi tuyên khấn, khấn sinh phải đặt mọi thứ ưu tiên cho việc tuân giữ sự vĩnh cư.

      Chuyển sang một Hội dòng chiêm niệm hơn

Trên nguyên tắc chúng ta không nên tìm cách chuyển sang một Hội dòng khác trừ khi Hội dòng đó tiêu biểu cho một lối sống nghiêm nhặt hơn. Trong thực tế, ngay cả hình thức chuyển dòng này cũng có nhiều trở ngại. Chuyển từ một Hội dòng hoạt động như dòng Don Bosco hay dòng Chúa Cứu Thế sang một Hội dòng chiêm niệm là một chuyện, nhưng lại là vấn đề khác khi chuyển từ một Hội dòng chiêm niệm sang một Hội dòng chiêm niệm khác, chẳng hạn như dòng Carthusians (do Thánh Bruno lập) hay dòng Camadolese. Các đấng bề trên của các dòng liên hệ không nên ban phép cho sự chuyển dòng này một cách dễ dàng. Thậm chí trong những trường hợp khi người đan sĩ cố gắng gia nhập vào một dòng khác, thường thì họ thất bại trong dòng đó, nhưng họ lại không muốn quay trở về lại cộng đoàn nguyên thủy của họ. Kết cục họ đánh mất ơn gọi và họ chẳng tìm được bất cứ điều gì. Đôi khi họ mất mọi thứ cả thiêng liêng lẫn vật chất. Nó thực sự nguy hiểm.

    Chuyển từ lối sống ẩn tu vào trong một dòng cộng tu

Bề trên nhà thỉnh thoảng có thể cho phép một thành viên của cộng đoàn được sống tách biệt hẳn khỏi đời sống cộng đoàn để sống một cuộc sống ẩn tu trong lãnh thổ của cộng đoàn. Trong thực tế, thỉnh thoảng các bề trên cũng có thể ban phép cho một thành viên sống ẩn tu ở ngoài lãnh thổ của đan viện miễn là với sự cho phép của Giám mục liên hệ. Điều này giả định rằng người đan sĩ liên quan phải được xét là có những phẩm chất cần thiết. Chẳng hạn triển vọng chuyển sang một Hội dòng chiêm niệm khác thì ít cần thiết hơn. Nó phản ánh tình huống được Thánh Biển Đức miêu tả:

Đan sĩ biệt tu hay ẩn tu. Họ không phải là hạng người sống theo lòng sốt sắng ban đầu, nhưng đã được thử thách lâu dài trong đan viện. Nhờ sự nâng đỡ của nhiều người, họ đã học biết cách chiến đấu với ma quỷ. Họ đã được huấn luyện nghiêm túc trong hàng ngũ anh em, rồi mới xuất thân chiến đấu một mình trong sa mạc. Từ đây họ đã đủ mạnh, không cần đến người khác hỗ trợ nữa, nhờ ơn Chúa giúp, họ tự sức mình vững vàng chiến đấu tay đôi với tính mê xác thịt và tư tưởng xấu[9].

Tự nó, đời sống của các vị ẩn sĩ, nhưng dưới quyền của bề trên, không nghịch lại lời khấn vĩnh cư. Người ẩn tu tiếp tục thuộc về cộng đoàn. Thậm chí họ có thể là biểu tượng và chứng nhân sống động cho cả cộng đoàn về những giá trị vốn là tâm điểm của ơn gọi đan tu như: theo Chúa Giêsu vào trong sa mạc, tính triệt để của Tin mừng, cầu nguyện không ngừng, tách mình ra khỏi đời sống xã hội để hiện diện với mọi người trong Thánh Tâm Chúa Kitô.

Tuy nhiên, ơn gọi đích thực của lối sống ẩn tu từ bên trong một dòng cộng tu thì rất ngoại lệ. Những ứng viên cho một lối sống như thế không những phải kết hợp được những phẩm chất của sự trưởng thành, vâng phục, quân bình về tình cảm, tinh thần cầu nguyện, gắn bó với lao động chân tay, đức ái huynh đệ, mà họ còn phải cảm thấy thiếu một số yếu tố quan trọng trong đời sống cầu nguyện mà họ không thể có được trong môi trường của đan viện. Đây là những dấu chỉ tích cực cần thiết cho loại ơn gọi đặc biệt này. Các đấng bề trên có thể phân biệt liệu có nên cung cấp một sự xa lánh lớn hơn khỏi thế giới, ít nhất là đối với ai liên quan, trong chính cộng đoàn không.

    Chuyển sang hiệp hội Tông Đồ hoặc bậc giáo dân

Liệu sự thay đổi như thế có thể vì lợi ích thiêng liêng lớn hơn của người đan sĩ không? Theo Thánh Tôma Aquinô, một sự kết hợp giữa cầu nguyện và hoạt động, nhờ đó chúng ta trao ban cho người khác hoa trái của sự chiêm niệm của chúng ta, là tiếng gọi cao hơn một đời sống thuần túy “chiêm niệm”[10]. Tuy nhiên, trong thực tế, các tu sĩ chuyển từ những dòng với loại cuộc sống pha trộn (mixed) này, chẳng hạn như dòng Phanxicô, Đaminh hay dòng Tên, sang lối sống đan tu, một cách nào đó như là sang một lối sống “cao hơn”. Thật sự hiếm có một đan sĩ đã thích ứng tốt với ơn gọi đan tu lại bắt gặp được “lợi ích thiêng liêng lớn hơn” của họ trong những hoạt động tông đồ nơi các dòng hoạt động. Một dấu chỉ thực sự ngoại thường, ví dụ từ Tòa thánh hoặc theo cách nào đó đến từ chính Thiên Chúa sẽ là điều cần thiết để thử một sự thay đổi như thế. Bởi vì sự thay đổi đó có thể trái nghịch với cả sự vĩnh cư và canh tân. Một nguyên tắc chung trong trường hợp này là những dấu chỉ bề trong và bề ngoài ủng hộ cho sự thay đổi phải mạnh bằng, hoặc mạnh hơn, những dấu chỉ đã dẫn người đó vào đan viện ngay từ đầu.

Trong trường hợp cụ thể, đan sĩ không thích ứng được với cuộc sống đan tu có thể – và nhiều lúc – phải chuyển sang ơn gọi hoạt động. Khó khăn trong trường hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc không có ơn gọi đan tu nơi đương sự, và điều này đã không được nhận ra cho đến khi đã tuyên khấn trọn đời. Cùng lúc đó, ai biết được, có thể có những khó khăn khiến một số thành viên rời bỏ đan viện là bởi vì chúng ta thiếu bác ái, kiêu ngạo và cứng lòng đối với người anh em. Cũng có thể những gương xấu của chúng ta là nguyên nhân khiến họ phải bỏ cộng đoàn ra đi tìm một ơn gọi khác. Chỉ có Chúa mới phán xét được mà thôi, phần chúng ta, đừng trở thành những nhà đạo đức giả. Tất cả chúng ta đều liên đới trách nhiệm về sự vĩnh cư hay xuất cư của các thành viên trong cộng đoàn. Cách tốt nhất để mọi thành viên có thể trung thành với lời khấn vĩnh cư là chúng ta cùng nhau kiến tạo một bầu khí của sự thấu hiểu, cảm thông và đức ái chân thật.

 3. TINH THẦN CỦA SỰ VĨNH CƯ

Tại sao chúng ta lại khấn vĩnh cư? Điều gì có thể giúp giữ người đan sĩ vĩnh cư khỏi rơi vào lối sống dễ dãi của sự thoải mái cá nhân? Làm sao ý niệm tĩnh như sự vĩnh cư lại tương hợp được với nhu cầu không ngừng tiến triển của tâm lý và sự phát triển của con người? Liệu nó có thực sự lành mạnh và đủ để ở lại trong một đan viện cho đến chết không?

Những câu hỏi này là những câu hỏi vô cùng quan trọng đối với chúng ta khi chúng ta tự vấn chính mình, cả với tính cách cá nhân lẫn tập thể. “Tôi là ai?” “Tôi đang làm gì ở đây?” “Lúc này tôi nên làm gì?” “Trách nhiệm của tôi là gì?” “Đâu là vị trí của tôi trong thế giới và ở giữa dân Thiên Chúa?” Sự vĩnh cư có thể giúp trả lời những câu hỏi như thế, bởi vì nó là một trong những yếu tố tiêu biểu nhất của đời sống đan tu như được Thánh Biển Đức cưu mang. Dĩ nhiên đức ái, vâng phục và trung tín thì quan trọng hơn vĩnh cư và hiệp nhất chúng ta trực tiếp hơn với Thiên Chúa. Dầu vậy, để hiểu sứ vụ mà người đan sĩ nam nữ hoàn thành trong thế giới và điều gì phân biệt ơn gọi đan tu với các hình thức sống khác trong Giáo hội, chúng ta cần phải đào sâu sự nhận thức của chúng ta về tinh thần của sự vĩnh cư. Một sự xem xét vắn gọn truyền thống đan tu sẽ giúp chúng ta nắm bắt được tinh thần này và sẽ thấy được ý nghĩa Kitô giáo của cam kết của chúng ta.

 Vĩnh Cư Đan Tu Theo Các Linh Phụ Sa mạc

Trong số các vị Linh Phụ Sa mạc có những đan sĩ hành hương, họ đi từ nơi này đến nơi khác, bắt chước y chang các vị anh hùng của dân Thiên Chúa, đặc biệt là Macabê, người đã cứu đức tin của Do Thái, bằng cách trốn vào sa mạc suốt Thế kỷ II Trước Công Nguyên, và đời sống của những người đã được thư gửi tín hữu Do Thái miêu tả: “Họ bị ném đá, bị cưa đôi, bị chết vì gươm; họ phải lưu đày, mặc áo da cừu da dê, chịu thiếu thốn, bị áp bức và hành hạ. Thế gian chẳng xứng đáng với họ! Họ đi lang thang trong hoang địa, trên đồi núi, trong hang hốc và hầm hố”[11]. Tuy nhiên, nhiều nhân chứng khác nhấn mạnh đến tầm quan trọng phải ở lại trong phòng của mình:

Hãy ở lại trong phòng của con và nó sẽ dạy con mọi thứ.

Cũng giống như cây không thể sinh hoa trái khi nó thường xuyên bị dời đi chỗ khác, cũng vậy người đan sĩ không thể sinh hoa trái nếu họ thường xuyên thay đổi nơi cư ngụ của mình.

Khi một người sống một nơi mà không sinh hoa kết trái ở đó, chính nơi đó sẽ ném người ấy ra ngoài như một người không sinh hoa trái.

Những lời này thật đáng để chúng ta nghiền gẫm. Người đan sĩ bất an tin rằng họ phải thay đổi nơi cư ngụ để bình an hơn hoặc thỏa mãn hơn, nhưng thật sự họ chẳng làm gì khác hơn là chứng tỏ sự cằn cỗi của họ trong cộng đoàn nơi họ là một thành viên. Họ chẳng sinh hoa kết quả và nghĩ rằng họ nên đi đến một nơi nào đó, nhưng chính đan viện tác động đến họ để “ném họ ra ngoài”. Tình huống thật nguy kịch. Họ có thể đánh mất ơn gọi và thậm chí tất cả ý nghĩa tôn giáo đối với đời sống của họ. Phương dược nằm ở chỗ cởi mở chính bản thân ra cho sự thật, tình yêu và sự hy sinh quên mình trong đan viện mà họ đã khấn, chứ không phải là thay đổi nơi chốn. Chúng ta tìm thấy một sự nhấn mạnh tương tự trong thiền định (meditation) Phật giáo. Sự thật cơ bản là có một mối liên hệ mật thiết giữa sự sinh hoa kết trái và sự vĩnh cư.

Một lần kia có người hỏi Viện phụ Antôn: “Con phải làm gì để đẹp lòng Thiên Chúa?” Vị trưởng lão trả lời: “Hãy nhớ giáo huấn của cha và những lời này, bất cứ nơi nào con đi, hãy luôn tưởng nhớ đến Thiên Chúa; bất cứ việc gì con làm, hãy làm theo cách thức của Kinh thánh. Và bất cứ nơi nào con sống, đừng có hấp tấp thay đổi chỗ ở. Nếu con giữ những luật này, con sẽ được cứu!”

Trong “lời cứu độ” này, Antôn không minh nhiên cấm thay đổi chỗ ở, nhưng nói rằng chúng không nên được thực hiện một cách nhẹ dạ hay thiếu động cơ nghiêm túc. Đây chính là tinh thần của sự vĩnh cư cộng tu. Nó có nghĩa là từ bỏ ý tưởng tìm kiếm điều lợi ích lớn hơn nơi một cộng đoàn khác, thậm chí đó là lợi ích thiêng liêng. Đây là lý do tại sao trong thời gian thử thách, khi cám dỗ tới cám dỗ chúng ta từ bỏ nơi này đi đến một nơi khác, hoặc khi những ý tưởng lãng mạn về “sự sắp xếp lý tưởng” xuất hiện, chúng ta phải cự tuyệt ngay với chúng. Ở đây, sự thử thách phải được đối diện chứ không phải chạy trốn.

Sự vĩnh cư Biển Đức đặt chúng ta vào tình huống, ở đó sớm hay muộn chúng ta sẽ chạm đến tâm điểm của mọi tình huống của con người, đó là sự lựa chọn giữa sự tuyệt vọng và hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa. Nó là một sự khủng hoảng căn tính ở điểm sâu nhất của sự hiện hữu của chúng ta. Sự hiện hữu của tôi thì quá mong manh và cộng đoàn của tôi lại mỏng giòn như chính tôi vậy. Tôi có thể phải làm gì đây? Bản tính nhân loại cố gắng bằng mọi cách có thể để trốn thoát câu hỏi nền tảng này. Thay đổi chỗ ở sẽ không giúp ích gì nhiều và sẽ làm chậm tiến trình đơn giản hóa nội tâm.

Các vị tổ phụ đã từng nói: Nếu cám dỗ xảy đến nơi con đang sống trong sa mạc, con đừng bỏ đi nơi khác lúc đang bị cám dỗ. Nếu con ra đi lúc đó, con sẽ gặp cũng cùng một chước cám dỗ đang đợi con bất cứ nơi nào con đến. Thay vào đó, con hãy kiên trì cho tới khi chước cám dỗ không còn nữa, nhờ đó sự ra đi của con không gây cớ vấp phạm cho các anh em sống cùng với con, và cũng không làm cho họ đau khổ.

Châm ngôn này của các vị tổ phụ cho thấy một khía cạnh khác nữa của vĩnh cư cộng tu. Nó không chỉ là vấn đề lợi ích của chính đan sĩ, nhưng còn là điều gì đó ảnh hưởng đến người khác nữa. Gương xấu và cớ vấp phạm phải được tránh xa. Khi người đan sĩ ôm ấp ơn gọi đan tu, thầy trao gửi chính mình trong sự hiện diện của cộng đoàn địa phương, Giáo hội hoàn vũ và toàn thể nhân loại, để kiên trì theo Đức Kitô trong nơi chốn đã được trao ban và với một cộng đoàn riêng biệt. Một lời khấn như thế không thể nào bị phá bỏ khi không có những lý do thực sự nghiệm trọng.

Đây là một đoạn trích khác từ các Linh Phụ Sa mạc: “Viện phụ Antôn đã từng nói: Khiêm nhường là miền đất mà Thiên Chúa muốn chúng ta đi tới và hiến dâng hy lễ của chúng ta”. Có lẽ ẩn dụ này là câu trả lời của Antôn cho câu hỏi từ một đan sĩ, người muốn thay đổi nơi cư ngụ của thầy để có thể làm hài lòng Thiên Chúa hơn. Người khôn ngoan thích sự hoán cải nội tâm và đức khiêm nhường hơn là cuộc hành hương bên ngoài.

Thánh Biển Đức đi theo lối tiếp cận này khi ngài nói rằng: “Không những mọi người phải bày tỏ sự tốt lành của đức vâng phục đối với Viện phụ, mà anh em còn phải vâng lời nhau, vì biết rằng mình phải qua con đường vâng phục này mà đến cùng Thiên Chúa”[12]. Tiếp đó ngài miêu tả người đan sĩ trưởng thành là người “thi đua vâng lời nhau”[13]. Cũng một sự tách ra khỏi thụ tạo được nuôi dưỡng bằng cách di chuyển từ nơi này đến nơi khác trong sa mạc, nó đã đạt được một cách tốt hơn nhờ sự kiên định tại một nơi và chấp nhận lối sống đan tu cộng đoàn, đặc biệt là các sỉ nhục của nó. Đối với môn đệ của Thánh Biển Đức, vâng lời nhau là con đường tốt nhất để thực hiện cuộc hành hương, đó là “đi tới Thiên Chúa”[14]. Sự vĩnh cư và hành hương có mục đích giống nhau: tự do nội tâm cho người môn đệ suốt đời trong trường học của Đức Kitô.

 Vĩnh Cư Cộng Tu Giữa Các Vị Đan Sĩ Xitô Tiên Khởi

Bản chất của vĩnh cư đan tu được làm sáng tỏ trong các tác phẩm của các đan sĩ Xitô Thế kỷ XII. Họ đã áp dụng lối giải thích truyền thống của dòng Biển Đức cho trường hợp người đan sĩ muốn rời bỏ cộng đoàn của họ và ôm ấp sự canh tân của các đan sĩ áo trắng (Xitô).

Thánh Bênađô thích các đan sĩ Biển Đức canh tân chính cộng đoàn của họ, nếu cần thiết, hơn là từ bỏ chúng để gia nhập các nhà của Xitô. Nguyên tắc nền tảng đối với Thánh Bênađô là “một người chẳng bao giờ được công chính trong sự thất hứa khi người đó đã hứa bằng lời khấn để làm những hành động tốt”[15]. Ba kết quả được rút ra từ điều này:

  • Thay đổi sự vĩnh cư bị loại trừ khi nó bắt nguồn từ sự bồn chồn tự nhiên hoặc là một yêu cầu để gia nhập vào một nhà dễ dãi hơn (thoáng hơn).
  • Thay đổi vĩnh cư thì có thể nhưng hiếm khi được khuyên làm khi đó là vấn đề của sự thay đổi từ đan viện này sang đan viện khác, cho dù đan viện sau có thể khắc khổ và nghiêm ngặt hơn. Tham khảo ý kiến bề trên của mình là điều cần thiết, như Tu luật Thánh Biển Đức đòi hỏi[16]. Thánh Bênađô viết như sau: “Từ bỏ điều tốt chắc chắn vì niềm hy vọng viễn vông thì thật chẳng an toàn chút nào… Bởi vì những gì chúng ta ước muốn cách dễ dàng khi chúng ta không có, thường trở nên không thể chịu nổi một khi chúng ta đã trải nghiệm, vì chúng ta muốn một điều gì đó một cách vô lý lúc này nhưng lại từ bỏ ngay sau đó”[17].
  • Sự thay đổi được chuẩn nhận khi nó là vấn đề của sự chuyển từ một đan viện thờ ơ và thối nát, nơi gương xấu chiếm ưu thế, đến một đan viện thật sự tốt và nghiêm ngặt. Thánh Bênađô nói rằng: “Tôi sẽ khuyên họ chuyển đến một nơi nào đó dưới sự hướng dẫn của Thần Khí của sự tự do, nơi họ có thể tự do hơn để sống như họ đã ràng buộc chính mình bằng lời khấn để làm điều đó”[18].

William of St.Thierry, trong chương Ba của Phần đầu Lá Thư Vàng (Golden Epistle) của mình, đã đưa ra những nguyên tắc tu đức cho vĩnh cư đan tu như sau. Không ai có thể sống đời sống cầu nguyện trong khi thường xuyên thay đổi từ đan viện này tới đan viện khác. Chúng ta không thể tập trung các năng lực của tâm trí nếu chúng ta không để cho thân xác và cảm xúc bén rễ trong một nơi cố định. Phương thuốc cho sự yếu nhược của linh hồn không phải là thay đổi nơi chốn nhưng là thay đổi con tim. Tiếp đến ngài nhấn mạnh đến yếu tố mới và quan trọng của vĩnh cư đan tu: hãy làm những gì vị linh hướng khuyên làm. Ở yên cùng một nơi thì chưa đủ, mà còn cần thiết phải ở dưới sự hướng dẫn của thầy dạy thiêng liêng nữa. Hướng dẫn thiêng liêng đi kèm với sự hiểu biết chính mình thực sự cần phải có thời gian. Phạm vi tốt nhất cho những điều đó là sự vĩnh cư, sự thanh bình, thanh vắng và vâng phục.

Chân phước Guerric thành Igny phát triển các chủ đề tương tự khi ngài áp dụng dụ ngôn người gieo giống[19] cho vĩnh cư đan tu. Lời khôn ngoan của Thiên Chúa rơi xuống mảnh đất cằn cỗi sỏi đá. Lúc đầu nó đón nhận với niềm vui, nhưng nó không phát triển được nơi người đón nhận nó vì thiếu rễ nơi người đó. Sự vĩnh cư là cần thiết để ơn gọi thần thiêng có thể bén rễ trong con tim của chúng ta. Điều này đặc biệt đúng với ơn gọi chiêm niệm đối với kiến thức thực nghiệm về Thiên Chúa qua đức ái. Ngài viết:

“Hạnh phúc thay kẻ sống với đức khôn ngoan…”[20]. Khi gặp đức khôn ngoan, con tim kiêu căng không tiếp nhận. Người khác, giống Salomon, lại để mình bị thú vui của xác thịt lôi kéo xa khỏi đức khôn ngoan; kẻ khác lại đánh mất chính mình trong những điều nhỏ nhặt hoặc qua sự thiếu kiên định của con tim, ruồng bỏ đức khôn ngoan, đức khôn ngoan bị vất đi bởi một sự khó khăn nhỏ nhặt nhất. Họ tin vào đức khôn ngoan trong một thời gian nhưng khi cám dỗ đến, họ quay sang làm điều khác. Tại sao họ lại ruồng bỏ đức khôn ngoan? Bởi vì họ đã không cắm rễ sâu cần thiết để vĩnh cư chúng. Tuy nhiên, làm sao họ có thể cắm rễ sâu nếu họ không ở yên cùng một nơi? Thật vậy, người công chính được trồng nơi nhà Chúa có thể bén rễ và được xây trên đức ái chỉ bằng cách ở yên cùng một nơi chốn. Sở dĩ như vậy bởi vì người đan sĩ sẽ không phát triển và trổ sinh hoa trái trường cửu trừ khi họ cắm rễ sâu vào lòng đất là đời sống đan tu”[21].

Chúng ta có thể thấy ở đây sự chắc chắn và bản chất khách quan của tinh thần đan tu. Đối với người đan sĩ có ý định tốt và sẵn sàng sống với các anh em cho đến chết thì chưa đủ. Hãy để thực tế chứng minh sự thành tâm của những ý định của họ. Hãy để họ vĩnh cư trong chính cộng đoàn của họ. Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra nếu họ thật sự muốn sống với các anh em của họ hay ngược lại, họ chỉ đơn giản đang đánh bóng sự lãng mạn với những lời lẽ hoa mỹ về tình yêu huynh đệ.

Ơn gọi đan tu đích thực không nhất thiết là sự nối kết với sự nhiệt thành to lớn ban đầu. Rất ít sách viết về điều này. Khởi đầu tốt là ân sủng đến từ Thiên Chúa, nhưng làm sao nhiều người bắt đầu xuôi thuận và rất có triển vọng lại không kiên vững! Sự kiên vững là bằng chứng về sự quảng đại chân thật. Sự quảng đại chân thật này không bị khô héo dưới các khó khăn, lề thói hàng ngày và sự buồn tẻ của đời sống cộng đoàn. Một đời sống thiêng liêng bình thường, nhìn bề ngoài, theo tiến trình của nó cho đến cùng thì tốt hơn một đời sống thiêng liêng bắt đầu cách rực rỡ, có thể với sự tán thưởng từ khán giả, nhưng lại kết thúc giữa đường. Chân phước Guerric đã kết thúc bằng cách nói rằng rất ít khi ngài khuyên chuyển đan viện mặc dầu điều này có thể giúp ích cho một vài người. Một cách chung chung, ngài nghĩ rằng ước muốn thay đổi vĩnh cư đến từ sự thiếu kiên nhẫn, sự xao xuyến và sự đánh lừa của một sự tưởng tượng đầy màu sắc.

Những nhà tâm lý học hiện đại tốt nhất xác nhận sự đánh giá của Chân phước Guerric về những thuận lợi của sự vĩnh cư cả bên trong và lẫn bên ngoài. Chúng ta không phải là các thiên thần và sự tiến triển tâm lý của quá trình hấp thụ của chúng ta cần phải có thời gian. Nó cần một nhịp điệu tự nhiên của sự phát triển để suy đi xét lại một cách tôn kính, giống như một sự đi lên dần dần theo vòng trôn ốc xung quanh một tâm điểm. Tâm điểm này là trái tim con người mà chỉ một mình Thiên Chúa thấy[22] và Người ngỏ lời với nó. Bí quyết của sự trưởng thành cá nhân là khám phá và thực sự làm chủ tâm điểm nội tâm này của con người và căn tính Kitô hữu. Tuy nhiên, thông thường điều này đòi hỏi phần nào sự vĩnh cư, đó là, một đời sống quy củ trong một nơi hoặc trong khuynh hướng hoạt động một cách lâu dài.

Kinh ngiệm cho thấy rằng chẳng dễ chút nào để kiên trì trong tiến trình ổn định ngăn nắp hơn của quá trình hấp thụ thiêng liêng. Từ đó dẫn tới một thời kỳ khủng hoảng của sự ác cảm, căng thẳng nội tâm, và thường dẫn đến những mâu thuẫn bên ngoài. Người đan sĩ phải vật lộn một cách nội tâm với những gì họ bị vạch trần ra trong đọc sách, học hành, công việc và các mối quan hệ cộng đoàn. Đời sống cầu nguyện cũng có thể trở nên khó khăn hơn. Truyền thống đan tu gọi tất cả những thứ này là “kinh nghiệm sa mạc”, trong đó một trong những cám dỗ chủ yếu là trở nên thiếu kiên định, đó là đứng dậy và ra đi: rời khỏi phòng, rời khỏi sa mạc, rời bỏ đời sống cầu nguyện, rời bỏ cộng đoàn đáng khinh này, và rời bỏ Giáo hội!

Lời khấn vĩnh cư cộng tu chiến đấu chống lại những ý nghĩ như thế bằng cách nuôi dưỡng hai hình thức bổ sung của sự kiên vững: vĩnh cư của nơi chốn, nhờ đó chúng ta có thể chấp nhận sự biết mình hèn mọn và vĩnh cư của con tim, nhờ đó chúng ta khám phá ra cung thánh nội tâm của chính mình.

  Những Suy Tư Mang Tính Giáo Lý

Khi suy tư về ý nghĩa của vĩnh cư trong thế giới hôm nay, thật dễ dàng để thấy rằng vĩnh cư cộng tu, trong đó chúng ta ở lại suốt đời với cộng đoàn nơi chúng ta tuyên khấn, tiêu biểu cho một sự hy sinh văn hóa cách thâm thúy. Sự bất định căn bản của văn hóa trong Thế kỷ XXI loại trừ tất cả mọi thứ xem ra tĩnh và không thể di chuyển. Kỹ thuật đã làm cho thế giới quen với kết quả ngay lập tức. Do đó không ngạc nhiên khi vĩnh cư cộng tu bị đặt thành vấn đề. Điều này càng làm cho chúng ta thấy tầm quan trọng của nó và đánh giá cao giá trị của nó đối với việc theo Đức Kitô, Người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa. Ánh sáng đức tin dạy chúng ta điều gì trong vấn đề này?

Chúng ta đã thấy các chứng nhân đan tu từ Thế kỷ IV đến Thế kỷ XII dùng hình ảnh cây trổ sinh hoa trái để chỉ cho thấy sự cần thiết của vĩnh cư. Cũng giống như cái cây hay hạt lúa mì không thể trổ sinh hoa trái trừ khi trước hết nó phải đâm rễ sâu vào lòng đất. Người đan sĩ cũng vậy, sẽ không lớn lên được trong đức ái nếu họ không cắm rễ trong căn phòng (đời sống ẩn tu), hay trong cộng đoàn của họ (đời sống cộng tu). Hình ảnh cắm rễ sâu để sinh hoa kết trái đến trực tiếp từ Kinh thánh.

  • Dân Israel là vườn nho của Thiên Chúa đã không sinh hoa kết trái[23].
  • Người công chính giống như cây trồng đâm rễ sâu trong lề luật của Chúa[24].
  • Thay đổi nơi cư ngụ thì thật chẳng khôn ngoan chút nào[25].
  • Chúa Giêsu vận dụng giáo huấn này cho các môn đệ của Người khi Người giải thích:

          Như hạt giống rơi trên đất tốt, họ là người nghe lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả[26].

          Cũng như cành nho không tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái… Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn[27].

Đoạn trích này từ diễn từ biệt ly chứa đựng chìa khóa của tinh thần vĩnh cư cộng tu. Tất cả mục đích của việc tuyên khấn trọng thể của chúng ta là để giúp chúng ta trong những cố gắng yếu đuối của mình để ở lại trong tình yêu của Chúa Giêsu. Đây là những gì sự vĩnh cư trong Lời Hằng Sống của Thiên Chúa muốn nói. Khi sự vĩnh cư trong tình yêu Thiên Chúa (Divine agape) hiện diện, thì vương quốc của Đức Kitô đã đến, và bất cứ cộng đoàn đan tu nào cũng đã chinh phục được căn tính bên trong của nó.

Rõ ràng có nhiều con đường dẫn tới sự kiên định trong tình yêu của Đức Kitô. Chúng trùng khớp với thiên hình vạn trạng ơn gọi trong Giáo hội. Tuy nhiên, có một điều gì đó đặc biệt về sự vĩnh cư cộng tu. Ràng buộc chính mình một cách vĩnh viễn vào một cộng đoàn và một nơi chốn cụ thể tương ứng với bản chất giữa thân xác và linh hồn, giữa vật chất và tinh thần, là tâm điểm của phong trào đan tu như một thể chế, và của mọi ơn gọi đan tu riêng biệt. Tinh thần đan tu theo đuổi nguyên tắc tổng thể của sự cụ thể hóa hoặc nhập thể vốn có của chính Kitô giáo, trong đó tinh thần và vật chất về cơ bản không đối kháng nhau. Trái lại, tinh thần và vật chất đã được hòa giải trong Thân Thể sống động của Đức Kitô, là thân thể lịch sử tính của Người như được miêu tả trong các Phúc Âm và bây giờ là Thân Thể vinh quang và  mầu nhiệm của Người là Hội Thánh và bí tích Thánh Thể. Thân Thể thể lý này là tâm điểm của tạo thành mới, bởi vì nó đã là một nhân loại được hòa giải, một trật tự mới của những thứ mà trong đó “thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa”[28].

Sự hòa giải của tinh thần và vật chất trong Đức Giêsu là lý do tại sao đời sống thiêng liêng là phương tiện để tìm thấy biểu hiện và sự ủng hộ của nó trong trật tự bên ngoài của cộng đoàn mà chúng ta đang sống. Khiêm nhường nội tâm, điều có thể hòa hợp với sự kính trọng bên ngoài nơi người khác, được cụ thể hóa đối với người đan sĩ trong trạng thái khiêm tốn của cuộc sống. Tương tự như vậy, canh thức diễn đạt và nuôi dưỡng sự tỉnh thức thiêng liêng mà mỗi người Kitô hữu được mời gọi. Chay tịnh và tiết dục nhằm để phản chiếu và khuyến khích sự tự hiến một trái tim tinh tuyền.

Nguyên lý của sự hiện thân cũng được áp dụng cho sự vĩnh cư. Mọi người được gọi để ở lại trong tình yêu của Đức Kitô. Một cách chính xác, đời sống Kitô hữu hệ tại ở điều này. Nhưng cấu trúc và tinh thần của thế gian không giúp ích. Trái lại, trong thực tế nó đối kháng với sự ở lại trong tình yêu của Đức Kitô. Bởi đó, sự khôn ngoan của Thiên Chúa kêu gọi một số người diễn đạt một đời sống Kitô giáo hợp nhất hơn, trong đó có sự hiện thân của vĩnh cư. Điều này bao hàm một sự thực hành thể lý, mà qua đó sự ở lại trong tình yêu của Đức Kitô trở thành không phải chỉ có thật, nhưng còn chi phối và lan tỏa khắp mọi nơi. Sự vĩnh cư cộng tu có mục đích để đạt được điều đó. Nó đặt các yếu tố khác của việc tuyên khấn đan tu lại với nhau và làm cho chúng “vĩnh cư”, đó là trong mức độ có thể tham dự vào sự sống đời đời của Nước Trời, của sự sống của Đức Kitô Phục Sinh ngay tại đây và lúc này. Sự vĩnh cư trong cộng đoàn có nghĩa là thiết lập vương quốc Thiên Chúa trong toàn thể con người – thân xác và linh hồn, sự tác động xã hội và cầu nguyện chiêm niệm – là cách thế vương quốc Thiên Chúa đã hiện diện trong Đức Giêsu Kitô và Mẹ Maria và sẽ hiện diện trong tất cả mọi sự đã được cứu độ:

Dân Thiên Chúa không lập thành trì vĩnh viễn ở đời này nhưng đi tìm một thành đô mai sau, vì thế, khi giải gỡ người tu sĩ khỏi những lo lắng trần gian, bậc tu trì đã tỏ lộ cách rõ ràng hơn cho mọi tín hữu thấy gia sản trên trời đã hiện diện ngay dưới trần gian này, vừa làm chứng rằng ơn cứu chuộc của Đức Kitô đã đem lại một đời sống mới và vĩnh cửu, lại vừa tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang của Nước Trời”[29].

Giống như các thành phần khác của việc tuyên khấn đan tu, lời khấn vĩnh cư chỉ đơn giản là làm rõ những gì đã có trong lực đẩy căn bản của ơn gọi đan tu, là làm cho Nước Thiên Chúa mau ngự đến, và đưa lịch sử cứu độ đến sự viên mãn của nó. Bởi vĩnh cư cộng tu, đan sĩ không những chỉ có một đảm bảo lớn hơn về sự ở lại trong tình yêu của Đức Kitô, nhưng còn toàn thể Giáo hội nhận được một chứng nhân hữu hình về ơn gọi thiết yếu của mình, đó là trở nên Hiền Thê trung tín của Đức Kitô.

Trung tín! Toàn bộ bi kịch của lịch sử cứu độ được tóm gọn vào trong chủ đề kép của sự trung tín và thất tín với Giao ước. Gia-vê Thiên Chúa thì luôn luôn trung tín – “Tình yêu Ngài tồn tại muôn đời” – nhưng dân Người lại thất tín với Chúa của mình. Mặc dù Gia-vê Thiên Chúa tìm kiếm sự trung tín này, Người chỉ có thể tìm thấy nó trong một nhóm thiểu số của dân Người mà thôi. Họ là số còn sót lại của Israel, là người nghèo trung tín, họ được dẫn dắt và nhân cách hóa bởi Người Tôi Tớ cao thượng và bí nhiệm của Thiên Chúa: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng”[30].

Nhờ hành động chịu đau khổ thay cho người khác của Chúa Kitô và sự trung tín của Đức Maria, nhân loại được thiết lập một lần cho mãi mãi trong sự trung tín của Phu Quân của nó là Con Một Thiên Chúa. Đây là sứ vụ của Chúa Thánh Thần, như Đức Kitô đã nói trong bữa tiệc ly: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận… Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em”[31].

Nước Trời là sự hoàn hảo của sự trung tín lẫn nhau giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại. Trong sách Khải Huyền, chúng ta không chỉ thấy phần thưởng tương lai của vĩnh cư đan tu, mà còn là ý nghĩa của sự linh hứng và tinh thần hiện tại của nó trong sự sáng tạo mới, và được hòa giải nhờ Đức Kitô Phục Sinh, trong đó, cộng đoàn đan tu có sứ vụ trở nên điềm báo trước hữu hình về tất cả những điều đó.

 “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như Tân Nương trang điểm để đón Tân Lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: ‘Đây là Nhà Tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất’. Đấng ngự trên ngai phán: ‘Này đây ta đổi mới mọi sự’”[32].

Những đặc tính của Giáo hội lữ hành hướng về nơi cư ngụ vĩnh cửu đã được phác họa trong những tài liệu của Công đồng Vatican II. Hẳn không phải là tình cờ mà cách diễn tả của những tài liệu này ăn khớp một cách hoàn hảo với đời sống vĩnh cư đan tu: “Tiến bước qua thử thách và bách hại, Giáo hội được kiên cường nhờ sức mạnh của ơn Chúa đã được hứa ban để, cho dù với xác thịt yếu hèn, Giáo hội vẫn không đánh mất sự trung tín hoàn toàn nhưng vẫn luôn là Hiền Thê xứng đáng của Chúa, và không ngừng canh tân chính mình dưới tác động của Thánh Thần cho đến khi qua thập giá đạt tới ánh sáng không hề tắt”[33].

4. CÁ NHÂN VÀ CỘNG ĐOÀN

    Điều Nào Đến Trước?

Chúng ta có thể thấy, lời khấn vĩnh cư của người đan sĩ có một sức mạnh ngoại thường để thể hiện ý nghĩa trung tâm của ơn gọi Kitô giáo, một sức mạnh được cho là lớn hơn bất kỳ cam kết nào của việc tuyên khấn đan tu được thực hiện một cách riêng biệt, bởi vì nó hướng tất cả chúng ta vào trong bữa tiệc tình yêu vĩnh cửu của Con Chiên. Thực vậy, vĩnh cư theo Tu luật Thánh Biển Đức phản ánh một cách trung thực mầu nhiệm của Giáo hội như là Hiền Thê của Chúa Kitô. Bởi đó, thật cần thiết để làm sáng tỏ ở đây những đòi hỏi cụ thể hơn của cá nhân trên mức độ khổ hạnh trực tiếp hơn trong lối sống đan tu. Điều này đặc biệt cần thiết bởi vì một số tác giả về Đời sống Thánh hiến có thể nhấn mạnh mối liên hệ giữa Giêrusalem trên trời và cộng đoàn dòng tu, đến độ mà hầu như tất cả ý nghĩa của các lời khấn dòng sẽ được được tìm thấy trong khía cạnh cộng đoàn của chúng. Những lời hứa của việc tuyên khấn sẽ là những cách thế chủ yếu để thiết lập cộng đoàn Kitô giáo hoàn hảo và sự hiệp nhất cá nhân với Đức Kitô sẽ chỉ là thứ yếu.

Một quan điểm như thế dường như là cầm đèn chạy trước ô tô, bởi vì toàn bộ mục đích của cộng đoàn dòng tu là sự biến đổi trong Đức Kitô của mỗi thành viên của nó. Đây là những gì thiết lập nên thiện ích chung cho tất cả mọi người. Cộng đoàn là vì tất cả những ai làm nên nó; là lý do tại sao sự vĩnh cư cộng tu một cách tiên quyết không phải vì sự hoàn hảo của cộng đoàn trong ý nghĩa làm cho nó trật tự và kiên định hơn. Thay vào đó, mục đích của cộng đoàn là cổ võ người đan sĩ tìm kiếm không ngừng sự viên mãn đời sống của Thiên Chúa như được biểu lộ trong Đức Kitô. Tình yêu huynh đệ, cộng đoàn Kitô giáo, và sự biến đổi văn hóa nhân loại bắt nguồn từ việc theo Đức Kitô cách cá nhân, và từ sự viên mãn qua sự biến đổi con tim.

Khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa này không phải là thành quả của cá nhân chủ nghĩa vị kỷ. Nó đơn giản là bản chất bên trong của ơn gọi phụng sự Thiên Chúa. Ơn gọi đan tu, như được miêu tả trong Lời mở của Tu luật Thánh Biển Đức, là một sự đối thoại thân mật giữa Đức Kitô và người đan sĩ. “Con ơi! Lắng nghe lời thầy dạy, ghé tai lòng con mà thuận tình đón nhận lời cha hiền khuyên nhủ”[34].

Theo tiếng gọi của Thiên Chúa, người đan sĩ nam nữ gia nhập một nhóm người cùng chí hướng, đón nhận sự hướng dẫn thiêng liêng, những gương lành, đời sống cầu nguyện, và trên hết là sự cần thiết của tình yêu để làm sâu sắc hơn sự đối thoại giữa cá nhân người đan sĩ với Đức Kitô, và đi vào Nước Trời một cách trọn vẹn. Cộng đoàn là vì các thành viên của nó, không phải như họ là thành viên của một câu lạc bộ, nhưng vì họ là những con người được Thiên Chúa yêu mến và bởi đó được Người kêu gọi để trở nên giống Đức Kitô, Con của Người hơn. Nói cách khác, giáo huấn xã hội của Giáo hội một cách chung chung cũng áp dụng cho cộng đoàn đan tu.

Trật tự và tiến bộ xã hội phải luôn luôn nhằm lợi ích các nhân vị, bởi vì việc sử dụng vạn vật phải tùy thuộc vào việc phục vụ các nhân vị chứ không phải ngược lại. Điều này chính Chúa đã nói đến khi bảo rằng ngày nghỉ được lập ra vì con người chứ không phải con người được dựng lên vì ngày nghỉ… Để đi tới những hệ luận thực hành và khẩn thiết hơn, Công Đồng nhấn mạnh về sự tôn trọng con người: mỗi người đều phải coi người lân cận, không trừ một ai, như ‘bạn thân thứ hai’, vì thế phải ưu tiên quan tâm đến sự sống và những phương tiện cần thiết giúp họ sống một cuộc sống xứng đáng[35].

Dù sao đi chăng nữa, tính ưu việt mỗi người không phủ nhận sự thật rằng việc tuyên khấn các lời khấn nói chung, và đặc biệt lời khấn vĩnh cư nói riêng, có một mối liên hệ trực tiếp đến cộng đoàn nơi các lời khấn khác được tuyên khấn. Chúng ta thấy điều này trong cách tiếp cận của Thánh Biển Đức với “sự vĩnh cư trong cộng đoàn”[36]. Mối liên hệ giữa người đan sĩ và cộng đoàn được cắm rễ trong mẫu gương của mối liên hệ giữa Đức Giêsu và các môn đệ của Người. Mối liên hệ đó diễn đạt một cách nhân loại sự hiệp thông nội tại giữa Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần:

Sau khi Đức Giêsu lên trời, nhờ ân ban Thánh Thần, một cộng đoàn huynh đệ đã thành hình quanh các Tông Đồ, họ tụ họp lại để ca ngợi Thiên Chúa và sống kinh nghiệm hiệp thông cụ thể. Giáo hội chủ yếu là mầu nhiệm hiệp thông, ‘đoàn dân được kết hiệp nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’. Đời sống huynh đệ nhằm phản ánh chiều sâu và sự phong phú của mầu nhiệm này, bằng cách tạo ra một nơi cư ngụ cho Thiên Chúa Ba Ngôi giữa môi trường nhân loại, nhằm tiếp tục đưa vào lịch sử những ân huệ hiệp thông mà chỉ duy Ba Ngôi Thiên Chúa mới có”[37].

Trong thực hành, làm sao người đan sĩ nam nữ có thể tìm được sự cân bằng thích hợp giữa phẩm cách cá nhân của chính họ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ sống, giữa ơn gọi sâu thẳm nhất của họ là mối liên hệ thân mật với Đức Kitô, và những nghĩa vụ xã hội của đời sống cộng đoàn? Các thế hệ đan tu đã cố gắng giải hòa trong chính cuộc sống hàng ngày của họ hai chiều kích này của cuộc sống thường có vẻ như đối kháng nhau.

Con đường đi tới sự hòa giải đó không ở tại hành động tùy hứng giữa “lao động và cầu nguyện” (ora et labora), giữa những khoảnh khắc của cầu nguyện cá nhân và thời khóa biểu của việc thờ phượng cộng đoàn. Những gì chúng ta cần không phải là sự quân bình trong từng chi tiết, nhưng là sự biến đổi. Đây là những gì mà niềm vui và nỗi buồn của đời sống đan tu có lý do để tồn tại. Hơn chỉ là sự quân bình tinh tế, nó là vấn đề của một viễn cảnh mới về đời sống con người, về một sự hiệp nhất cao hơn vượt qua cả công việc lẫn sự cầu nguyện. Chỉ có ân sủng của Chúa Thánh Thần mới làm được điều đó mà thôi. Viễn cảnh mới đó là sự hiệp thông (koinonia) mà chúng ta đã thấy trong nhiều dịp. Đó là một sự liên đới chia sẻ những thiện ích thiêng liêng và vật chất xảy ra trong xã hội của những người đã được tái sinh nhờ bí tích Rửa Tội, là Thân Mình Đức Kitô[38]. Sự giao hòa giữa cá nhân và cộng đoàn xảy ra qua sức thuyết phục, được sinh ra bởi đức tin, rằng tình yêu tự hiến cho cả bạn bè lẫn kẻ thù là siêu phàm. Kế đến, một tình yêu như thế sẽ tự biểu lộ ra trong sự sẵn sàng phục vụ người khác cách quảng đại; sẵn sàng đón tiếp người khác như họ là, không phán xét họ trừ khi để thấy rằng họ là đối tượng của tình yêu vô biên của Thiên Chúa, “hết sức nhẫn nại chịu đựng những yếu đuối xác hồn của nhau”[39] và tha thứ cho nhau “không phải bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy”[40].

Cuối cùng, làm sao chúng ta có thể nói chúng ta tin vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa và yêu mến Người nếu chúng ta không yêu mến những người sống với chúng ta? Cộng đoàn, nơi từ đó mỗi người có quyền được nhận những hướng dẫn, gương mẫu, sự giúp đỡ và tình thương, là một cộng đoàn cụ thể chứ không phải trừu tượng. Trở thành thành viên của cộng đoàn cụ thể này, và một cách đặc biệt bằng lời khấn trọng thể vĩnh cư, chúng ta mang vào mình trách nhiệm của việc trao ban cho những người anh em sống chung với mình sự giúp đỡ cả tinh thần và vật chất với tất cả khả năng của mình. Khi làm thế, chính chúng ta được lớn lên như những nhân vị và con cái Thiên Chúa: “Hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại”[41].

 Linh Đạo Hiệp Thông

Trong thực hành, lời khấn vĩnh cư là một cam kết đối với tình yêu cộng đoàn – tình yêu philia, hay tình yêu gia đình, mà chúng ta đã thấy như chiều kích của khiết tịnh Kitô giáo – bởi vì để ở lại trong tình yêu Đức Kitô (agape) và sinh hoa kết quả trong Người có nghĩa là yêu các người bạn đồng hành của mình trên cuộc hành trình. Đối với người đan sĩ nam nữ, cộng đoàn mình sống, với cơ cấu, hiệp thông ân huệ của đức tin, đức cậy và đức mến, như là Bí tích của dân Thiên Chúa trên đường lữ hành tiến về quê trời. Vĩnh cư cộng tu liên kết chúng ta một cách trực tiếp với sự hiệp nhất trong sự khác biệt của các thành viên của cộng đoàn. Sự hiệp thông (Koinonia) là linh hồn của cộng đoàn mà Chúa Thánh Thần đã tạo dựng trong Giáo hội sơ khai và tiếp tục tạo dựng qua các thế kỷ. Nó phản ánh sự quảng đại của Thiên Chúa đối với con cái của Người, và một cách tuyệt đối nó thể hiện sự tự hiến của Chúa Cha cho Chúa Con và của Chúa Con cho Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.

Thực tại thánh của mối hiệp thông giữa các thành viên với nhau làm phát sinh điều thường được gọi là “linh đạo hiệp thông”. Nó làm nên một phần cần thiết của tinh thần vĩnh cư Biển Đức và được giải thích rõ ràng sau đây:

  1. “Linh đạo hiệp thông” trước hết biểu lộ sự chiêm ngắm của con tim mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đang cư ngụ trong chúng ta, và chúng ta phải có khả năng thấy được ánh sáng của Người đang chiếu giãi trên gương mặt các anh chị em xung quanh chúng ta.
  2. “Linh đạo hiệp thông” cũng có nghĩa là khả năng để nghĩ đến các anh chị em của chúng ta trong đức tin bên trong sự hiệp nhất sâu xa của Thân Thể Mầu Nhiệm và do đó như “họ là một phần của tôi”. Điều này làm cho chúng ta có khả năng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với họ; có khả năng đọc ra được những khao khát của họ; có khả năng chăm lo những nhu cầu của họ, và cống hiến cho họ một tình bạn thắm thiết và chân thành.
  3. “Linh đạo hiệp thông” cũng bao hàm khả năng nhìn thấy những gì là tích cực nơi người khác để đón nhận và đánh giá nó như quà tặng của Thiên Chúa: không phải chỉ như quà tặng cho các anh chị em người nhận nó một cách trực tiếp, nhưng cũng như món quà cho tôi nữa.
  4. “Cuối cùng, linh đạo hiệp thông có nghĩa là biết cách “tạo không gian” cho các anh chị em của chúng ta, mang “lấy gánh nặng cho nhau” (Gl 6,2), và chống lại các cơn cám dỗ ích kỷ hằng bủa vây chúng ta và khơi dậy sự cạnh tranh, tính háo danh, sự ngờ vực và tính ghen tương”[42].

Có rất nhiều điều để cả cá nhân và cộng đoàn phản tỉnh. Cuộc sống biến đổi chính mình tràn đầy đức tin cần thiết cho linh đạo hiệp thông này chính là một sự phát triển tốt nhất có thể có của ơn gọi cá nhân của từng anh chị em chúng ta. Hơn thế nữa, “trừ khi chúng ta đi theo con đường thiêng liêng này, nếu không những cơ cấu bề ngoài của đời sống chung sẽ có rất ít tác dụng. Nó sẽ trở thành những cổ máy không hồn, ‘những mật mã’ của cuộc sống chung hơn là cách thức diễn đạt và phát triển của nó”[43]. Bởi đó, cuộc sống trong đan viện, với rất nhiều cơ cấu bề ngoài của cuộc sống cộng đoàn, có một nhu cầu đặc biệt đối với những chiều kích của cuộc sống hiệp thông Kitô giáo như được miêu tả ở trên nhằm tránh rơi vào sự giả hình xấu xa.

Tuy nhiên, với tình yêu huynh đệ chân thành, người đan sĩ chắc chắn sẽ nhận ra mình chia sẻ thập giá của Đức Kitô cách mật thiết. Đó sẽ là một phần rất quan trọng để phát triển đời sống nhân bản. Nó sẽ thanh luyện và dẫn người đan sĩ đến với Đức Kitô Phục Sinh như Thánh Biển Đức đã chỉ ra: “Không bao giờ chúng ta lìa xa giáo huấn Người; trái lại chúng ta kiên trì trong giáo lý của Người nơi đan viện cho đến chết, kiên nhẫn chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô để đáng được dự phần trong Nước Người”[44].

Bản văn này trích từ Lời mở của Tu luật Thánh Biển Đức mang tính quyết định để vĩnh cư Biển Đức được ngưỡng mộ. Trong các bản văn khác của Tu luật đề cập đến vĩnh cư, đối tượng của nó là sự sát nhập vào trong Hội dòng, nghĩa là vào trong cộng đoàn như đoàn chiên của Đức Kitô dưới sự hướng dẫn của Viện phụ là mục tử hoặc đại diện của Đức Kitô. Tuy nhiên, theo bản văn chúng ta vừa đề cập ở trên, đối tượng mà người đan sĩ tuân giữ là “giáo huấn” và “chỉ dẫn” của Thiên Chúa. Nhưng giáo huấn này là gì nếu không phải là tình yêu, là điều răn mới, là agape mà từ cung lòng Chúa Cha, Đức Giêsu đã đem vào trong thế gian cùng với Người để thông ban cho các Tông Đồ và cho chúng ta, để nó thanh tẩy tất cả tình yêu nhân loại và biến đổi thành của mình? Đó là lý do tại sao sự miêu tả đời sống chung của Thánh Biển Đức, phần nhiều lấy từ các thư của Thánh Phaolô, nhắm tới tinh thần vĩnh cư một cách quá rõ ràng khi ngài nói: “Đừng ai chạy theo tư lợi, nhưng tốt hơn hãy mưu ích cho tha nhân, yêu thương nhau trong tình huynh đệ thanh khiết, kính sợ Chúa trong đức ái, kính yêu Viện phụ trong tình mến chân thành và khiêm tốn. Tuyệt đối không lấy gì hơn Chúa Kitô, nguyện xin Người dẫn đưa tất cả chúng ta đến cuộc sống đời đời”[45].

 Tình yêu khiêm nhu mà Thánh Biển Đức nói ở đây đưa chúng ta đến một trong những khía cạnh đẹp đẽ hơn – nhưng thường bị bỏ quên – của sự vĩnh cư đan tu, đó là được nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu trong sự liên đới của Người với một quốc gia và một nền văn hóa tầm thường của nhân loại. Đức Giêsu đã không thay đổi quê hương xứ sở hoặc các Tông Đồ, ngay cả khi họ không được như Người mong muốn. Người biết rằng quyền năng của Thiên Chúa có thể trở nên phổ quát trong đời sống của một cá nhân, mặc dù cá nhân đó sống trong một đất nước hay một cộng đoàn không được biết đến. Có nhiều nền văn minh khác tiến bộ hơn, nhân đạo hơn dân tộc Israel thời Chúa Giêsu, chẳng hạn như Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp hoặc Rôma, nhưng Người đã không chọn để được sinh ra trong những dân tộc đó mà đã chọn dân Israel. Cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng, thậm chí một con người vô danh bất cứ nơi đâu trên thế giới, cũng có thể được đụng chạm đến đời sống thiêng liêng của những con người hoàn toàn trung tín với ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống của họ, thậm chí có thể bị giết chết bởi sự trung tín đó.

Một lần nữa chúng ta thấy sự vĩnh cư Biển Đức là theo Đức Giêsu một cách tận căn trong sự trung tín của Người với Chúa Cha trong những tình huống chẳng hoàn hảo chút nào. Nó có nghĩa rằng, bất kể điều gì sẽ xảy đến, đây là nơi cho bạn phục vụ Chúa của mình. Kết quả sẽ giống như những gì đã xảy ra đối với Đức Giêsu khi Người trao ban chính mình cho thánh ý của Chúa Cha trong một ngôi làng hẻo lánh miền Galilê và trên một ngọn đồi nhỏ ngoài thành Giêrusalem. Một cách cụ thể, sự thờ phượng Thiên Chúa Cha cách hoàn hảo đưa đến ơn cứu độ cho nhiều người. Uy quyền bí mật của sự vĩnh cư nằm ở tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu này trước hết thanh luyện trái tim con người khỏi những ước muốn sai trái, rồi nó bắt đầu đụng chạm đến người khác. Thiếu sự thay đổi bề ngoài kích thích sự thanh luyện bên trong – metanoia, hoán cải – một cách mầu nhiệm cho phép tình yêu của Thiên Chúa tuôn trào từ trái tim Chúa Giêsu vào trong cộng đoàn và ra toàn thế giới. Công đồng Vatican II đã nói về điều này như sau:

“Đừng ai nghĩ rằng việc tận hiến làm cho các tu sĩ trở nên xa lạ với mọi người hoặc trở thành vô dụng đối với xã hội trần thế. Dù đôi khi không trực tiếp hiện diện bên cạnh những người đồng thời, nhưng các tu sĩ lại hiện diện cùng họ cách sâu xa hơn trong lòng Đức Kitô và cộng tác một cách thiêng liêng với họ, để việc xây dựng xã hội trần thế luôn đặt nền móng nơi Chúa và luôn hướng về Người, để những người xây dựng xã hội trần thế sẽ không làm việc luống công”[46].

Trong sự phân tích vừa rồi, chúng ta thấy vĩnh cư là một đặc tính vô cùng quan trọng của tình yêu Đức Kitô. Người đan sĩ khấn với Thiên Chúa để tuân giữ các lời khấn, hầu kiên định không chỉ ở trong đan viện nhưng còn, và trên hết tất cả, kiên định trong tình yêu tha thiết trong những tình huống giới hạn và ở giữa những thành viên không hoàn hảo của cộng đoàn. Nó là sự trung tín cá nhân với Giao Ước Mới được đóng ấn bằng Máu Đức Kitô và được sống trong chính cộng đoàn ở nơi này. Bí tích Rửa Tội đã thánh hiến mọi hành vi của sự trung tín cá nhân với Lời của Đức Kitô và hành vi phục vụ, hoặc kiên nhẫn với những người mà chúng ta sống cùng. Sự vĩnh cư trong cộng đoàn mang thực tại này vào trong sự cởi mở, nhấn mạnh nó và yêu thích nó bằng một lối sống đặc biệt được phản chiếu bằng chính đời sống nhân loại của chính Đức Kitô, thậm chí một cách thể lý nữa. Bằng một sự cam kết vĩnh viễn với đời sống này, với Conversatio này, người đan sĩ được thánh hiến cho một hình thức vô cùng đặc biệt của sự hiệp thông Kitô giáo.

 5. YÊU MẾN DÒNG

Đời sống vĩnh cư cũng đòi một tình yêu chân thành đối với Dòng hoặc Hội dòng mà mình là thành viên. Nó là yếu tố nền tảng của tinh thần vĩnh cư và cùng lúc đó, nó là phương thuốc chữa trị căn bệnh chạy rông. Liệu có ích gì không nếu sống trong Dòng một cách thể lý mà tâm hồn lại không thích hay chống lại chúng? Tốt hơn hết, người đó nên rời khỏi Dòng. Sự hiện hiện của những nam nữ đan sĩ, người không yêu chính Dòng của mình, không hiến mình với một nhiệt huyết chân thành cho đời sống được Dòng bảo vệ và yêu thích, tạo nên một sự nguy hiểm cho sự kiên trì của bao ơn gọi khác. Thay vì gặp được môi trường của tình yêu chiêm tu, thì những người mới vào lại gặp thấy một bầu khí đối nghịch và bực bội được tạo nên bởi những người hành động chống lại cơ cấu (tổ chức) của Dòng. Đó là một khó khăn nghiêm trọng và có thể lây nhiễm một cách chính xác dễ dàng, bởi vì sự phát tán của nó lớn hơn trong đối thoại, vốn tự nó, đối thoại là lành mạnh. Bạn trở nên kẻ chỉ trích và nguy hiểm hệ tại bạn trở thành như chính ma quỷ, “kẻ tố cáo anh em của mình”[47].

Nếu bạn đang có ý định tuyên khấn trọng thể lời khấn vĩnh cư trong đan viện cho đến chết, bạn phải chắc chắn rằng bạn có một tình yêu chân thành đối với Dòng mà bạn là thành viên. Và nếu bạn muốn giữ mãi được tinh thần của lời khấn đan tu, bạn phải biết không ngừng tài bồi, vun xới cho tình yêu này suốt cả cuộc đời của bạn. Bất kỳ ai có ý định sống trọn vẹn lời khấn vĩnh cư nên quyết tâm làm tất cả những gì có thể để sống một cách bình an và có kết quả trong tinh thần của một ơn gọi đặc biệt như thế; hãy cố gắng để trở nên những thành viên hữu ích qua một đời sống được bén rễ sâu trong Đức Kitô, quân bình, hạnh phúc và phục vụ cả cộng đoàn lẫn Dòng hoặc Hội dòng. Ơn gọi của người đan sĩ nam nữ là trở thành những thành viên mạnh khỏe trong một thân thể chứ không phải là một chướng ngại vật vì sự phẫn uất và thiếu tin tưởng của mình.

Yêu Mến Dòng Là Gì?

Đó hoàn toàn chấp nhận cộng đoàn như là một tổ chức mang tính nhân loại và dấn thân một cách trọn vẹn cho nó như nó là. Yêu mến cộng đoàn, Hội dòng hoặc Dòng không bao hàm một sự ép buộc phải duy trì cùng một sự nhiệt huyết lý tưởng mà chúng ta đã có khi còn là một tập sinh, lại càng không phải là những gì chúng ta cảm thấy như chúng ta mong muốn. Yêu mến Dòng thay đổi và được đào sâu với kinh nghiệm sống. Nhờ đó tình yêu của chúng ta đối với cộng đoàn, với Dòng có xu hướng bớt lý tưởng hóa và trở nên thực tế hơn.

Có hai chướng ngại vật cản trở tình yêu của chúng ta đối với Dòng: Thiếu thực tế và sự yếu nhược trong ơn gọi

Thiếu thực tế

Lý tưởng hóa sinh ra những mong đợi lạc quan thái quá, với thời gian đã làm thui chột cái nhìn của chúng ta về những sự bất toàn của Dòng và của các thành viên trong Dòng, như thể lối sống của chúng ta là một lối sống tốt nhất trong Giáo hội. Thái độ này nhấn mạnh sự “trổi vượt” của đời sống đan tu chiêm niệm trên các hoạt động tông đồ. Chúng ta trích dẫn các văn kiện của Giáo hội, mãn nguyện mỗi khi các vị khách hay các nhà giảng thuyết ca tụng đời sống của chúng ta hay đan viện chúng ta, khi họ thao thao bất tận về sự quan trọng của chúng ta đối với Giáo hội như thể thế giới này lệ thuộc vào chúng ta, rằng chúng ta là muối cho đời, là những anh hùng của Thiên Chúa.

Do đó, chúng ta, những con người nên trở thành một nhân tố khiêm tốn nhất trong Giáo hội, trên thực tế lại thường xuyên bị ám ảnh – và bận tâm – với sự quan trọng, địa vị và tính ưu việt của chính mình. Chúng ta phải học hỏi nghiên cứu về Dòng của mình để biết về lịch sử, cơ cấu tổ chức và tinh thần của Dòng. Tuy nhiên, điều đó không phải để tự hào tự mãn về nó, nhưng để phục vụ Giáo hội và toàn thể nhân loại mà từ đó ơn gọi của chúng ta phát sinh. Bên cạnh đó, tập trung quá nhiều vào chính mình, dầu sao đi nữa cũng không phải là điều tốt. Nó rầt dễ khiến người khác chống đối Dòng chúng ta, và đó là điều có thể hiểu được. Nhưng những phản ứng như vậy cũng rất nguy hiểm bởi vì nó trực tiếp chống lại Dòng chứ không phải một số thành viên thiếu trưởng thành của Dòng. Thậm chí điều đó có thể dẫn đến mất ơn gọi.

Bởi đó, tình yêu sai trái này đối với Dòng (Order) là hoa trái của quan điểm ấu trĩ về sự ưu việt của chúng ta trong Giáo hội. Bằng sự tìm kiếm cách tinh vi cho sự an toàn hơn là tìm kiếm sự thật, chúng ta cố thuyết phục chính mình và người khác về sự ưu tú của chính chúng ta. Tuy nhiên, ước muốn nổi trội này thay vì tạo được cảm giác an toàn thì lại tạo ra sự bất an. Nó sinh ra thái độ hiếu chiến và nghi ngờ chính mình.

Tình yêu chân thật là chấp nhận Dòng như nó là hiện thân cụ thể của đặc sủng đan tu, mặc dầu tất yếu nó không hoàn hảo. Một cách tự nhiên, tình yêu này không muốn được xếp hạng cao hơn người khác. Bởi vì nó được đặt trên nền tảng của đặc sủng ơn gọi đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Nó cảm thấy ghê tởm bất cứ hình thức khoác lác nào. Chúng ta yêu Dòng không phải bởi vì, một cách lý thuyết, nó có thể “ưu việt” hoặc “trổi vượt” trong Giáo hội, nhưng bởi vì qua lối sống được Giáo hội chăm sóc, nó là bí tích của lòng thương xót Thiên Chúa liên quan đến chúng ta. Dòng là dấu hiệu chính xác của tình yêu cá nhân mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta trong từng giây phút, và cùng lúc đó nó là khí cụ chính Chúa đã chọn cho mỗi người, để chúng ta có thể lớn lên trong tình yêu của Người theo hình ảnh của Đức Kitô. Dòng cống hiến cho chúng ta những gì con tim chúng ta khao khát và kiếm tìm. Dòng cung cấp cho chúng ta một sự cách ly khỏi sự huyên náo ồn ào của thế gian, và khỏi mọi nguy hiểm của nó; một cuộc sống khiêm tốn và giản dị có thể giúp chúng ta noi gương bắt chước gia đình Thánh Gia Nazareth, và các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Dòng giúp chúng ta thắng vượt được tội kiêu ngạo của chúng ta và làm cho tình yêu của chúng ta trở nên mạnh mẽ. Dòng trao ban cho chúng ta sự thinh lặng để dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa trong cầu nguyện; cộng đoàn khơi dậy tình yêu của chúng ta và nâng đỡ chúng ta trong lúc khó khăn; đời sống phụng vụ làm phong phú ngày sống của chúng ta bằng tình yêu của Đức Kitô.

Tắt một lời, Dòng giúp chúng ta thấy rằng cách hiểu Tin mừng là một cách đáp trả tốt nhất tiếng gọi chúng ta đã lãnh nhận để theo Đức Giêsu, và do đó cũng đáp trả cho ước muốn và nhu cầu sâu thẳm nhất của chúng ta. Nó trao bao cho chúng ta một trợ giúp vô giá cho việc tìm kiếm Thiên Chúa; cho tiến trình đi vào trong mầu nhiệm đức tin của chúng ta; cho việc sống trong Chúa Kitô và bén rễ sâu trong Người. Theo nghĩa này, tình yêu đối với Dòng đơn giản chỉ là tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô, bởi vì lối sống của chúng ta là con đường của chúng ta đến với Đấng Kitô, bởi vì lối sống của chúng ta là con đường chúng ta đến với Thiên Chúa trong Đức Kitô, Đấng là đường.

Tình yêu chân thật đối với Dòng, không phải là tình yêu đối với nhược điểm của một số thành viên của Dòng, nhưng nó có nghĩa là yêu tinh thần chân thật của Dòng, yêu mến đời sống Biển Đức hoặc Xitô một cách xác thực. Chúng ta có thể gặp phải sự xáo trộn và đau đớn trong tâm hồn khi tình yêu chân thành của chúng ta đối với tinh thần của Dòng bị phá hủy bởi chính các thành viên thiếu sự chân thành của cộng đoàn chúng ta sống. Nhưng những căng thẳng phải có đó lại là dấu chỉ của sự sống và phát triển. Thiếu những lý tưởng cao thượng và niềm tin mạnh mẽ liên quan đến những nguyên tắc căn bản của đời sống đan tu, người đan sĩ nam nữ sẽ không bao giờ có thể trở nên những con người như họ được tiền định để trở thành. Chúng ta sẽ bị lời nói, suy nghĩ và việc làm của người khác – thường là những người xấu – tác động cách tiêu cực nếu chúng ta thiếu những xác tín mạnh mẽ này.

Hãy trở nên thực tế, có nghĩa là hãy yêu mến Dòng hoặc cộng đoàn đan viện của bạn như chúng là chứ không phải chỉ như chúng nên là. Hãy nhớ rằng có những hình thức giả hình tinh vi kết án lỗi của kẻ khác để thanh minh cho sự thiếu quảng đại, thiếu kiên nhẫn và thiếu trung tín với ân sủng của chúng ta. Trong cuộc sống, chúng ta yêu mến lý tưởng chân thật của Biển Đức – Xitô, và cùng lúc ấy chúng ta yêu mến Dòng, yêu mến cộng đoàn đan tu trong hình thái cụ thể của nó như nó đang hiện hữu mà nhiều khi có thể xa lý tưởng lắm. Nó là vấn đề của sự hiểu biết để chấp nhận tình huống không hoàn hảo với một cảm thức của trách nhiệm, của sự làm việc để đạt được mục tiêu lý tưởng bởi truyền thống đan tu ngay trong bối cảnh hạn hẹp được tạo nên bởi chính bản thân chúng ta và bởi người khác. Chúng ta được mời gọi để chiến thắng sự dữ bằng sự thiện của một tình yêu kiên nhẫn. Có thể nói một cách chính xác rằng: “Chủ nghĩa lý tưởng không phải là giá trị của Tin mừng”. Nhưng sự quảng đại lại là giá trị của Tin mừng. Các đan sĩ bất mãn thường phát cáu (tức tối) bởi vì họ không tìm được trong Dòng những cảm hứng, tình cảm, sự khuyến khích hoặc sự giúp đỡ mà họ đang kiếm tìm, như thể nó đủ để họ được mang vác một cách thụ động suốt cuộc đời bởi đời sống của cộng đoàn. Tuy nhiên, tình yêu Dòng cách chân thật không thể tùy thuộc vào những gì mà chúng ta có thể bòn rút từ đó. Thái độ đó có thể thích hợp với những năm đầu của đời tu, thế nhưng sớm hay muộn chúng ta phải làm cho mình có trách nhiệm đối với tinh thần của Dòng. Nếu bạn chỉ hy vọng rằng cuộc sống sẽ “làm những điều tốt cho bạn” hoặc “làm cho bạn hạnh phúc” hoặc thậm chí “làm cho bạn nên thánh” thì bạn sẽ thất vọng. Sự tốt lành, niềm vui và thánh thiện chân thật đến từ thẳm sâu của con tim bạn, một con tim được Chúa Giêsu đụng chạm đến, chứ không phải đến từ những hoàn cảnh bên ngoài.

Bởi đó, nếu bạn muốn yêu mến đời sống đan tu của bạn, hãy đặt tình yêu vào đó. Rồi bạn sẽ kín múc được tình yêu từ đó. Yêu mến đời sống đan tu đòi hỏi một sự quảng đại hướng về đời sống đan tu. Yêu mến cộng đoàn đan tu đòi hỏi chúng ta phải biến mình thành tôi tớ mọi người.

 Sự yếu nhược của ơn gọi

Đây là nguyên nhân sâu xa nhất của những khó khăn trong việc cống hiến cho Dòng hoặc trong sự chấp nhận những biểu hiện cụ thể của nó trong cộng đoàn địa phương của chúng ta. Một tình yêu chân thật giả định trước một ơn gọi chân thật để bước theo Đức Kitô như là một đan sĩ. Khi ơn gọi không được thử thách một cách triệt để trong suốt quá trình huấn luyện, thì chắc chắn là sẽ có một số người trong Dòng không có khả năng để hiến trọn đời mình cho Dòng, bởi vì thật sự họ không được gọi bởi Đức Kitô để sống ơn gọi đó.

Có phải ơn gọi của tôi chân thật không? Một sự phản tỉnh như thế sẽ giúp chúng ta hồi tưởng lại bằng cách nào chúng ta tới đây: những ân sủng của những ngày đầu; điều chắc chắn dẫn chúng ta đến quyết định tuyên khấn; những thành quả bên ngoài và bên trong mà Thiên Chúa đã chúc lành cho đời sống chúng ta. Tất cả những điều này là dấu hiệu của một ơn gọi mạnh khỏe. Mặt khác, nếu một đan sĩ khấn trọn đời mà không thể yêu mến Dòng, và nếu toàn bộ thái độ của họ là một sự phá hoại, thì có lẽ tốt hơn bề trên nên xin chuẩn cho đan sĩ đó khỏi bị ràng buộc bởi các lời khấn. Có lẽ vấn đề sâu kín phía dưới là vấn đề tâm lý. Một sự quân bình tâm lý nhất định nào đó sẽ là điều cần thiết để ân sủng đan tu bén rễ và sinh hoa trái.

Điều quan trọng nhất là những ai thực sự không có ơn gọi đan tu thì không nên khấn. Đối với những ai ơn gọi xem ra không chắc chắn, thì tốt hơn là nên chờ đợi để quá trình huấn luyện làm sáng tỏ tình huống đó một cách trí thức, tình cảm và thiêng liêng. Một tình yêu chân thành đối với Dòng trong suốt thời gian tập là một dấu hiệu của một ơn gọi tốt. Một số người sau đó quay ra chống lại Dòng, chống lại lối sống mà họ đã chọn, mặc dầu trước đó tỏ ra cảm kích nó và xem ra thích nghi tốt với nó, cho thấy một vài dấu chỉ của sự thiếu trung tín với ơn gọi đan tu.

 Sự Vĩnh Cư Và Sự Thay Đổi Cấu Trúc

Một điểm đặc trưng của đan tu đương thời đó là củng cố mối ràng buộc vốn dĩ hiệp nhất các dòng chiêm niệm khác lại với nhau. Một cách rõ ràng, chúng ta hãy xác tín rằng, có rất nhiều khác biệt trong cách sống giữa các Hội dòng Biển Đức, Camaldolese và Xitô. Sự đa dạng này chính trong đời sống đan tu đều rất hữu ích và cần thiết cho dân Thiên Chúa trên con đường hoàn thiện. Bên trong linh đạo đan tu, thậm chí cả bên trong truyền thống Biển Đức, vẫn còn chỗ cho các chú giải khác nhau. Sự nhấn mạnh khác nhau có thể tạo ra nhiều cách tiếp cận tương ứng với sự đa dạng của các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần thổi vào trong trái tim con người. Nhưng tạ ơn Chúa, những sự khác nhau này không phải là nguyên cớ gây nên chia rẽ, mà trên hết, nó là nguyên nhân để tìm kiếm nhiệm vụ chính yếu của mỗi Hội dòng trong lòng Giáo hội. Giáo huấn của Giáo hội về sứ vụ chung chung của đan sĩ như sau:

“Các đan sĩ chủ yếu đảm trách phần vụ, tuy âm thầm nhưng thật cao quí, là phụng sự Thiên Chúa trong nội vi đan viện, hoặc hoàn toàn hiến thân lo việc phụng tự trong nếp sống ẩn dật, hoặc phụ trách cách hợp pháp một số việc tông đồ hay công trình bác ái Kitô giáo”[48].

“Ngày nay, các đan sĩ vẫn còn cố gắng nối kết hài hòa đời sống nội tâm với việc làm khi cam kết theo Tin mừng là sẽ hoán cải đời sống, vâng phục và vĩnh cư, cũng như khi chuyên cần thực thi việc suy gẫm Lời Chúa ‘lectio divina’, cử hành phụng vụ, cầu nguyện. Ở giữa lòng Giáo hội và thế giới, các đan viện đã và còn đang là một dấu chỉ hùng hồn về sự hiệp thông, nơi ân cần tiếp đón những người đi tìm Thiên Chúa và những thực tại thiêng liêng”[49].

Những công việc tông đồ hợp pháp cho dù với cá nhân đan sĩ hay với cả cộng đoàn đan viện đều phải dựa trên sự thích hợp với tinh thần của Dòng hoặc của Hội dòng và với đời sống phục vụ bên trong đan viện. Nó cũng sẽ bị chi phối bởi thực tế này rằng, càng nhiều việc tông đồ được đảm nhận bởi người khác thì các thể chế Giáo hội và xã hội càng phải tốt hơn. Chẳng hạn như phụng vụ không còn là nét đặc trưng của đan tu nữa, nhưng là di sản của toàn thể Giáo hội[50]. Điều này càng đúng hơn nữa trong các lãnh vực nghiên cứu, canh nông hoặc về chuyên môn trong bất cứ lãnh vực nào.

Sự hiệp nhất cách sâu sắc hơn giữa các đời sống đan tu liên quan đến các nguyên tắc, đặc biệt trong các khuynh hướng đương thời của nó, được biểu lộ trong các cuộc tiếp xúc thường xuyên hơn giữa các dòng đan tu khác nhau. Thậm chí ngày nay người ta còn nói đến “một Dòng đan tu”, trong đó bao gồm các dòng đan tu hiện tại. Bên trong dòng đan tu này sẽ có những luật lệ và truyền thống khác nhau phù hợp với những dòng hiện tại. Nói một cách khác các dòng đan tu sẽ hợp nhất trong đa dạng.

Bức tranh rộng lớn hơn của sự giới thiệu này muốn nói lên điều gì đối với tinh thần chân thật của chính dòng chúng ta? Nó muốn nói hai điều: Một mặt, điều cấp bách nhất là phải trung thành với ơn gọi của chúng ta; mặt khác, những gì chúng ta gọi là “tinh thần đại kết đan tu” là một thái độ cởi mở để tôn trọng và kết giao với các truyền thống đan tu khác một cách hoàn toàn chính xác như “cái khác”. Có thể nói được rằng mặc dầu các truyền thống đan tu đó khác với truyền thống đan tu của chúng ta, nhưng các truyền thống đan tu đó thì chân thật và có giá trị trên chính nền tảng của họ. Một mặt chúng ta cần duy trì những giá trị tích cực của di sản thiêng liêng này hay di sản thiêng liêng khác, chẳng hạn như sự nhấn mạnh đến thinh lặng, công việc tay chân, sự đơn giản và nội tâm, hoặc như công việc giáo dục, sứ vụ, công việc tông đồ và nghệ thuật. Mặt khác, chúng ta nên nhấn mạnh đến những gì liên kết chúng ta lại với nhau, chẳng hạn như: đời sống phụng vụ, sự đánh giá cao đời sống cầu nguyện, có chung một luật, đời sống cộng đoàn và sự hiến thánh.

Kết hiệp giữa sự trung thành với đặc sủng riêng và sự cởi mở như thế đòi hỏi chương trình huấn luyện đan tu tương đối hoàn chỉnh, và trên hết, phải quân bình. Điều đó đòi hỏi phải có những ý tưởng rõ ràng về đặc tính tự nhiên của đời sống đan tu, về những thăng trầm lịch sử thường là những nguyên nhân của sự đa dạng này và điều gì giúp phân biệt giữa các hội dòng đan tu và các thể chế dòng tu khác. Một khi đã có được những ý tưởng rõ ràng về tất cả những điều đó, chúng ta sẽ có được một tình yêu thiết thực và quảng đại đối với chính Hội dòng và chính cộng đoàn của chúng ta. Đối với chúng ta, một tinh thần như thế là điều kiện cần thiết cho một đời sống yêu mến đặt nền tảng trên Đức Kitô.

Ngay cả bên trong Hội dòng hoặc cộng đoàn của chúng ta cũng có thể có những thay đổi về cơ cấu. Chúng ta nên làm gì trong những trường hợp như thế?

Trong những trường hợp đó điều quan trọng là chúng ta phải biết cái gì là yếu tố cốt yếu của đời đan tu – không đơn giản chỉ là tinh thần của nó – và cái gì là thứ yếu. Chúng ta sẽ thảo luận một cách chi tiết hơn về sự khác nhau này trong chương kế tiếp. Một chương trình huấn luyện đan tu tốt trong suốt thời gian tập và trong những năm đầu của thời gian khấn sơ khởi là điều rất quan trọng. Chúng ta cần phải có một sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của các lời khấn, đặc biệt về lời khấn canh tân (conversatio morum). Những yếu tố thứ yếu có thể và sẽ thay đổi, nhưng những yếu tố cốt yếu của đời đan tu sẽ không bao giờ thay đổi. Yếu tố cốt yếu này là đi theo Đức Kitô qua việc tuân giữ những luật lệ đan tu, qua việc cầu nguyện bằng những hình thức khác nhau của đời đan tu và qua sự hoán cải nội tâm được bộc lộ trong sự khiêm tốn và nhiệt tâm tốt lành.

Một đan sĩ được huấn luyện kỹ càng sẽ biết làm hai việc cùng một lúc: một đàng thầy biết ôm ấp đời sống mà thầy đã tuyên khấn như thầy tuyên khấn nó với tinh thần hăng say nhiệt thành, đàng khác thầy cũng biềt giữ cho mình trở nên uyển chuyển với những thay đổi trong tương lai. Những yếu tố thứ yếu của ơn gọi của chúng ta sẽ thay đổi trong tương lai là điều không thể tránh khỏi. Những thay đổi đó là dấu hiệu của một cuộc sống đang sinh động. Để thấy được điều này, chúng ta cần phải tự tin với đặc sủng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, bao gồm cả sự tự tin vào hoạt động của Chúa Thánh Thần bên trong Hội dòng của chúng ta nữa. Thiên Chúa muốn đời sống đan tu chiêm niệm lan tỏa ra toàn thể Giáo hội. Một cách chắc chắn, Người ước muốn cộng đoàn chúng ta tỏa sáng như những trung tâm của cầu nguyện và một cuộc sống chung lành mạnh. Chúng ta nên sống ơn gọi theo Chúa Kitô trong ánh sáng của niềm xác tín này.

 Vĩnh Cư và Đức Tin 

Yêu mến Dòng được cụ thể hóa nơi tình yêu mà người đan sĩ dành cho cộng đoàn và các thành viên trong cộng đoàn, cho những thành viên này, cho người anh em này bên cạnh tôi. Sự vĩnh cư phụ thuộc vào điều này. Thiếu mối dây ràng buộc sống động này của tình yêu, và nếu mối dây ràng buộc này không mạnh hơn các mối ràng buộc khác, thì sự vĩnh cư trong tinh thần là điều không thể thực hiện được, và sự vĩnh cư của thân xác thiếu đi giá trị của nó.

Nhưng để có được tình yêu huynh đệ này, chúng ta phải sống bằng đức tin. Tinh thần đúng của sự vĩnh cư phụ thuộc vào đức tin đủ mạnh để hiểu được mầu nhiệm sự quan phòng của Thiên Chúa và để thấy được cách thế Thiên Chúa hành động trong cái nhìn của chúng ta. Ơn gọi mà bạn đã lãnh nhận là một biểu lộ cá nhân của kế hoạch Thiên Chúa dành cho bạn. Nó là cách thế riêng tư của bạn trong việc chia sẻ sự khôn ngoan trìu mến của Thiên Chúa, Người đã tuyên bố cứu và thánh hóa gia đình nhân loại bằng cách liên kết chúng lại như dân đặc biệt của Người dưới một thủ lãnh là Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã chọn lối sống “các lời khuyên Phúc âm”, lối sống của chính Đức Kitô, cho bạn như là lối sống riêng tư để bạn hoàn thành kế hoạch của Người trong cái nhìn của bạn.

Bởi đó, đan viện và cộng đoàn là ân sủng, là quà tặng của Thiên Chúa, là sứ vụ và là một nhiệm vụ mà bạn phải hoàn thành. Chúng ta có trách nhiệm đối với sự phát triển của những người mà chúng ta sống với, và đối với ơn cứu độ của nhiều người. Sự phát triển hài hòa của toàn thể Giáo hội phụ thuộc vào sự vĩnh cư của chúng ta trong cộng đoàn này. Vâng, tôi có thể làm nhiều việc khác cho Chúa Kitô ở những nơi khác, nhưng đó sẽ không phải công việc mà Chúa đã chọn một cách đặc biệt cho tôi. Bất kỳ công việc nào khác với công việc này đều kém giá trị thiêng liêng, đều kém ý nghĩa. Ở đây, thậm chí cả những điều xem ra kém giá trị nhất cũng được biến đổi để trở nên có giá trị, cũng cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa để hiệp nhất toàn thể vũ trụ trong Đức Kitô và bởi đó một cách đặc biệt làm đẹp lòng Người.

Một đức tin sâu sắc và sự khiêm tốn thì cần thiết để chấp nhận tình huống của bất cứ đan viện nào được trao ban với những sự bất toàn nhân loại không thể tránh được của chính nó. Đức tin khiêm tốn thì cần thiết cho hành trình của chúng ta tiến đến sự hiệp nhất với các thành viên khác trong cộng đoàn ở giữa những sự thay đổi khác nhau mà thế giới đang trải qua. Một đức tin khiêm tốn là cần thiết trên hết để vượt thắng những nhược điểm của con người bằng một tinh thần cộng đoàn chân thật. Tình yêu đối với cộng đoàn mang theo nó sự hiến thân trọn vẹn bản thân cho những người làm nên cộng đoàn này. Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa biểu lộ chính nó qua tình yêu huynh đệ như thế và người đan sĩ đụng chạm ở đây cốt lõi của việc tuyên khấn đan tu của thầy.

Một tình yêu như thế là sứ điệp trung tâm của Tin mừng và là thực tại nòng cốt của lối sống của Đức Kitô mà Người chia sẻ cho bạn. Nếu bạn cho được tình yêu này thì sự vĩnh cư và ơn gọi của bạn luôn an toàn. Bạn có thể nếm trước được kinh nghiệm những chiều sâu của niềm vui Đức Kitô mà vịnh gia đã hứa : “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau… Nơi đây ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời”[51].

  Để Phản Tỉnh Xa Hơn

  1. Với cái nhìn bất định của xã hội đương đại, bạn có ủng hộ sự thay đổi trạng thái tự nhiên địa phương đối với sự vĩnh cư Biển Đức không? Tại sao đối với một số người trong chúng ta thật quá khó để làm một cam kết lâu dài và bền vững? Liệu chúng ta có thể theo Chúa Kitô mà không cần những cam kết đó không?
  2. Chính bạn sẽ giải quyết như thế nào với khả thể được thuyên chuyển đến một cộng đoàn khác? Điều gì giữ bạn lại ở đây?
  3. Làm cách nào sự biểu hiện, toàn bộ nguyên tắc của khổ hạnh đan tu, áp dụng được với những tặng phẩm thiêng liêng như sự tự do, tính sáng tạo, niềm vui và sự hiệp thông như thế? Tại sao linh đạo đan tu dường như một cách rõ ràng nhấn mạnh hơn tới những thái độ tiêu cực như sự khiêm nhường và thinh lặng?

 

Sách Tham Khảo

Baldwin of Ford. Tractate XV: On the Cenobitic or Common Life. In Spiritual Tractates II. CF 41. 156-194.

Bell, D. “Heaven on Earth: Celestial and Cenobitic Unity in the Thought of Baldwin of Ford”. In Heaven on Earth. CS 68.1-21.

Bernard of Clairvaux. On Precept and Dispensation. In The Works of Bernard of Clairvaux I. CF 1. 103-151.

Brook, O. “The Human Person and Community Structure” in Monastic Studies 5. Pine City: Mt. Saviour, 1968. 7-18.

Cummings, C. Monastic Practices. CS 75. 141-185.

 

CHƯƠNG VIII:LINH ĐẠO VÀ SỰ TUYÊN KHẤN

Một phân tích về những lời hứa trọng thể của việc khấn dòng, như là lời khấn vĩnh cư ở chương trước, dường như đã là một chuẩn bị đầy đủ cho việc tuyên khấn. Nhưng có lẽ hơn cả thế nữa, vì nhiều lần chúng ta đã nhấn mạnh các khía cạnh thiêng liêng ẩn dưới những ràng buộc bên ngoài của những lời khấn.

Tuy nhiên vẫn còn thiếu một điều gì đó. Chúng ta cần phải có một cách tiếp cận tổng hợp khả dĩ giải thích được những tác động qua lại của các lời khấn dòng bên trong những nhịp sống của ơn gọi đan tu. Chúng ta đã đề cập đến sự tác động qua lại này trong rất nhiều dịp khác nhau rồi. Những thành phần khác nhau của việc tuyên khấn đan tu tạo nên sự hiệp nhất thực dụng được đặt nền tảng trên lời khấn canh tân (conversatio morum). Mục đích của nó là giúp người đan sĩ nam nữ đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu để theo Người một cách cương quyết cả bên trong lẫn bên ngoài. Một cách bề ngoài, điều này được thực hiện bằng việc từ bỏ những đặc tính của xã hội, một cách đặc biệt là từ bỏ đời sống hôn nhân, gia đình và bất cứ ngành nghề thế tục nào. Tiếp đến, bằng việc ôm ấp lối sống họa lại lối sống của chính Chúa Giêsu, với sự nhấn mạnh một cách đặc biệt trên đời sống cầu nguyện, sự đơn giản và đời sống chung. Điều được gọi là “các lời khuyên Phúc âm” đã được thực hành cách công khai trong nhiều thế kỷ, là những mặt khác nhau của chính lối sống của Đức Giêsu và nó được họa lại nơi đời sống của các môn đệ Người. Các đan sĩ ôm ấp “các lời khuyên Phúc âm” theo như đặc sủng ơn gọi mà họ đã lãnh nhận. Mục đích của cuốn sách này là để giải thích ý nghĩa của hành động như thế.

Một cách bề trong, việc theo Chúa Giêsu bao hàm một sự hiến thân trọn vẹn cho Người trong tiến trình hoán cải không ngừng cho đến trọn đời. Đó là một linh đạo sống. Việc tuyên khấn công khai một vài nét chính yếu của lối sống của Chúa Giêsu bắt nguồn từ chính linh đạo này và được dành để làm nổi bật nó. Đó là lý do bây giờ chúng ta muốn thấy được nguồn gốc sống động của truyền thống linh đạo này, để có thể uống được dòng nước mát trong được tuôn đổ một cách tự do ở đó, bởi vì đó là tất cả những gì mà việc tuyên khấn đan tu nhắm tới.

Như là một sự trợ giúp trong giai đoạn tổng hợp hơn việc nghiên cứu này của chúng ta, chương này tiếp cận việc tuyên khấn đan tu về mặt ý nghĩa, phương pháp hay thực hành vốn nói lên linh đạo Biển Đức – Xitô. Sự quan tâm của chúng ta sẽ đặt trên những nguyên tắc của khổ chế và cầu nguyện vốn định rõ lối sống này ở giữa nhiều nẻo đường ơn gọi khác được Tin mừng gợi hứng. Những phương pháp thiêng liêng này thì rất quan trọng để hiểu luật Thánh Biển Đức. Bởi đó chúng ta sẽ dùng phần kết luận để nghiên cứu xem khấn theo luật Thánh Biển Đức có nghĩa là gì.

 1. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THIÊNG LIÊNG

Nhiều năm, qua các cuộc gặp gỡ giữa truyền thống đan tu của Giáo hội Tây phương và các truyền thống đan tu hay chiêm niệm khác, cho dù có nguồn gốc Kitô giáo hay không, đã đem lại những kết quả khả quan. Một trong những kết quả của sự giao thoa này là sự đánh giá cao hơn các đường lối có hệ thống hoặc phương pháp của khổ chế và cầu nguyện, là những điều có thể được sử dụng để mở tâm trí và con tim con người, hầu họ có được một sự kết hiệp thân mật hơn với Thiên Chúa. Những phương pháp này có thể là thể lý hoặc tinh thần hoặc kết hợp cả hai. Về phía các đan sĩ Tây phương, sự gia tăng tính nhạy cảm đối với những nguyên tắc này, một phần vì thực tế các truyền thống tôn giáo khác dường như phát triển chúng một cách rõ ràng cụ thể hơn trường phái Biển Đức – Xitô.

Về phía đan tu Tây phương, có những phản ứng trái chiều đối với tình huống đối thoại này. Kết quả đầu tiên được sử dụng, cách này hay cách khác, là các phương pháp chắc chắn của khổ chế và cầu nguyện vốn đã được chứng minh là mang lại hoa trái cho các truyền thống khác, chẳng hạn như tư thế Yoga, Mantras (phương pháp lặp đi lặp lại một câu nhiều lần).

Cách tiếp cận thứ hai, thỉnh thoảng kết hợp với cách thứ nhất, nhấn mạnh đến tính hiếu khách đan tu như một sự đóng góp cụ thể mà các đan viện Tây phương cung cấp tại thời điểm này của việc gia tăng nhận thức về chiêm niệm.

Thái độ thứ ba, không nhất thiết đối nghịch lại hai cách tiếp cận trên, là ở việc xem xét lại truyền thống Tây phương để thấy là chúng ta đã xao lãng, trên lý thuyết hoặc thực hành, những phương pháp thiêng liêng mà nó tồn tại trong chính truyền thống đó. Cách tiếp cận này trùng khớp với ước muốn của chúng ta là để đi sâu vào linh đạo Biển Đức hơn. Nó cũng có thể giúp chúng ta thấu hiểu đối tượng lời khấn của chúng ta, bởi vì một cách cơ bản nó là những phương pháp hay nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã ôm ấp trong thân phận con người để dạy cho các môn đệ thân tín của Người làm cách nào để theo Người cách tốt nhất trong cuộc lữ hành của Người qua đời sống này để đến cùng Chúa Cha. Truyền thống linh đạo Kitô giáo qua các thế kỷ đã khẳng định lợi ích của chúng cho mục đích này. Thỉnh thoảng nó nhắc đến những người đi theo Đức Kitô cách này như là “người tìm kiếm Thiên Chúa thật sự”[52].

Giữa những yếu tố khác nhau của linh đạo Biển Đức, thì địa vị thứ nhất của conversatio, lối sống đan tu, nên là hiển nhiên lúc này. Mối liên quan của lời khấn canh tân (Conversatio morum), trung tín với đời sống này, khi được hiểu một cách chính xác và được sống một cách ngay thật thì nó làm được ba điều.

Thứ nhất, nó biểu lộ (diễn đạt) bằng lời và cách công khai ước muốn của con tim là muốn được trở thành những người môn đệ thân tín của Đức Giêsu, bằng cách ôm ấp cùng một lối sống, cùng một sự hoán cải (conversatio) căn bản mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Thứ hai, bởi vì đối tượng của nó là toàn bộ lối sống, nó tóm kết những yếu tố khác của việc tuyên khấn Biển Đức, bao gồm: khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục, đời sống chung, cầu nguyện và vĩnh cư. Cuối cùng, bằng cách tóm kết chúng như một sự phản chiếu lại sự hoán cải (conversatio) của chính Đức Kitô, nó nâng chúng lên cấp bậc của mối quan hệ nội tại của Người trong sự hoàn toàn mềm dẻo đối với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Chúng ta đã thấy yếu tố nội tại này của việc tuyên khấn đan tu ở trong nhiều chương trước. Ở đây là sự gặp gỡ giữa việc tuyên khấn và linh đạo. Tông huấn Đời sống Thánh hiến – Vita Consecrata, viết: “Kể từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, có những người nam, nữ cảm thấy được kêu gọi noi theo thân phận tôi tớ của Ngôi Lời Nhập Thể. Qua việc tuyên khấn tu trì, họ bước theo Người bằng cách sống chuyên biệt và triệt để các đòi hỏi phát xuất từ bí tích Thanh Tẩy, đó là sự tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua, của cuộc Thương Khó và Phục Sinh”[53].

Về phương diện lịch sử, chúng ta thấy con đường từ Galilê và Giêrusalem đi đến hiện tại, phong trào đan tu Kitô giáo phải đi qua sa mạc Ai Cập. Bởi đó, ngoài Tin mừng ra, nguồn thứ hai của cải tiến (conversatio) Biển Đức nằm nơi đời sống các Linh Phụ Sa mạc, đặc biệt là trong việc tìm kiếm của họ cho một politica tốt nhất hoặc một luật sống, hầu có thể giúp họ đi từ thói hư tật xấu đến nhân đức, và từ nhân đức đến sự nên một cách hoàn hảo với Ngôi Lời Nhập Thể. Để thư giãn, sau đây là những ví dụ khác về sự tìm kiếm một sự tự do nội tâm hoàn toàn trong việc theo Chúa Kitô.

Một vị trưởng lão nói: “Đây là công việc suốt đời của đan sĩ: Vâng phục, suy niệm, không xét đoán người khác, không mắng nhiếc, không kêu ca phàn nàn. Bởi vì có lời chép rằng: Con hãy yêu mến Đức Chúa và ghét điều gian ác! Bởi đây là công việc suốt đời của đan sĩ: Không bắt tay với người bất chính, không tìm kiếm sự dữ hoặc tò mò về nó, tránh xa sự phán xét hoặc thậm chí nghe về công việc của người khác; không coi bất cứ cái gì là của riêng mình, trái lại hãy trao ban cho người khác; không tự cao tự đại trong tâm hồn hoặc chỉ trích người khác trong tư tưởng; không mê ăn uống nhưng trong mọi sự hãy cư xử một cách thận trọng. Này đây, trong tất cả những điều này bạn là một đan sĩ”.

Chân phước Macarius nói: “Đây là sự thật nếu người đan sĩ coi sự khinh miệt như một sự tán dương, khó nghèo như một sự giàu có, đói khát như một bữa tiệc, thì thầy sẽ chẳng bao giờ chết cả”.

Viện phụ Zeno, môn đệ của Viện phụ Sylvanus nói: “Đừng cư ngụ trong nơi được mọi người biết đến và đừng trở thành môn đệ của những người nổi tiếng. Và đừng đặt bất cứ nền móng nào khi bạn xây cho chính mình một căn phòng”.

Viện phụ Pastor nói: “Hãy tránh xa những người mà hễ mở miệng ra là sinh cãi cọ”.

Chúng ta có thể rút ra được hai kết luận quan trọng từ sự khôn ngoan của sa mạc và sự bộc lộ muộn hơn của nó trong linh đạo đan tu. Điều đầu tiên, nội dung của lối sống của người đan sĩ là chương trình khổ chế và thiêng liêng được kết hợp các nguyên tắc khác nhau cách chặt chẽ mà kinh nghiệm đã chỉ ra là rất hữu ích cho sự lớn lên trong Chúa Kitô. Đan sĩ là người mang vào mình một chương trình sống khổ chế, một politeia hoặc conversatio, như là con đường thiêng liêng đặc thù trên hành trình trở về với Đấng Tạo Hóa của mình qua việc bước theo Chúa Kitô. Điều thứ hai, chương trình sống này là ý nghĩa trọng tâm của luật Thánh Biển Đức.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét một cách kỹ lưỡng hơn con đường thiêng liêng của Thánh Biển Đức là gì. Rồi phần cuối chương này sẽ làm sáng tỏ những gì được ám chỉ đối với việc tuyên khấn đan tu bởi cách giải thích luật như thế. Tuy nhiên, thậm chí ngay cả lúc này, thật dễ dàng để nhận thấy rằng những cam kết được thực hiện lúc tuyên khấn nên được hiểu và được sống trong bối cảnh của những thực hành thiêng liêng hữu ích cho việc đi theo Đức Giêsu trong cách sống của chính Người.

 2. NHỮNG ĐIỂM ĐẶC TRƯNG CỦA CON ĐƯỜNG BA CHIỀU

Suy tư về kinh nghiệm sống của những người nam, người nữ ôm ấp lối sống đã được Thánh Biển Đức miêu tả, chúng ta bắt đầu thấy tại tâm điểm của linh đạo này tồn tại một đường lối vô cùng mạch lạc về sự phát triển thiêng liêng. Con đường thiêng liêng này tượng trưng cho hoa trái kinh nghiệm của nhiều thế kỷ trước và theo sau luật Thánh Biển Đức. Nó là lối sống bắt nguồn từ kinh nghiệm thiêng liêng nội tâm của chính Chúa Kitô, và dẫn người đan sĩ nam nữ vào trong sự tiếp tục cá nhân của thực tại Kitô giáo quan trọng này của sự hoàn toàn quy phục Ba Ngôi Thiên Chúa. Một chương trình sống như thế kết hợp chặt chẽ ba loại phổ thông của những thực hành thiêng liêng. Ba loại nguyên tắc này có thể được coi như là những phương pháp phản chiếu những khía cạnh quan trọng của đời sống Đức Giêsu và tác động qua lại một cách sinh động trong đời sống của người đan sĩ nam nữ. Mục đích của chúng là để chuẩn bị cho ba cấp độ chính về sự hiện diện của con người đối với ân sủng, và là một sự đáp trả triệt để hơn với lời mời gọi đi theo Người của Thầy Chí Thánh. Ba nguyên tắc chung hay thực hành đó là:

  • Quy luật đan tu.
  • Đọc sách thiêng liêng (Lectio divina).
  • Đức khiêm nhường Biển Đức.

Trước khi xem xét những nguyên tắc hay thực hành này một cách kỹ lưỡng hơn, chúng ta cần phải tìm hiểu xem chúng xuất hiện như thế nào trong Tu luật Thánh Biển Đức, và chúng tương xứng với cấu trúc nội tại của con người và hành vi của chúng ta như thế nào.

 Nghệ Thuật Thiêng Liêng

Thánh Biển Đức gọi chương trình tổng quát của việc hoán cải đan tu là một “nghề thủ công” – ars spiritalis, “nghệ thuật thiêng liêng”[54] – trong nghĩa của những kỹ năng để gia tăng tinh thân. Bối cảnh của cụm từ “nghệ thuật thiêng liêng”, được đặt ở cuối chuỗi dài những việc tốt phải được thực hiện, chỉ ra rằng nó đề cập đến toàn bộ chương trình sống được trình bày trong Tu luật. “Đó là những dụng cụ trong nghệ thuật thiêng liêng. Nếu ngày đêm chúng ta không ngừng đem ra sử dụng, và đến ngày chung thẩm chúng ta hoàn lại cho Chúa, thì Chúa sẽ ban cho ta phần thưởng chính Người đã hứa…. Còn xưởng thợ nơi chúng ta cần mẫn sử dụng các dụng cụ này, chính là nội vi đan viện…”[55]

Từ ars trong tiếng Latinh tương đương với từ tech – khoa học ứng dụng, trong tiếng Hy Lạp. Nó tạo nên bối cảnh ngôn ngữ học của của Tu luật đề cập đến người đan sĩ như là người thợ hoặc là kỹ thuật viên trong nghệ thuật thiêng liêng của sự hoán cải đan tu[56].

Trong chương 4 “những khí cụ làm việc lành”[57], Thánh Biển Đức đã gộp nhiều loại khí cụ tốt xem ra hỗn hợp lại với nhau. Những khí cụ này không chỉ bao gồm những nhân đức căn bản Kitô giáo, đặc biệt là các nhân đức xã hội (như “yêu thương kẻ thù”[58]) mà thôi, nhưng còn gồm những nhân đức của lòng thương xót (như “nâng đỡ người nghèo”[59]), những kỷ luật tinh thần (“canh chừng hành động của mình trong từng giây phút [60]”), và cả những khuynh hướng thiêng liêng cần thiết để những thực hành này sinh hoa kết quả (như “đừng thủ mưu gian”[61]). Sự phân tích có tính văn chương như thế chỉ ra rằng mối ưu tư cụ thể của Thánh Biển Đức trong danh sách khí cụ làm những việc lành này là để đặc biệt thêm những yếu tố đan tu vào bộ sưu tập đã có trước, được gợi hứng bởi một linh đạo giáo dân chung hơn. Dường như Thánh Biển Đức muốn tránh sự nhầm lẫn giữa hai khuynh hướng này bằng cách gán cho mỗi khuynh hướng những giá trị riêng của nó. Khi làm như thế, Thánh Biển Đức đã chỉ cho thấy tầm nhìn của ngài về đời sống đan tu và politeia, hoặc những phương pháp khổ tu của các Linh Phụ Sa mạc. Chúng ta đã thấy được mối liên hệ này ngay từ đầu chương II.

Trong Thế kỷ XII, những khí cụ phong phú của nghệ thuật thiêng liêng được biết đến như là “những sự tập luyện” hoặc “những quy luật”. Và chúng được phân biệt dựa trên những tiêu chí mang tính thể xác hơn (như đọc sách, suy gẫm, cầu nguyện và chiêm niệm). Các nhà chú giải hiện đại có những nhận xét khác về những quy luật hay phương pháp cơ bản trong linh đạo Biển Đức. Sự nhấn mạnh được đặt trên những cấp độ khác nhau của Các giờ kinh thần vụ, cầu nguyện nội tâm, vĩnh cư, xa lánh thế gian, các bậc khiêm nhường, và chính đời sống cộng tu.

Thánh Biển Đức đã không hệ thống hóa nghệ thuật thiêng liêng của ngài theo cách có thể làm thỏa mãn thời đại chúng ta, một thời đại mang những ước muốn vì sự an toàn có tính khoa học hơn qua những phương pháp dứt khoát. Trái lại phương pháp dứt khoát nhất mà Thánh Biển Đức có thể hệ thống là các bậc khiêm nhường[62], với ba yếu tố căn bản của nó – vâng phục, tự biết mình và thinh lặng – như là những bước chập chững của cuộc hành hương nội tâm đi từ sự kính sợ Thiên Chúa đến một tình yêu hoàn hảo. Các nhà chú giải đã có lý khi nhấn mạnh tầm quan trọng của những bậc khiêm nhường này trong đời sống thiêng liêng, nhưng vị thế của chúng trong toàn bộ chương trình của đời sống Biển Đức thì lại không được rõ ràng. Mối liên hệ của chúng với những quy luật thể xác của những tập tục (luật lệ) và với những qui luật thiêng liêng của việc đọc sách thiêng liêng (lectio divina) và sự tôn vinh Thiên Chúa là gì? Đây chẳng phải là câu hỏi mới. Nó cũng chính là vấn đề đã được bàn tới trong những cuộc tranh luận giữa các đan sĩ đầu tiên của Xitô tiên khởi với các đan sĩ Cluny trong Thế kỷ XII, cũng như những cuộc thảo luận sau cải cách của La Trappe sau này trong Thế kỷ XVII. Vấn đề lại chỗi dậy lần nữa sau Công đồng Vatican II, khi mà tất cả các đan viện đều được yêu cầu phải canh tân đời sống dựa trên căn bản những truyền thống lành mạnh của họ và nhu cầu thiêng liêng của những người nam, người nữ hôm nay.

Những cuộc tranh luận như thế đã chỉ ra rằng mối liên hệ giữa các bậc khiêm nhường, đọc sách thiêng liêng (lectio divina) và những luật lệ thì rất quan trọng đối với linh đạo đan tu. Có thể nói một cách tốt nhất rằng chúng tiêu biểu cho ba loại quy luật thiêng liêng khác nhau đang hoạt động bên trong cuộc sống như đã được Thánh Biển Đức miêu tả. Ba quy tắc mà tôi đã đề cập ở trên là:

  • Những chuẩn mực đan tu truyền thống như được đề ra ở toàn bộ Tu luật.
  • Đọc sách thiêng liêng (Lectio divina) với suy niệm (meditatio) dẫn tới chiêm niệm (contemplation) như được phát triển trong linh đạo đan tu sau này.
  • Sự khiêm cung của con tim như được phác họa trong những chương của Tu luật về đề tài này[63].

Những thực hành khác của sự khổ chế và cầu nguyện trong linh đạo Biển Đức – Xitô dường như được gộp lại vào trong ba phương pháp căn bản này, khi được sử dụng cùng với nhau, chúng tạo nên một lối sống Biển Đức (conversatio). Bởi đó, có ba cấp độ chi tiết theo đó đời sống Biển Đức – Xitô có thể được miêu tả:

  • Cấp độ chung nhất là toàn bộ chương trình sống (conversatio) được giải thích trong những tập sách nhỏ, tờ rơi hay website điển hình cho những du khách.
  • Chương trình sống này được soạn dựa trên ba con đường thiêng liêng chung (giữ luật, cầu nguyện và khiêm nhường), như được trình bày trong những đoạn trước.
  • Và mỗi một trong ba nguyên tắc chung này được biên soạn với những “khí cụ” (instrumenta), những thực hành hoặc những yếu tố đặc thù, cụ thể là những luật lệ căn bản, chỗ đứng lectio divina và các bậc khiêm nhường.

Vì sự rõ ràng, việc sự duy trì “phương pháp” (method) trong toàn bộ cuốn sách được giới hạn để chỉ rõ qua quy luật chung của việc giữ luật, lectio divina và khiêm nhường.

Cũng nên chỉ ra rằng đức tin, đức cậy, đức mến – là những nhân đức đối thần – và khôn ngoan, phân định hoặc “đức cẩn trọng là mẹ các nhân đức”[64], không thực sự là những thành phần của những phương pháp thiêng liêng, nhưng đúng hơn các nhân đức trên là những nguyên tắc hướng dẫn của chúng. Chúng ta cũng có thể nói như thế đối với bí tích Rửa Tội và các bí tích khác. Các phương pháp thiêng liêng được bắt nguồn từ các bí tích hơn là các bí tích bắt nguồn từ chúng. Các đan sĩ Kitô giáo biết rằng sự trưởng thành thiêng liêng là một quà tặng, một ân sủng mà Chúa Thánh Thần, Ngài như “gió muốn thổi đâu thì thổi”[65]. Bất kỳ hình thức khổ chế nào, cách này hay cách khác, cũng là những cách thế cần thiết để loại bỏ những chướng ngại đối với ân sủng này, để chuẩn bị những yếu tố khác nhau của cuộc sống hầu đón nhận Thiên Chúa hoặc để biểu lộ những món quà mà mình đã lãnh nhận. Hơn thế nữa, những phương pháp thiêng liêng và những khí cụ của nó không phải là đơn đặt hàng. Chúng phải thích hợp với ân sủng và sự trưởng thành của mỗi người. Chúng được lập ra là vì con người chứ không phải con người vì chúng[66]. Những nguyên tắc đức tin như thế thì quan trọng để gặt hái được hoa trái từ bất kỳ phương pháp thiêng liêng nào.

 Nhân Học Của Con Đường Ba Chiều

Trong khi phân biệt ba lĩnh vực của nguyên tắc trong đời sống Biển Đức – Xitô, chúng ta phải hết sức cẩn thận để không áp đặt lên trên tác giả của Tu luật một lối suy nghĩ hệ thống thuộc về thời gian gần đây hơn là thuộc về Thế kỷ VI. Thánh Biển Đức không phải là nhà lý luận, nhưng là một người cha thiêng liêng, một nhà lập pháp, người có một ơn ban đặc biệt để tổng hợp những thành phần khác nhau của truyền thống đan tu Kitô giáo vào trong một tổng thể có thể được.

Tuy nhiên có hai yếu tố tiêu cực xảy ra đã ngăn cản sự nhận thức rõ ràng hơn về conversatio, chương trình sống của ngài. Những trở ngại này gắn bó trực tiếp với nhau và có tác động lẫn nhau. Đó là thiếu một cái nhìn nhất quán về con người ngay bên trong linh đạo của Tây phương và khuynh hướng nhấn mạnh đến luật, và trật tự bề ngoài hơn là những giá trị và sự trưởng thành nội tâm. Đó là lý do tại sao thật quan trọng để hiểu nhân học của linh đạo Tây phương và cái nhìn của nó về con người, để thấu hiểu ý nghĩa của các phương pháp linh đạo Tây phương như là những khía cạnh của mầu nhiệm Kitô giáo, hầu có thể có được một sự nhận thức đầy đủ hơn về linh đạo Biển Đức.

  Ba yếu tố nhân loại học

Thực ra trong truyền thống đan tu Kitô giáo đã tồn tại một nền nhân học chắc chắn hoặc một viễn cảnh về con người, đã dẫn đến một cách thức chung để diễn đạt về thực tại phát triển thiêng liêng. Tuy nhiên viễn cảnh này chưa bao giờ được giải thích một cách thấu đáo. Viễn cảnh này bắt nguồn từ sự hứng thú hiểu biết toàn thể con người của phong trào đan tu.

Con người được xem như lệ thuộc hoàn toàn vào Lời của Thiên Chúa được gửi tới cho họ trong ngôi vị thần linh và bản tính nhân loại của Đức Giêsu Kitô. Ngôi Lời vĩnh cửu phản chiếu trong những phần khác nhau của sự hiện hữu của mỗi người. Sự trưởng thành đích thực của con người là một quá trình gia tăng sự thanh luyện và hợp nhất toàn bộ sự hiện hữu của họ nhờ Ngôi Lời. Như chúng ta đã thấy trong những sự năng động của bác ái Kitô giáo, những cấp độ khác nhau của sự tồn tại của con người, tất cả phải được tái tập trung không phải dưới những ý kiến trừu tượng của tính cách, nhân đức hoặc sự kiềm chế bản thân, nhưng dưới vương quyền của Đức Giêsu, bởi vì “Người là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội thánh”[67]. Trong cách thức này, cách thức của việc khấn dòng và tuyên khấn, “tất cả thuộc về bạn, mà bạn lại thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa”[68]. Điều đó muốn nói rằng, mỗi người phải vượt qua chính mình trong sự gia tăng sự trong sạch của thân xác cho linh hồn và của linh hồn cho sự thật, và tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Giêsu Kitô. Quá trình hồi phục và tái thiết lập lại tất cả mọi cấp bậc của sự tồn tại này trong Đức Kitô được gọi bằng những tên gọi khác nhau. Truyền thống Đông phương gọi là “sự thần hóa”, trong khi bên Tây phương lại quen gọi là “sự biến đổi”, Cassianô lại gọi là “sự hiệp nhất của tình yêu”[69], đối với Thánh Biển Đức thì đó là một “đỉnh cao đạo lý và nhân đức”[70]. Còn đối với Thánh Bênađô và các đan sĩ ở Thế kỷ XII thì đó là “sự hiệp nhất tinh thần”.

Nếu hỏi các tác giả đan tu diễn đạt cái nhìn của họ về toàn bộ con người như thế nào, thì chúng ta thường xuyên bắt gặp họ sử dụng sự miêu tả ba mặt về sự hiện hữu của con người tương ứng với bộ ba “thần khí, linh hồn và thân xác”, mà Thánh Phaolô đã sử dụng trong thư thứ nhất của ngài để miêu tả tính tổng thể của đời sống Kitô hữu. Ngài đã nói trong thư đó rằng: “Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta quang lâm”[71].

Trong Thế kỷ III, Origen đã không ngần ngại sử dụng ba thuật ngữ tương tự của Thánh Phaolô để giải thích giáo huấn của ông về cuộc chiến thiêng liêng và ý nghĩa của Kinh thánh, mặc dầu từ ngữ của Origen không luôn đồng nhất. Ba chiều kích này về sự hiện hữu của con người đã được diễn đạt trong linh đạo Kitô giáo kể từ thời Origen. Bởi đó sự mô ta ba mặt của bản tính con người đã được Evagrius Ponticus sử dụng vào Thế kỷ IV, và trong Thế kỷ V được Cassianô sử dụng trong học thuyết của ông về loại hoặc ba cấp bậc của sự từ bỏ được tìm thấy trong cuộc sống đan tu[72]. Nó cũng hình thành nên một chân trời chung cho sự phát triển toàn diện của con người trong chương trình Thánh Biển Đức đề xướng trong Thế kỷ VI.

Thánh Biển Đức đã đề cập tới ba khía cạnh này của con người trong chương 7 của Tu luật. Ở đó ngài chỉ ra thực tại siêu việt trong mỗi người môn đệ của ngài một khuynh hướng nội tại liên quan đến sự khiêm nhường của con tim, nó nối kết, như nó là, và chỉ dẫn cho thân xác và linh hồn: “Chiếc thang được dựng lên đó chính là đời tạm này. Nhờ lòng khiêm nhường, nó sẽ được Chúa nâng lên tận trời cao. Hai dọc thang, theo cha hiểu chính là xác và hồn ta. Trên đó tiếng gọi Thần Linh đã sắp sẵn nhiều bậc khiêm nhường và kỷ luật để chúng ta leo lên”[73].

William of St.Thierry, một tác giả ở Thế kỷ XII, là người trình bày cách chính xác nhất nhân học này. Ngài đã thực hiện điều này trong tác phẩm Lá Thư Vàng (the Golden Epistle), là tác phẩm tóm lược đạo lý thiêng liêng của ngài. Toàn bộ tác phẩm được xây dựng xoay quanh ba khía cạnh của con người và sự quy phục không ngừng của họ với Đức Kitô đã hình thành ba giai đoạn của sự phát triển như thế nào. Sau đây là sự tổng hợp của ngài:

Nhờ sự kết hợp nên một trong tinh thần với Thiên Chúa mà con người trở nên linh thiêng. Đây là sự hoàn thiện của con người trong cuộc sống này. Cho đến nay cô tịch hay một mình, bây giờ người đó trở nên hiệp nhất. Sự cô tịch của thân xác được biến đổi nên sự hiệp nhất của tinh thần. Lời cầu nguyện của Chúa cho sự hiệp nhất của các môn đệ là lời cầu nguyện tóm tắt toàn bộ sự hoàn thiện, được nên trọn trong con người đó: “Xin cho họ nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta”[74]. Sự hiệp nhất nên một này với Thiên Chúa, hay trở nên giống Thiên Chúa, mang linh hồn, là thứ thấp hơn thần trí, vào trong cấp độ phù hợp mà trong đó thần trí lôi kéo đến gần Thiên Chúa. Cùng một cách thế như vậy, thân xác là thứ thấp hơn linh hồn, trở nên giống linh hồn. Do đó, thần trí, linh hồn và thân xác được thiết lập hợp lý theo thứ tự và trong những nơi thích hợp của chúng, được đánh giá đúng và thậm chí suy nghĩ phù hợp với những đặc điểm cụ thể của họ. Đó là cách chúng ta bắt đầu biết mình cách hoàn hảo hơn; chúng ta bắt đầu vượt qua sự hiểu biết này để lớn lên trong sự hiểu biết về Thiên Chúa[75].

Chẳng may, một số tác giả trừu tượng đã thỉnh thoảng đã lạm dụng khía cạnh thiêng liêng khi không phân biệt cách rạch ròi giữa khía cạnh tự nhiên của con người và ân sủng của Thiên Chúa, bởi đó là lẫn lộn đặc tính nhưng không của kinh nghiệm thiêng liêng chân thật. Tuy nhiên, Thánh Bênađô, bạn thân của William of St.Thierry đã giúp chúng ta có một sự hiểu biết đúng đắn về ý nghĩa của những khía cạnh khác nhau này của con người, qua những phân tích của ngài về tình yêu và tự do, một cách đặc biệt trong luận án của ngài, Về Ân Sủng và Tự Do Chọn Lựa. Mặc dù Thánh Bênađô đã cố gắng tránh sử dụng những thuật ngữ như “thần trí” để chỉ về một “nơi chốn” trong linh hồn con người, nơi con người cảm nghiệm về Thiên Chúa. Ngài đã dùng thuật ngữ tự do của con người và sử dụng chính xác những sức mạnh thiêng liêng của chúng ta để giải thích về cùng một thực tại.

Thánh Bênađô đã tập trung sự chú ý của ngài vào hoạt động của ý chí tự do. Điều này làm cho giáo huấn thiêng liêng của ngài có tầm nhìn sinh động và đạo đức hơn là một tầm nhìn tĩnh và tâm lý. Tuy nhiên, nó không thuộc về đạo đức học theo nghĩa quá câu nệ. Thực sự thì giáo huấn của ngài là một sự hiệp nhất của luân lý Kitô giáo và sự phân tích tâm lý sắc bén. Bởi đó, bên trong sự phân rẽ giữa linh hồn và thân xác mang tính chất tĩnh hơn, ngài đã nhấn mạnh tính hai mặt của năng lực làm quyết định của linh hồn bị tác động bởi sự thiếu hoàn hảo của tự do của con người. Một đàng chúng ta vui thích với sự tự do từ sự ép buộc (ý chí tự do), là điều dễ dàng biến thành ý riêng, dẫn chúng ta vào lĩnh vực lấy mình làm tâm điểm. Đó là điều khiến chúng ta không thể trở nên giống Thiên Chúa. Cùng lúc đó, chúng ta được tạo dựng cho một loại tự do cao hơn, sự tự do khỏi tội lỗi (sự hiệp nhất, sự từ bỏ chính mình), đó là ân sủng nối kết một cách gần gũi với “ý chung”. Nơi đó chúng ta tìm thấy được hình ảnh của Thiên Chúa. Ở đây, nghĩa là qua mối quan hệ hài hòa của sự hiệp nhất ý chí, mà tình yêu của Thiên Chúa làm trống rỗng linh hồn của nhân cách hảo huyền của ý riêng để làm say mê nó, đưa con người ra khỏi chính mình hầu hiệp nhất với Thiên Chúa. Sự đánh giá cao tính chất một liên hệ liên chủ vị của thần trí con người nơi Thánh Bênađô, là chìa khóa trực giác để đi vào thực tế của “thần trí” là gì và làm gì. Dưới đây chúng ta sẽ thấy cách thức Thánh Bênađô bắt chước Thánh Biển Đức khi ngài diễn tả vai trò của đức khiêm nhường trong sự giải phóng khỏi sự vị kỷ sai lầm.

Trong những thế kỷ gần đây, tính hai mặt luân lý này của các năng lực thiêng liêng của chúng ta và bao khía cạnh kinh nghiệm của con người đã có được một sự chính xác hơn. Thánh Gioan Thánh Giá nói đến “bản chất của linh hồn”[76] tách biệt khỏi phần cảm giác cũng như chức năng thiêng liêng của nó (lý trí, ý chí và trí nhớ). Ngài giải thích rằng nó là “tâm điểm sâu thẳm nhất” của linh hồn có thể đạt được nhờ tình yêu.

Gần đây hơn, Thomas Merton và một số người khác đã theo học thuyết của Thánh Bênađô về bản ngã sai lầm, nhưng đã phát triển bản đối chiếu rõ ràng một cách đầy đủ và chi tiết hơn. Sự đóng góp chủ yếu của Thomas Merton cho linh đạo đan tu có thể được nhận thấy như một sự cởi mở lớn hơn của phong trào đan tu Tây phương đối với sứ điệp của chủ nghĩa nhân vị Kitô giáo, tâm lý học hiện đại, và thần bí ngoài Kitô giáo. Sự tổng hợp những trào lưu thiêng liêng khác nhau này của Thomas Merton đạt được qua mẫu thức chung về “đặc tính”, về “cái tôi đích thực của chúng ta trong hình ảnh Thiên Chúa”[77] như là con đường cần thiết để được nên một với Thiên Chúa.

Theo Thomas Merton, đan sĩ như là người không ngừng tìm kiếm một sự cởi mở hoàn toàn cho Thiên Chúa, cố gắng để đạt được sự hiểu biết sâu xa hơn bao giờ hết về bản chất thật của mình trước mắt Đấng Phục Sinh. Con đường để đi tới sự nhận diện mối quan hệ mới này là sự biến đổi nội tâm, là sự hoán cải không ngừng để đi theo Chúa Kitô một cách gần gũi hơn. Những điều này bao hàm việc sử dụng một cách thích hợp sự tự do của con người. Mục đích của quá trình hoán cải này cũng tương tự như những gì Gioan Cassianô và Thánh Biển Đức ngụ ý khi các ngài sử dụng chính thuật ngữ của Chúa Giêsu “tâm hồn trong sạch”[78], đó là sự thanh tịnh nội tâm cần thiết cho cả sự cầu nguyện và tình yêu chân thật. Chúng ta đã thấy sự cần thiết của một trái tim trong sạch là chía khóa tinh thần của lời khấn canh tân của chúng ta thế nào rồi. Nó cũng rất gần với những gì mà Thánh Bênađô có ý nói về “ý chung”, cụ thể, đó là sự phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa và cho anh em. Không chỉ qua sự vâng phục bề ngoài mà thôi, nhưng còn bằng sự từ bỏ nội tâm của những “căn tính” sai lầm, đó là những ảo giác về bản thân, những tham vọng vị kỷ, và lạm dụng sự tự do.

Tóm lại, những truyền thống đan tu tiêu biểu này qua các thế kỷ đang nói với chúng ta rằng có khía cạnh thứ ba, một kho tàng thiêng liêng, đang ẩn giấu và có thể đạt được bên trong sự hợp nhất thân xác – linh hồn của chúng ta. Qua sự hiệp nhất này, Thiên Chúa mời gọi chúng ta vượt qua chính mình, bằng cách sử dụng sự tự do của chúng ta một cách đúng đắn và thích hợp. Siêu việt tính của bản thân có thể đạt qua sự quên mình của đức khiêm nhường, và một cách tuyệt đối qua đức ái Kitô giáo như chúng ta sẽ thấy dưới đây.

 Thân xác, linh hồn và tinh thần

Rõ ràng là còn nhiều phạm vi để học hỏi sâu xa hơn và để phản tỉnh về ý nghĩa của các thuật ngữ: Thân xác, linh hồn (‘mind’) và tinh thần (‘heart’). Cần phải nghiên cứu để nắm rõ cách dùng các thuật ngữ này của các tác giả khác nhau. Nhưng những khảo sát ngắn gọn của chúng ta về các tác giả đan tu chỉ cho thấy một truyền thống vững chắc của những khía cạnh bộ ba trong con người và sự áp dụng của các nguyên tắc đan tu với ba khía cạnh này. Bộ ba này được biểu lộ trong những thuật ngữ ơn gọi thần linh (evocatio divina) [79] của con người, và nó chỉ có thể được hiểu trong những thuật ngữ của sự tiếp tục phát triển thiêng liêng, chứ không phải như một sự miêu tả về bản chất tịnh. Được hiểu một cách chính xác, bộ ba này thì thích hợp với sự phân biệt cổ điển linh hồn – thân xác, nó được làm cho phong phú bởi yếu tố mới và năng động. Khía cạnh mới này giải thích dưới dạng sự trưởng thành thiêng liêng là những gì mà thuật ngữ thân xác – linh hồn không đề cập đến. Ngoài ra, thuật ngữ ít nhị nguyên và hiển nhiên hơn của nó thì được hiểu một cách dễ dàng hơn trong các nền văn hóa ngoài châu Âu.

Thân xác, trong nghĩa này, không chỉ có nghĩa là một bộ khung với những cơ bắp và bộ phận của nó, nhưng còn, và thậm chí hơn thế nữa, là tình cảm sống động của con người bao gồm cả tính khí, tình cảm và nhiều yếu tố vô thức khác nữa. Linh hồn hoặc tâm trí có liên quan đến hoạt động có ý thức của ý chí, lý trí và trí nhớ (ký ức): Lập luận, sự hiểu biết bằng trực giác, tính cách lâu dài vốn chi phối các hoạt động bên ngoài nhiều hơn của thân xác. Nó ám chỉ cùng những yếu tố như ego (cái tôi) trong tâm lý học hiện đại.

Mặt khác, gọi tên một cách thích hợp khía cạnh sâu kín nhất nhưng vô cùng cao cả của con người là điều rất khó, nếu không muốn nói là không thể. Sở dĩ như vậy, một phần là vì từ spirit có những hàm ý khác nhau trong những ngôn ngữ và nền văn hóa khác nhau. Sự thật căn bản là đời sống tình cảm của con người và những hoạt động lý trí không làm kiệt quệ những khả năng thiêng liêng của họ. Bên kia và bên dưới tính dễ xúc động của con người và năng lực trí tuệ vẫn tồn tại một nơi gặp gỡ nội tâm của sự thật và tình yêu, hiện hữu và hành động, hữu thể học và luân lý. Nó là khả năng liên quan tới sự hiến thân hoàn toàn cho Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc của con người. Như vậy, nó là nơi khai sinh sự tự do mới.

Thâm tâm sâu thẳm của con người chúng ta trước hết là khả năng để tiếp nhận đời sống siêu việt. Vì lý do này nó được gọi là “uy thế của vâng phục”[80]. Nó là một sự cởi mở để bị tổn thương và để hiến mình một cách hoàn toàn cho cả Thiên Chúa lẫn tha nhân trong sự lựa chọn tự do vì tình yêu cứu độ. Một người đan sĩ bình thường hầu như chắc chắn kinh ngiệm về điều này một cách gián tiếp bên trong, hơi viễn vông, nhưng thật sự quan trọng và làm thỏa mãn tâm điểm liên quan đến ký ức thinh lặng, cầu nguyện và linh hứng. Ở nơi đó bạn được diễn kiến Đấng Hiện Diện.

Cùng lúc đó, khía cạnh trung tâm này là khả năng thực tiễn tại nơi gốc rễ của cả thân xác lẫn linh hồn. Nó có thể hướng dẫn và hiệp nhất toàn bộ năng lực của con người và bởi đó biểu lộ chính nó qua thân xác và linh hồn. Vừa dễ tiếp thu vừa hành động, khía cạnh này thường được gọi là trái tim (heart) như trong các tác phẩm của Gioan Cassianô[81] và 31 lần trong Tu luật Thánh Biển Đức. Nó cũng được cả văn chương trung cổ lẫn hiện đại gọi là “lương tâm” (conscientia)[82], như giáo huấn quan trọng của Công đồng Vatican về phẩm giá con người, là điều mà chúng ta thấy có liên quan đến lời khấn vâng phục. Công Đồng đã dạy rất rõ ràng như sau: “Lương tâm là nơi thẳm sâu thầm kín, là cung thánh của lòng người, nơi đây chỉ còn một mình con người với Thiên Chúa, Đấng đang lên tiếng trong thâm tâm con người. Bằng một cách thế diệu kỳ, lương tâm giúp con người nhận biết lề luật ấy, lề luật được kiện toàn với tình mến Chúa yêu người. Nhờ trung thành nghe theo lương tâm, các Kitô hữu liên kết với những người khác để cùng tìm kiếm chân lý”[83].

Phần cốt lõi nội tâm này của nhân phẩm là tâm điểm thiêng liêng của sự hấp lực, là cái tôi chân thật nhất của một người. Đó là nơi gặp gỡ trọng tâm sự hiện hữu của con người, từ đó cả linh hồn lẫn thân xác xuất hiện giống “hai bên của chiếc thang”[84], nghĩa là, như một sự song song, những cách thế diễn tả thực tại nội tâm gắn chặt vào nhau lại một cách thiêng liêng trong sự hăng hái sống động của sự cởi mở cho Chúa Thánh Thần.

Cả Gioan Cassianô lẫn Thánh Biển Đức đều theo ngôn ngữ của Kinh thánh khi các ngài gọi nguyên tắc thống nhất thâm sâu này là “quả tim”. Theo như giáo huấn chắc chắn nhất của Kinh thánh, quả tim, hơn cái đầu, là tâm điểm nguyên thủy của cảm xúc và hiểu biết của con người. Mỗi người đều biểu lộ những gì ẩn chứa bên trong họ[85] như tục ngữ có câu: “Lòng đầy thì miệng mới nói ra”. Thánh Phaolô sử dụng cả hai từ “trái tim” (heart) và “thần trí” (spirit) để nói về những thực tại cao quý nhất này của con người, có lẽ để làm lộ rõ bản chất của trái tim với bản chất của Chúa Thánh Thần[86]. Bởi đó, Thánh Phaolô đã cầu nguyện: “Tôi nguyện xin Thiên Chúa Cha thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái để … nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết” (Ep 3:16-19)[87]. Qua sự hiểu biết này của con tim, các Kitô hữu tìm được căn tính đích thực của mình như là con cái trong Con Thiên Chúa đến độ “Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa”[88].

 3. MÔI TRƯỜNG QUI KITÔ

Các tác giả mà chúng ta đã đề cập trên kia thường nói đến ba khía cạnh của con người trong mối liên hệ với những chặng đường khác nhau của cuộc hành trình thiêng liêng. Tuy nhiên, mối quan tâm của chúng ta ở đây không nhiều với trình tự thời gian của các giai đoạn tăng trưởng, như với ý nghĩa của các thực hành thiêng liêng căn bản hiện diện trong suốt quá trình. Đức tin xem những thực hành này như là những nẻo đường có liên hệ mật thiết với nhau mà nhờ đó mỗi người có thể cộng tác với ân sủng, và chuẩn bị sẵn sàng để đi từ tình yêu vị kỷ đến tình yêu hoàn hảo, là tình yêu tự hiến cho Thiên Chúa. Đây là cách thế mà người đan sĩ nam nữ “sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”[89], thậm chí ngay tại đời này. Bởi vì đầy là cách hình ảnh Thiên Chúa được phục hồi cách trọn vẹn nơi họ vì “Thiên Chúa là tình yêu”[90].

Bây giờ chúng ta đang ở một vị trí thích hợp để hiểu những phương pháp thiêng liêng này một cách tường tận hơn, bởi vì chúng ta đã thấy ba khía cạnh của sự hiện hữu của con người tạo nên một dòng sông, như nó đã là, để qua đó đời sống Biển Đức tuôn trào. Một lần nữa và lần này rõ ràng hơn trước, chúng ta có thể phân biệt trong lối sống chung chung (Conversatio morum)[91] được linh đạo đan tu đề nghị ba lĩnh vực của nguyên tắc và sự phát triển thiêng liêng, cùng những mối liên hệ riêng của chúng với những khía cạnh khác nhau của kinh nghiệm của chính Đức Kitô như Người Con yêu dấu và Tôi Tớ của Chúa Cha:

  • Những luật lệ đan tu hợp nhất thân xác của đan sĩ vào trong lối sống của Đức Kitô.
  • Lectio divina hiệp nhất hoạt động trí thức của con người vào trong lời cầu nguyện của Đức Kitô, để có “tư tưởng của Đức Kitô”[92].
  • Trái tim khiêm nhu phù hợp với “trái tim khiêm nhường và hiền lành” của Đấng Cứu Thế[93], và làm cho toàn bộ con người trở nên “một tinh thần với Người”[94].

Biểu đồ II ở trang 468, cố gắng trình bày ba khía cạnh này của linh đạo Biển Đức, cả mang tính phân tích lẫn tổng hợp trong mối tương quan và mục đích chung của chúng. Trong biểu đồ đó, các lời hứa của việc tuyên khấn đan tu được làm nổi bật, nhờ đó chúng có thể được xem xét trong bối cảnh của sự phục vụ toàn bộ con người, được đổi mới theo hình ảnh của Đức Kitô. Một cách đặc biệt, tính ưu việt của Conversation (hoán cải) được thấy rõ nhất, bởi vì cùng một lúc nó vừa tóm tắt những yếu tố khác nhau của việc tuyên khấn vừa phản chiếu lối sống của Chúa Giêsu và các môn đệ của Người đã sống. Lối sống đó là khung tham chiếu đầu tiên cho việc tuyên khấn đan tu.

Tương tự như vậy, một phần quan trọng của toàn bộ quá trình này – quả thực là phần quan trọng nhất – là sự tái tập trung cuối cùng của toàn thể con người vào trong Đức Kitô. Chúng ta không nên hiểu điều này trong những thuật ngữ theo thứ tự thời gian như khi chúng ta sử dụng một dụng cụ nào đó và đạt được một số kết quả nhất định, nhưng chúng ta phải hiểu nó như giá trị vĩnh cửu và chuyển động ngay từ lúc bắt đầu. Sự biến đổi, cũng giống như sự hoán cải, là một tiến trình không ngừng nghỉ. Thực tế nó là yếu tố nòng cốt của bất cứ linh đạo Kitô giáo nào. Đó là lý do tại sao ba phương pháp chung chung này đã được Thánh Biển Đức giới thiệu cho chúng ta không những chỉ dựa trên cách nhìn của toàn bộ con người, nhưng còn dựa trên, và thậm chí trực tiếp hơn, sự lồng vào một cách sống động trong thực tại cuộc sống của Đức Kitô. Bằng việc không ngừng biến đổi nên giống Đức Kitô, người đan sĩ, qua tiếp xúc, so sánh và sửa sai từ Thầy Chí Thánh, đi đến chỗ nhận biết Đức Kitô, nhận biết chính mình và nhận biết sự chữa lành của Chúa Thánh Thần.

Điều trở nên rõ ràng là ba phương pháp chung biểu thị đặc tính đời sống Biển Đức thiết lập một con đường thiêng liêng đồng bộ. Nó là một chương trình chẳng phải tự động cũng chẳng phải ngắn hạn, nhưng cùng lúc, nó lưu tâm đến nhịp điệu thâm sâu nhất của đời sống con người và quyền uy của Chúa Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần, chỉ mình Ngài có thể làm cho ơn gọi thần linh của con người được nên trọn. Thực vậy ba phương pháp, với những yếu tố riêng của chúng, tương đương với hai cực của sự định hướng này: Con người mở ra cho Thiên Chúa và Thiên Chúa cứu chuộc con người qua nhân tính của Đức Kitô.

Vì tu trào đan tu Kitô giáo được đặt nền tảng trên chính lối sống của Đức Kitô, nên những thực hành đan tu phục vụ như những dụng cụ nối kết giữ Đấng Cứu Thế và người đan sĩ nam nữ. Họ biểu lộ những đòi hỏi của đức tin, đức cậy và đức mến trên cấp bậc thực tiễn của cuộc sống thường ngày. Qua chúng – nghĩa là, qua ân sủng của Ngôi Lời Nhập Thể hiện diện trong chúng – họ có năng lực để chữa lành những chia rẽ do tội lỗi gây ra. Kết quả là các mối liên hệ liên chủ vị cả với Ba Ngôi Thiên Chúa lẫn với anh chị em trong cộng đoàn trở nên trong sáng. Thực hành đan tu thăng tiến sự tin tưởng vào sự vững bền của Nước Thiên Chúa, được mở rộng qua đọc sách thiêng liêng để gia tăng cảm thức về Ngôi Lời, và sinh hoa trái qua sự khiêm nhường trong sự lệ thuộc hơn nữa vào tác động của Chúa Thánh Thần: “Do việc trở nên ‘đồng hình đồng dạng’ với mầu nhiệm Đức Kitô như thế, đời sống thánh hiến thể hiện theo một danh nghĩa đặc biệt việc tuyên xưng Chúa Ba Ngôi (confession Trinitatis), đặc điểm của toàn thể đời sống Kitô hữu; đó là nhìn nhận với lòng ngưỡng mộ vẻ đẹp tuyệt vời của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và vui sướng làm chứng về sự hạ cố đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho hết mọi sinh linh”[95].  

Đức Maria là ví dụ đầu tiên của những khía cạnh thần linh và con người của kinh nghiệm đan tu. Sự hoàn toàn phó thác vào hoạt động của Thiên Chúa nơi Đức Maria, có nghĩa rằng thân xác trinh khiết của Mẹ hoàn toàn trao phó cho kế hoạch của Thiên Chúa Cha. Tâm hồn (psyche) của Mẹ đã mở rộng cho Thiên Chúa, đã bị đâm thâu bởi Lời của Thiên Chúa, nhờ đó ý nghĩ trong thâm tâm của nhiều người được lộ ra[96]. Và thần trí (pneuma) của Mẹ hớn hở vui mừng trong lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa hướng tới địa vị thấp hèn của Mẹ[97]. Kinh nghiệm thiêng liêng của Đức Maria trong thân xác, linh hồn, và thần trí được liên kết một cách mật thiết với ba ân sủng của Mẹ: Là đồng trinh, khả năng sinh con và khiêm nhường, như Thánh Bênađô đã ca ngợi trong bài giảng của ngài về những vinh quang của Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ là mẫu gương và là mẫu gương đầu tiên của những gì làm nên người môn đệ được thánh hiến của Chúa Giêsu. Nơi Mẹ “đền thờ của Chúa Thánh Thần” tỏa rạng vẻ huy hoàng của tạo vật mới. Đời thánh hiến nhìn nhận Mẹ là gương mẫu tuyệt vời về sự tận hiến cho Chúa Cha, kết hợp với Chúa Con và ngoan ngoãn nghe theo Chúa Thánh Thần, ý thức nhận lấy “lối sống trinh khiết và nghèo khó” của Đức Kitô đồng thời cũng có nghĩa là bắt chước lối sống của Đức Maria[98].

Sự tràn đầy ân sủng của Đức Maria có một tầm quan trọng đặc biệt đối với các đan sĩ. Tiếng gọi đan tu bao hàm sự kiến tạo một môi trường, trong đó đề cao sự cởi mở của chính Đức Maria với Ba Ngôi Thiên Chúa và với tất cả đoàn con thiêng liêng của Mẹ. Môi trường của sự trong sáng thiêng liêng này là phương tiện cho môi trường của Thiên Chúa, môi trường Kitô, cả bề ngoài đối với chúng qua việc tuân giữ luật lệ đan tu, lẫn cả bề trong qua việc đọc sách (lectio) và đặc biệt qua đức khiêm nhường. Sự kiến tạo môi trường này rất quan trọng, rất cần thiết đối với mục đích của Tu luật Thánh Biển Đức, rằng ba phương pháp chung chung mà chúng ta đã và đang khảo sát thật sự là những cấu trúc căn bản của đời sống Biển Đức.

Trong môi trường chung chung của việc tận hiến hoàn toàn cho Đức Kitô, vẫn còn không gian cho sự tự do đáng kể của tinh thần. Không giống như các truyền thống đan tu ngoài Kitô giáo, linh đạo Biển Đức – Xitô đặt trọng tâm vào lối sống chung của đan sĩ hơn là những chi tiết của những kỷ luật thân xác và tinh thần. Sở dĩ như vậy, là vì tầm quan trọng của sự đáp trả cá nhân một cách sâu sắc với Lời của Thiên Chúa, vốn bao hàm một sự uyển chuyển nhất định trong những chi tiết của cuộc sống hàng ngày.

Tuy nhiên, khi nó là vấn đề của sự biến đổi toàn bộ con người thì mọi thứ lại gắn bó với nhau. Những khía cạnh khác nhau của đời sống đan tu thì cần thiết lẫn nhau, bởi vì chúng phù hợp với những cấp bậc thiết yếu và liên kết của bản tính con người. Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng khi quên lãng một cách quá mức hay quá nhấn mạnh một yếu tố nào đó thì toàn bộ quá trình của sự trở nên giống Đức Giêsu bị ảnh hưởng. Qua các thế kỷ, đã có nhiều cuộc cải tổ ngay trong phong trào đan tu Biển Đức nhằm mục đích tái thiết lập sự cân bằng lành mạnh giữa những yếu tố khác nhau. Sự cân bằng này, được biết đến như là “sự quân bình Biển Đức”, không phải tự nó đã được coi là quan trọng, nhưng là một phương tiện của sự thánh hiến bản thân một cách hoàn toàn cho Thiên Chúa trong việc bước theo Đức Kitô. Và qua việc thánh hiến như thế đạt tới sự hiệp nhất hoàn toàn hơn của nhân cách con người.

Để có thể gặt hái được thành quả từ sự quân bình của linh đạo Biển Đức, điều quan trọng là phải hiểu được chức năng của các phương pháp tác động qua lại với những thành phần riêng biệt của chúng. Mục sau đây sẽ tóm tắt những đặc điểm chính yếu của chúng trong ánh sáng của những nguyên tắc mà chúng ta vừa xem xét.

4. LUẬT LỆ, ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN VÀ ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG

  Luật Đan Tu (Monastic Observance)

Có rất nhiều cách để liệt kê những thực hành thể lý căn bản (exercitia coporalia) vốn là những yếu tố bề ngoài của lối sống Biển Đức. Trong những chương trước, chúng ta đã học hỏi chúng dưới khía cạnh các mối liên hệ của chúng với các lời khấn, đặc biệt với lời khấn canh tân, conversatio morum. Ở đó chúng ta đã xem xét năm thực hành căn bản.

Để đơn giản hóa, những nguyên tắc mang tính thể lý này thỉnh thoảng được rút ngắn trong ba chữ “L” của tiếng Anh – Phụng vụ (Liturgy), Lao động (Labor), và Đọc sách (Lectio) – như là ba yếu tố then chốt của thời khắc biểu hằng ngày. Trong trường hợp này, phụng vụ (việc Chúa “Opus Dei” với Thánh lễ) và việc đọc sách thiêng liêng (lectio divina), nên được hiểu là những yếu tố ngoại tại của việc giữ luật hơn là những nguyên tắc thiêng liêng của cầu nguyện. Nhưng những yếu tố khác, như xa lánh xã hội trần thế rõ ràng phải được kể như là những phần thiết yếu của sự tuyên khấn đan tu, mặc dầu chúng không được đề cập đến như khó nghèo, khiết tịnh, vĩnh cư và đời sống chung. Thật bõ công để nhấn mạnh rằng, chúng ta đang xem xét những yếu tố thể lý căn bản, chứ không phải là những chi tiết quy tắc của những luật lệ, những phong tục tập quán hoặc những tục lệ địa phương. Nó là vấn đề của những luật lệ đó, và chỉ những điều đó mà thôi, thiếu những điều đó thì đời sống Biển Đức – Xitô không dẫn tới sự biến đổi mà những điều đó có ý chuẩn bị cho nó.

Như chúng ta đã thấy ở chương III, đời sống cộng đoàn, tự nó chứa đựng một  ân sủng đặc biệt là chính sự hiện diện của Đức Kitô[99], thì nó cũng là một kỷ luật, và là một kỷ luật rất quan trọng. Nó cung cấp một phong thái đan tu cộng tu của đối thoại, tình bạn, lòng thương xót huynh đệ, sự thuộc về nhau cách trưởng thành, và cử hành các hình thức cầu nguyện khác nhau, sự khiêm nhường và những thực hành khổ chế. Tương tự như vậy, sự hiếu khách, và những công việc thể lý khác của lòng thương xót[100] có ngụ ý thiêng liêng phong phú. Chúng biểu lộ ra ngoài phẩm chất bên trong của “sự nhiệt thành tốt lành”[101] – đó là tình yêu chan chứa – đã được Thánh Biển Đức miêu tả trong chương bản lề của ngài về đời sống cộng tu.

Một trong những mục đích lành mạnh nhất của cải cách đan tu là chỉ ra giá trị thực của sự tuân giữ luật đan tu căn bản, trái ngược với sự nhấn mạnh vào sự nghiêm ngặt về thể chất của chúng, hoặc trên sự phù hợp về vật chất với một mảng nào đó của luật pháp đan tu. Kết quả của điều này là một sự dịch chuyển từ đời sống thiêng liêng của những loại hình bề ngoài tới một đời sống thiêng liêng của đức tin sống động. Ý nghĩa Kitô giáo của những sự tuân giữ luật lệ khác nhau phải được hiểu như là một phương tiện đối với quá trình trưởng thành quan trọng này. Chúng ta vừa thấy điều đó, được kết hợp với nhau, mục đích trực tiếp của chúng là biểu lộ trên cấp độ thân thể một nhóm các ân sủng của Tin mừng được nuôi dưỡng bằng ơn gọi đan tu. Điều này phù hợp với nguyên tắc chung của tính bí tích và sự Nhập Thể, mà nhờ đó những thực tại thiêng liêng trở nên hữu hình trong những hoạt động thường nhật của cuộc sống con người. Bởi đó, những luật lệ Biển Đức, mặc dầu đôi khi giống với những thực hành của các phong trào đan tu ngoài Kitô giáo, về bản chất là phần mở rộng của đời sống lịch sử của Đức Kitô – Đấng là nguồn và sự linh hứng đời sống đan tu Kitô giáo như Công đồng Vatican II xác quyết: “Bởi vì tiêu chuẩn tối hậu của đời sống tu trì là sống theo giáo huấn của Tin mừng trên đường bước theo Chúa Kitô, vì thế đây phải là quy luật tối thượng của các Hội dòng”[102].

Hướng tới tương lai, những luật lệ tham dự trước sự lệ thuộc của toàn thể thụ tạo đối với vương quốc của Chúa Cha: “Như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi loài”[103], hoặc như khi Thánh Biển Đức nói trong chương về lao động chân tay: “Nhờ vậy trong mọi sự Thiên Chúa được tôn vinh”[104]. Bởi đó, cách đặc biệt những luật lệ Biển Đức trở thành một sự biểu lộ niềm hy vọng Kitô giáo.

Sự cần thiết phải giữ thăng bằng giữa các nguyên tắc thể lý của đời sống đan tu đôi khi bị coi nhẹ hay không được đánh giá đúng mức. Trong tương quan với việc đọc sách và đức khiêm nhường, sự quân bình như thế là điều cần thiết nếu chúng tìm được chỗ đứng thích hợp của chúng trong linh đạo Biển Đức – Xitô. Một mặt, những hoạt động khác nhau của đời sống đan tu tạo ra một nhịp điệu bình thản cho sự phát triển lành mạnh của con người. Thậm chí chúng còn giúp phát triển những năng khiếu tiềm ẩn nơi chúng ta. Tuy nhiên, sớm hay muộn, kinh nghiệm chỉ cho chúng ta thấy một khía cạnh khác của nhịp sống đan tu: Đó là có một loại thất vọng của con người được xây dựng trong “sự bình an đan tu” nổi tiếng này. Không một hoạt động nào được thực hiện riêng lẻ, chẳng hạn như công việc thủ công, nghệ thuật thánh, nghiên cứu hoặc cầu nguyện trong thinh lặng lại được cho phép một phạm vi đầy đủ trong đan viện để phát triển, như các lối sống khác chuyên biệt hơn có thể cho phép. Điều này tạo nên một sự bất mãn. Nó thường ảnh hưởng không tốt tới các đan sĩ nam nữ cách chính xác nơi mà họ dễ nhạy cảm nhất và thường xảy ra một cách vô thức đối với người quan sát tình cờ, nhưng nó có những hậu quả thiêng liêng quan trọng. Nó thúc ép người đan sĩ biến đổi chiều kích hoàn toàn con người của hoạt động thường ngày, và đặt đời sống con người trong đức tin và đức cậy vào Thiên Chúa. Bởi đó, sự cân bằng của các hoạt động đan tu có thể khơi dậy một sự khai sáng nội tâm thực sự, điều mà nhịp sống chuyên biệt hơn không thể làm được. Người ta học được rằng, như được phác thảo trong những đoạn trước, ý nghĩa Kitô giáo của những luật lệ thì chỉ là một, hoàn toàn làm thỏa mãn trái tim con người với bình an được ban tặng “không theo kiểu thế gian”[105].

Chủ yếu là ở cấp độ hoạt động thể lý mà các đan sĩ Kitô giáo có thể hợp thành một thể thống nhất các thực hành nhất định liên kết với các thực hành của đạo Hindu hoặc Phật giáo Thiền Tông. Tuy nhiên, điều này lại làm nảy sinh vấn nạn về mối liên hệ giữa chúng và những thực hành thể lý hoặc tinh thần với các yếu tố vô thức của tâm lý con người. Chẳng hạn như các thực hành Yoga có thể dựa trên cấu trúc nội tại của tâm lý con người, nhưng dòng chảy của năng lực tâm lý có thể không như nhau đối với người phương Tây và người Á Đông. Bên cạnh đó, sự phân bố năng lực nội tại thì đang mở ra mau lẹ trong hầu hết mọi nơi trên thế giới. Không triển khai điểm này ở đây, chúng ta nên nhận ra nó như những khía cạnh của những luật lệ thể lý, xứng đáng được xem xét cách kỹ lưỡng hơn.

Một cách tích cực hơn, tầm quan trọng tương đối của một số truyền thống đan tu có thể giúp thúc đẩy sự đổi mới những luật lệ căn bản làm nên điều Gioan Cassianô gọi là “sự từ bỏ ban đầu” (Conf 3,6-7). Chúng tạo thành phương pháp chung đầu tiên mà linh đạo Biển Đức cung cấp cho sự biến đổi trong Đức Kitô. Bởi vì, những luật lệ này phản chiếu nguyên tắc sự biểu hiện thấy được về những thực tại của đức tin, là tâm điểm của linh đạo đan tu, nên những luật lệ thể lý này là điều phân biệt nhất đời sống của các đan sĩ với các hình thức sống khác của người Kitô hữu. Những cam kết bề ngoài của việc tuyên khấn trùng khớp với chiều kích thể lý này của đời sống đan tu.

 Lectio Divina

Phương pháp chung thứ hai của kỷ luật thiêng liêng đó là việc Đọc sách thiêng liêng (lectio divina). Đây là điều quan trọng đặc biệt cấu thành nhịp điệu của cầu nguyện vốn thuộc về bản chất của linh đạo Biển Đức – Xitô. Chương III đã miêu tả về nó một cách vắn gọn rồi. Công thức liên tục của việc đọc sách thiêng liêng gồm các bước: Lectio (đọc) – mediatio (suy gẫm) – oratio (cầu nguyện) – contemplatio (chiêm niệm) xuất hiện vào những thế kỷ sau Thánh Biển Đức, đặc biệt nơi các đan sĩ Cathussian vào Thế kỷ XII. Ba trong bốn yếu tố đầu tiên, đọc – suy gẫm – cầu nguyện, được Tu luật đề cập đến. Thế nhưng vào thời đó, đọc sách (lectio) hầu như chắc chắn được coi như là thái độ chung của con tim trong việc gặp gỡ với Kinh thánh hơn là một nhịp điệu được hệ thống hóa của cầu nguyện. Sự hình thành và phát triển cách tiệm tiến của việc đọc sách thiêng liêng như là thực hành thiêng liêng cho thấy cách thức tiến hành cách rõ ràng một phương pháp lại có thể phát triển từ những gì bắt đầu đơn giản như là khuôn mẫu lặp đi lặp lại hành vi của con người lại đưa con người tới sự lưu ý đến sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong Lời của Người. Đọc sách không phải là phương pháp không thể sai lầm để chiêm niệm, nhưng là những gì thường xảy đến khi chúng ta chân thành đọc hoặc lắng nghe Lời Chúa.

Theo nhịp điệu cầu nguyện này, thì Kitô hữu, những người được Lời Chúa sáng tạo và kêu gọi – đi từ sự lắng nghe hoặc đọc Lời Chúa (lectio) tới sự tiêu hóa nó một cách chủ động (meditatio), qua việc sử dụng trí tưởng tượng, lý luận biện luận về bản văn hoặc, trên hết là sự lặp đi lặp lại một từ hoặc một câu bằng lời hoặc chỉ là bằng tâm trí mà thôi. Hình thức chiêm niệm đơn giản này có khuynh hướng chuyển đổi theo bản năng thành một lối nói chuyện (oratio) trực tiếp, thân mật, và riêng tư hơn với một trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Lúc bấy giờ đó là lời cầu nguyện của chính bạn, là một sự bày tỏ tự phát những ước muốn, những sự nhận thức về tội lỗi và những cảm giác sâu thẳm nhất của bạn. Điều này có thể mang hình thức của sự ca ngợi, tạ ơn, chuyển cầu, sám hối, thờ lạy, hoặc bất cứ hình thức cầu nguyện nào như thường xuất hiện trong các Thánh vịnh.

Oratio (cầu nguyện) có thể được miêu tả như một sự tuôn trào từ con tim vào trong năng lực lý trí, trong khi contemplation (chiêm niệm) tiến xa hơn một bước nữa. Nó là một sự nhấn chìm chức năng lý trí vào sâu trong con tim. Điều này có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, và mỗi một cách thế đó được gọi là “lời cầu nguyện của con tim”, là sự nghỉ ngơi bình an của lý trí, trí tưởng tượng và cảm xúc trong tinh thần liên tưởng nội tâm. Sau một thời gian thực hành nhất định nào đó, người ta có thể đi vào trong hình thức hồi tưởng thinh lặng đáng yêu này một cách thực sự. Nó là lời cầu nguyện của đức tin, của sự đơn sơ và bình an.

Hình thức khác của sự nghỉ ngơi chiêm niệm là một sự chuẩn bị cho sự cầu nguyện hơn là hệ luận của nó. Nó liên quan đến việc làm sáng tỏ tâm lý từ ký ức của những ý nghĩ và khái niệm xa lạ. Dĩ nhiên điều này nghe có vẻ dễ, nhưng trong thực tế không dễ chút nào. Có thể được sử dụng những chiến lược thể lý và lý trí. Truyền thống huyền bí Kitô giáo nhấn mạnh trên chính tình yêu. Nó được biểu lộ qua sự lặp đi lặp lại một lời cầu nguyện tự phát ngắn do cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa, hoặc đơn giản qua việc hiến mình cho Thiên Chúa mà không cần lời nói. Đó là cách tốt nhất để giúp tâm trí thoát khỏi những tư tưởng (logismoi trong tiếng Hy Lạp) xa lạ. Những sự xao lãng có thể trở thành cám dỗ.

Có một hình thức chiêm niệm khác nữa ít nằm dưới sự kiểm soát của con người, bởi đó nó cũng không đoán trước được. Nó là đặc ân Thiên Chúa ban tặng cách nhưng không. Điều này giúp chúng ta nghĩ đến Maria Mađalêna, Thánh Tôma Tông Đồ hoặc Thánh Phaolô trong sự hiện diện của Đức Kitô Phục Sinh. Thiên Chúa viếng thăm dân Người, và Ngôi Lời ẩn dấu đã quy tụ tất cả khả năng của con người vào chính Người. Thánh Bênađô gọi hình thức chiêm niệm này là “sự viếng thăm của Ngôi Lời”. Nó là hình thức của excossus, hay là hoàn toàn quy phục những gì mà ngài đã đề cập đến trong việc miêu tả sự di chuyển từ ý riêng đến ý chung, từ tình yêu vị kỷ đến tình yêu Thiên Chúa. Nó ngụ ý một sự mất mát nhất thời quyền làm chủ chính mình vì lợi ích của sự hiệp nhất. Sự kiện xảy ra trong bối cảnh của sự từ bỏ thứ ba (oratio) được Gioan Cassianô mô tả như một sự từ bỏ chiêm niệm[106].

Như Gioan Cassianô đã hơn một lần chỉ ra[107], sự tăng trưởng trong cầu nguyện và chiêm niệm là một ví dụ về cách các chiều kích khác nhau của con người tương tác với nhau trong sự trợ giúp hoặc là cản trở nhau. Những nguyên tắc thiêng liêng tương ứng của chúng có nghĩa làm cho sự tương tác lẫn nhau này mang tính xây dựng và sinh hoa kết trái. Tuy nhiên, Thiên Chúa, Đấng là Thần Khí, đến và đi như Người muốn. Sự tự hiến hoàn toàn, vốn được bao hàm trong excessus của sự chiêm niệm, tự nó là một tặng ân thuần túy của tình yêu Thiên Chúa. Như thế, nó cần một tâm hồn đã được thanh luyện, là một tâm hồn đã sẵn sàng để đón nhận nó. Đó là lý do tại sao một lời cầu nguyện kéo dài, một cách nào đó khô khan, thậm chí bất đồng của ước muốn sâu thẳm, lại thường là yếu tố nòng cốt của việc đọc sách (lectio) đan tu. Nó như một bước chuẩn bị để bước từ oratio (cầu nguyện) tới chiêm niệm.

Bốn loại cầu nguyện tiến bộ này (đọc – suy gẫm – cầu nguyện – chiêm niệm) cũng tạo nền tảng cho lời cầu nguyện phụng vụ của cộng đoàn. Thậm chí nó còn thiết lập nên một nhịp điệu cơ bản của những phương pháp bổ sung cho lời cầu nguyện cá nhân, chẳng hạn như lời cầu nguyện chia sẻ, “lời cầu nguyện của Chúa Giêsu”, hoặc sự cầu nguyện tập trung. Sự tiếp nối bốn bước dường như phản ảnh sự tiến bộ nội tâm của con người, trong sự tiếp thu chân lý một cách tiệm tiến từ sự hiểu biết giác quan qua sự so sánh và hiểu biết tới sự xác tín, canh tân nội tâm, và cam kết thiêng liêng hoàn toàn.

Bởi đó, qua việc đọc sách mang tính trầm tư suy gẫm và qua cầu nguyện, các đan sĩ Kitô giáo khám phá lại con đường mà Lời của Thiên Chúa đã đi đến với họ. Họ vượt qua nhiều “ý nghĩa” khác nhau của Kinh thánh – nghĩa văn tự, nghĩa luân lý và các cấp bậc biểu tượng – để lịch sử cứu độ được tiếp tục tỏ lộ trong chính cuộc đời của họ. Thực tế, họ học để diễn giải lại toàn bộ cuộc sống của họ dưới ánh sáng Lời Chúa như một phần của lịch sử này, và chia sẻ một điều gì đó từ kinh nghiệm của những người môn đệ thân cận của Đức Kitô. Sau đó, trong những giây phút suy gẫm, các đan sĩ được phú ban một số kinh nghiệm về sự cứu độ của chính Chúa Kitô, trong ánh sáng mà Kinh thánh đã được viết ra.

Tầm quan trọng của hoán cải “conversio” đan tu như một sự hỗ trợ cho việc cầu nguyện và chiêm niệm Kitô giáo khó có thể được phóng đại, vì nó là một sự chia sẻ khách quan lối sống của Chúa Kitô. Hành động kép hướng về Đức Kitô, một mặt phát xuất từ đời sống lịch sử của Đức Kitô, mặt khác từ chính kinh nghiệm nội tâm của người đan sĩ, đã làm cho bản chất của đức tin Kitô giáo trở nên sống động. Đức tin sống động này là nét đặc trưng tiêu biểu của cầu nguyện Biển Đức. Trong quá khứ nó bảo vệ việc đọc sách đan tu khỏi bị xem như chỉ là một sự tuân giữ luật bề ngoài. Ngày nay xem ra nó cũng đóng vai trò rất quan trọng để ngăn ngừa sự chiêm niệm biến thành trò chơi tâm lý. Bao lâu việc đọc sách (lectio) còn nuôi dưỡng thái độ tuân thủ đức tin sống động, nó sẽ vẫn là một con đường chắc chắn nhất cho thần bí Kitô giáo trong tương lai. Trung thành với việc đọc sách là con đường không thể chuẩn chước được của việc khấn dòng nói chung và việc tuyên khấn đan tu nói riêng.

  Khiêm Nhường

Chương 7 bàn về các bậc khiêm nhường và chương 72 bàn về lòng nhiệt thành tốt lành của đan sĩ[108] được coi là trái tim, là tinh hoa của giáo huấn thiêng liêng của Tu luật Thánh Biển Đức. Những gì được gọi là khiêm nhường (humilitas), là vùng trọng yếu của kỷ luật thiêng liêng mà đời sống Biển Đức cống hiến như một con đường dẫn tới Thiên Chúa. Nó thiết lập một yếu tố căn bản trong tinh thần, và trong thực hành của các lời khấn và là cốt lõi của linh đạo Biển Đức – Xitô.

Đức khiêm nhường Biển Đức không phải là nhân đức Kitô giáo thứ yếu; nó cũng không phải là một phần của nhân đức điều độ. Nó giống hơn với một sự kết hợp năng động của đức tin, đức cậy và đức mến có thể được miêu tả như một sự tin tưởng yêu mến được cắm rễ trong sự thật. Nguồn gốc của đức khiêm nhường là Thánh Tâm Chúa Giêsu, vì Người mời gọi chúng ta: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu khiêm nhường”[109]. Bởi đó, đức khiêm nhường là một trong những giáo huấn nền tảng của Chúa Giêsu; một trong những phẩm chất chính của lối sống của Người. Như vậy nó đi vào trong bản chất của lời khấn canh tân của các đan sĩ.

Tiếp cận cùng một phẩm chất cuộc sống Tin mừng từ quan điểm tiếp nhận của bất cứ người đan sĩ nào, bản chất siêu việt của tinh thần hay trái tim con người, mà chúng ta đã ghi nhận trong bộ ba – thân xác, linh hồn và thần trí – giải thích tại sao khiêm nhường lại là một thực tại thống lĩnh cả những việc giữ luật mang tính thể lý lẫn đời sống cầu nguyện. Đó là trái tim mà Chúa Giêsu đã ban lời giáo huấn của Người[110], và từ trái tim tuôn trào niềm vui sướng của tình yêu và sự tinh khiết của lời cầu nguyện[111]. Đời sống thiêng liêng, cơ bản là đời sống của con tim đã được ân sủng của Chúa Kitô Phục Sinh đổi mới. Đức khiêm nhường là người hướng dẫn, là bạn đồng hành và là hoa trái quý báu của sự đổi mới này, là đường hai chiều giữa Thánh Tâm Chúa Giêsu và trái tim người đan sĩ. Nếu Thánh Biển Đức đã không phát triển điều này một cách đầy đủ, có thể vì những gì chúng ta đã ghi nhận trước đây, cụ thể là, sự đánh giá có giới hạn nhân tính của Đức Giêsu do sự đối kháng cần thiết của Thánh Biển Đức đối với dị giáo Ariô.

Trong sự nối kết này, điều quan trọng là phải thấy được rằng, về bản chất, mục đích căn bản của đời sống người đan sĩ không khác biệt về cơ bản đối với bất cứ người Kitô hữu nào. Trái lại, bằng cách khám phá những hấp lực nội tâm và bản năng được ân sủng khắc ghi trong trái tim của bạn, bạn đụng chạm được trái tim của Chúa Giêsu. Lúc đó bạn có khả năng để chạm đến con tim của những người sống trong cộng đoàn của bạn; lúc đó bạn có khả năng để thức tỉnh những ước muốn chân thành nhất của mọi người. Vấn đề là để cho những bản năng sâu thẳm nhất này hướng tới tình yêu và sự thật, đã thật sự hiện diện, luôn nắm quyền kiểm soát lớn hơn cuộc sống của bạn.

Tư tưởng, ước muốn, ý chí, hành động và cảm giác phải kết hợp nhịp nhàng với hoạt động bên trong của Chúa Thánh Thần. Nó phải hợp thành một thể thống nhất ở tại trung tâm cuộc sống và con tim của bạn. Sự tiến bộ mới trong đời sống thiêng liêng thường được kinh nghiệm như một sự trở lại với trung tâm này, với cái tôi chân thật nhất của bạn[112].

Chính đức khiêm nhường có thể và nên hướng dẫn chúng ta trong hành trình trở về này; hướng dẫn chúng ta khám phá những bản năng sai lầm trong trái tim con người, và giúp tìm ra sự thật được ân sủng khắc ghi trong đó. Đức khiêm nhường tiết lộ cái tôi chân thật mà Tân Ước diễn tả như “là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thùy mị, hiền hòa: đó chính là điều quý giá trước mặt Thiên Chúa”[113].

Sự khám phá cái tôi nội tại khác với, và thỉnh thoảng đối chọi với, cái tôi thiển cận, thực dụng và vị kỷ, là giây phút quyết định trong đời sống thiêng liêng của một người. Nó cho thấy tầm nhìn của Thánh Biển Đức về đức khiêm nhường gần gũi với sự hoán cải (metanoia) của Kinh thánh, bởi vì nó thay đổi tâm lý bao gồm ý tưởng và khái niệm, nhưng lại vượt ra ngoài chúng để đụng chạm đến nguồn gốc về sự hiện hữu của con người. Các bậc khiêm nhường và sự nhiệt tâm tốt lành thực sự là những cấp độ hoán cải của con tim như nó được biểu lộ trong đức vâng phục cộng tu[114], tự biết mình[115], và làm chủ lời nói[116]. Chúng dẫn đến sự chiến thắng của “lòng mến Chúa trọn hảo loại trừ sợ hãi”[117], như đã được Thánh Biển Đức nói trong chương 72 về sự nhiệt tâm tốt lành của đan sĩ[118].

Có lẽ sự thật của đức khiêm nhường (humilitas) được tóm tắt một cách tốt nhất trong một câu ở bậc khiêm nhường thứ 4 của Thánh Biển Đức, tacite conscientia patientiam amplectatur: “Trái tim thầy lặng lẽ ôm lấy đau khổ”, hoặc văn chương hơn “thầy âm thầm kiên tâm chịu đựng trong thâm tâm của mình”[119]. Những gì được miêu tả ở đây là một sự hiệp nhất tinh thần kỷ luật, và hết mực khiêm tốn giữa người đan sĩ với Đức Kitô thinh lặng trong cuộc thương khó và phục sinh của Người. Hơn bất cứ câu nào khác trong Tu luật, câu này chỉ ra sự nối kết thiết yếu của sự nhiệt tâm tốt lành khiêm tốn với khía cạnh bên trong của tinh thần con người. Nó ôm ấp trong tình mến các giác quan bên ngoài và các chức năng lý trí được coi là hoàn toàn bất công: “Ngài để chúng con rơi vào cạm bẫy!”[120] Nó cũng cho thấy làm cách nào những nhược điểm của cộng đoàn chúng ta, và thậm chí cả những mệnh lệnh bất công của viện phụ, lại tạo nên một phần của linh đạo Biển Đức cho những ai có tai để nghe. Một lương tâm được biến đổi thực sự như thế là “sự trong sạch của tâm hồn” của Gioan Cassianô[121], là hoa trái quý giá của một đời sống trao ban để bước theo Đức Kitô, Đấng Cứu Thế.

Thánh Bênađô, người đã làm sáng tỏ cho chúng ta sự phân biệt bên trong của linh hồn con người, thực hiện một số điều tương tự liên quan đến sự năng động của đức khiêm nhường Biển Đức như là con đường dẫn tới cái tôi đích thực. Trong khảo luận của ngài về các bậc khiêm nhường và kiêu ngạo, một soạn thảo điển hình của trường phái Bernardine về humilitas (đức khiêm nhường) Biển Đức, đã chỉ cho thấy bằng cách nào mà khiêm nhường là sự trở về với sự thật, trước tiên là trong chính bản thân, rồi trong những người thân cận của họ, và cuối cùng là Sự Thật vĩnh cửu của chính Thiên Chúa. Bí quyết là Chúa Giêsu. Bởi vì Người “là đường, là sự thật và là sự sống”[122], và Người cũng là đường của khiêm nhường và đã dẫn dắt chúng ta theo cách này bằng kinh nghiệm riêng của mình về sự hiến mình và sự cảm thông vô hạn. Chúng ta đi theo Người trên con đường của sự dịu dàng này, trước hết bằng cách tự phán xét bản thân và thừa nhận rằng, bất chấp tất cả mọi lao nhọc của chúng ta, chúng ta cũng chỉ là những đầy tớ vô dụng mà thôi[123].  Sự hiểu biết đầu tiên về cái tôi chân thật dạy chúng ta rằng, chúng ta phụ thuộc vào tình yêu thương xót của Thiên Chúa biết chừng nào, và anh chị em chúng ta cũng là đối tượng của cùng một tình yêu thương xót vô biên đó ra làm sao. Hai sự thật này – sự phụ thuộc hoàn toàn của chính tôi vào lòng thương xót của Thiên Chúa và sự phụ thuộc tương tự của bạn – khi chúng ta chấp nhận chúng rồi, hãy hành động như một cái kìm để nhổ cái xà khổng lồ của sự kiêu ngạo, vốn đã làm mờ con mắt của tâm hồn. Rồi một khi tính kiêu ngạo đã bị nhổ đi, chúng ta có thể thưởng ngoạn Sự Thật trong chính nó, vốn còn sâu thẳm hơn cả cái tôi chận thực của chúng ta. Trong tiến trình này, chúng ta đi đến nhận thức được cái tôi sai lầm của mình, rồi để cho sự thật của Thiên Chúa chiến thắng các bậc kiêu ngạo như: tính tò mò, sự nhẹ dạ, bông đùa, sự khoe khoang và những điều giống tương tự, mà Thánh Bênađô mô tả với sự hài hước vui nhộn và trào phúng.

Sự nghịch lý bên trong của đức khiêm nhường là linh hồn của mầu nhiệm vượt qua. Nó là sự nghịch lý của chính Phúc âm: mất và được của cái tôi, chết và sống lại, “kẻ cuối sẽ lên trước”[124], “ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”[125].  Khiêm nhường không chỉ là hành động tâm lý của lý trí và ý chí, nhưng trên hết là hoạt động thần khải của tinh thần. Chúa Thánh Thần tập trung cả linh hồn và thân xác vào Chúa Kitô khiêm nhường, nhờ đó mà hành động nội tâm của đức khiêm nhường không phải là vấn đề của sự lẩn trốn trong chính mình, nhưng đúng hơn là một sự giải phóng những gì là chân thật nhất, cố định nhất trong chúng ta khỏi những gì hời hợt và đang qua đi. Nó liên kết cách gần gũi với sự ăn năn sám hối, và hầu như luôn luôn đi đến sự nối kết với hành vi nhận thức mạnh mẽ về những giới hạn luân lý căn bản của chính chúng ta, nghĩa là, với tội lỗi của chúng ta: “Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?”[126] Truyền thống đan tu trả lời với một sự xác tín rằng, đó chính là “Đức Kitô khiêm nhường!” Chính sự khiêm nhường của Người, được chia sẻ với chúng ta bởi Chúa Thánh Thần, dẫn chúng ta ra khỏi chính mình từ bên trong bằng cách quy phục sự thật, tức là quy phục Chúa Kitô trong sự vâng phục, biết về mình và trong tình yêu thầm lặng.

Một sự giải phóng khỏi ý riêng và quy ngã như thế, là một sự hoán cải mới, một sự biến đổi nội tâm thực sự. Các tác giả thiêng liêng thường nhắc đến nó như là cuộc hoán cải thứ hai, mặc dầu có thể giống như cuộc hoán cải thứ ba hoặc thứ bốn hơn. Nó thực sự là một sự tái sinh vào trong khía cạnh mới của đức tin, đức cậy và đức mến. Bạn bắt đầu nhận ra rằng một cuộc sống nội tâm thực sự không phải là của chính bạn bên trong vực thẳm của chính sự hiện hữu của bạn. Nó không phải là cuộc sống chỉ có hành vi đạo đức đúng đắn, hay những thói quen tâm lý lành mạnh, hoặc thậm chí ít đam mê lạc thú. Thay vào đó, đó là sự ngự đến của Chúa Kitô Phục Sinh vào trong bản thể của bạn, từ đó bạn đã từng ra đi – hoặc bị đuổi ra ngoài – bằng đức khiêm nhường. Bây giờ Thiên Chúa có chỗ đứng trong bạn. Sự hiện diện của Người mang lại cho bạn một cuộc sống nội tâm thực sự, một sự thuần khiết căn bản của con tim, sẽ dẫn bạn đi đến chỗ hiệp nhất của tinh thần.

Nhưng sự giải thoát nội tâm qua đức khiêm nhường này có thể là dịp cho một số vấn nạn tìm kiếm. Tâm điểm sâu thẳm nhất của một người có thể là đối tượng của kỷ luật thiêng liêng không? Có phải nó không phải là trái tim, là trung tâm của cái tôi chân thật của một người, mà là chủ thể (đối tượng) của tất cả các cấp độ khác của chính cuộc sống không? Chính xác tinh thần con người được rèn luyện bởi đức khiêm nhường như thế nào? Đây là những khó khăn vừa mang tính giáo thuyết vừa thiết thực,và giải pháp của chúng có thể làm nổi bật giá trị của kỷ luật trung tâm này của linh đạo đan tu.

Nói đúng ra, con tim hay tinh thần chỉ có thể được rèn luyện cách trực tiếp bởi Chúa Thánh Thần mà thôi. Sở dĩ như vậy, vì bản chất của con tim là để chỉ đạo và thống nhất toàn bộ các yếu tố khác của con người, bằng cách hành động thông qua sức mạnh của linh hồn và thân xác khác biệt với chính nó. Như chúng ta đã thấy ở trên, do chức năng hiệp nhất của nó là lý do tại sao con tim được Thánh Gioan Thánh Giá gọi là “bản chất của linh hồn”[127]. Bởi chúng ta, con tim được thanh tẩy không phải trực tiếp, nhưng gián tiếp. Kết quả là có hai cách gián tiếp và một cách trực tiếp hướng dẫn con tim. Ba cách này giải thích sự cần thiết phải vâng phục, sỉ nhục nội tâm, và kiểm soát lời nói như đã được phác thảo trong các bậc khiêm nhường của Thánh Biển Đức.

  • Con tim được thanh tẩy trước hết bằng cách trân quý những hành vi của thân xác và tâm trí vốn được diễn đạt một cách tốt nhất bằng việc hoàn toàn bước theo Đức Kitô. Đây là những gì mà vâng phục trong đức tin thực hiện, như được miêu tả trong bốn bậc đầu tiên của đức khiêm nhường[128].
  • Cùng lúc đó, người đan sĩ hành động để giảm thiểu bất cứ hành vi lệ thuộc nào vào thân xác hay tâm trí. Nhờ đó cho phép sự trống rỗng bên trong linh hồn mở rộng ra cho Chúa Thánh Thần với một năng lực lớn hơn và với một sự tự do hoàn toàn hơn. Đây là một sự chuyển động an bình hướng đến sự thinh lặng nội tâm và hoàn toàn lắng nghe. Truyền thống Hy Lạp gọi sự hoàn toàn lắng nghe này là hesychia, và Latinh gọi là quies. Bước đầu tiên để hướng tới sự thinh lặng nội tâm này là sự kiềm chế miệng lưỡi, là nhân đức của sự nói năng có chừng mực (taciturnitas)[129].
  • Trong trạng thái thinh lặng vâng phục này, người đan sĩ trong tình thế sẵn sàng hơn để đón nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng duy nhất có thể đụng chạm, thanh tẩy và biến đổi cái tôi sâu thẳm nhất của một người vào trong Người, Đấng là “Thần Khí ban sự sống”[130]. Sự thanh luyện trực tiếp hơn này được cảm nghiệm như là một sự sỉ nhục nội tâm thường xuyên, một đêm tối của sự khô khan, của sự mâu thuẫn và hiểu biết chính mình. Thánh Biển Đức đã đưa ra một bản phác thảo sơ lược về nó trong những bậc trung tâm của đức khiêm nhường[131].

Ba cách thức rèn luyện con tim này giải thích ba yếu tố chính của đức khiêm nhường như được mô tả trong các chương 5, 6 và 7 của Tu luật Thánh Biển Đức. Vâng phục và kiềm chế miệng lưỡi là những cách gián tiếp để trau dồi cái tôi đích thực. Cả hai đều liên quan đến sự kiểm soát thân xác và tinh thần, mặc dù với quy mô khác nhau và chỉ vì mục đích là sự biến đổi nội tâm mà thôi. Đó là vấn đề của việc sử dụng những hành vi bên ngoài như một trường học, trong đó người đan sĩ nam nữ học biết không trốn chạy khỏi những gì xem ra là những sự sỉ nhục của sự biến đổi nội tâm, nhưng đúng hơn “hãy kiên cường và trông cậy vào Chúa!”[132]

Sự sỉ nhục nội tâm là một phần của ân huệ khó hiểu của sự nhận biết chính mình (phần con là thân sâu bọ chứ đâu phải là người[133]). Nó là kết quả đầu tiên của sự khám phá cách mới mẻ “của con người nội tâm thầm kín”[134], là một sự nghịch lý như nó có thể xuất hiện. Sự khiêm tốn của con tim là hoa trái đầu tiên của sự thanh tẩy trực tiếp. Chúa Thánh Thần đang đụng chạm đến linh hồn của con người. Một cái tôi mới đang được phát triển. Một tình yêu chân thật đã có mặt và sớm tỏ lộ ra nơi linh hồn, thân xác và nơi cộng đoàn.

Linh đạo Biển Đức – Xitô không có xu hướng phân tích quá trình của sự thanh luyên trực tiếp này nhiều như các phong trào linh đạo khác, chẳng hạn như truyền thống Camêlô thường làm. Truyền thống Biển Đức – Xitô nhấn mạnh sự đơn sơ, thái độ nội tâm của đức tin, và sự kiên vững bên ngoài. Về điểm này, mỗi con tim con người có một con đường rất riêng tư để theo, một con đường của vẻ đẹp và đêm tối. Sự dâng hiến chính mình được nên trọn vẹn trong ngọn lửa bí mật của sự phiền muộn nội tâm. Điều này thường không dễ hiểu, đối với cả người có liên quan lẫn với những người mà họ đang chung sống.

Thực tại của sự thanh luyện nội tâm là một sự bất biến của đời sống Kitô giáo. Nó dạy về những huyền nhiệm của Nước Thiên Chúa trong cách thế mà nếu theo cách khác thì không thể nào đạt tới được. Đức khiêm nhường Biển Đức, khi được hiểu một cách đúng đắn, đã chứng tỏ là một bản đồ có thể tin tưởng được trong cuộc hành trình của chúng ta. Những khuynh hướng hoàn toàn nhân loại, thường có thể ẩn nấp dưới nhiệt tâm tuân giữ luật, hoặc là một sự tìm kiếm cầu nguyện không ngừng, phải chết đi. Bạn phải chấp nhận trở thành “kẻ ngu si chẳng hiểu”[135], nhờ đó mà trái tim mới của Chúa Giêsu thế chỗ trái tim cũ của bạn. “Nhờ lòng mến ấy tất cả những gì xưa kia giữ vì khiếp sợ, thì nay họ bắt đầu giữ không còn vất vả, nhưng đã trở nên tự nhiên thuần thục, không vì sợ hỏa ngục nữa mà vì lòng mến Chúa Kitô và do tập quán tốt cũng như do những hứng thú các nhân đức lôi cuốn”[136].

Sự phân tích ở trên về đức khiêm nhường Biển Đức rõ ràng chỉ cho thấy phẩm chất huyền nhiệm của chúng. Cả người lớn lẫn người trẻ cần phải lưu tâm đến đức vâng phục cộng tu, kiềm chế lời nói và sự sỉ nhục nội tâm, không phải chỉ là những thực hành mang tính chất thể lý và tinh thần mà thôi – mặc dầu nó cần thiết – nhưng trên hết phải như là những khí cụ thiêng liêng để chuẩn bị cho sự tuôn đổ tình mến. Chúng sẽ có hiệu quả biến đổi toàn bộ linh hồn con người. Tinh thần của việc tuyên khấn đan tu, đặc biệt là lời khấn vâng phục, đòi hỏi chúng ta phải vượt qua mặt chữ của những chương mà Tu luật dành để nói về đức vâng phục, kiềm chế lời nói và sự nhận biết mình, để tìm ra ý nghĩa qui Kitô của những chương này, như nó đã được chỉ ra trong những câu Kinh thánh đã được trích dẫn ở những chương đó. Sự vâng phục, sự khiêm nhường nội tâm, và sự kiềm chế miệng lưỡi bắt nguồn từ mẫu gương là Chúa Giêsu, từ tình yêu Người dành cho Chúa Cha và có ý dẫn người đan sĩ trở lại hiệp thông trọn vẹn trong gia đình của Thiên Chúa.

Như trong trường hợp của những sự hãm mình phạt xác căn bản, chúng ta có thể thấy trước trong tương lai một sự đánh giá mới về những yếu tố thiêng liêng này của kinh nghiệm đan tu. Chúng sẽ được nhận ra và sống không phải như những yếu tố của sự vong thân, có thể biểu lộ là một trái tim bị giam hãm, nhưng phải như là những kỷ luật thanh luyện cần thiết của cái tôi chân thật của một người, nó dẫn tới sự biến đổi, sự hiệp nhất nội tâm và tình hiệp thông cộng đoàn qua những hoa trái của Chúa Thánh Thần.

Suốt quá trình hoán cải này, người đan sĩ học biết bằng kinh nghiệm rằng những gì xảy ra trong con tim của mình cũng ảnh hưởng đến thái độ cư xử bên ngoài của thân thể, cũng như những suy nghĩ trong tâm trí của mình. Thánh Biển Đức thường nói đến sự ảnh hưởng như thế của con tim trên linh hồn, tâm trí và thân xác[137]. Chúng ta đã thấy điều đó trong sự nối kết với chiêm niệm (contemplatio)

Tinh thần, được thanh luyện bởi đức khiêm nhường, chan chứa niềm vui vâng phục, và tình yêu biến đổi thầm lặng. Tất cả những cấp bậc khác của sự hiện hữu của con người đón nhận những tin tức tốt lành. Trái tim tinh khiết mở ra một chân trời mới của tâm trí con người, ảnh hưởng sâu sắc đến các chiều kích vô thức của sự tồn tại của con người, biến đổi và trao ban một sức mạnh mới và hân hoan cho linh hồn, thân xác, cộng đoàn và môi trường sống.

Bởi đó, đức khiêm nhường không ngừng đảm nhận một tầm quan trọng lớn hơn trong đời sống đan tu, hơn là sự giữ luật không ngừng, và thậm chí còn hơn một vài hình thức cầu nguyện không ngừng nữa. Nó quy tụ vào trong chính nó ý nghĩa của việc truyên khấn đan tu. Nó thống lãnh tất cả các yếu tố khác trong linh đạo Biển Đức, và tự nó đức khiêm nhường là một sự cầu nguyện không ngừng bởi vì trái tim Chúa Giêsu là “trái tim khiêm nhường”[138].

 Những Hệ Luận Thực Tiễn

Một khi chúng ta đã nhận ra tầm quan trọng của ba kỷ luật chung này vốn làm nên canh tân Biển Đức – tuân giữ luật, đọc sách với tinh thần cầu nguyện, và khiêm nhường – thì thật thích hợp để đặt một số câu hỏi. Xa lộ ba lằn đường này có ý nghĩa gì đối với chúng ta trong cuộc sống thường ngày? Trong sự liên hệ với việc tuyên khấn đan tu, liệu nó có nghĩa là người đan sĩ tuyên khấn trọng thể để có một con tim khiêm tốn hay là cầu nguyện luôn không?

Liên quan đến câu hỏi thứ nhất, một sự am hiểu sâu sắc hơn ân sủng Biển Đức – Xitô sẽ tạo ra một sự tự tin mới trong ơn gọi đan tu. Đời sống cộng đoàn dường như đôi khi là một sự ngẫu nhiên, nhưng nếu chúng ta trung thành với những luật lệ đan tu căn bản, với đời sống cầu nguyện và với thái độ nội tâm của đức vâng phục, thì chương trình bộ ba này sẽ đem lại những kết quả của chính nó. Nó sẽ giúp chúng ta mở ra cho Lời của Thiên Chúa và dạy chúng ta biết trở nên ngoan ngoãn với Chúa Thánh Thần. Đời sống chiêm niệm Kitô giáo đòi hỏi phải có thời gian. Nguồn gốc của nó trở về với các ngôn sứ của Do Thái. Nền tảng của đời sống chiêm niệm Kitô giáo là kinh nghiệm nội tâm của chính Đức Kitô, và mẫu gương tuyệt hảo nhất của đời sống chiêm niệm là sự chuyên chăm cầu nguyện cách khiêm tốn của Đức Maria. Tất cả chúng ta đều nợ một món nợ sâu sắc của lòng biết ơn đối với truyền thống thiêng liêng này. Một truyền thống đã dạy chúng ta quá nhiều, và từ đó chúng ta được nắn đúc nên. Trách nhiệm của chúng ta bây giờ là sống ơn gọi này theo cách riêng của chúng ta để chuyển giao nó cho người khác.

Hệ luận thứ hai trong cuộc sống thường ngày là một sự đánh giá cao yếu tố quan trọng nhất trong linh đạo Biển Đức, cụ thể là phẩm chất thiêng liêng của bối cảnh nhân loại mà chúng ta đang sống. Môi trường này bao gồm cả nội tâm lẫn bên ngoài đối với chúng ta, tuy nhiên điểm nhấn nên đặt ở nơi nào mà cả Phúc âm và truyền thống đan tu đặt để: Đó là trên sự khiêm nhường của Đức Kitô. Bởi thế, thật sai lầm khi quá chú trọng đến những chi tiết bên ngoài. Nó để lộ ra một sự thiếu đức tin, và có lẽ chắc chắn nó có thể là một sự phóng chiếu lên người khác hoặc vào những yếu tố sự vật của đời sống chúng ta, về những khuyết điểm thiêng liêng của chính chúng ta. Tất cả đều là quà tặng của Thiên Chúa. Những giới hạn của cộng đoàn chúng ta là một phần của con đường cộng tu theo Thầy Chí Thánh.

Hệ luận thứ ba cần phải được học trong cuộc sống hàng ngày là những gì mà kinh nghiệm qua bao thế kỷ đã chỉ ra, đó là: Trong thực hành, chìa khóa để dẫn tới sự khiêm nhường của Chúa Giêsu là tinh thần của sự cởi mở, đó là sự cởi mở lương tâm của một người. Bạn nên đi bước trước ở thế chủ động để cởi mở với vị giáo tập, hoặc với bề trên về con người, suy nghĩ, ước muốn, những kinh nghiệm và những chi tiết trong quá khứ của bạn. Một sự cởi mở như thế – được tóm tắt cách không hoàn hảo trong bậc thứ năm đức khiêm nhường của Thánh Biển Đức[139] – thường cần một thời gian nào đó và hiếm khi tránh được những căng thẳng. Nhưng hoa trái của nó là niềm vui được biết đến và được yêu mến bởi người khác như chúng ta thật sự là. Khi người khác đó là người có trách nhiệm, thì niềm vui của sự chữa lành nội tâm lại càng trọn vẹn hơn. Đó là điều thường không xảy ra trong gia đình của đương sự. Sự chân thành trong tình yêu và sự lớn lên trong cầu nguyện hiếm khi đạt được nếu không có sự cởi mở này, ít nhất là trong các đan viện của chúng ta.

Thánh Biển Đức nhấn mạnh hai hệ luận khác của con đường thiêng liêng. Cả hai đều có những tác động quan trọng trong đời sống của việc tuyên khấn đan tu, cụ thể là kinh nghiệm thiêng liêng và tính cẩn trọng. Ngài nhấn mạnh rằng, nếu được sử dụng tốt, thì những thủ thuật thiêng liêng của ngài sẽ dẫn người đan sĩ, ngay cả tại đời này, đi vào kinh nghiệm thiêng liêng sâu xa vốn vượt mọi ngôn ngữ có thể diễn đạt được: “Nhưng một khi đã tiến bộ trong đời tu và đức tin, một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên đường giới răn Thiên Chúa”[140].

Chúng ta sẽ xem xét lại bản chất của kinh nghiệm này trong chương kế tiếp, bởi vì rõ ràng nó vượt qua cả việc tuyên khấn. Nó là sự mạc khải của tình yêu Đức Kitô, mà “Chúa khấng nhờ Thánh Linh làm tỏ hiện nơi người thợ của Người [khi họ] đã sạch tội lỗi và thói hư”[141]. Nó cũng có những tác động thúc đẩy quan trọng, bởi vì nó “loại trừ sợ hãi”, và ban “sự vui thích trong nhân đức”[142]. Các tác giả đan tu qua các thế kỷ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh nghiệm như thế. Hoa quả hoạt động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn đã trở thành hiện thực qua việc tuân giữ lề luật, cầu nguyện và khiêm nhường. Bởi vì nó phát xuất từ Chúa Thánh Thần, và vượt qua những hành động thuần túy nhân loại, nên nó là một sự kiện thần bí, mặc dù nó không phải là một sự kiện lạ thường theo nghĩa lạ lùng. Mỗi đan sĩ sẽ có một sự biến đổi cá nhân về chủ đề này, một kiến thức cụ thể về tình yêu Thiên Chúa. Tính chất nội tâm này, đó là kinh nghiệm biến đổi về Chúa Giêsu như một vị Tôn Sư, Đấng Cứu Độ, và Người Yêu, đã hướng dẫn truyền thống đan tu ngay từ lúc khởi đầu. Đó là lý do đời sống đan tu tồn tại cho tới ngày hôm nay và sẽ tiếp tục trong tương lai.

“Cẩn trọng là mẹ các nhân đức”[143] là một yếu tố quan trọng khác trong linh đạo đan tu. Thực ra, trong linh đạo đan tu nó là một trong những nguyên tắc hướng dẫn. Nó bao gồm một sự phán đoán thiết thực, một sự biện phân xem đâu là cách tốt nhất để đáp lại lời mời gọi của Ngôi Lời Thiên Chúa, và của Chúa Thánh Thần trong một tình huống cụ thể. Tương ứng với những sự tốt lành của những người có liên quan, đức cẩn trọng có thể là một sự nghiêm khắc và đòi hỏi, hoặc là nhân hậu và khoan dung. Trong một nghĩa nào đó, nó có thể được xem như là một hình thức của cầu nguyện, bởi vì nó là một sự chăm chú của tâm trí đối với Lời của Thiên Chúa tại đây và lúc này, để đọc ra trong đức tin những dấu chỉ của thời gian, như được biểu lộ trong tình huống cụ thể, có thể là cá nhân hoặc cộng đoàn.

Gioan Cassianô, theo truyền thống sa mạc, đã cổ võ chúng ta cẩn trọng trong đối thoại (conference) thứ hai của ông. Nhưng sự luận bàn của ông có khuynh hướng không thích hợp cho những nhu cầu lúc đó. Để giải quyết vấn đề căng thẳng, ông dường như thiên về sự bắt chước bề ngoài hơn là những chuyển động nội tâm của tinh thần con người. Đúng là những người mới bắt đầu, đặc biệt là các tập sinh, cần phải bỏ ý kiến cá nhân của họ và quy phục ý chí của họ đối với những sự điều khiển từ bên ngoài. Tuy nhiên sự bắt chước chỉ thích hợp đối với bước khởi đầu trong hành trình hướng tới một sự trưởng thành sâu sắc hơn của sự phán đoán mà thôi. Bản chất thực hành của “mẹ các nhân đức” mà Thánh Biển Đức nói tới có thể được tóm tắt trong hai nhân đức là “khôn ngoan và bác ái”[144] mà ngài đòi hỏi Viện phụ phải có hoặc sự khôn ngoan mà ngài chờ mong nơi người đan sĩ trưởng thành[145]. Trong Thế kỷ XVI, Tiến sỹ Phương tây của sự phân định, Thánh Ignatiô Loyola, đã đặt ra một thành ngữ mới, “đức ái khôn ngoan”, để chỉ thực tại tương tự này. Bất cứ một diễn đạt nào của việc tuyên khấn đan tu, nói tóm lại bất cứ hành động trưởng thành nào của con người, đều phải kinh qua sự phán đoán của đức cẩn trọng để làm cân đối năng lực sử dụng của những phương thế của sự trưởng thành thiêng liêng cho mục đích của họ là được biến đổi trong Chúa Kitô. Nó sẽ đưa vào sự giải thích những hoàn cảnh của nơi chốn và thời gian, đặc biệt là khả năng; tình huống, và những ân sủng của những người có liên quan. Hoa quả mà chúng ta tìm kiếm sẽ là những gì sẽ được đề cập đến trong những đoạn dưới đây. Trên hết là agapehumilitas, (tình yêu và sự khiêm nhường), của Chúa Kitô.

Sự hiểu biết khôn ngoan và phán đoán lành mạnh thì đặc biệt quan trọng, vì chúng ta chịu trách nhiệm cá nhân, cả cá nhân lẫn tập thể, khi sống linh đạo đan tu trong cuộc sống ngày này qua ngày khác của chúng ta trong đa số các khả năng. Nếu không phát triển ở đây những kỹ năng phân định, thật hữu ích để liệt kê ra đây một vài tiêu chí quan trọng hơn có thể và nên được sử dụng để phân định xem một số kế hoạch hay ý tưởng đến từ Thiên Chúa hay không.

  • Nói chung, trong kế hoạch hoặc ý tưởng, cần có bằng chứng về hoa trái của Chúa Thánh Thần được Thánh Phaolô chỉ ra trong thư gửi tín hữu Galat, đó là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, và tiết độ[146]. Đây là những dấu chỉ của sự khôn ngoan Kitô giáo. Điều nên tránh là những gì trái ngược với lương tâm thanh thản (tacite conscientia)[147], cụ thể là sự bất an nội tâm hoặc gây hấn, thái độ lấy mình làm trung tâm của sự kìm nén thiếu kiên nhẫn hoặc nỗi lo sợ áp chế – không chỉ là sự tôn trọng – những gì người khác có thể nói. Nói cách khác, một sự bình an nội tâm và sự tự do của tinh thần là cần thiết cho bất cứ hành động lành mạnh nào của sự cẩn trọng. Những tiêu chuẩn nội tâm như thế này rất cần thiết trong việc làm sáng tỏ ý muốn của Thiên Chúa trong những tình huống mới, vốn rất phổ biến trong thời đại này.
  • Cũng nên có sự đồng thuận với kinh nghiệm đan tu của các thế hệ trước, cả trong lịch sử của Biển Đức – Xitô, lẫn trong các truyền thống chiêm niệm khác. Có một số yếu tố khổ hạnh nhất định của cuộc sống, vốn được mọi truyền thống nhìn nhận là cần thiết cho sự trưởng thành cá nhân, và phải được tôn trọng trong bất cứ sự phân định khôn ngoan nào. Điều này đặc biệt đúng trong các lĩnh vực của đức vâng phục và đức khiết tịnh.
  • Sự nhất quán giữa lý thuyết và thực hành là một tiêu chuẩn khác để đánh giá liệu kế hoạch đó có phải đến từ Thiên Chúa hay không. Không nên có những sự tương phản rõ ràng giữa lời nói và việc làm trong đời sống cá nhân của những ai liên quan cách trực tiếp hoặc trong cộng đoàn nói chung. Chẳng hạn, sẽ là một sai lầm nếu muốn trở thành ẩn sĩ hoặc người linh hướng nếu tôi chưa bao giờ thật sự kinh nghiệm về đời sống cầu nguyện trong cộng đoàn. Tiêu chuẩn này có thể không kém phần quan trọng trong các vấn đề của đức khó nghèo.
  • Cùng với nhu cầu tự do nội tâm, cũng cần có sự tôn trọng thích đáng đối với những ý kiến của người khác, bao gồm cả của giáo dân nữa. Đây là ý kiến của Thánh Biển Đức về những nhận xét có thể có của đan sĩ khách: “Biết đâu vì lý do đó mà Chúa sai họ đến đan viện”[148]. Người hiểu biết và nhạy cảm thiêng liêng tìm kiếm điều gì nơi người đan sĩ nam nữ hoặc nơi đan viện?
  • Cuối cùng, thật quan trọng để duy trì tinh thần đối thoại cách cởi mở với các thành viên khác của cộng đoàn, đặc biệt là giữa các thế hệ khác nhau. Hoa quả của Chúa Thánh Thần có nghĩa là sự cởi mở không chỉ với người khác như một nhân vị, mà còn với những luồng tư tưởng khác nhau mà họ đại diện. Nó không bao hàm sự đồng ý với hết mọi người, nhưng có nghĩa là lắng nghe trong đức ái những gì người khác đang muốn nói, và phải chắc chắn giữ cho các kênh truyền thông hoạt động. Điều này cho phép quá khứ cởi mở trong sự tin tưởng đối với hiện tại và tương lai, trong khi người trẻ bộc lộ chính mình với kinh nghiệm khôn ngoan của các bậc trưởng thượng. Trong bầu khí này, sự thật và tình yêu có thể cắm rễ và phát triển là khởi đầu cho toàn thể cộng đoàn hướng tới một tương lai tươi sáng.

  Những Lời Khấn Và Sự Bước Theo Chúa Kitô

Những yếu tố quan trọng của linh đạo đan tu như: đọc sách thiêng liêng, đời sống cầu nguyện, đức khiêm nhường, kinh nghiệm thiêng liêng và sự cẩn trọng đóng bao nhiêu phần trăm trong lời khấn canh tân của đan sĩ? Câu hỏi này tương tự như câu hỏi mà chúng ta đã nghiên cứu về lời khấn và nhân đức vâng phục.

Câu trả lời truyền thống cho những câu hỏi như thế này là sự phân biệt giữa các lời khấn dòng và các nhân đức Kitô giáo. Là những Kitô hữu trưởng thành, các đan sĩ nam nữ được hướng dẫn tới sự thận trọng, khiêm tốn và nhiều nhân đức khác của Kitô giáo, vốn thường tương ứng với các đức tính căn bản của con người, như trong trường hợp hiện tại. Bởi đó, mặc dầu sự cẩn trọng và đức khiêm nhường là những thành phần không thể thiếu của đời sống đan tu, nhưng chúng không phải là những yếu tố làm nên lời khấn dòng, bởi vì những nhân đức này thuộc về tất cả các hình thức của linh đạo Kitô giáo. Bên cạnh đó, một lời khấn công khai chỉ được Giáo hội công nhận, nếu đối tượng của nó là một hành động bên ngoài đúng đắn, hoặc tránh hành động như vậy.

Những đối tượng trực tiếp và bề ngoài của những lời khấn công được tuyên khấn trong thời gian tuyên khấn rõ ràng chỉ về các nhân đức Kitô giáo riêng biệt của chúng, việc thực hành đó là yếu tố cần thiết để có thể giữ các lời khấn trong tinh thần vui tươi và tự do nội tâm của họ. Thiếu sự tự do nội tâm và niềm vui thì các lời khấn sớm trở nên không thể chịu nổi đối với người tuyên khấn chúng. Bởi đó đức khiết tịnh hướng tới một trái tim tinh tuyền và tình yêu phu thê của Chúa Kitô. Đức khó nghèo giúp cho sự đơn giản nội tâm và sự từ bỏ chính mình. Đức vâng phục chuẩn bị linh hồn trở nên ngoan ngoãn với Chúa Thánh Thần, và sẵn sàng cộng tác với người khác. Chính nhờ các nhân đức Kitô giáo này, sự phù hợp bề ngoài của một người với lối sống của Chúa Kitô trở thành sự phù hợp nội tâm của linh hồn và con tim. Tuy nhiên, những hành vi nội tâm và ẩn giấu vốn có liên quan đến các nhân đức Kitô giáo lại không phải là điều mà người tu sĩ một cách trực tiếp tuyên khấn lúc họ khấn.

Thực tế là không phải các lời khấn, cũng không phải các nhân đức là tâm điểm của đời sống thánh hiến. Có một bối cảnh rộng lớn và tuyệt đẹp hơn đối với việc khấn dòng hơn chỉ đơn thuần là những hành vi của con người. Chúng ta đã được thấy tất cả những điều này trong mỗi chương trước rồi, nhưng ở đây một lần nữa chúng ta sẽ lại xem xét chúng trong thuật ngữ tổng quát hơn. Chân trời của những hành vi con người – chẳng hạn như các lời khấn, các nhân đức, các lời hứa, và các lời khuyên Phúc âm – tự nó không đủ để chứa đựng linh đạo Phúc âm của đời sống tu trì, và việc tuyên khấn của đời sống này. Truyền thống Kitô giáo đã tìm kiếm một từ chính xác khả dĩ diễn tả được tiếng gọi nội tâm của Thấy Chí Thánh để theo Người bằng sự dâng hiến toàn bộ đời sống của họ để phục vụ Người. Thuật ngữ “các lời khuyên Phúc âm” được đặt ra từ thời các Giáo phụ như một sự cố gắng để diễn tả thực tại này. Một cách đặc biệt, nó ám chỉ đến sự từ bỏ đời sống hôn nhân và chiếm hữu của cải vật chất để bước theo Chúa Kitô. Từ “lời khuyên” được dùng để làm sáng tỏ rằng không có vấn đề lệnh truyền ở đây. Thật nhiên, lời khuyên được từ điển định nghĩa như là “lời khuyên hoặc một sự hướng dẫn cách thức hành động”, cũng không diễn tả được những gì Chúa Giêsu có tâm trí khi Người mời gọi một số người từ bỏ tất cả những gì họ có để bước theo Người. Lý do là vì hình thức sống của Đức Giêsu là một phần không thể thiếu của mầu nhiệm Nhập Thể. Nó có “một giá trị tuyệt đối và cánh chung”[149], bởi vì “Đức Giêsu là mẫu mực, nơi Người mọi nhân đức đạt tới mức hoàn hảo. Thực vậy, lối sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục của Người xuất hiện như một lối sống Tin mừng triệt để nhất trên trái đất này, một cách thức có thể gọi là thần linh, bởi vì chính Đấng vừa là con người vừa là Thiên Chúa đã chấp nhận lối sống đó để diễn tả mối quan hệ của Con Một đối với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần”[150].

Bởi đó, chúng ta không còn đối diện với tính cách thuần nhân loại nữa, nhưng với điều gì đó thần linh, đó là hình thức qui Kitô của đời sống xã hội mà Đấng Cứu Độ muốn chia sẻ với Giáo hội của Người. Những thuật ngữ đạo đức như: “lời khấn”, “lời hứa”, “nhân đức”, “lời khuyên” hoặc “lệnh truyền” không diễn đạt được thực tại này. Bằng lời khấn dòng, chúng ta đón nhận một lối sống Tin mừng cơ bản nhất, và biến nó thành của chính chúng ta theo như đặc sủng và sứ vụ của Hội dòng chúng ta. Sự cam kết quan trọng hơn cả của việc tuyên khấn là một sự trung tín bước theo Đức Kitô trong chính hình thức sống cá nhân của đời sống Tin mừng! Các lời khuyên Phúc âm còn là cái gì vượt xa hẳn sự từ bỏ; “chúng mang ý nghĩa như là đón tiếp Đức Kitô một cách đặc biệt, được sống giữa lòng Giáo hội[151]. Hơn cả những lời khấn cụ thể, viễn cảnh của chúng ta là Chúa Giêsu.

Dĩ nhiên, các lời khấn vẫn tồn tại, nhưng chúng đóng vai trò thứ yếu giống như nhẫn cưới hay cái nhìn âu yếm giữa vợ chồng với nhau mà thôi. Tuy nhiên, việc tuyên khấn không đặt điểm nhấn trên những hành vi bền ngoài phải hoàn thành hay phải tránh nữa, nhưng là trên nguồn gốc bên trong của lối sống của chính Đức Giêsu, đó là trên mối liên hệ cá nhân của một tình yêu hoàn hảo, và sự quy phục trọn vẹn của Người đối với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Tuyên khấn có nghĩa là chân thành muốn và cầu nguyện để được lớn lên trong những đặc sủng thiêng liêng cần thiết bao hàm trong các mối liên hệ này theo như đặc sủng ơn gọi bạn lãnh nhận và theo hiến pháp đã được phê chuẩn của Hội dòng.

Nói một cách khách quan, một sự cam kết với sự sống nội tâm của Chúa Giêsu và hình thức sống bề ngoài của Người thì hệ trọng hơn nhiều so với một lời khấn hay nhân đức, vì bạn đang đụng chạm vào sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, một cách chủ quan thì đó là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Nhập Thể, Đấng yêu thương mời gọi bạn đi vào một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất trên trái đất này, đó là bước đi theo Người, tái khám phá lại bản thân, chia sẻ sứ vụ cứu thế của Người và để Người dẫn bạn đến cội nguồn của tất cả mọi niềm hoan lạc. Các lời khấn và sự tuân giữ chúng là một cách để diễn đạt sự cam kết trọn vẹn hơn với nhân tính và thần tính của Đức Kitô. Những hành vi liên quan đến các nhân đức Kitô giáo, thường bị che khuất, là một con đường quan trọng khác. Và sự trung tín với các giáo huấn của Chúa Giêsu và Giáo hội của Người làm nên một bối cảnh quan trọng đối với cả các lời khấn lẫn các nhân đức.

Một kết luận được rút ra từ bức tranh rộng lớn hơn này là chính những gì chúng ta đã thấy nơi chương I liên quan đến sự phát triển mang tính lịch sử của nghi lễ tuyên khấn. Sự tuyên khấn đan tu không chỉ đơn giản hay chủ yếu là một hành vi pháp lý, nhưng trước hết đó là một hành vi Tin mừng và đặc sủng. Các lời khấn không làm cạn kiệt ý nghĩa của nó. Trong thực tế, các lời khấn là một phần ít quan trọng. Cốt lõi chính yếu của việc tuyên khấn đan tu là ý ngay lành được Chúa Thánh Thần phú bẩm, để bước theo Đức Kitô trong cách sống của Người theo như đặc sủng của Dòng hoặc Hội dòng của bạn. Điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn trong chương kế tiếp. Nhưng trước hết chúng ta cần làm sáng tỏ ý nghĩa của việc tuyên khấn theo Tu luật.

 5. TUYÊN KHẤN THEO TU LUẬT THÁNH BIỂN ĐỨC

Tự bản chất, việc tuyên khấn đan tu là một sự pha trộn giữa cuộc sống linh đạo Phúc âm và những cam kết pháp lý được đặt nền tảng trên việc tuyên khấn trọng thể với Thiên Chúa. Sự kết hợp này sẽ không làm chúng ta ngạc nhiên nếu chúng ta nhớ lại lịch sử của việc tuyên khấn và các nguyên tắc cơ bản, mà chúng ta đã xem xét ở chương I và vừa thấy lại. Nó cũng hợp lý rằng lời tuyên bố mà tập sinh và tu sĩ trẻ diễn đạt cam kết của họ bước theo Đức Kitô theo đặc sủng đan tu mà họ đã lãnh nhận, chứa đựng một số mô tả cụ thể về nội dung của một cam kết như thế. Sự diễn đạt này một cách truyền thống được thực hiện bằng lối nói: “Theo Tu luật Thánh Biển Đức”, được thêm vào sau khi khấn sinh đề cập đến vĩnh cư, canh tân và vâng phục. Nhưng chính xác thì lối nói này đòi buộc bạn điều gì?

Tính Ưu Việt Của Sự Hoán Cải

Đứng ở vị trí hàng đầu, rõ ràng đối với Thánh Biển Đức, bản văn Tu luật của ngài là một diễn đạt bằng văn bản tốt nhất về các lời cam kết được đọc lúc tuyên khấn. Đó là lý do tại sao người tập sinh phải học hỏi nó một cách kỹ lưỡng và đón nhận nó một cách nghiêm túc, như Thánh Biển Đức đã viết: “Hãy tuần tự đọc Tu luật này cho họ nghe, hãy nói với họ: Đây là Tu luật, dựa theo đó, con muốn chiến đấu, nếu có thể giữ được con hãy vào, nếu không con có thể tự do rút lui…Sau một kỳ sáu tháng đọc Tu luật cho nghe để biết mình vào dòng làm gì”[152].

 Mối liên hệ gần gũi giữa Tu luật và sự canh tân cũng trở nên hiển nhiên từ thực tế conversatio morum là cụm từ của Thánh Biển Đức để diễn đạt một cách tổng hợp những gì tập sinh đang chuẩn bị để đón nhận. Chúng ta dịch nó như là “sự canh tân”. Chúng ta đã học hỏi ở những chương trước về những cam kết của việc tuyên khấn, cộng với sự tổng hợp tổng quát hơn trong chương này đã chỉ ra rằng conversatio (canh tân) chi phối tất cả các lời khấn khác, kể cả lời khấn vâng phục. Đó là lý do tại sao cụm từ “theo Tu luật Thánh Biển Đức” nên được đón nhận như một sự áp dụng cho tất cả các lời khấn khác, chứ không phải chỉ đối với lời khấn vâng phục mà thôi. Bởi đó, một cách nghiêm túc mà nói, và với những điều kiện là những từ này được hiểu đúng, nó dường như đủ để tuyên khấn “Canh tân theo Tu luật Thánh Biển Đức”.

Giải Quyết Thế Tiến Thoái Lưỡng Nan

Tuy nhiên, một khó khăn nghiêm trọng là do thực tế Tu luật chứa đựng rất nhiều chi tiết của đời sống cộng tu mà dường như chúng đóng vai trò quan trọng thứ yếu. Một số chi tiết này rõ ràng đã lỗi thời và phản ảnh thời gian Tu luật được viết. Điều này bao gồm các quy định về việc tuyệt thông, những trận đòn, những trẻ con được cha mẹ dâng vào đan viện, nghi thức tiếp khách, thứ tự các thánh vịnh và cấu trúc của việc huấn luyện các tập sinh. Liệu những yếu tố này có bắt buộc chúng ta bằng sức mạnh của lời khấn của chúng ta không? Nếu như thế thì chúng ta nên từ bỏ Tu luật như một điểm tham chiếu. Nếu không làm thế nào chúng ta có thể nói rằng chúng ta sống theo Tu luật được?

Thế tiến thoái lưỡng nan này đã ảnh hưởng đến các phong trào cải tổ đan tu ở Giáo hội Tây phương trong hơn một ngàn năm, và vẫn còn tiếp tục là vấn đề hóc búa. Các đan sĩ Xitô đầu tiên nói riêng, với sự tìm kiếm sự đơn giản lớn hơn và chương trình thiêng liêng được cân đối hơn, đã phất cờ hiệu “sự tinh tuyền của Tu luật”. Ý của các tổ phụ Xitô là giữ trọn những điều đã được đề ra, chống lại những thêm thắt và sửa đổi mà phong trào Cluny đã đưa vào với danh nghĩa là “tinh thần” của Tu luật, được xem như là một sự khoan dung bởi Cluny. Tuy nhiên, trong thực tế chính các đan sĩ Xitô cũng đã đưa vào rất nhiều yếu tố quan trọng thay đổi Tu luật một cách đáng kể, chẳng hạn như các quy sĩ , loại bỏ các trẻ em ra khỏi cộng đoàn, Tổng tu nghị hoặc những cuộc tuần viếng để điều chỉnh viện phụ và cộng đoàn. Trong một thời gian ngắn, Xitô đã có được một bộ luật chi tiết của những tục lệ nhỏ hơn như là phụ trương của Tu luật. Thực vậy, cách này hay cách khác, tất cả cố gắng sống “theo Tu luật” đã đòi hỏi sử dụng một số luật bổ sung như sách Thói lệ, những tập tục hoặc Hiến pháp. Về phần mình, Tòa Thánh luôn luôn hiểu cụm từ “khấn theo luật Thánh Biển Đức, bao gồm, ít nhất ngầm hiểu, và theo Hiến pháp” nữa.

 Vậy thì chúng ta dùng cụm từ này đơn giản có nghĩa là sống “theo tinh thần của Tu luật” được chăng? Điều này sẽ đặt điểm nhấn trên các nhân đức Phúc âm và các đặc sủng được Thánh Biển Đức nhấn mạnh như: Bác ái, khiêm nhường, sự tôn kính, sự thờ phượng, sự phục vụ huynh đệ, vâng phục không chậm trễ, phân định Thần Khí và những thứ khác giống như thế. Trên thực tế, đây là lối giải thích được một vài Hội dòng đan tu đưa ra đối với các lời hứa vâng phục, canh tân và vĩnh cư. Một sự giải thích như thế đã giới thiệu một yếu tố tích cực của sự phê bình và đánh giá lịch sử vốn thiếu trong giải thích quá thiên về nghĩa đen. Tuy nhiên, nếu phân tích của chúng ta về canh tân đan tu là đúng hoàn toàn thì tinh thần của Tu luật cốt ở không chỉ những giá trị Tin mừng như thế, mặc dầu quan trọng như nó có thể là, nhưng còn hệ tại ở sự xác định một cách thức sống rõ ràng, được gợi hứng bởi chính cách sống của chính Chúa Giêsu, và hiện thân một điều gì đó của kinh nghiệm Ba Ngôi của chính Người. Chính qua chương trình sống này, không phải độc lập với nó, mà người đan sĩ được dự phần vào kinh nghiệm nội tại của Đức Giêsu. Thánh Biển Đức đã nói về điều này khi ngài viết: “Nhưng một khi đã tiến bộ trong đời tu và đức tin, một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên đường giới răn Thiên Chúa”[153].

Bởi đó, giải pháp cho sự tiến thoái lưỡng nan của việc tuyên khấn theo luật ẩn chứa trong cách nhìn nhận rằng, Tu luật không chỉ có hai khía cạnh của “chữ viết” (những chỉ dẫn chi tiết) và “tinh thần” (những nhân đức và giá trị Tin mừng) mà thôi, mà còn là khía cạnh trung dung của những phương pháp thiêng liêng căn bản, những cấu trúc cơ bản, những thực hành thiết yếu vốn phát xuất từ mẫu gương của Chúa Giêsu và cách sống mà Người đã chọn để sống trên trần gian này. Tinh thần đan tu, vốn là hoạt động của Chúa Thánh Thần trong trái tim đã được thanh luyện của người đan sĩ, chắc chắn là mục đích trọng tâm và cuối cùng của Tu luật. Tuy nhiên, sự đóng góp cách cụ thể của linh đạo Biển Đức lại là sự thiết lập một chương trình sống chặt chẽ và rõ ràng được định hình bởi những gì chúng ta gọi là “con đường ba mặt”, đó là những sự tuân giữ thể lý, kỷ luật tinh thần của việc đọc sách (lectio) và sự khiêm nhường của con tim. Những thứ khác, những cấu trúc khách quan hơn, như chức vụ viện phụ, tập viện, sự hiếu khách hoặc kinh thần vụ, bắt nguồn từ sự cần thiết đối với ba mô hình căn bản này của hoạt động cá nhân, và trong nhiệm vụ của chúng mà bất cứ cộng đoàn hoặc hội dòng nào đã được nhìn nhận đều sẽ phải biểu lộ (diễn đạt ba kỷ luật căn bản này theo nhu cầu của thời gian và không gian). Kết quả sẽ là một cuộc sống cụ thể và những tục lệ của cộng đoàn địa phương. Bởi đó, luật Thánh Biển Đức không phải là bộ luật hợp hiến khép kín, mà cũng không phải chỉ là một bản văn để cổ võ đời sống thiêng liêng. Nó là sự kết hợp cả hai, vừa luật vừa sự cổ võ giống như một bản nhạc giao hưởng cống hiến những chủ đề được gợi hứng từ đời sống của Đức Kitô, và những sự hài hòa căn bản từ truyền thống đan tu, điều mà ban nhạc có thể và nên phát triển dưới sự điều khiển của người nhạc trưởng. Lời kêu gọi trung tín thường xuyên của luật bao hàm một sự hấp dẫn của sự sáng tạo và sự phân định theo như đặc sủng của từng người, từng cộng đoàn, từng hội dòng và từng dòng.

Nói một cách khác, phong trào đan tu Biển Đức một cách trực giác chọn từ giữa muôn ân huệ của Chúa Thánh Thần, như được thể hiện trong cuộc đời của Đức Giêsu, và được mô tả trong Kinh Thánh và trong truyền thống. Trong một chừng mực nào đó, phong trào đan tu Biển Đức sẽ cung cấp một sự lưu tâm đặc biệt theo như đặc sủng cộng tu của nó về đời sống cầu nguyện và công việc trong cộng đoàn. Nó nuôi dưỡng những ân huệ này bằng một số kỷ luật thiêng liêng căn bản về những cấu trúc khách quan tương ứng của chúng. Những thực hành cơ bản này xác định đặc điểm đời sống Biển Đức như một con đường cụ thể của việc bước theo Đức Kitô trong cầu nguyện, khiêm nhường và tình yêu huynh đệ. Mỗi dòng, hội dòng và cộng đoàn sẽ thể hiện xa hơn nữa những ân huệ và những kỷ luật này, trong những chi tiết cụ thể hơn, theo như điều kiện và những ân huệ của các thành viên của nó.

Ba cấp bậc hành vi này – những ân huệ Tin mừng, những kỷ luật thiêng liêng và những sự tuân giữ chi tiết – cấp bậc hành vi đặc biệt Biển Đức nhất là cấp độ trung gian của các kỷ luật cơ bản của nó, mà dường như tương ứng với những cấu trúc nội tại của đời sống con người. Đó là: Thân thể, linh hồn và con tim. Chúng ta đã điểm mặt những kỷ luật này như là những sự tuân giữ thể xác, đó là đọc sách thiêng liêng và khiêm nhường, với những thành phần tương ứng của chúng… Lý do chính tại sao Tu luật được viết ra là để xác lập tính xác thực của những biện pháp căn bản này của linh đạo cộng tu và đảm bảo một sự hài hòa hỗ tương của chúng. Tính xác thực và sự hài hòa này là đặc sủng thiết yếu của Thánh Biển Đức. Ngài khiêm tốn nhắc đến hoa quả của nó như “có một đời sống lương thiện phần nào hoặc mới bắt đầu bước vào đời tu”[154]. Tu luật của ngài đã đạt được mục đích của nó một cách mỹ mãn, đó là nó tồn tại nguyên vẹn qua bao thế kỷ như một tài liệu chính yếu làm trung gian ân huệ đan tu cho Giáo hội Tây phương.

Mức độ đạo đức của đan sĩ không đơn thuần chỉ là sự tuân giữ luật nghiêm túc mà thôi. Nó bao gồm toàn bộ nỗ lực của sự hoán cải hoàn toàn trong tâm trí, thân xác và con tim của thầy vì Chúa Kitô. Một sự am hiểu thích đáng ơn gọi Biển Đức và đời sống đan tu nói chung sẽ dựa trên sự tìm kiếm này để biến đổi mọi chiều kích của con người để trở nên giống Chúa Kitô. Sự cởi mở hoàn toàn của một người để theo Chúa Kitô sẽ được cụ thể hóa trong thực hành cá nhân ba phương pháp căn bản của khổ chế và cầu nguyện của Thánh Biển Đức. Sự trong sáng hoàn toàn của con người đối với ân sủng biến đổi của Đức Kitô, được cụ thể hóa trong ba thực hành chung này, dường như giải thích đặc sủng đan tu tốt hơn là nhấn mạnh trên một số yếu tố cục bộ chẳng hạn như thanh vắng, cộng đoàn, hưởng trước Nước Trời, mặc dầu những điều này rất quan trọng. Sự tự hiến hoàn toàn là tương đương tích cực với những gì thỉnh thoảng được gọi là sự khiếm khuyết của mục đích thứ yếu trong đời sống của người đan sĩ.

Bởi đó, “tuyên khấn theo Tu luật” có nghĩa là tự mình ràng buộc một cách nghiêm túc với những nguyên tắc căn bản này, và những cấu trúc tương ứng của chúng, như là những dấu chỉ và phương tiện của sự hoàn toàn theo Chúa Kitô. Ngoài đóng vai trò là tâm điểm của Tu luật, ba phương pháp căn bản của sự khổ chế và cầu nguyện còn là gạch nối giữa linh đạo và sự tuyên khấn đan tu. Sự trung tín tìm kiếm các ân sủng của Tin mừng nói chung, và những thực hành căn bản này là hiện thân của nhiều ân sủng Phúc âm và tiếp tục những nét quan trọng nhất của chính lối sống của Chúa Kitô. Những yếu tố kém quan trọng hơn, là những yếu tố có điều kiện mang tính địa phương – giống như sự cử hành trong ca tòa hoặc trong nhà cơm, thời gian lao động, việc đọc sách chung hoặc thời gian, nơi chốn để nói chuyện – có vai trò hỗ trợ chúng ta trong việc hoàn toàn theo Chúa Kitô, vốn mang ý nghĩa sống còn của Tu luật. Những tập tục chi tiết có thể thay đổi theo thời gian và nơi chốn. Những nguyên tắc căn bản của việc giữ luật, cầu nguyện và khiêm nhường vẫn tốn tại như là hiện thân của Đức Kitô hằng sống trong thế giới hôm nay và trong tương lai.

 Để Phản Tỉnh Xa Hơn

  1. Bạn có tìm kiếm con đường thiêng liêng khi bạn vào đan viện hoặc vào đời tu? Bạn đã tìm kiếm điều gì? Bạn đã tìm được nó chưa?
  2. Điều nào trong ba phương pháp cơ bản của nguyên tắc thiêng liêng trong đời sống Biển Đức hấp dẫn bạn nhất? Bạn cảm thấy được liên kết với Đức Kitô nhất trong điều nào ở trên? Bạn làm gì với những yếu tố còn lại?
  3. Liệu có thể “tinh thần” của luật tách biệt khỏi “bản văn” của nó được không? Bạn có thể tóm tắt tinh thần của luật như thế nào?

 

Sách Tham Khảo

Bernard of Clairvaux, St. The Steps of Humility and Pride, nos. 6-21, in Bernard of Clairvaux, Treatises II. CF 13. 34-50.

On Grace and Free Choice, nos. 6-41, in Bernard of Clairvaux, Treatises III. CF 19. 61-99.

Davis, T. “The Loss of Self in the Degrees of Humility in the Rule of St. Benedict, Chapter VII” in Benedictus. CS 67. 23-29.

Leclercq, J. “Profession According to the Rule of St. Benedict” in Rule and Life: A Symposium. CS 12. 117-150.

Martin, V. “Notes of a Sociologist on the Role of the Rule in Cistercian Life” in Rule and Life: A Symposium. CS 12. 169-183.

Peifer. C. “What Does It Mean to Live According to the Rule?” in Monastic Stuies 5. Pine City: Mt. Savior, 1968. 19-44.

William of St. Thierry, The Golden Epistle. CF 12.

 

 

CHƯƠNG IX: HƠN CẢ NGHI THỨC TUYÊN KHẤN

  1. TÓM TẮT

   Khấn Dòng Có Nghĩa Là Gì?

Chúng ta đã tìm hiểu bản chất của sự tuyên khấn đan tu và các lời cam kết của nó cả riêng biệt lẫn tổng thể. Thánh Biển Đức đã xem những lời cam kết này như một “lời hứa”[155] tổng thể duy nhất. Ngày nay những cam kết này thường được nói đến như những “lời khấn”[156], bởi vì chúng được thực hiện với Chúa và được Giáo hội chuẩn nhận. Chúng thường được miêu tả như là việc tuyên khấn “các lời khuyên Phúc âm” cụ thể. Hơn một lần chúng ta đã thấy cụm từ “các lời khuyên Phúc âm” chỉ ra một số đặc tính chính trong đời sống của Chúa Giêsu, đã truyền cảm hứng cho người nam, người nữ qua các thế kỷ tìm kiếm con đường để theo Người cách trọn hảo hơn.

Việc tuyên khấn đan tu diễn đạt một sự cam kết với nguồn suối của lối sống của Chúa Kitô, cụ thể là, với mối quan hệ thân tình của Chúa Giêsu với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và nơi tình bạn giữa Chúa Giêsu với các môn đệ của Người, là một trong những cách thế diễn đạt hàng đầu của việc tuyên khấn đan tu. Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã viết trong Tông huấn Đời sống Thánh hiến như sau: “Ta phải tìm nền tảng Tin mừng của đời sống thánh hiến trong tương quan đặc biệt mà Đức Giê-su, suốt cuộc sống trần thế, đã thiết lập với một số môn đệ. Người mời các ông không những đón tiếp Nước Thiên Chúa vào trong đời sống các ông, mà còn dùng đời sống các ông để phục vụ sự nghiệp ấy, bằng cách bỏ mọi sự và bắt chước sát kiểu sống của Người”[157]. Bởi vì Chúa Giêsu là Đấng hiện hữu nên những mối liên hệ này có giá trị tuyệt đối trên bình diện hiện hữu hơn trên bình diện tư cách đạo đức.

Kết quả của mối liên hệ này là có bốn mức cam kết liên quan đến Chúa Kitô. Chúng tạo thành bốn chiều kích tiến bộ, trong đó các lời hứa của việc tuyên khấn có thể được sống:

  • Những cam kết tuyên khấn là các lời khấn, qua đó người đan sĩ thề hứa với Chúa là họ sẽ sống và lớn lên trong sự trung tín với đời sống đan tu, với độc thân khiết tịnh, với khó nghèo cá nhân, với sự vâng phục Kitô giáo, và với sự vĩnh cư cộng tu theo các tiêu chuẩn của Dòng hoặc Hội dòng.
  • Tuy nhiên, những lời khấn này không chỉ là những lời hứa đơn lẻ, nhưng chúng thiết lập nên một sự cam kết bao trùm sự hoán cải (conversatio) đan tu. Đó là bước theo Chúa Giêsu theo những nét đặc trưng của cuộc sống mà Người đã sống khi còn tại thế,và Người đã mời gọi các môn đệ thân cận sống theo.
  • Tiến thêm một bước nữa, cam kết chung chung hơn này không chỉ là một cam kết sống theo lối sống mà Chúa Giêsu và các môn đệ của Người đã sống, nhưng nó còn là một cam kết với chính Ngôi Vị của Chúa Giêsu, theo cách mà người đan sĩ được chia sẻ tình bạn một cách cá nhân tồn tại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ thân tín nhất của Người.
  • Trên tất cả, từ thực tế là các lời khấn đã được tuyên khấn với Ngôi Vị Chúa Kitô, như trong sự phân tích sau cùng, chúng là những biểu hiện mối quan hệ nội tâm của Đấng Cứu Thế với sự lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa Cha và sự ngoan ngoãn đáng mến đối với Chúa Thánh Thần. Vì điều này, các đan sĩ nam nữ và tất cả các tu sĩ khác, tiếp tục một cách độc đáo – bằng hình thức sống đặc biệt của họ – sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa.

Đời đan tu trong các hình thức khác nhau của nó đã là một biểu hiện có tổ chức đầu tiên của kiểu sống này. Trong hơn một ngàn năm, nó là hình thức nguyên tắc của sự tồn tại Kitô giáo đã công khai tuyên khấn sống độc thân khiết tịnh, chia sẻ chung của cải vật chất, và vâng phục bề trên cộng đoàn. Suốt những thế kỷ này, các nhà giảng thuyết, các tác giả Kitô giáo và các tiến sĩ Hội thánh đã cố gắng để hiểu và diễn đạt tất cả những gì liên quan đến đời sống đan tu. Họ đã sử dụng các từ vững của những giáo huấn Phúc âm như: Các lời khuyên và các lời hứa, dẫu cho không có giới hạn về con số và bản chất của chúng.  Sự ám chỉ đến ba hoặc hơn nữa “lời khuyên Phúc âm” được phát triển một cách tiệm tiến từ thời Giáo phụ cho tới thời Trung Cổ. Mãi tới Thế kỷ XII và XIII, các lời khuyên Phúc âm mới được các Dòng Hành Khất, được thành lập trong hai thế kỷ này nhận dạng dưới hình thức khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục[158]. Thật khó để hóa giải lời mời gọi chung theo Chúa Giêsu trong đức ái trọn hảo với một sự mời gọi hạn chế hơn là từ bỏ đời sống hôn nhân, tài sản cá nhân, và những cấu trúc của thế gian này. Trong thực tế, Giáo hội hôm nay, trong Ngàn năm thứ ba, vẫn đang vật lộn với sự căng thẳng này. Chúng ta đã thấy điều đó trong từng chương của cuốn sách này.

Chúng ta cũng đã thấy những từ ngữ như: Các lời khấn, các lời hứa, hay các lời khuyên, có thể không phải là những từ tốt nhất để mô tả việc theo Chúa Giêsu một cách thể lý lối sống của Người. Nó cũng không thỏa đáng khi nghĩ rằng tuyên khấn chủ yếu là hành động đọc lên các lời khấn, hay các lời hứa cụ thể nào đó. Thậm chí khi nói rằng tuyên khấn cốt ở chỗ ôm ấp các lời khuyên Phúc âm cũng có thể bị hiểu lầm nếu các lời khuyên được xem như ngang hàng các lời khấn như chúng thường là như thế. Khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục như chúng xuất hiện trong cuộc sống và giáo huấn của Chúa Giêsu không phải là vấn đề của sự đòi hỏi hay sự chọn lựa của chỉ một vài thành viên nào đó trong Giáo hội mà thôi. Chúng là những mệnh lệnh có tính bắt buộc của Tin mừng được ban cho tất cả mọi Kitô hữu trong những cách thế khác nhau.

Những môn đệ thân cận nhất của Chúa Giêsu chỉ đơn giản là được gọi để sống khó nghèo, vâng phục và khiết tịnh trong một lối sống đặc biệt trọn vẹn mà thôi. Bởi đó, chúng không phải chỉ là “những lời khuyên” theo nghĩa là lời khuyên hay những đề nghị, nhưng chúng là những mệnh lệnh cho tất cả mọi người. Những mệnh lệnh này phải được tất cả mọi Kitô hữu sống theo những cách đặc biệt tùy theo ơn gọi, hoàn cảnh và ân sủng của từng người. Có lẽ vì lý do này mà cụm từ, “các lời khuyên Phúc âm” có thời đã được lan truyền để đề cập đến không phải là những lời mời gọi, hoặc những đề nghị cụ thể đã được Đức Giêsu trao ban, nhưng là đề cập đến một hình thức sống mà Người đã dẫn dắt và mời gọi các môn đệ của Người sống theo khi Người nói với họ “hãy theo tôi”[159]. Lối sống của Chúa Kitô cùng với lời mời gọi đi theo Người trong lối sống đó có thể được xem như là lời khuyên Phúc âm đầu tiên, là nguồn của mọi lời khuyên khác. Tuy nhiên cách hiểu như thế có thể liên quan đến sự thay đổi ý nghĩa truyền thống đã được ban cho hạn từ “lời khuyên”. Vì sự rõ ràng và thống nhất, tôi đã cố gắng tránh sự dụng cụm từ “các lời khuyên Phúc âm” và cố gắng sử dụng rất nhiều từ khác để làm rõ ba thực tại khác nhau mà chúng ta đang đối diện với:

  • Giáo huấn mà Chúa Giêsu đề nghị cho “mọi môn đệ của Người, vốn có rất nhiều”[160].
  • Ba lời khấn dòng cổ điển.
  • Lối sống mà Chúa Giêsu đã sống và Người đã đề xuất cho các môn đệ thân tín của Người.

Trong sự tìm kiếm từ vựng thích hợp, chúng ta đã thấy rõ ràng rằng hành động của sự cam kết cá nhân nằm ở trung tâm của việc tuyên khấn đan tu đi xa hơn cả các lời khấn hay các nhân đức Kitô giáo. Hành động cam kết một cách cá nhân đi xuyên qua các lời khấn để đụng chạm đến chính Chúa Kitô. Đó là sự đồng ý cách công khai bước theo Chúa Kitô, bằng cách ôm ấp vào mình những đặc điểm căn bản của lối sống mà Chúa Giêsu và các môn đệ thân tín của Người đã sống trong một bối cảnh rộng lớn hơn của giáo huấn Tin mừng. Các lời khấn thì có thực, nhưng chúng quá hạn chế, quá đạo đức để thể hiện vẻ đẹp của việc tuyên khấn. “Các lời khuyên Phúc âm” xem ra rộng lớn hơn, nhưng như chúng ta đã thấy rằng thuật ngữ này thì mơ hồ, cả trong chính nó và trong việc sử dụng nó.

Các đan sĩ nam nữ và các tu sĩ tiến bước xa hơn hành vi tuyên khấn và cam kết cả đời mình cho Thầy Chí Thánh. Họ hứa đi theo Người bằng cả thân xác – theo như ơn gọi riêng biệt mà họ đã lãnh nhận – và cả linh hồn bằng việc cầu nguyện và phấn đấu hợp nhất con tim, lý trí và ý chí của họ với con tim, lý trí và ý chí của Chúa Giêsu và của Chúa Cha. Dĩ nhiên, điều này trùng hợp với ơn gọi sâu thẳm nhất của mọi Kitô hữu và thậm chí là cùng đích siêu nhiên của mỗi con người. Sự khác biệt giữa các tu sĩ và các Kitô hữu nằm ở chỗ các con đường được sử dụng để đi tới cùng đích này. Tuyên khấn đan tu là một xa lộ đặc biệt, là một lời cam kết để ôm trọn đời sống nội tâm và vĩnh cửu của Chúa Kitô theo cùng cách thức bên ngoài mà Người đã sống, trong một nhóm người độc thân được đặc trưng bởi sự đan xen một cách bình an giữa cầu nguyện và lao động, tính đơn sơ mộc mạc, rút ra khỏi các hình thức xã hội trần thế và hoàn toàn phụ thuộc vào thánh ý Chúa Cha.

Bởi đó, việc tuyên khấn đan tu giả thiết trong người đan sĩ có một ân sủng đặc biệt của bí tích Rửa Tội được định rõ cho họ hầu họ trở nên con cái Thiên Chúa và thành viên của Giáo hội. Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết: “Bí tích thánh tẩy tự nó không hàm chứa lời kêu gọi sống độc thân hoặc trinh khiết, từ bỏ sở hữu của cải, vâng phục một bề trên, dưới dạng cụ thể của các lời khuyên Phúc âm. Vậy việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm giả thiết một ân huệ đặc biệt mà Thiên Chúa không ban cho tất cả mọi người”[161]. Bởi đó, ân huệ nội tâm này từ Thiên Chúa đưa đến một sự cam kết nội tâm để bước theo Chúa Giêsu trong đan viện, là trái tim của việc tuyên khấn đan tu. Ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo cho đến thời Trung Cổ, ân huệ nội tâm này được gọi là “ý hướng thánh thiện”(sanctum propositum), là đối tượng của sự hoán cải (conversatio).

  Hoán Cải (Conversatio)

Chúng ta đã thấy tất cả các khía cạnh khác nhau của việc tuyên khấn đan tu, một cách ẩn tàng, đều được ẩn chứa trong lời tuyên khấn trọng thể Conversatio morum, vốn được diễn tả ra ở đây trong tiếng Anh có nghĩa là “canh tân cuộc sống”(fidelity to monastic life). Như chúng ta đã thấy ở những chương trước, bản chất của thuật ngữ “conversatio”, gồm rất nhiều hệ quả quan trọng. Trước hết, nó có nghĩa rằng, việc tuyên khấn trong đan viện, hơn bất cứ hình thức đời tu nào khác, là cam kết trọn vẹn cho lối sống của cộng đoàn, như đã được tiếp tục linh hứng ở đây và lúc này hình thức sống căn bản đã được Đức Giêsu sống và đề nghị cho các môn đệ thân tín của Người. Đó là lý do tại sao giáo huấn của Giáo hội về việc khấn dòng một cách chung chung lại có thể được áp dụng một cách chính xác tuyệt vời cho lời khấn trọng thể canh tân cuộc sống. Như Đức Thánh cha Gioan Phaolô II viết trong Tông huấn Đời sống Thánh hiến như sau:

“Trong đời sống thánh hiến, vấn đề không phải là chỉ theo Chúa Kitô với cả con tim, bằng cách yêu mến Người hơn cha mẹ mình, hơn con trai hay con gái mình[162], như mỗi môn đệ đều phải làm, nhưng còn là sống và diễn tả điều đó bằng việc biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, bằng một cuộc gắn bó triệt để, báo trước sự hoàn thiện cánh chung, tùy theo các đoàn sủng khác nhau và trong mức độ có thể đạt được trong thời gian. Quả thế, qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm, người được thánh hiến không chỉ bằng lòng với việc đã chọn Đức Kitô làm ý nghĩa đời mình, nhưng còn tìm cách diễn lại nơi chính mình, trong mức độ có thể, nếp sống Con Thiên Chúa đã sống khi người xuống thế[163].

Tuy nhiên, lời cam kết hoán cải – conversatio – thêm một tính năng thứ hai, một phẩm chất đặc biệt, vào trong việc biến đổi chung của “sự nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, bằng một sự gắn bó triệt để”. Nó thêm vào khía cạnh đan tu bằng cách xác nhận rằng một đường lối đặc biệt cho người có liên quan để hoàn thành việc trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là một chương trình của linh đạo được Thánh Biển Đức mô tả trong Tu luật của ngài. Trong chương trước, chúng ta đã phân tích chương trình này trong những thuật ngữ của ba kỷ luật thiêng liêng chung, đặc trưng cho nó: kỷ luật thân xác, đọc sách thiêng liêng (lectio divina), và con tim khiêm cung. Lời khấn canh tân của đan sĩ là một lời cam kết sử dụng những phương thế thực hành này như là những phương pháp mà nhờ đó họ sẽ theo Chúa Giêsu cho đến hết cuộc đời trong sự quân bình Biển Đức giữa cầu nguyện và lao động, cộng đoàn và cô tịch, vâng phục, sáng tạo và thực hành các mối phúc . Nó là một chương trình kết hợp giữa tu đức Phúc âm và huyền nhiệm Kitô giáo trong một tổng thể hướng về nhân vị cách hài hòa và uyển chuyển.

Đặc điểm thứ ba của sự cam kết hoán cải (conversatio) của đan sĩ đó là nó đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Sau một ngày lễ tuyệt vời vẫn còn đó những khó khăn của cuộc sống thường nhật. Nó chỉ trong thực tế của từng khoảnh khắc mà bạn thật sự gặp Chúa Giêsu trong tình yêu: Tình yêu của Người dành cho bạn và tình yêu của bạn dành cho Người. Chỉ ở đây và lúc này xuyên qua sự tự hiến đích thực, trong đó Trái Tim của Thiên Chúa biến đổi con tim của bạn mà bạn nên trọn vẹn. Sự chuẩn bị cho việc tuyên khấn kết thúc ở đây và sự trung tín bắt đầu.

Nói một cách khác, sự tuyên khấn đan tu, bắt nguồn từ cuộc đối thoại sinh động với Chúa Kitô, có mục đích dẫn đưa người đan sĩ đi vào một cuộc sống thân tình hơn với Thầy Chí Thánh. Biểu đồ III trang 469, cố gắng tóm lược tiến trình của sự biến đổi sâu sắc trong Đức Kitô theo cách thế chỉ ra cho thấy các nguồn gốc của sự tuyên khấn trong đời sống của chính Chúa Giêsu, các nghĩa vụ bên ngoài được giả định, sự hiệp nhất của họ như là những cách thế diễn tả khác nhau của một ân huệ ơn gọi duy nhất và mối quan hệ nội tại của những biểu hiện, những cam kết này với Ngôi Vị của Chúa Kitô. Biểu đồ này là một phần tóm tắt và kết luận sơ bộ của cả cuốn sách.

Sự tuyên khấn bao gồm những nghĩa vụ đạo đức trong lĩnh vực của các lời khấn, các nhân đức, các lời hứa, các lời khuyên. Điều đó đúng. Nhưng trước hết sự tuyên khấn là một cam kết của cuộc sống, là một sự trao đổi của cuộc sống và tình yêu. Ân huệ tình yêu qua lại giữa Chúa Giêsu và người đan sĩ trẻ phải được kinh nghiệm trong thân xác lẫn linh hồn để trở thành giai điệu trung tâm với sự hài hòa cá nhân của người đan sĩ về ân sủng và tự nhiên. Thật xứng đáng để chúng ta xem xét một cách kỹ lưỡng hơn thực tại bên trong của tình yêu qua lại của Chúa Kitô vốn làm nền tảng cho sự tuyên khấn đan tu.

  1. ĐỜI SỐNG ĐỨC ÁI

        Lời Hứa, Sự Tuyên Khấn Và Chủ Đích

Việc chu toàn hàng ngày các lời hứa của sự tuyên khấn đã nhận được tầm quan trọng đặc biệt trong nhiều thế kỷ đầu của phong trào đan tu Kitô giáo nhờ sự lệ thuộc lành mạnh của phụng vụ vào đời sống. Tính ưu việt của cuộc sống qua phụng vụ được phản ánh trong ngữ vựng Latinh được sử dụng lúc đó để diễn đạt hành động tuyên khấn đan tu. Trong suốt thời Giáo phụ (100 – 1100), và thậm chí dưới thời các thần học gia kinh viện đầu tiên (1100 – 1300), ý nghĩa của từ “tuyên khấn” (Professio) đã không bị giới hạn trong hành vi phụng vụ xảy ra trong một ngày cụ thể, trong đó người đan sĩ trẻ tuyên khấn một cách trọng thể lời khấn trung tín (bền đỗ). Hành vi đó, chúng ta đã nghiên cứu từ đầu cuốn sách này, được Thánh Biển Đức gọi một cách chung chung là hứa (promissio)[164]. Dần dần nó trở thành phổ biến hơn như một hành vi của sự “tuyên khấn” (vow). Trong Thế kỷ XI và XII cả hai từ “hứa” (promissio) và “khấn” (vow) đều được sử dụng.

Tuy nhiên, trong suốt thời gian này, có một sự chấp nhận rộng rãi rằng có một điều gì đó quan trọng hơn cả lời hứa lẫn lời khấn. Cụ thể là thực tại thiêng liêng của “ý muốn” (intention) hoặc “quyết định” (propositum). Đối với các đan sĩ, ý muốn của họ là phụng sự Thiên Chúa và bước theo Chúa Giêsu, là gia nhập đan viện, là phục tùng lề luật và sống lời hứa trọng thể: “Vĩnh cư, canh tân và vâng phục”[165]. Ý định này chính là ân huệ của Thiên Chúa và là một phần của đặc sủng đan tu. Nó hoạt động một cách hiệu quả nơi tâm hồn ứng sinh trước khi họ đến gõ cửa đan viện, và tồn tại suốt cuộc đời của họ. Thực vậy, nó là yếu tố nền tảng, là con tim của việc tuyên khấn đan tu. Bởi đó, ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo cho đến thời Trung Cổ, nó được gọi là “ý định thánh thiện” (sanctum propositum). Thánh Tôma Aquinô viết vào khoảng năm 1270, nhấn mạnh tầm quan trọng của nó bằng cách nói rằng: “Những ai gia nhập bậc tu sĩ thì không buộc phải thực hiện những hành vi bắt nguồn từ đức ái trọn hảo, tuy nhiên họ buộc phải có ý định để thực hiện chúng”[166].

Vậy thì “sự khấn dòng” (professio) có ý nghĩa gì trong suốt những thiên niên kỷ đầu của phong trào đan tu Tây phương? “Sự khấn dòng” là một thuật ngữ rất rộng, đôi khi nó đề cập một cách trực tiếp đến một hành động thực hiện lời hứa của sự trung tín một cách trọng thể (khấn (vowing) conversatio, hành động của sự tuyên khấn), nhưng thường xuyên hơn nó có nghĩa là một đời sống của người đã tuyên khấn sau sự kiện phụng vụ (hoán cải sinh động (living conversatio), trạng thái đan tu của cuộc sống). Thông thường từ “sự khấn dòng” (professio) có thể đề cập đến hai thực tại, đó là buổi cử hành phụng vụ và đời sống tu trì như một tổng thể. Nhưng, trong những trường hợp như vậy, điểm nhấn hầu như luôn là trên sự cam kết liên tục chứ không phải trên lời hứa phụng vụ được thực hiện trong ngày tuyên khấn.

Nói cách khác, ý nghĩa thông thường của “sự khấn dòng đan tu” (monastic profession) là cam kết liên tục của sự trung tín, và những hệ quả của nó trong cuộc sống thường ngày. Đây là trường hợp chỉ sử dụng từ tuyên khấn (profess) của Thánh Biển Đức. Ngài viết: “Vì nghĩa vụ thánh mà họ đã khấn hứa … nên lệnh trên vừa ban ra họ thi hành tức khắc”[167]. Nó cũng là trường hợp trong thần học kinh viện, đặc biệt khi mà động từ “tuyên khấn” (prefess) ở thì hiện tại chứ không phải ở thì quá khứ. Chẳng hạn như Thánh Tôma Aquinô viết [nhiều tu sĩ] tuyên khấn “vâng phục theo luật dòng”, do đó chỉ những gì khác nghịch với những gì luật dạy thì mới trái nghịch với sự tuyên khấn của họ”[168]. Thậm chí ngày nay chúng ta sử dụng từ “profession” không phải chỉ để nói về một hành động cam kết cụ thể, mà còn theo nghĩa, “trạng thái của cuộc sống”, như khi chúng ta nói “Giáo sư Y khoa” (medical profession), hay khi ta hỏi “chuyên môn của anh ta là gì?” (what is his profession in life?)

Sự phân biệt giữa một hành vi trong quá khứ và một bậc sống lâu dài là điều hữu ích để giúp cho sự hiểu biết làm thế nào sự khấn dòng lại giống Phép Rửa thứ hai. Sự giống nhau giữa sự khấn dòng và bí tích Rửa Tội đã được chỉ ra trước đây trong phần lịch sử của phong trào đan tu Kitô giáo, và trở thành biểu tượng bởi tu phục đan sĩ với áo thụng đan tu, và bởi các nghi lễ khác phù hợp với mỗi đan viện cụ thể. Yếu tố chung chính yếu cho cả bí tích Rửa Tội lẫn sự khấn dòng là sự thánh hiến để phục sự Thiên Chúa. Thánh Bênađô đã được hỏi về sự so sánh này, và ngài đã trả lời bằng cách qui về các phẩm tính của Phép Rửa thứ hai không phải cho lời hứa (promissio) trọng thể trong ngày tuyên khấn, nhưng ngài qui về đời sống thường ngày của ý hướng đan tu (monastic propositum) của họ. Tiêu đề của câu trả lời của ngài nói lên điều này một cách rõ ràng: Tại sao kỷ luật đan tu lại được coi là Phép Rửa thứ hai? Thánh nhân trả lời:

“Tôi nghĩ nó là Phép Rửa thứ hai bởi sự từ bỏ thế gian một cách triệt để của nó, và bởi vì tính chất cao quí của đời sống thiêng liêng của nó mà kiểu mẫu đời sống này (conversio) thì trổi vượt hơn tất cả các hình thức sống khác của con người. Đây là điều làm cho ai tuyên khấn (professores) và yêu thích đời sống đan tu trở nên giống thiên thần hơn loài người. Thực vậy, giống như bí tích Rửa Tội, lời khấn dòng đổi mới hình ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta bằng cách biến đổi chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Hơn thế nữa, khi chúng ta chết cho chính mình trên trần gian này, khi chúng ta mặc lấy Đức Kitô và được liên kết với Người trong cái chết của Người một lần nữa, thì nó giống như được rửa tội lần thứ hai vậy. Cũng như trong Phép Rửa, chúng ta được giải thoát khỏi quyền lực của tối tăm và được đưa vào vương quốc ánh sáng, cũng một cách thức ấy, bởi ý định thánh thiện (sanctum propositum) là sự tái sinh thứ hai, chúng ta vượt qua bóng tối, không phải chỉ tội nguyên tổ mà thôi nhưng còn tất cả tội riêng của ta nữa, để đi vào trong ánh sáng các nhân đức, và chúng ta đổi mới trong chính mình lời của Thánh Tông Đồ: “Bóng tối đã qua và ngày mới đã đến gần”[169].

Ở đây cũng như bất cứ nơi nào khác, Thánh Bênađô không qui các phẩm chất của bí tích Rửa Tội cho nghi thức phụng vụ của sự khấn dòng, thậm chí cũng không cho sự chúc lành trọng thể đã được thêm vào trong nghi lễ thời của ngài, nhưng đúng hơn ngài qui các phẩm chất của bí tích Rửa Tội về chính đời sống đan tu, đó là sống ý định thánh thiện (sanctum propositum). Thực vậy, ngài thậm chí chẳng đề cập đến ngày tuyên khấn nữa. Đối với ngài, ít nhất là trong đoạn văn này, rõ ràng tuyên khấn (professio) có nghĩa là sống kỷ luật đan tu ngày này qua ngày khác trong sự trung tín với ý định ban đầu của người đan sĩ. Chính sự trung tín này được sống với tình yêu đã gột rửa người đan sĩ sạch khỏi tội lỗi, và đưa họ vào trong ánh sáng của các nhân đức Kitô giáo. Tuy nhiên, trong một số bức thư của ngài, đặc biệt các bức thư ngài gửi cho các anh em đã rời bỏ đan viện Clairvaux sau khi đã tuyên khấn, Thánh Bênađô đã thay đổi từ vững của ngài từ chữ “khấn” (vow) sang “các lời hứa của việc tuyên khấn” (promises of profession) để nhấn mạnh các nghĩa vụ mà họ đảm nhận trong ngày tuyên khấn.

Kết luận mà chúng ta có thể rút ra từ nghiên cứu vắn tắt về ngữ vững này là đáng kể. Trong suốt nhiều thế kỷ, khi mà các đan viện được biết đến như là những thể chế của đời sống thánh hiến trong Giáo hội, trung thành kiên định trong đời sống đan tu, được bao hàm trong ý nghĩa của từ “tuyên khấn” (professio). Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả sự trung tín hoặc hành động cam kết ban đầu (promisio) mang tính bề ngoài lại là ý định nội tâm, là quyết định của con tim, là “ý muốn”  (propositum). Không có ý định, không có mong muốn mãnh liệt để sống đời sống đan tu cách trung thành và quí mến cho đến trọn đời, thì lời hứa công khai sống như vậy sẽ là một sự giả dối, một hành động khinh thường. Tuy nhiên, khi ý định thánh thiện hiện diện thì nó là linh hồn của sự tuyên khấn đan tu, bởi vì nó là thành quả của hành động trực tiếp của Chúa Thánh Thần trong trái tim của con người trước và sau lời cam kết phụng vụ. Giáo huấn của Giáo hội nói một cách hùng hồn về tầm quan trọng của nó trong quá trình biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô như sau:

“Tiếng gọi sống đời tận hiến có quan hệ mật thiết với hành động của Chúa Thánh Thần. Qua các thời đại, chính Thánh Thần luôn luôn thúc đẩy những con người mới nhận ra sức thu hút của một chọn lựa cam go. Dưới tác động của Người, những con người ấy lại trải qua kinh nghiệm của Ngôn sứ Giêrêmia: ‘Lạy Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ’[170]. Chính Thánh Thần gợi lên nguyện ước đáp trả trọn vẹn; chính Người tháp tùng cuộc tăng trưởng của nguyện ước này, giúp người ta thuận theo đến cùng, và nâng đỡ người ta trung thành thực hiện lời đáp trả; chính Người đào tạo và củng cố tinh thần của những người được kêu gọi bằng cách làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, và bằng cách thúc đẩy họ nhận lấy sứ mạng của Người làm của mình”[171].

Như thế, ý định nội tâm bền vững này là kết quả trực tiếp của ân sủng ơn gọi. Đó là thành quả của tác động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn, tâm trí và ý chí của người đan sĩ để dẫn đưa họ, cũng như Người đã dẫn đưa Đức Giêsu “vào trong sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình”[172]. Bởi vì tầm quan trọng của nó như là hình ảnh của ý định nội tại của chính Đức Kitô khi làm người, nên nó cũng xứng đáng để chúng ta xem xét ý định nội tâm của người đan sĩ một cách chi tiết hơn. Bây giờ chúng ta thực hiện điều đó bằng cách xem xét nó trong thuật ngữ thánh hiến mà nó bao hàm, và kinh nghiệm thiêng liêng mà nó nuôi dưỡng.

 Sự Thánh Hiến

Sự khấn dòng nói chung và sự tuyên khấn đan tu nói riêng bao hàm một sự thánh hiến toàn bộ sự hiện hữu của một người cho Thiên Chúa[173]. Đây là những gì các ứng sinh ước muốn thực hiện. Nó là ý định (propositum) của con tim. Họ muốn được thuộc trọn về Chúa cả hồn lẫn xác. Chúng ta đã thường xuyên đề cập đến sự thánh hiến như thế và bây giờ chúng ta có thể hiểu nó một cách đầy đủ hơn. Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, đã được đặt tên bởi Chúa Cha và bởi địa vị Con Thiên Chúa của Người ngay từ lúc đầu thai trong lòng Đức Maria. Sự xức dầu thiêng liêng trên bản tính con người bởi Thiên Tính của Đức Kitô trong sự hiệp nhất của một Thiên Chúa duy nhất trở nên đặc tính cứu thế rõ ràng qua đời sống công khai của Người, đặc biệt là trong những biến cố quan trọng, như lúc Người chịu phép rửa và chịu cám dỗ, khi chọn và hướng dẫn các Tông Đồ, khi Người biến hình trên núi và khi Người làm các phép lạ, trong cuộc khổ nạn và trên hết là sự phục sinh của Người[174]. Tông huấn Vita Consecrata viết:

Đức Giêsu là Đấng “Thiên Chúa thánh hiến bằng Thánh Thần và quyền năng” (Cv 10,36), là “Đấng Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian”(Ga 10,36). Một khi đón nhận ơn thánh hiến của Chúa Cha, Chúa Con lại hiến dâng bản thân cho Chúa Cha để phục vụ nhân loại (x. Ga 17,19): Đời sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục của Người diễn tả lòng gắn bó thảo hiếu và trọn vẹn của Người với chương trình của Chúa Cha (x.Ga 10,34; 14,11). Chính vì cuộc hiến dâng hoàn hảo của Đức Kitô mà hết mọi biến cố trong cuộc đời tại thế của Người đều được thánh hiến[175].

Ở đây chúng ta thấy hai phương thế khác nhau – chủ động và thụ động – của việc thánh hiến cho Thiên Chúa. Một cách chủ động, những người hiến thánh chính mình cho Thiên Chúa bằng chính hành vi cam kết của họ đối với sự phục vụ của Người. Một cách thụ động, họ lãnh nhận ân sủng từ Thiên Chúa, hoặc phép lành từ những người đại diện của Người, điều này mang lại cho họ – hoặc ít nhất tượng trưng cho họ – sự xức dầu nội tâm. Họ là ai và những gì họ làm trở thành của lễ được thánh hiến cho Thiên Chúa.

Sự khác biệt giữa sự thánh hiến cách chủ động và cách thụ động có thể giúp chúng ta hiểu được làm thế nào Đức Giêsu trước hết được hiến thánh bởi Chúa Cha một cách bị động, sau đó Người thánh hiến chính mình cách chủ động để đáp lại tình yêu mà Chúa Cha dành cho Người, trở thành người Tôi Tớ của Chúa Cha vì lợi ích của chúng ta. Lối sống, sự đau khổ và sự chết của Người đã biểu lộ sự thánh hiến mà Người không ngừng đón nhận, và sự thánh hiến mà Người tiếp tục thực hiện với chính mình Người.

Điều này giải thích tại sao các sự kiện mang tính cứu độ của đời sống dương thế của Đức Kitô thường được nói đến như là “các mầu nhiệm” của Người, lại có quyền năng thánh hiến qua nhân tính thánh thiện của Người, một quyền năng cũng được trao ban cho những hoạt động của các Tông Đồ, “người được sai đi khắp thế gian như chính Người đã được Chúa Cha sai đi”[176]. Bởi đó, toàn thế giới và mọi tạo vật nhận được sự thánh hiến mới qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Có thể nói được rằng chúng được sắp xếp lại cho phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, “đó là đưa thời gian đến hồi viên mãn, là qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô”[177]. Lời mang tính ngôn sứ của Đức Kitô bởi đó được nên trọn: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”[178].

Toàn bộ tiến trình cứu độ của sự hiệp nhất dưới quyền của Đức Kitô là sự thánh hiến “trong sự thật”, đó là trong Lời cứu độ của Chúa Cha mà Chúa Giêsu cầu nguyện để các môn đệ được chia sẻ: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ họ mà tin vào con”[179].

Một sự kết hợp trực tiếp như thế vào Đấng Messiah (Đức Kitô, Đấng được xức dầu), là thực tại ẩn dưới những thuật ngữ khác nhau như: được hiến thánh (sanctified), được thánh hiến (consecrated), được xức dầu (anointed, chrismed), Kitô hữu (Christian)! Qua đức tin và bí tích Rửa Tội, mỗi người Kitô hữu lãnh nhận sự thánh hiến, sự thánh thiện này cùng một cách thế như nhân tính của Đức Kitô nhận thiên tính của Người từ Chúa Cha vậy. Ân sủng của Đức Kitô Phục Sinh trở thành ân sủng của chúng ta. Bây giờ cuộc sống của Người phải được biểu lộ ra trên mọi phương diện cuộc sống của chúng ta. Nó sẽ xuất hiện trên bề mặt với sự tác động mạnh mẽ, đặc biệt tại những thời điểm quan trọng nhất định khi, bởi sự ngoan ngoãn với Chúa Thánh Thần, hoạt động Kitô giáo của chúng ta là cầu nối hướng tới những hình thức cụ thể Giáo hội – đó là sứ mệnh của Chúa Kitô Phục Sinh. Đây thường là những thời điểm của các quyết định căn bản, khi lời cầu nguyện của Chúa Giêsu “xin thánh hiến họ trong sự thật”, một cách đặc biệt được nên trọn.

Hành vi phụng vụ của cam kết đan tu (promissio), vốn có liên quan đến đời sống đan tu cách chung (professio), là một trong những sự kiện then chốt này. Nó chỉ rõ hơn yếu tố thụ động của sự thánh hiến do bí tích Rửa Tội, và bởi thực tế đó, vượt ra ngoài nó (sự thánh hiến thụ động do bí tích Rửa Tội) để tạo ra, trước hết, là một sự cam kết mới và căn bản – một sự thánh hiến chủ động – để theo Đức Giêsu trong hình thức sống mà Người đã khai mào với các môn đệ thân cận nhất của Người. Sự thánh hiến chủ động này đối với sự độc thân giản dị của lối sống của Đức Giêsu không phải là một phần của sự thánh hiến của bí tích Rửa Tội. Thứ hai, sự tuyên khấn – như hành động ban đầu lẫn cách sống tiếp tục sau đó – bao gồm một ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, một món quà cụ thể của Chúa Thánh Thần, Đấng chúc lành và thánh hiến sự cam kết mới và căn bản của người đan sĩ. Đó là lý do tại sao sự tuyên khấn đan tu thật sự là một sự thánh hiến mới.

Đó cũng là lý do tại sao lời khấn trọng thể mà người đan sĩ truyên đọc trong ngày tuyên khấn không phải chỉ là hành động của con người. Lời khấn và toàn bộ cuộc hành trình đan tu bắt nguồn từ lời khấn là hoa trái của Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hiến sự tự hiến nội tâm (propositum), cũng cùng một Thánh Thần, Đấng đã linh hứng theo ân sủng và sứ mạng của mỗi Dòng hoặc Tu hội. Lời cầu nguyện trọng thể kêu cầu Ba Ngôi Thiên Chúa ở phần cuối của nghi thức tuyên khấn, hướng tới sự thánh hiến nội tâm này. Nó gồm cả chủ động – bởi vì người đan sĩ hiến dâng chính mình để phụng sự Thiên Chúa – lẫn thụ động, bởi vì sự tự hiến của họ được Chúa Thánh Thần, Đấng linh hứng sự tự hiến ngay từ đầu chúc phúc. Đến lượt nó, sự thánh hiến bên trong này – bởi chính người đan sĩ và bởi Chúa Thánh Thần – vượt qua chính nó, để hướng đến một đời sống phục vụ cho Chúa Phục Sinh, Đấng đang sống trong cộng đoàn đan tu địa phương và trong Giáo hội hoàn vũ. Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã viết:

Vậy việc tuân giữ các lời khuyên Phúc âm giả thiết một ân huệ đặc biệt mà Thiên Chúa không ban cho tất cả mọi người, như chính Đức Giêsu đã nêu bật trong trường hợp độc thân tự nguyện[180]. Hơn nữa, khi Chúa gọi thì Người cũng ban ơn đặc biệt của Thánh Thần, ngõ hầu người được thánh hiến có thể đáp trả ơn gọi và chu toàn sứ mạng của mình. Chính vì thế, theo Phụng vụ Đông phương và Tây phương, trong nghi thức tuyên khấn đan tu hoặc tu trì và trong nghi lễ thánh hiến trinh nữ, Giáo hội kêu cầu Thánh Thần ban ơn xuống trên những người được chọn[181].

Sự thánh hiến của chính Đức Kitô, mục đích thần linh của Người khi Người trở nên người phàm, do đó được tiếp tục nơi người đan sĩ nam nữ. Ngay khi người đan sĩ chấp nhận sự thánh hiến đặc biệt của họ bởi Chúa Thánh Thần, họ cũng thánh hiến chính mình, vì toàn thể nhân loại, để làm cho các mối quan hệ bên trong của linh hồn Đức Giêsu và hình thức sống đời sống xã hội bên ngoài của Người, mà Người đã đề xuất cho các môn đệ, để chúng trở thành của họ. Cách thức thụ động và chủ động của việc thánh hiến hiệp nhất hình thành ý muốn thánh thiện nội tâm của người đan sĩ nam nữ để theo Đức Giêsu cách này, cả bề trong lẫn bề ngoài. Sự trung tín đang diễn ra của họ đáp ứng sự thánh hiến của họ, và thánh hiến một cách thực sự tất cả những gì họ làm.

Kinh Nghiệm Về Đức Giêsu

Được Đức Giêsu kêu gọi bước theo Người trong ơn gọi thánh hiến đan tu là một ân huệ vô cùng to lớn; là một món quà đặc biệt Thiên Chúa trao cho chúng ta. Cuộc sống mà việc tuyên khấn mở ra cho phép chúng ta tiếp tục theo cách riêng của mình những kinh nghiệm của các môn đệ đầu tiên khi họ lớn lên trong sự hiểu biết và trong tình yêu của Thầy Chí Thánh. Cuộc sống đan tu giúp chúng ta dễ dàng theo Đức Giêsu một cách trọn vẹn hơn trong sự đơn giản của lối sống của Người, nhờ đó mọi thứ trở thành cho chúng ta một cuộc trao đổi cuộc sống và tình yêu. Đức Giêsu đã không ngừng lặp lại với từng người môn đệ những gì Người nói với người đàn bà tại bờ giếng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống”[182].

Nếu ngày lại ngày chúng ta dâng hiến cho Đức Giêsu tình yêu của chúng ta trong con đường khiêm hạ của cuộc sống Tin mừng, đó là bởi vì chúng ta đã thấy trong đức tin rằng chính Người là ân huệ tình yêu vĩ đại mà Thiên Chúa Cha đã ban cho ta. Đến lượt mình, Đức Giêsu trao ban cho ta “Nước Hằng Sống” của Người, đó là Chúa Thánh Thần. Sự trung tín của chúng ta với Đức Giêsu lệ thuộc vào sự trung tín của Người – và của Chúa Cha – đối với chúng ta.

Những cam kết của sự tuyên khấn đã được thực hiện và được sống trong thực tại siêu vời này của sự Tự Hiến của Thiên Chúa. Nó là trái tim của mầu nhiệm vượt qua. Phụng vụ khai mở cho chúng ta đi vào trong sự tự hiến của Thiên Chúa. Chúa Giêsu không những gọi chúng ta mà Người còn ban cho chúng ta phương tiện để đáp trả lại tiếng gọi của Người. Những phương tiện này trên hết là bí tích Thánh Thể, rồi đến các bí tích khác, và tất cả những điều còn lại của đời sống Giáo hội xoay quanh chúng, một cách cụ thể là đời sống cộng đoàn của chúng ta. Cả sự cử hành đã qua lẫn toàn bộ cuộc sống của việc tuyên khấn đan tu, giống như tất cả mọi nỗ lực cá nhân, có được ý nghĩa bắt nguồn từ sự tham dự của chúng ta vào kế hoạch của Thiên Chúa vì sự viên mãn vĩnh cửu trong Đức Kitô. Một cách đặc biệt, Thánh Thể, như là “lương thực hàng ngày của chúng ta”[183], làm cho chúng ta trở nên vững mạnh trong tình yêu của Người, để theo Người một cách vô điều kiện trong thân xác, tâm trí và tâm hồn.

Khi Đức Giêsu xin chúng ta trao cho Người tất cả mọi thứ và bước theo Người không phải chỉ bằng đức tin và tình yêu mà thôi, nhưng còn bằng cả thân xác của chúng ta nữa, bằng cách từ bỏ gia đình, bạn bè, quê hương, sự huấn luyện trần thế, là Người đang mời gọi chúng ta đi vào trong cái chết thiêng liêng một cách thật sự, nhưng đồng thời Người cũng đang mời gọi chúng ta đi vào một cuộc sống mới. Người đang dẫn chúng ta đi vào trong kinh nghiệm của tình yêu mà Người dành cho chúng ta, và tới sự nhận biết của Chúa Cha, Đấng mà “ không ai biết rõ…trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho”[184]. Đức Giêsu muốn chúng ta học biết về Người và về Chúa Cha qua Tin Mừng, qua lời cầu nguyện, qua các bí tích và qua các người anh chị em của chúng ta. Trên tất cả, Người muốn chúng ta bắt chước Người và chia sẻ cuộc sống của Người một cách thể lý, tâm lý và thiêng liêng. Điều này chắc chắn sẽ liên quan đến đau khổ và thập giá, nhưng nó là con đường duy nhất dẫn tới hạnh phúc miên trường.

Thực vậy, không có thập giá Đức Kitô trong cuộc sống chúng ta, chúng ta không thật sự cảm nghiệm được Người và không đáp trả cách tương xứng với sự tự hiến của Người dành cho chúng ta. Thánh Biển Đức đã diễn tả điều này như sau:

Bậc khiêm nhường thứ ba là: Vì lòng kính mến Chúa, ta hết lòng tùng phục người trên theo gương Chúa, như lời thánh Tông Đồ nói về Người: “Người đã vâng phục cho đến chết… Nơi khác… để chứng minh người trung tín phải vì Chúa mà chịu đựng mọi sự, ngay cả những nghịch cảnh, Thánh Kinh đã nhân danh người đau khổ nói lên: “Ấy cũng vì Ngài mà chúng con suốt ngày bị giết, khác nào bầy chiên bị đem đi làm thịt”. Rồi vững dạ vì hy vọng được Chúa ban thưởng, họ mừng rỡ tiếp lời: “Trong mọi tình huống đó chúng tôi thắng vượt hết, nhờ Đấng đã yêu thương chúng tôi”[185]

Trong sự miêu tả nổi bật về một số khó khăn liên quan đến đức khiêm nhường đan tu, Thánh Biển Đức liên kết đời sống của người đan sĩ với Thánh thi được linh ứng của Thánh Phaolô về sự vâng phục của Đức Kitô trong thư của ngài gửi tín hữu Philipphê. Thánh thi này nói cho chúng ta biết có ba thực tại thiêng liêng quan trọng mà Đức Giêsu đã kinh nghiệm một cách cá nhân và “cũng là của chúng ta trong Đức Kitô Giêsu”[186]. Thực vậy, chúng là bản chất căn bản của việc theo Chúa trong bất cứ hình thức nào:

  • Tự hủy mình (Kenosis) của Đức Kitô như là Thiên Chúa “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân”. (c.7)
  • Sự qui phục hoàn toàn với sự thất bại và sự sỉ nhục do Đức Kitô thực hiện như một con người, “hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”. (c.8)
  • Và số phận nhân loại của Đức Kitô đã được Chúa Cha thay đổi hoàn toàn cách căn bản, một khi nó đã được hoàn thành trên thập giá, nhờ đó “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ”. (cc. 9-10)

Bất cứ kinh nghiệm chân thật nào về Đức Giêsu đều theo nhịp điệu vượt qua này, đó là khối kiến trúc của thụ tạo mới của Người. Thập giá là nơi chúng ta có thể đụng chạm “sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa”[187]. Tuy nhiên, trong thực tế, nó có thể rất khó chịu để “kiên nhẫn chia sẽ các đau khổ của Đức Kitô để đáng được dự phần trong Nước Người”[188]. Chúng ta thực sự không muốn đau khổ như thế và rồi chờ đợi trong thinh lặng phần thưởng có thể còn rất xa vời. Thật khó, đặc biệt là đối với các người nam người nữ trong thế giới hiện đại hôm nay, kiên nhẫn chờ đợi Chúa hành động. Đó chính là lúc mà chúng ta phải ngước nhìn lên Đức Maria, Đấng đã theo Đức Giêsu trên con đường khổ nạn của Người. Mẹ đã để cho chính mình bị thương tích trong tâm hồn vì tình yêu Mẹ dành cho Con của Mẹ và cho ơn cứu độ của toàn thể gia đình nhân loại. Qua vết thương nội tâm đó, một cách âm thầm và kiên nhẫn, Đức Maria đã sinh ra một nhân loại mới. Mẫu gương và lời cầu nguyện của Đức Maria sẽ cho chúng ta sức mạnh để hy sinh niềm vui thoáng qua, hầu hiến dâng bản thân một cách trọn vẹn hơn cho Thiên Chúa, và cho những người mà chúng ta sống cùng với họ.

Một cuộc sống giống như của Đức Maria, được cắm rễ sâu nơi thập giá Đức Kitô, sẽ là một cuộc sống vui tươi hạnh phúc, bởi vì nó cũng sẽ được thông phần vào sự phục sinh của Đức Kitô. Điều này không có nghĩa là nó sẽ dễ dàng. Hạnh phúc thật không hệ ở chỗ tránh đau khổ và thất vọng, nhưng nó bắt nguồn từ tình yêu, được trao ban và đón nhận. Tình yêu chân thật có nghĩa là tự hiến chính mình và do đó là sự hy sinh. Ngay trước khi hoàn tất việc tự hiến chính mình, Đức Giêsu đã nói với chúng ta về loại niềm vui thánh thiện này, “Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy và niềm vui của anh em được nên trọn”[189].

Ngay lúc bắt đầu cuộc khổ nạn, Đức Giêsu đã trao ban cho chúng ta niềm vui của Người; niềm vui cốt ở tại việc làm trọn ý muốn của Chúa Cha trong mọi sự. Đây cũng phải là nguồn mạch niềm vui của người đan sĩ. Sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ thấy mình bị đóng đinh vào thập giá do lời khấn vĩnh cư, vâng phục và canh tân của chúng ta. Đây không chỉ là một cách nói đạo đức, mà là sự cần thiết bên trong của cuộc sống chân thật. Ngay cả ở cấp độ thuần túy con người, giá trị đích thực của một người chỉ có thể đạt được nhờ biết từ bỏ những vui thú chóng qua vì một mục tiêu lớn hơn và lâu dài hơn. Bên cạnh đó, thánh giá là thực tại không thể tránh được và nó có lẽ sẽ là thánh giá chúng ta ít muốn mang theo, nhưng chính xác đây là thánh giá không mong muốn nhất lại dẫn chúng ta tới sự phục sinh. Nếu chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng đó là một sai lầm khủng khiếp, thì Chúa Giêsu cũng có một điều gì đó như thế trong tâm trí khi Người công bố, “phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” – ở đây và lúc này – “vì Nước Trời là của họ”[190]. Đời sống của các thánh đã minh chứng cho sự nghịch lý này của Tin mừng.

Để trả lời cho câu hỏi của một đan sĩ về lý do của sự từ bỏ, một trong số các vị linh phụ khả kính đã nói như sau, “Các con yêu quý, thật là chính đáng chúng ta nên ghét bỏ tất cả mọi thứ trong cuộc sống hiện tại này, và ghét luôn cả những khoái lạc của thân xác và niềm vui của cái bụng. Chúng ta đừng có tìm sự kính trọng từ con người. Có như vậy, Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô sẽ ban cho chúng ta sự kính trọng của trời cao, sự nghỉ ngơi nơi cuộc sống vĩnh cữu, và niềm vui rạng ngời cùng với các thiên thần của Người”.

Nếu chúng ta từ bỏ tất cả, ngay cả những cái tốt, để theo Đức Giêsu thì chúng ta cũng có thể chỗi dậy trong một cuộc sống mới với Người, ở đây và lúc này, trong tinh thần, tâm trí và thân xác chúng ta. Chúng ta bỏ tất cả để yêu một cách sâu đậm hơn và để tỏ cho toàn thế giới thấy tình yêu của Chúa Cha một cách rõ ràng hơn. Chính Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta tình yêu này. Qua kỷ luật và ân sủng của đời sống đan tu, chúng ta sẽ học cách để cho mình bị Người chiếm hữu cách trọn vẹn hơn, hầu Người có thể sống cuộc sống của Người một cách viên mãn hơn trong chúng ta. Kinh nghiệm nội tâm của tình yêu của Đức Kitô khi nó từ từ thấm nhập vào trái tim con người là những gì đem lại ý nghĩa và niềm vui cho đời sống đan tu. Thánh Biển Đức mô tả nó như một kinh nghiệm thông thường của những người kiên nhẫn: “Con chớ vội hoảng sợ mà trốn xa con đường cứu độ, vì vạn sự khởi đầu nan. Nhưng một khi đã tiến bộ trong đời tu và đức tin, một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên đường giới răn Thiên Chúa”[191].

Thực tại của kinh nghiệm biến đổi nội tâm này, cũng là kinh nghiệm biến đổi đạo đức và huyền nhiệm, cho thấy sự cần thiết phải vượt qua nghi lễ tuyên khấn để có thể hoàn thành nó.

Nhưng “vượt qua nghi lễ tuyên khấn” có nghĩa là gì? Rõ ràng nó có nghĩa là chúng ta phải vượt qua hình thức của nghi lễ trong ngày tuyên khấn để sống đời sống đan tu một cách trọn vẹn như nó là mỗi ngày. Nó cũng có nghĩa là vượt qua những hành vi, các lời khấn, các lời hứa của chúng ta để hướng tới chính đời sống của Đức Kitô. Chính nơi Người mà chúng ta có được sự viên mãn đích thực. Ở cấp độ sâu hơn, cụm từ này (“vượt qua nghi lễ tuyên khấn”) hướng sự chú ý của chúng ta qua và vượt ra ngoài lối sống bề ngoài mà Con Thiên Chúa đã đón nhận khi trở thành con người, với thái độ hướng thần nội tâm, những ý muốn của con tim và linh hồn nhân tính của Người, là nơi mà những biểu lộ bên ngoài xuất phát. Con tim của Đức Kitô là nơi đầu tiên được tràn ngập “sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu”[192]. được bộc lộ tràn trề từ tình yêu, sự tốt lành và vẻ đẹp mà Người đã lãnh nhận một cách nội tâm từ Chúa Cha.

Thậm chí xa hơn, hoặc bên trong, đời sống thiêng liêng và các tặng phẩm của Thánh Tâm Đức Kitô là con người của Người. Chỉ ở nơi Người mà thôi, mọi tạo vật và muôn người tìm được ý nghĩa và sự viên mãn của chúng. Thánh Gregory của Narek, một đan sĩ của Hội thánh Armenia khoảng năm 1000, diễn tả cùng một cách thức đó như sau: “Tôi ao ước Đấng ban ơn chứ không phải ơn của Người. Tôi không hy vọng vinh quang, nhưng điều tôi muốn là ôm chặt lấy Đấng đã được tôn vinh…. Tôi không tìm kiếm sự nghỉ ngơi, nhưng tôi van nài cho được nhìn thấy dung nhan của Đấng ban phát sự nghỉ ngơi. Những gì tôi thèm khát với tất cả con tim của tôi không phải là tiệc cưới, nhưng là được ở với Chàng Rể!”[193].

Bởi đó, cội nguồn của sự tuyên khấn đan tu là Chàng Rể, là Con Thiên Chúa trong hành động của Người đã làm hiện diện trên trái đất này, qua nhân tính của Người, sự tự hiến tinh truyền cho người khác, hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn của Chúa Cha, sự trong sáng không tì vết và vĩnh cửu về sự thật, tình bạn, sự tốt lành, sự hiệp thông và vẻ đẹp, là hiện thân của các Ngôi Vị trong Ba Ngôi Chí Thánh và sự chia sẻ vĩnh cửu giữa các Ngài. Mục đích bên trong của Đức Kitô để trở thành người phàm – “ý muốn thánh thiện”, và “quyết định thánh” của Người – là để mở rộng sự vui thích nội tâm của kinh nghiệm thiêng liêng của chính mình đến cho toàn thể gia đình nhân loại. Người thực hiện điều này bằng cách gởi Thánh Thần của Người đến với chúng ta. Trước hết là để cất đi những chướng ngại vật đã cản trở sự phát triển tình yêu Thiên Chúa trong chúng ta, rồi Người biến đổi sự hiện hữu của con người trở nên như kinh nghiệm của chính mình. Đây đích thực là những gì mà tuyên khấn đan tu thực sự là. Từ kinh nghiệm nội tâm của Đức Kitô tuôn trào những đặc điểm nếp sống bề ngoài của Người, và những ân sủng cần thiết cho sự trung thành của các Kitô hữu để tiếp tục nếp sống đó qua dòng lịch sử nhân loại.

 Nhân Vị, Cộng Đoàn Và Việc Tuyên Khấn

Khi nhìn vào sự vĩnh cư đan tu, chúng ta thấy rằng điều cần thiết để thu hẹp khoảng cách không thể tránh được  giữa chúng ta và cộng đoàn của chúng ta là những cam kết cá nhân của chúng ta với một tình yêu quảng đại. Lời hứa trọng thể bước theo Đức Kitô trong lối sống đan tu thách thức tất cả chúng ta cùng bước qua chiếc cầu của tình yêu huynh đệ. Điều này có nghĩa chúng ta phải ngày càng nhạy cảm với những gì chúng ta đã tự cam kết với tình yêu của Đức Kitô.

Ở đây có một sự chuyển động kép đòi hỏi cả sự quảng đại lẫn sự uyển chuyển. Một mặt, những hình thức bên ngoài của đời sống hằng ngày trong cộng đoàn, hiện thân của những cấu trúc căn bản của ơn gọi đan tu, phục vụ cho sự duy nhất của mỗi thành viên trước Thiên Chúa. Mặt khác, đặc tính thiêng liêng sâu thẳm nhất của mỗi người đan sĩ lại chỉ được tìm thấy trong hành vi dâng hiến bản thân hoàn toàn cho cộng đoàn cụ thể của họ. Lý do thần học cho nghịch lý này của sự sung mãn cá nhân qua bổn phận cá nhân là vì sự kiện Thiên Chúa, Đấng dựng lên chúng ta là Thiên Chúa Ba Ngôi, bởi đó siêu việt (ecstatic). Các Ngôi Vị Thiên Chúa ra khỏi chính mình để đi vào trong Ngôi Vị khác. Các Ngôi Vị Thiên Chúa chỉ là chính mình trong hành động duy nhất đời đời này của việc trao hiến và xác nhận của các Ngôi Vị khác. Con người được dựng lên để phản chiếu hình ảnh này của Thiên Chúa, bằng cách đón nhận tình yêu của Thiên Chúa trong con người của Đức Giêsu, và bởi yêu thương người khác trong cùng một cách thế như Đức Giêsu, như Người nói: “Như Chúa Cha đã yêu Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu anh em như vậy. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”[194]. Đối với chúng ta, Chúa Giêsu sống trong cộng đoàn cụ thể của chúng ta vốn là một phần Thân Thể của Người, là Giáo hội, với những lịch sử tính, thành phần, những vấn đề và những ân sủng đặc biệt của nó.

Sự thật về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong từng cộng đoàn địa phương giúp chúng ta đánh giá cao sự cần thiết đối với một cam kết dứt khoát và trọn đời như yếu tố thiết yếu của việc tuyên khấn đan tu. Một cảm nghiệm sống nhất thời trong môi trường đan tu thì cả hợp pháp và lẫn rất hữu ích cho một người nhất định nào đó, tuy nhiên không nên xem đó như là một sự biểu lộ cách chính xác ơn gọi đan tu. Nó cũng không tiêu biểu cho một trọng tâm đích thực của sự hấp dẫn thiêng liêng đối với những người có liên quan, vì trung tâm này, bởi chính đặc tính tự nhiên, là vĩnh cửu, hoàn toàn thống nhất, và một cách nào đó, vĩnh cửu. Trên tất cả, thách đố của việc tuyên khấn đan tu hệ tại việc nỗ lực không ngừng để hiện thân hóa nơi cuộc sống riêng của mình bản tính ngây ngất của tình yêu Ba Ngôi đã xâm chiếm toàn bộ linh hồn con người và thân thể của Đức Kitô. Điều này được thực thi bằng cách tận hiến hoàn toàn bản thân cho Đức Kitô sống động trong cộng đoàn. Đối với người ngoài cuộc, điều này xem ra là một sự giới hạn không đảm bảo của Tin mừng, nhưng đối với những ai nhận được lời mời gọi, thì đó là sự áp dụng cụ thể và kết quả hợp lý của Tin mừng.

 Đối với mọi người, sự tác động qua lại của những sức mạnh khác nhau trong công việc xung quanh chúng ta và trong chúng ta là những gì tạo nên hình dạng và ý nghĩa cho sự tồn tại của con người. Đối với người đan sĩ nam hoặc nữ, “hôn lễ” của các cấp độ khác nhau của cam kết đời tu – tính độc đáo cá nhân, các đặc sủng của Chúa Thánh Thần, môi trường cộng đoàn, Kitô giáo và quyền bính đan tu – vào trong sự hòa hợp hài hòa trong đời sống hàng ngày là mối bận tâm chính của những năm huấn luyện. Trong thực tế, những năm tháng trước khi khấn trọn đời có thể được hiểu như là thời gian để phân định xem liệu “hôn lễ” như thế, một mặt, có thể sẽ có lợi cho việc thực hiện cuộc sống của người trẻ trong Đức Kitô, và mặt khác, sẽ có lợi cho sự phát triển lành mạnh của cộng đoàn mà họ muốn gia nhập hay không.

Trong tiến trình của sự đồng hóa, phân định và phát triển nội tâm này, hành vi của việc tuyên khấn đan tu tượng trưng cho khoảnh khắc của sự minh bạch và hiệp nhất. Một cách khách quan, con đường phía trước đã được am hiểu, ít nhất là trong những đường nét căn bản của nó. Một cách chủ quan, kinh nghiệm đã dạy chúng ta một vài điều gì đó về cả khả năng lẫn giới hạn của chúng ta. Sự thẩm định về sự phân định ơn gọi đã được thực hiện. Cam kết của chúng ta đi theo Đức Kitô theo cách mời và triệt để này thì mạnh mẽ và rõ ràng hơn khi chúng ta vào đan viện. Sự tuyên khấn đan tu trọng thể với Thiên Chúa, hơn bất cứ thứ gì khác, là những yếu tố then chốt trong việc làm sáng tỏ ý nghĩa của việc đi theo Đức Kitô theo cách này có nghĩa là gì và giúp chúng ta thực hiện điều đó. Chúng nghĩa là, trong cuộc sống của chính chúng ta, sự tiếp nối sự cam kết căn bản của Đức Giêsu với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa Cha, thậm chí tới mức không có một gia đình bình thường, tài sản vật chất hay chương trình sống của riêng mình. Tuy nhiên, sự tự hủy triệt để như thế, ngay lập tức mở trái tim con người ra cho người khác. Hàng rào ngăn cách giữa cá nhân và cộng đoàn bắt đầu sụp đổ, do đó những gì Thánh Phaolô nói về người Do Thái và Hy Lạp được nên trọn trong chúng ta và trong cộng đoàn của chúng ta:

Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Kitô Giêsu, nhờ máu Đức Kitô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần. Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét[195].

Đây chỉ là một ví dụ quan trọng về việc tuyên khấn đan tu đưa toàn bộ cuộc sống hàng ngày của chúng ta trong đan viên, vào sự hoán cải (conversatio) của chúng ta, vào sự hiến thánh cả nó và chúng ta bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần, và từ trái tim được đổi mới của chúng ta, tái qui tụ tất cả mọi thứ về Chúa Kitô, bắt đầu với chính bản thân chúng ta và cộng đoàn của chúng ta.

VÀO TRONG SIÊU VIỆT

Chúng ta có thể làm gì để giúp tiến trình theo Chúa Giêsu này một cách triệt để hơn trong cộng đoàn? Làm thế nào chúng ta có thể trung tín hơn trong sự cam kết mới của chúng ta với tình yêu trọn vẹn hơn của Người và của những người mà chúng ta đang sống? Mỗi người chúng ta cần đến sự trợ giúp, và những ân sủng cần thiết chỉ có thể đạt được bằng lời cầu nguyện liên lỉ và khiêm tốn mà thôi. Bởi đó chúng ta có bổn phận phải cầu xin Chúa ban ân sủng của Chúa Thánh Thần. Có lẽ chính xác là sự vắng mặt của lời cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng nghiêm túc, niềm tin vững chắc về các thực tại đức tin, đã tạo ra một sự vô cảm nào đó với ân sủng mà đôi khi rất rõ ràng, ngay cả trong các đan viện.

 Đồng thời, lời cầu nguyện và ân sủng của Chúa Thánh Thần không được thực hiện chỉ vì để tăng niềm say mê nội tâm của người đan sĩ, cũng không chỉ vì lợi ích của hành vi bề ngoài. Cầu nguyện và ân sủng của Chúa Thánh Thần là hai điều không thể thiếu được đối với đời sống đan tu, bởi vì đời sống đan tu chỉ thực sự được dưỡng nuôi bằng sự tiếp xúc thiêng liêng một cách thường xuyên với nhân tính được tôn vinh của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, Đấng sống trong chúng ta bằng Thần Khí của Người. Đây là lý do tại sao việc theo Đức Kitô một cách cá nhân trong đời sống đan tu, có nghĩa là sống trong Thần Khí của Người, trên tất cả là bởi đời sống cầu nguyện. Nó có nghĩa là đồng ý với mối tương quan chung mà một cuộc sống như thế sẽ có. Chúng ta sẽ xem xét lần cuối hai thực tại này phát xuất từ việc theo Chúa.

 Thần Khí Ban Sự Sống

Qua sự phục sinh và tôn vinh của Người, Đức Giêsu trở thành nguyên tắc (nguyên lý) của đời sống mới trong trái tim con người: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà Đức Kitô sống trong tôi”[196]. Chúng ta thấy đời sống của Đức Kitô nơi các Kitô hữu đóng một vai trò quan trọng như là ý nghĩa cuối cùng của lời hứa trung tín và như là chìa khóa cho đức khiết tịnh thánh hiến. Nhưng nó cũng biến đổi mọi khía cạnh của đời sống đan tu. Thật vậy, Đức Kitô Phục Sinh là nền tảng cho mọi loài thọ sinh:

Trong Người muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời[197].

Cuộc sống trong đan viện được nhấn chìm trong chiều sâu của đời sống mới này, là đời sống của Đức Kitô ở trong Giáo hội và đời sống của Giáo hội ở trong Đức Kitô, bởi vì Giáo hội là Thân Mình của Đức Kitô. Về cơ bản, người đan sĩ Kitô giáo là một người của Giáo hội.

Bởi đó, đời sống thánh hiến chân chính thuộc về Thần Khí của Đức Kitô ở trong Giáo hội. Nó là một đời sống phát xuất từ việc tiếp xúc với Đức Kitô chịu đóng đinh, Đấng, qua sự phục sinh, đã trở thành “thần khí ban sự sống” (1 Cr 15:45). Đối với đan sĩ, tinh thần của những cam kết khi tuyên khấn là suy nghĩ, hành động và yêu không chỉ như Đức Kitô sẽ hành động trong những tình huống nhất định như một mẫu gương trong quá khứ xa xưa, nhưng một cách chính xác như Đức Kitô hành động tại thời điểm này bằng cuộc sống, thần khí và ân sủng của Người ở trong người đan sĩ nam nữ. Đây là trái tim của Giáo hội. Tuyên khấn nghĩa là học để sống, và hành động từ trái tim này với tinh thần của Giáo hội là tinh thần của Đức Kitô.

Nói một cách khác, tinh thần của việc truyền khấn đan tu là điều gì đó hơn là sự bắt chước Đức Kitô một cách bên ngoài từ xa. Nó không phải chỉ là một sự tái tạo luân lý trong đời sống chúng ta về một mô hình được Đức Giêsu đề nghị trong các Tin Mừng hơn hai ngàn năm trước, và nó cũng không đơn giản là mở các sách Phúc Âm, luật, các giáo phụ đan tu hay sách vở như nó hiện có, và sau đó vận dụng vào thực tế, bằng phương tiện nhân loại những điều chúng ta đọc. Những nỗ lực như thế là cần thiết, nhưng nếu chúng không ở trên một mức độ sâu xa hơn thì chẳng sinh được kết quả bao nhiêu. Đoạn trích nổi tiếng dưới đây từ các Linh Phụ Sa mạc minh họa cho điều đó.

Viện phụ Lot yết kiến Viện phụ Giuse và thưa với ngài rằng: “Thưa cha, theo khả năng của con, con đã tuân giữ lề luật, ăn chay, cầu nguyện, suy ngẫm và chiêm niệm trong thinh lặng. Và theo như con có thể, con đã cố gắng để thanh tẩy con tim và suy nghĩ của con. Bây giờ con nên phải làm điều gì hơn nữa? Vị trưởng lão đứng lên đáp lại và vươn cánh tay của ngài lên trời. Các ngón tay của ngài trở nên giống như mười ngọn đuốc cháy sáng và ngài nói: “Tại sao không hoàn toàn biến đổi nên như ngọn lửa thiêu?”

Tất cả các Kitô hữu, cả nam lẫn nữ, trong những cách thế khác nhau, được mời gọi để “hoàn toàn biến đổi nên ngọn lửa thiêu”, hoàn toàn được thấm đượm bởi Thần Khí của Đức Kitô chịu Đóng Đinh và Phục Sinh. Đây là những gì bí tích Rửa Tội có ý dẫn chúng ta tới. Đời sống đan tu cung cấp ba con đường đồng thời để cho sự biến đổi này trong Đức Kitô xảy ra.

  • Con đường sâu thẳm nhất của sự biển đổi thì chung cho tất cả mọi Kitô hữu. Đó là Thần Khí ban sự sống của Đức Kitô khi Ngài dẫn dắt trái tim con người cách kín đáo qua những thử thách của sa mạc tiến vào Miền Đất Hứa, đó là nhân tính và thiên tính của Con Một Thiên Chúa.
  • Một con đường bổ sung, được chia sẻ bởi nhiều Kitô hữu, được theo khi tâm trí và con tim người đan sĩ được nuôi dưỡng bởi việc đọc sách thiêng liêng. Qua việc đọc sách thiêng liêng, người đan sĩ tham gia vào lời nguyện của Chúa Giêsu và tôn thờ trong thinh lặng mầu nhiệm cách thế “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”[198].
  • Có một con đường thứ ba, trong đó cuộc đời của Đức Giêsu trở thành của người môn đệ của Người hôm nay. Đó là hình thức sống của cuộc sống con người mà Đức Giêsu đã chọn để sống như một sự mặc khải mang tính xã hội học của tình yêu Ba Ngôi. Người đề xuất nếp sống này, thậm chí cả ngày nay, cho nhiều người chúng ta thân tín của Người để giúp dẫn họ tới Cha trong Chúa Thánh Thần. Nó là một con đường, một cuộc phiêu lưu tuyệt vời (the great adventure), của đời sống thánh hiến và đời sống đan tu.

Qua ba con đường này, con tim, tâm trí và thân xác của người đan sĩ được lớn lên trong sự đơn sơ vui vẻ với thánh ý Chúa Cha và không ngừng rực cháy với vẻ đẹp của nhân tính Đức Kitô.

Bởi thế, cuộc sống lời khấn đan tu của chúng ta có nghĩa là phải vượt qua các lời khấn và các lời hứa và những kỷ luật thiêng liêng mà chúng ta thực hành. Nó phải đi thẳng đến chính Đức Kitô, Đấng đang cư ngụ trong chúng ta bằng ân sủng của đức tin, và truyền cảm hứng cho suy nghĩ và hành động của chúng ta bằng ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Người sẽ mạc khải đời sống mới này bên trong cõi thâm sâu nhất của chính mình, nhưng vô cùng vượt khỏi nó. Nó sẽ là một cuộc sống của tình yêu và sự biến đổi nội tâm, trong đó những giáo huấn Tin mừng tìm thấy ý nghĩa đích thực của nó.

Chỉ có Chúa Thánh Thần mới làm cho sự biến đổi này xảy ra. Nếu chúng ta quên mất sự gắn bó của chúng ta vào trong Đức Kitô và sự phụ thuộc liên tục vào ân sủng “Nước Hằng Sống” của Đấng Cứu Độ, chúng ta sẽ từ từ nhưng chắc chắn đặt mình trong một vị trí mà chúng ta sẽ không hoàn thành trong những vấn đề nhỏ, rồi những vấn đề lớn hơn. Vâng, Thiên Chúa cho phép những bất trung của chúng ta xảy ra để đánh thức chúng ta, giúp chúng ta làm một sự hoán cải mới, giúp chúng ta nhận thức rõ nhu cầu cấp thiết cần đến Chúa Thánh Thần, và có lẽ là một sự hiểu biết về tình mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria, và tình yêu thương xót của Đức Kitô đối với chúng ta trong các sự yếu đuối của mình.

Đó là lý do tại sao chúng ta cần cầu nguyện để cho mình được tỉnh táo, để sống trong canh thức và ngoan ngoãn với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, kẻo chúng ta đánh mất tính nhạy cảm của lương tâm mà chúng ta cần để đáp lại tiếng mời gọi của Thiên Chúa ngày lại ngày. Người mời gọi chúng ta đến với Người và qua sự thánh hiến đan tu, ban cho chúng ta một sứ vụ đặc biệt ở giữa dân Người. Rồi Người đến gặp gỡ chúng ta tại từng thời điểm theo cách sống cụ thể của chúng ta, và trong một cộng đoàn cụ thể nơi Người mời gọi chúng ta để hoàn tất sứ mạng đặc biệt này. Đồng thời, chúng ta không thể tự cho là sống ơn gọi của chúng ta, bước đi trong Thánh Linh, yêu thương anh chị em chúng ta và yêu cầu nguyện, nếu trên thực tế, thái độ của chúng ta là một thái độ bất cẩn đối với những cam kết mà chúng ta đã long trọng thề hứa. Những cam kết đó cũng là những món quà phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa để giúp chúng ta trong đời sống tình yêu của chúng ta.

Hướng Dẫn Gia Đình Nhân Loại

Sứ vụ của các đan sĩ nam nữ Kitô giáo trong những thời điểm của lịch sử loài người là vô cùng quan trọng để đảm bảo cho việc tuân giữ những đòi hỏi của việc tuyên khấn một cách nhẹ nhàng. Không ai khác có thể đạt được, đến mức độ mà họ có thể và nhân danh toàn thể người nam người nữ, ơn gọi đích thực của con người.

Vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì thật sự chỉ có một ơn gọi tối hậu của con người, ơn gọi từ Thiên Chúa, nên chúng ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh ấy theo cách thế mà chỉ có Chúa biết. Đó là tính chất và sự cao cả của mầu nhiệm con người, mầu nhiệm được mặc khải Kitô giáo soi sáng cho các tín hữu. Như vậy, nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, bí ẩn về đau khổ và sự chết được sáng tỏ, một bí ẩn sẽ đè bẹp chúng ta nếu không có Tin mừng của Người. Chúa Kitô đã sống lại, khi dùng cái chết của mình để hủy diệt sự chết, Người đã ban cho ta sự sống dồi dào, để, là những người con trong Chúa Con, chúng ta kêu lên trong Thánh Thần: “Abba, Cha ơi!”[199].

Tiếng gọi sống theo cam kết các lời khấn đan tu là một tiếng gọi hướng dẫn gia đình nhân loại hướng đến cùng đích thực sự của nó, đó là Thiên Chúa: Cuộc hành trình Phục Sinh của gia đình nhân loại đến với Chúa Cha. Người đan sĩ nam nữ chu toàn sứ vụ này bằng chứng nhân của cả cuộc sống họ cả trong cộng đoàn lẫn trong chiêm niệm. Họ đồng thời hướng dẫn thế giới bằng cách cung cấp những nơi chốn của sự hiệp thông, hòa bình và cầu nguyện cho những ai tìm kiếm Thiên Chúa. Tuy nhiên, trên tất cả, họ hoàn thành sứ mạng của mình bằng cách đụng chạm đến trái tim con người qua Thánh Tâm của Chúa Kitô. Thánh Seraphim của Sarov nói về điểm này cho các môn đệ người Nga của ngài trong Thế kỷ XIX như sau: “Hãy có bình an trong trái tim của chúng ta và hàng ngàn người quanh chúng ta sẽ được cứu độ”.

Đây là ý nghĩa của việc người đan sĩ sống sự thánh hiến bản thân của mình trong sự thật. Qua tiến trình khiêm tốn (nhỏ bé) của đời sống đan tu, qua sự kiên vững trong đức tin, sự đơn sơ, lời ca ngợi và tình yêu cộng đoàn, quyền năng của Thiên Chúa đã được thâm nhập vào thế giới ngày hôm nay và mai sau. Người đan sĩ tìm thấy điều đó qua kinh nghiệm của Đức Kitô; Người nghèo hết sức nhưng lại trở thành Cha của một thế giới sẽ đến, Hoàng Tử của hòa bình, là hoa quả đầu mùa của một nhân loại mới.

Mục đích của việc theo Đức Giêsu trong cách thế của riêng Người theo những cam kết của việc tuyên khấn đan tu là để cộng tác với việc tái canh tân thế giới của Thiên Chúa, nó bắt đầu từ trái tim chúng ta. Trong tiến trình này, sự trung tín với cuộc sống đan tu trở thành một sự biến đổi trong thinh lặng của tình yêu, độc thân trở thành đức tinh khiết của lý trí và tinh thần, khó nghèo cá nhân được làm cho trở nên giống Chúa Kitô trong sâu thẳm của tâm hôn, vâng phục lớn lên trong sự lệ thuộc vào Chúa Thánh Thần trong từng phút giây của cuộc sống chúng ta, và vĩnh cư thắt chặt chúng ta lại với nhau trong vương quốc của Người, và của tình yêu huynh đệ. Bởi đó, chúng ta có đủ mọi lý do để lấy làm hãnh diện về sự khó nghèo và yếu đuối của chúng ta. Bởi vì với sự trợ giúp của Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Kitô, việc tuyên khấn của chúng ta sẽ đưa chúng ta, mặc dù chúng ta yếu đuối, đi sâu vào trong mầu nhiệm của Thập Giá và Phục Sinh của Chúa Giêsu.

 Để Phản Tỉnh Xa Hơn

  1. Chúng ta có hiểu rõ những cam kết bề ngoài của việc tuyên khấn không? Đối với chúng ta, trong những cam kết đó, cam kết nào là quan trọng nhất? Cam kết nào liên kết chúng ta với Đức Giêsu nhất?
  2. Mối liên hệ giữa chúng ta với Chúa Giêsu hiện nay trong đời sống của chúng ta như thế nào? Liệu điều này có tương xứng với căn tính sâu thẳm nhất của chúng ta không? Trong thực tế, Chúa Thánh Thần đóng vai trò nào trong cuộc sống của chúng ta?
  3. Làm thế nào để cá nhân bạn trải nghiệm sự gắn bó của bạn với Giáo hội? Bạn có bằng lòng với cách mà bạn đang thực hiện sứ vụ của mình liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại không? Làm thế nào bạn có thể làm sâu sắc hơn sứ vụ này?

Sách Tham Khảo

Delfieux, P.-M. Jerusalem Community Rule of Life: A City Not Forsaken. London: Darton, 1985. 98-112.

Leclercq, J. “Profession According to the Rule of St. Benedict” in Rule and Life: A Symposium. CS 12. 117-150.

Kleiner, S. Serving God First. CS 83. 13-40.

 

[1] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,17.

[2] Pl 2,8.

[3] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 1,10-11.

[4] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,14. 23.

[5] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,23.

[6] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 50.

[7] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,76-78.

[8] Sắc lệnh Truyền giáo, 40.

[9] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 1,3-5.

[10] ST II-II, 188,6.

[11] Dt 11,37-38.

[12] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 71,1-2.

[13] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 72,6.

[14] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 71,2.

[15] On Precept and Dispensation (Giới luật và sự miễn chuẩn), ch. 16, n.44.

[16] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 61,13.

[17] On Precept and Dispensation (Giới luật và sự miễn chuẩn), ch, 16, n. 46.

[18] On Precept and Dispensation (Giới luật và sự miễn chuẩn), ch, 16, n.44.

[19] x. Lc 8,13.

[20] Hc 14,22.

[21] Gueric, First Sermon for the Feast of St. Benedict, 2.

[22] x. 1Sm 16,7.

[23] x. Is 5,1-7; Tv 77,9-20; Mt 21,33-43.

[24] x. Tv 1,3; Gr 17,7-8.

[25] x. Cn 27,8; Hc 19,22-27.

[26] Lc 8,11-15.

[27] Ga 15,4-11.

[28] 1Cr 3,22-23.

[29] GH 44.

[30] Is 50,5-7.

[31] Ga 14,15-20.

[32] Kh 21,1-5.

[33] GH 9.

[34] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở 1.

[35] GS 26. 27.

[36] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,78.

[37] VC 41.

[38] x. GH 13.

[39] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 72,5.

[40] Mt 18,22.

[41] Lc 6,38.

[42] Novo Millennio Ineunte 43.

[43] Novo Millennio Ineunte 43.

[44] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 50.

[45] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 72,7-12.

[46] GH 46.

[47] Kh 12,10.

[48] PC 9.

[49] VC 6.

[50] x. SC 2; 10.

[51] Tv 132,1-3.

[52] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,7.

[53] VC 6.

[54] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,75.

[55] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,76-78.

[56] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 14; 7,70.

[57] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,75.

[58] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,31.

[59] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,14.

[60] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,48.

[61] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,24.

[62] x. Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7.

[63] x. Tu luật Thánh Biển Đức, chương 5-7 và 71-72.

[64] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 64,19.

[65] Ga 3,8.

[66]x.  Mc 2,27.

[67] Cl 1,18.

[68] 1Cr 3,23.

[69] Conf 10,7.

[70] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 73,9.

[71] 1Tx 5,23.

[72] x. Conf 3,6-10; 4,18-21.

[73] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,8-9.

[74] Ga 17,21.

[75] Golden Epistle, n. 287-289.

[76] Living Flame, I.9.

[77] The New Man, 73-77.

[78] Mt 5,8.

[79] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,9.

[80] ST III,11,1.

[81] Conf 14,10.

[82] x. Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,35 và the Sermons of St. Bernard.

[83] GS 16.

[84] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,9.

[85] Mt 12,34-35.

[86] x. Rm 5,5; 8,9-10.

[87] Ep 3,16-19.

[88] Rm 8,16.

[89] Mt 5,8.

[90] 1Ga 4,8.

[91] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,17.

[92] 1Cr 2,16.

[93] Mt 11,29.

[94] 1Cr 6,17.

[95] VC 16.

[96] Lc 1,46; 2,35.

[97] Lc 1,47-48.

[98] VC 28.

[99] x. Mt 18,20.

[100] x. Tu luật Thánh Biển Đức, chương 4,14-19; 36,1; 53,1.

[101] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 72,2.

[102] PC 2.

[103] 1Cr 15,28.

[104] 1Pr 4,11; Tu luật Thánh Biển Đức, chương 57,9.

[105] Ga 14,27.

[106] x. Conf 3,6-7.

[107] x. Conf 9,2-8; 10,6-14.

[108] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7 và 72.

[109] Mt 11,29.

[110] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 1.

[111] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 49; 20,3-4.

[112] x. Lc 15,17.

[113] 1Pr 3,4.

[114] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 5; 7,19-41.

[115] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,44-54.

[116] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 6; 7,55-66.

[117] 1Ga 4,18; Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,67.

[118] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 72.

[119] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,35.

[120] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,40.

[121] Conf 1,4-11.

[122] Ga 14,6.

[123] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,49.

[124] Mt 19,30; 20,16; Mc 10,31.

[125] Lc 14,11; 18,14; Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,1.

[126] Rm 7,24.

[127] x. Note 24 ở trên.

[128] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,10-43.

[129] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,56-66.

[130] 1Cr 15,45.

[131] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,44-55.

[132] Tv 26,14; Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,37.

[133] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,52.

[134] 1Pr 3,4.

[135] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,50.

[136] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,68-69.

[137] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 49; 5,16; 7,8-9; 69-70; 20,2-4.

[138] Mt 11,29.

[139] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,44-48.

[140] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 49.

[141] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,70.

[142] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,67-69.

[143] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 64,19.

[144] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 64,14.

[145] x. Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,61; 21,4; 31,1; 53,22; 64,2; 66,1.

[146] Gl 5,22.

[147] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,35.

[148] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 61,4.

[149] VC 29.

[150] VC 18.

[151] VC 16.

[152] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,9-12.

[153] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 49.

[154] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 73,1.

[155] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,19.

[156] LG 44; VC 7, 26, 91.

[157] VC 14.

[158] x. Tổng luân Thần học của Thánh Tôma, I-II, 108,4.

[159] Mt 4,19; 9,9; Ga 1,39.

[160] GLHTCG n.915.

[161] VC 30.

[162] x. Mt 10,37.

[163] VC 16.

[164] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,17-19.

[165] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 58,17.

[166] ST II-II, 186,2.

[167] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 5,3-4.

[168] ST II-II, 186,9 ad 1.

[169] On Precept and Dispensation, (về lề luật và sự miễn chuẩn) ch. 17, n.54.

[170] Gr 20,7.

[171] VC 19.

[172] Hs 2,16.

[173] x. LG 44; PC 5; VC 22.

[174] x. Ga 10,36; Cv 2,36; Rm 1,4.

[175] VC 22.

[176] AG 5.

[177] Ep 1,10.

[178] Ga 12,32.

[179] Ga 17,17-19.

[180] x. Mt 19,10-12.

[181] VC 30.

[182] Ga 4,10.

[183] Mt 6,11.

[184] Mt 11,27.

[185] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 7,34-39.

[186] Pl 2,5-11.

[187] 1Cr 1,24.

[188] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 50.

[189] Ga 15,10-11.

[190] Mt 5,3.

[191] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 48-49.

[192] Tu luật Thánh Biển Đức, Lời mở, 49.

[193] Gregory of Narek, Prayer XII.

[194] Ga 15,9.

[195] Ep 2,13-16.

[196] Gl 2,20.

[197] Cl 1,16-20.

[198] Ga 1,14.

[199] GS 22.

 

 

 


Liên quan khác