KHÔNG QUÝ GÌ HƠN LÒNG MẾN CHÚA KITÔ New 

23/07/2019

 

 

Nguyên tác

Père Mayeul de Dreuille, OSB

PRÉFÉRER L’ AMOUR DE DIEU

Avec Saint Benoît

« Petits Traités Spirituels »

Serie I « Spiritualité »

Éditions des Béatitudes

 

Chuyển ngữ

Đan viện Xi-tô Thánh Mẫu
Thiên Phước

 

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • Apophtegmes : L, Régnault, Les Sentences des Pères du Désert (Châm Ngôn của Linh Phụ Sa Mạc), Alphabétique, Éd. Solesmes, 1981.
  • Augustin, Com. Ps. : St Augustin, Commentaires sur le psaume (Chú Giải Thánh Vịnh), Enarrationes in Psalmos I-L Corpus Christianorum, Turnhour, Brepols, 1956.
  • Augustin, : L. Verheijen, Nouvelle approche de la Règle de St Augustin (Cách Tiếp Cận Mới với Tu Luật của Thánh Augustinô), Abbaye de Bellefontaine, coll. Vie monastique no 8, 1980.
  • Basile G.R. : Basile de Césarée, Les Règles monastiques (Grandes Règles) (Các Bộ Tu Luật Đan Tu, Bộ Luật Lớn), Lebbe, Éd. Maredsous, 1969.
  • Basile P.R. : Basile de Césarée, Les Règles monastiques (Petites Règles) (Các Bộ Tu Luật Đan Tu, Bộ Luật Nhỏ), Lebbe, Éd. Maredsous, 1969.
  • Cassien, : Cassien, Conférences (Các Bài Lược Thuyết), S.C. 42 ; 24 ; 64.
  • Cassien, : Cassien, Institutions (Luật Cơ Bản), S.C. 109.
  • S.C.O. : Corpus Scriptorum Christianorum Orientalium, Louvain-Wasington, Éd. Muséon.
  • D. :Mayeul de Dreuille, Saint Benoît et les traditions ascétiques de l’Asie à l’Occident (Thánh Biển Đức và Các Truyền Thống Tu Đức từ Á Châu đến Âu Châu), Abbaye de Bellefontaine, 2000.
  • Pacôme V.C., Bo : Vies Coptes de St Pacôme, codex Bohairique, trad. Th Lefort, Éd. Bureaux du Muséon, 1943.
  • G. : Migne, Patrologia Graeca (Giáo Phụ Hi Lạp).
  • TL : Tu Luật thánh Biển Đức, Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam.
  • M. : Règle du Maître (Luật của Thầy), S.C. 106-107.
  • C. : Sources Chrétiennes (Các nguồn Ki-tô Giáo), Cerf. Paris.
  • A. : Vie de St Antoine par St Athanase (Tiểu Sử của Thánh Antôn theo Thánh Athanasiô), P.G. 26
  • * : chú thích của người dịch
  • : xem
  • nv: Nguyên văn tiếng Pháp

*Bản văn Kinh Thánh được trích từ bản dịch Kinh Thánh của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

*Bản văn Tu Luật được trích từ bản dịch Tu Luật Cha Thánh Biển Đức của Hội Dòng Xi-tô Thánh Gia Việt Nam

 

     DẪN NHẬP    

Vào năm 1966, tại Ấn Độ, các bề trên của bốn tu viện sống theo Tu Luật của thánh Biển Đức nhóm họp khóa thường lệ, nhằm xác định những đường nét trong linh đạo của họ. Khi đến lập dòng trong xứ này, nam cũng như nữ, với những hoạt động đa dạng, các cộng đoàn Biển Đức đã mở rộng tầm nhìn cho việc khảo cứu của mình. Đồng thời, học hỏi về Tu Luật thánh Biển Đức cũng nhắc nhở về thiên tài của đấng Tổ Phụ: dù ngài bỏ công thu thập kinh nghiệm của các vị tiền nhiệm, nhưng vẫn giữ được nét độc đáo riêng của mình. Một thời gian sau, những cuộc tiếp xúc với các trào lưu tu trì của các tôn giáo khác đem lại một cái nhìn khái quát hơn về đời sống đan tu. Cái nhìn mới này cho phép tu sĩ nhận ra những điểm chung, những điểm khác biệt trong giáo lý, và vì muốn rút tỉa cho mình những lợi ích, nên phát sinh ra nhu cầu đối thoại.

Khi đối chiếu Tu Luật thánh Biển Đức với nguồn gốc giáo phụ và với bối cảnh đời sống đan tu của các tôn giáo khác sẽ cho phép chúng ta nắm bắt được sự phong phú của Tu Luật và nhìn ra được những đường nét làm nên diện mạo đặc thù của các gia đình đan tu phát xuất từ thánh Biển Đức.

Những giá trị đan tu rút ra từ Tin Mừng có một tầm mức phổ quát, và mỗi vị thánh phản ánh một phương diện riêng biệt của Chúa Ki-tô, nhằm đem lại lợi ích cho toàn thế giới.

Thánh Biển Đức, khi nhấn mạnh đến thái độ tâm hồn phù hợp với Chúa Ki-tô, đã làm Tu Luật của ngài có khả năng thích ứng với mọi hình thức văn hóa khác nhau. Là bậc thầy trong lĩnh vực tâm linh, ngài luôn hướng dẫn các tâm hồn đi đến với Thiên Chúa, và luôn nhấn mạnh đến tình thương trong cộng đoàn, là giá trị cốt yếu trong Tu Luật, để làm cho cộng đoàn đan tu trở thành gương mẫu cho đời sống Ki-tô hữu trong gia đình cũng như cho xã hội.

I. TÌM KIẾM THIÊN CHÚA

1 – Những nguồn mạch trong truyền thống

Khi một người có lòng ước ao gia nhập đan viện, thánh Biển Đức trước tiên muốn biết họ có thực sự tìm kiếm Thiên Chúa hay không[1]. Sự tìm kiếm Thiên Chúa là đặc trưng của đời sống Ki-tô hữu được thánh Biển Đức nhấn mạnh, đó cũng là mối dây liên kết với tu sĩ thuộc các tôn giáo khác. Nhiều thế kỷ trước Chúa Giê-su, và cho đến ngày hôm nay, các bậc tu trì, đặc biệt là Ấn Độ giáo[2], Phật giáo và Hồi giáo, đã từng có những kinh nghiệm gặp gỡ với Đấng Tuyệt Đối, và kinh nghiệm được Đấng Toàn Hảo hấp dẫn. Một số đông trong họ đã từ bỏ cuộc sống trần tục để cống hiến đời mình cho việc tìm kiếm và kết hợp với Đấng Vô Lượng Vô Biên.

Động thái của họ hàm chứa một nguyên lý chung, hoà hợp với các tu sĩ của mọi tôn giáo: Từ bỏ tất cả để dâng hiến trọn vẹn thân mình cho sự tìm kiếm Đấng Thiêng Liêng. Tu sĩ là con người đi tìm Đấng Tuyệt Đối, cho dầu danh tánh của Người có khác biệt trong truyền thống đan tu như thế nào.

Mạc khải của Kinh Thánh thêm vào sự tìm kiếm này những điều xác định quan trọng: Đấng Tuyệt Đối là một Thiên Chúa cá vị và là Đấng Tạo Hóa. Ngay từ khi Ađam và Evà[3] được nhận biết như là những thụ tạo sống động[4], Thiên Chúa đàm thoại với họ, yêu mến và tôn trọng sự tự do của họ, bởi vì Người mong đợi nơi họ một lời đáp trả của tình yêu đối với Tình Yêu.

Sau đó, qua tiên tri Hô-sê, Thiên Chúa nói với dân Ít-ra-el được Người sánh ví như một người bạn đời yêu thương:

“Ta sẽ đưa “nàng” vào sa mạc, để cùng “nàng” thổ lộ tâm tình”[5].

Các thánh vịnh nói lên niềm khát vọng sâu xa trong tâm hồn con người, là niềm mong ước được kết hiệp thân thương với Thiên Chúa:

“Linh hồn con khát khao Chúa Trời,
là Chúa Trời hằng sống.
Bao giờ con được vào bệ kiến tôn nhan”[6].

“Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,
và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.
Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,
môi miệng con rộn rã khúc hoan ca”[7].

Sau khi dùng các tiên tri để phát ngôn, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”[8], chính là con người Giê-su. Như thế, Chúa Giê-su Ki-tô đã làm nên chiếc cầu bắt qua vực thẳm, giữa con người và Đấng Tuyệt Đối Khôn Tả, trong phạm vi ý tưởng cũng như lời nói, là những giới hạn ngăn cách con người với Thiên Chúa. Người đã nói bằng những lời lẽ của chúng ta về những chân lý của Thiên Chúa. Người đã mở ra cho chúng ta sự nhận biết Đấng Vô Biên, vì Người là con đường và là mẫu gương cho những ai muốn thực hiện sự kết hiệp với Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng chứng tỏ rằng, để thực hiện sự kết hiệp này, tâm hồn con người cần phải được tự do đối với những gì thuộc về thế gian: Người đi vào nơi thanh vắng để cầu nguyện[9], kêu mời các môn đệ rời bỏ gia đình, không dính bén với của cải để đi theo Người[10], và cùng với Người tham dự vào mầu nhiệm hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa:

“Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta […] để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con”[11].

Ước ao kết hợp với Thiên Chúa đã dẫn đưa một số môn đệ từ bỏ tất cả và cống hiến cuộc đời mình cho sự hiệp nhất sâu xa và mật thiết với Thiên Chúa. Cuộc sống mai ẩn của thánh Gioan Tẩy Giả và đời sống cộng đoàn trong sách Công vụ Tông Đồ[12] là những mẫu gương được các tín hữu nhiệt thành theo đuổi ngay từ thời kỳ sơ khai của Giáo Hội.

Vào giữa thế kỷ III, nền tu đức và trinh nữ thánh hiến phát triển thành những trào lưu vững mạnh, tỏa sáng trên toàn thể Giáo Hội. Các nền tu đức ấy mặc lấy hình thức của đời sống đan tu đúng tiêu chuẩn và được hướng dẫn bởi các bậc thánh nhân như Antôn, Pacôme, Basiliô và Augustinô.

Thánh Biển Đức đã tổng hợp những truyền thống này. Ngài làm nổi bật ơn đoàn sủng dành cho những ai “thực tâm tìm Chúa […] với lòng kính mến và theo gương Chúa”[13]. Theo Tu Luật thánh Biển Đức, tìm kiếm Thiên Chúa là yếu tố chính yếu và đặc trưng của lý tưởng đời sống đan tu. Trong tất cả mọi trường hợp, nó đòi hỏi các đan sĩ trước tiên phải tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, bởi vì trong niềm tin, tu sĩ biết rằng Người luôn mong muốn những điều tốt lành và hạnh phúc cho họ. Sự chắc chắn này làm họ đầy tin tưởng, bình an, và can đảm để dấn thân.

2 – Một thái độ nội tâm

Khi đi tìm ý muốn của Thiên Chúa, đan sĩ nhận ra thánh ý Người nơi lương tâm của mình, điều này giúp họ phân biệt được điều thiện và điều ác. Đồng thời, họ cũng tìm gặp lương tâm của mình nơi Kinh Thánh, được các giáo phụ truyền thống đan tu giải thích.

Vâng lời từ tận đáy tâm hồn

Những lời đầu tiên của Tu Luật kêu mời đan sĩ một thái độ lắng nghe từ trong tâm hồn, lời của Chúa được truyền đạt qua viện phụ:

“Con ơi, lắng nghe lời thầy dạy, ghé tai lòng con mà thuận tình đón nhận lời Cha Hiền khuyên nhủ và thực hiện cho bằng được”[14].

Sự lắng nghe của môn đệ được đặt căn bản trên thái độ của niềm tin thâm sâu: thiện chí, cởi mở, và lòng quảng đại đáp trả lại tình yêu của Thiên Chúa đối với họ. Sự ưu ái lắng nghe và quảng đại đáp trả là thái độ đặc trưng của đan sĩ chân thành đi tìm Thiên Chúa. Trong Tu Luật, thánh Biển Đức cố gắng khai triển điều này và đặt nó trong mọi hoàn cảnh:

“Vậy giờ đây cha nói con nghe, dù con là ai, mà đã đoạn tuyệt với ý riêng, mang lấy khí giới mạnh mẽ oai hùng của đức vâng phục để chiến đấu cho Chúa Ki-tô, Vua chân thật”[15].

Khí giới của đức vâng phục thì mạnh mẽ và oai hùng vì nó được Chúa Ki-tô trang bị và giúp cho đan sĩ đạt đến chiến thắng vinh quang trên sự dữ.

Vâng phục lẫn nhau và vâng phục bề trên là bảng trắc nghiệm để kiểm chứng đan sĩ xem họ có thật sự đặt tâm tình của mình hoàn toàn hòa hợp với ý muốn của Thiên Chúa hay không. Đan sĩ sẽ sống phù hợp với gương mẫu của Chúa Ki-tô khi từ bỏ ý riêng mình, là những gì ích kỷ và đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa. Người nào chân thành tìm kiếm Thiên Chúa, sẽ “xa lánh việc đời và không quí gì hơn lòng mến Chúa Ki-tô”[16]. Lời khấn vâng lời đối với thánh Biển Đức là một hành vi nối kết họ với Đức Ki-tô.

Cùng với đức vâng phục, ngài đòi hỏi các đan sĩ khấn hứa canh tân đời sống, nghĩa là theo đuổi một cuộc sống phù hợp với nếp sống và các tục lệ của đan viện. Họ cũng xác quyết việc theo Chúa Ki-tô bằng các lời khấn khó nghèo và khiết tịnh. Cũng như đối với đức vâng phục, thánh Biển Đức quan tâm và chú trọng đến những thái độ tinh thần trong những lời khấn này.

Không dính bén với của cải

Tu viện là nhà của Chúa. Tất cả những gì trong đó đều thuộc về Người, và phải được coi như là “bình thánh trên bàn thờ”[17]. Tất cả phải được quí trọng và chăm sóc kỹ càng. Hơn thế nữa, không ai được “giữ riêng vật gì […], vì ngay cả đến bản thân và ý muốn cũng không còn quyền làm chủ nữa”[18]. Coi vật gì đó là của riêng mình, muốn hưởng thụ và định đoạt nó theo ý của mình là “tật xấu rất độc hại”[19]. Thánh Biển Đức liên kết sự dính bén của cải vật chất với ý riêng, là những gì trong tâm hồn đối lập với Thiên Chúa và muốn chiếm lấy vị trí của Người[20]. Ngài không chú ý đến số lượng của cải mà đan sĩ hay đan viện sở hữu tùy theo khả năng có thể, mà chỉ muốn rằng các tâm hồn hoàn toàn thuộc về Chúa và luôn luôn sẵn sàng dành tất cả mọi sự cho Người. Tuy nhiên, Tu Luật cũng qui định “phân phát cho ai nấy tùy theo nhu cầu của họ, […] như thế mọi phần tử đều sống trong an bình”[21]. Về phần đan sĩ, ngài mong họ đừng tìm thu tích của cải, nhưng tránh đừng làm phiền xã hội và làm sao để có thể “nâng đỡ người nghèo”[22].

Quy hướng mọi khả năng yêu mến hướng về Thiên Chúa

Tu luật căn dặn điều này trước tiên: “Hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực. Thứ đến, hãy thương yêu người thân cận như chính mình”[23]. Hai thứ tình yêu này bổ túc và hổ trợ cho nhau. Chương bảy mươi hai của Tu Luật nói về “sự nhiệt thành tốt lành”, liên kết lòng yêu thương nồng nhiệt với cả hai đối tượng, là “yêu thương anh em”, dầu cho họ có lầm lỗi, với “yêu thương viện phụ và Chúa Kitô”. Với tâm lòng của Chúa Ki-tô, đan sĩ “yêu thương nhau trong tình huynh đệ thanh khiết […] không chạy theo tư lợi, nhưng tốt hơn hãy mưu ích cho tha nhân”[24]. Sự dâng hiến tình yêu cho Chúa Ki-tô được củng cố và kiểm soát bởi tình thân thiết với Người trong cầu nguyện và bác ái huynh đệ. Nó cũng được bảo vệ bởi sự tuyên thệ một cách công khai các lời khấn, ghi khắc ơn dâng hiến trong đời sống Giáo Hội và xã hội.

Tìm kiếm Thiên Chúa một cách chân thành, đó là yêu mến Người hơn tất cả những tính toán, ích kỷ. Đan sĩ, một khi đã được thanh luyện như thế, có thể gặp Thiên Chúa trong niềm vui, Đấng đang chờ đợi họ:

“Khi các con đã thực thi các điều ấy, thì mắt Cha hằng dõi theo các con, tai Cha hằng lắng nghe các con khẩn nguyện, và ngay khi các con chưa kịp kêu cầu thì Cha đã bảo: “Có Cha đây”. Anh em rất thân mến, còn gì ngọt ngào hơn lời Chúa mời gọi chúng ta như thế? Này đây với tất cả lòng ưu ái, Chúa chỉ cho chúng ta con đường dẫn tới sự sống […], con đường cứu độ, gian nan ngay từ khi bước vào. Nhưng một khi đã tiến bộ trong đời tu và Đức Tin, một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên đường giới răn Thiên Chúa”[25].

3 – Tác động trên cơ cấu

Ước ao tìm kiếm Thiên Chúa trên hết mọi sự còn nói lên một khía cạnh khác trong đời sống của các tu sĩ Biển Đức. […][26]

Đời sống trong đan viện là sự đan xen giữa lao động và cầu nguyện, cho phép các đan sĩ thực hành sự tìm Chúa qua những phương thế khác nhau và bổ túc cho nhau. Các thành viên của đan viện được giao phó làm những công việc khác nhau tùy theo khả năng thích hợp[27]. Sự thay đổi công việc, không làm thay đổi ơn gọi của họ. Vì điều cốt yếu không hệ tại nơi công việc, nhưng hệ tại ở điều khác. Điều quan trọng đối với đan sĩ không phải là loại công việc cần phải chu toàn, nhưng là ước muốn được kết hiệp với Thiên Chúa và vâng theo ý muốn của Người khi chu toàn công việc. Con cái của thánh Biển Đức khác với các dòng khác, là những dòng chuyên về một công việc đặc thù nào đó để phục vụ Giáo Hội.

 II. CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

1 – Truyền thống

Châm ngôn của tu trào Biển Đức “Ora et Labora” (cầu nguyện và lao động) nhắc cho chúng ta nhớ rằng, đối với các đan sĩ Ki-tô giáo thời ban đầu, cầu nguyện và làm việc không được tách rời nhau. Có chuyện kể về thánh Antôn, tổ phụ của các đan sĩ Ki-tô giáo:

“Người chuyên chăm lao động bằng đôi tay của mình, bởi lẽ người đã nghe nói rằng: “Người nào không làm thì đừng ăn”. Một phần thành quả của công việc đem lại dùng để mua lương thực nuôi sống mình, phần còn lại để trợ giúp cho người nghèo. Người cầu nguyện liên lỉ vì người đã học biết rằng “chúng ta phải cầu nguyện không ngừng””[28].

Thánh Pacôme đã nhận được lời giáo huấn nơi sư phụ của ngài là linh phụ Palamon:

“Quy luật của đời sống đan tu, như chúng tôi đã học biết nơi các vị tiền nhiệm của chúng ta là: […] chúng ta làm việc cho nhu cầu vật chất của mình, và tất cả những gì không cần đến, chúng ta cho người nghèo. […] Riêng về việc cầu nguyện […]. Đây là sự đòi hỏi đối với chúng ta là cầu nguyện không ngừng, bởi vì có lời chép rằng: “Ai trong các con có điều gì cần kíp, hãy cầu nguyện ” […] Đúng vậy, cầu nguyện là mẹ mọi nhân đức”[29].

Lời cầu nguyện của các linh phụ lan tỏa trên toàn thể Giáo Hội. Thánh Antôn thi hành như thế vì các nhu cầu của tất cả những người có liên quan đến ngài, vì ngài “như là một lương y mà Thiên Chúa đã ban cho nước Ai Cập” [30].

Cũng thế, thánh Pacôme đã cầu nguyện cho “toàn thể thế giới […] cho các đan sĩ và cho các trinh nữ […] cho những ai sống trong bậc vợ chồng […] cho các vị vua chúa, các công dân […] và cho hàng giáo sĩ. Cứ như thế, ngài cầu nguyện cho tất cả mọi người”[31].

Lời Chúa Giê-su căn dặn được thánh Phaolô nhắc lại: phải cầu nguyện luôn luôn trong mọi lúc, và cầu nguyện liên lỉ[32]. Lời này nói lên cho tất cả mọi Ki-tô hữu, mỗi người phải đáp trả lại tùy theo điều kiện ơn gọi của mình. Truyền thống đan tu cống hiến những phương thế chuyên biệt để thực hiện điều này: cầu nguyện chung trong ca tòa, cầu nguyện riêng và lectio divina[33].

2 – Cầu nguyện chung và thần vụ

Để chu toàn lời khuyên của Phúc Âm, các đan sĩ thời xưa đọc các thánh vịnh và các đoạn văn khác nhau của Kinh Thánh. Trong khi đọc, tay vẫn đan bện dây thừng, hay đan kết các rỗ rá, thúng mủng. Nếu như phải tách rời công việc với việc đọc Kinh Thánh, họ làm theo cách của người Do Thái mà các Tông Đồ đã thích ứng. Họ hợp nhau vào ban sáng hay ban chiều lâu giờ, còn các buổi cầu nguyện ban trưa (sextus) hay sau ban trưa (nona) thì vắn tắt hơn. Các buổi cầu nguyện khác được thêm vào sau này. Số lần và cách thức cầu nguyện thay đổi tùy theo từng thời đại và địa phương. Thói quen thông thường của các đan sĩ là cầu nguyện mỗi ngày bảy lần, bởi vì theo Kinh Thánh và truyền thống của Do Thái giáo, số bảy tượng trưng cho sự tròn đầy. Cầu nguyện bảy lần một ngày có nghĩa là cầu nguyện không ngừng.

Thánh Biển Đức đi vào trong truyền thống này khi ngài nói rằng: “Chúng ta sẽ thực hiện cho đủ con số 7 thánh thiện đó”[34], bằng cách đọc kinh thần vụ vào các giờ khác nhau trong một ngày. Ngài xếp đặt các giờ kinh thần vụ cho các thời khắc khác nhau trong ngày khi các công việc thay đổi, để dâng lên Thiên Chúa những gì vừa hoàn thành, và phó thác cho Người những gì sắp sửa thi hành. Sự phân phối các giờ kinh không hề mang tính cách cơ cấu cứng nhắc, nhưng đây là một bộ khung uyển chuyển và linh động, thích ứng với tứ thời bát tiết và công việc, cũng như thích ứng với khả năng của cộng đoàn. Sự mềm dẻo nhằm giúp tất cả các đan sĩ có thể tham gia các giờ kinh thần vụ, bởi vì “đừng lấy gì làm hơn việc Chúa”[35].

Tu Luật cũng tỏ ra mềm dẻo như thế đối với nội dung của kinh thần vụ, và lưu tâm đến những nhu cầu và sở thích của cộng đoàn. Các yếu tố thời hiệu được đưa vào thần vụ như phụng vụ của Giáo hội Roma, Milano, hay Phương Đông. Điều mà thánh Biển Đức lưu tâm hơn cả là làm sao giúp cho việc cầu nguyện được sốt sắng.

Các thánh vịnh chiếm vị trí quan trọng trong thần vụ; truyền thống nêu lên hai cách bổ túc cho nhau trong công việc cầu nguyện bằng Thánh Vịnh. Tu Luật coi chúng như là những lời của chính Chúa Ki-tô[36]. Khi đọc Thánh Vịnh, người ta có thể nghe đó như chính lời của Chúa, nhận lấy chúng như là lời của miệng Người thốt ra. Ngài để lại ánh sáng, do đó, họ tìm gặp được sự an ủi, và nơi nương tựa. Vả lại, theo như Cassiano[37], thánh Biển Đức kêu mời các đan sĩ “ca vịnh với sự khôn ngoan”, nghĩa là tham dự vào lời cầu nguyện của vịnh gia với những tâm tình của chính Chúa Ki-tô. Đây là những gì Tu Luật nói lên: “Chúng ta hãy hát Thần Vụ thế nào cho tâm trí hòa hợp với lời ca”[38].

Như thế, Thánh Vịnh trở nên một lời cầu nguyện, trong đó, lời kinh của chúng ta được đồng hóa với chính lời Kinh Thánh.

Cho dầu cầu nguyện theo phương pháp nào, điều quan trọng là nhận ra trong thần vụ, những lời đến từ Thiên Chúa và có khả năng đụng chạm đến tâm hồn. Những giây phút thinh lặng thường có giữa các thánh vịnh cho phép chúng ta lưu lại để suy niệm. Nếu như trong lúc ca vịnh, đan sĩ cố gắng lắng nghe lời Chúa, họ tìm gặp nơi đây câu trả lời cho những vấn đề riêng tư của họ. Các nhà thần bí, con cái của thánh Biển Đức, như thánh nữ Gertrude và thánh Benadô đã kín múc được nơi những bản văn phụng vụ nguồn mạch cho đời sống chiêm niệm.

Tuy nhiên, đối với thánh Biển Đức, thần vụ không chỉ là một phương thế để cầu nguyện liên lỉ, đó cũng là nơi biểu lộ tình hợp nhất huynh đệ của công đoàn. Các thành phần đan viện khi cùng với triều thần thiên quốc ca hát chúc tụng Chúa Ki-tô, chính là lúc họ cùng với Người ôm trọn thế giới dâng lên cho Thiên Chúa. Nhiệm vụ này, Giáo Hội đã trao phó cho họ như là một “bổn phận phượng thờ”[39] mà các con trai con gái của thánh Biển Đức cần phải chu toàn luôn mãi.

Sự cầu nguyện chung nơi ca tòa có liên quan mật thiết với phụng vụ. Bí tích Thánh Thể liên kết cộng đoàn và các tín hữu trong sự tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Vẻ đẹp và bầu khí cầu nguyện trong thánh lễ vẫn luôn là những truyền thống mật thiết nhất của con cái thánh Biển Đức. Vào thời của ngài, thánh lễ chỉ được cử hành trong các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng. Hiện thời, những đan viện không thể có thánh lễ mỗi ngày, nhưng sự rước lễ hằng ngày, điều đã được thực hành từ thời thánh Biển Đức, là một thói quen có nguồn gốc ngay từ những cuộc bách hại thời đầu và thời của các linh phụ sa mạc. Các bản văn phụng vụ tiếp tục nói với chúng ta rằng: Thánh lễ “thanh tẩy, nâng đỡ và cho phép các tín hữu tham dự vào đời sống của Chúa Ki-tô và củng cố sự hiệp nhất giữa các thành phần trong Giáo Hội”[40]. Linh đạo của thánh Biển Đức đặt căn bản trên mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, được trình bày trong phụng vụ, nó khác với các dòng tu hiện tại, họ nhận được sự linh hứng khi sùng mộ đối với một mầu nhiệm riêng biệt nào đó của Chúa Ki-tô.

3 – Cầu nguyện riêng tư

Theo gương Chúa Ki-tô, các đan sĩ rút lui vào nơi cô tịch để cầu nguyện. Khi họ sống đơn độc, họ lặp lại trong tâm trí những câu Kinh Thánh. Thánh Pacôme yêu cầu các môn sinh của ngài thi hành như thế khi họ di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Tu Luật của thánh Basiliô cũng dạy làm như thế khi thi hành công việc lao động. Điều này được xem như là thời khắc suy niệm.

Đối với thánh Biển Đức, sự cầu nguyện riêng tư phát sinh từ việc cử hành thần vụ:

“Giờ thần vụ vừa xong, mọi người triệt để im lặng đi ra […] Còn những lúc khác, ai muốn cầu nguyện âm thầm một mình, cứ đơn sơ vào cầu nguyện. Không lớn tiếng om sòm, nhưng với nước mắt và lòng thành”[41].

Sự cầu nguyện không được ngẫu nhiên. Thánh Biển Đức đòi hỏi phải có sự chuẩn bị qua việc sửa soạn cho tâm hồn mình một thái độ “khiêm tốn và cung kính”, trước sự hiện diện của Thiên Chúa, “Chủ Tể càn khôn”[42], Đấng mà chúng ta dâng lên Người những lời khẩn cầu. Để cầu nguyện, người ta không cần phải dài dòng, nhưng “lòng hằng thầm thĩ”[43] những lời làm xúc động tâm can. Những lời này được ghi khắc vào trí nhớ, được lặp đi lặp lại mỗi ngày và gìn giữ trí lòng hợp nhất với Chúa. Thánh Biển Đức tóm tắt điều này trong vài tiếng:

“Cầu nguyện với nước mắt và lòng thành […] Lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu”[44].

4 – Lectio Divina—Đọc Sách Thánh

Ngoài sự cầu nguyện chung hay riêng tư, và lao động, thánh Biển Đức còn tiên liệu cho đan sĩ một thời gian đáng kể để cống hiến cho việc đọc Sách Thánh. Việc này chủ yếu nhắm đến việc chiêm niệm. Sự thực hành này vốn đã có qua mọi thời đại, và nhất là trong thời kỳ các linh phụ sa mạc. Nhưng nó trở thành một phương pháp với các giai đoạn “đọc, suy tư và chiêm niệm”, được diễn tả ra bởi tôn sư Ấn Độ, Shankara. Sau này, người ta gặp thấy nó nơi các tôn giáo khác, cũng như nơi các tu sĩ Phật giáo Tibétain, hay nơi Do Thái giáo.

Phương pháp này được tìm thấy lại cách trực giác[45] vào thế kỷ XII, bởi đan sĩ Ki-tô giáo Guigues le Chartreux. Guigues so sánh tiến trình đọc Sách Thánh với tiến trình nhai lại[46] của một con vật. Trước tiên là đọc một cách chăm chỉ, chú ý đến những đoạn sách đánh động tâm hồn, giống như con vật ngửi mùi để phát hiện ra loại cỏ nào tốt, loại nào ngon. Những đoạn văn được đọc như thế sẽ đi vào “bao tử” của trí nhớ và sau đó được “nhai lại”, nghĩa là nghiền ngẫm, suy tư và lặp đi lặp lại một cách âm thầm trong tâm trí.

Sự suy tư này giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa thần học và cho thấy phải ứng dụng như thế nào phù hợp với tình trạng của người đọc. Sự nhai lại cho phép người đọc cảm thấy được mùi vị thơm ngon thiêng liêng của bản văn nằm dưới những từ ngữ và hình ảnh của bản văn đó. Kết quả của kinh nghiệm này được gìn giữ trong lòng, được chiêm ngắm và thấm nhập vào trong tâm hồn, giống như con vật nhai lại và tiêu hóa loại cỏ mà nó đã ăn trước đó.

Khoảng giữa của việc đọc sách và chiêm niệm, Guigues kêu mời xen vào đó lời cầu nguyện. Bởi vì, người ta không thể đi từ việc suy tư trong tâm trí để đạt đến kinh nghiệm thiêng thiêng của việc cầu nguyện, mà không cần đến ơn thánh trợ giúp. Nhưng toàn bộ tiến trình đọc Sách Thánh được thành toàn bởi sự quy chiếu liên tục về Thiên Chúa, Đấng ban ánh sáng và sự nâng đỡ trong mọi lúc.

Đọc, suy niệm, cầu nguyện, chiêm niệm (lectio, meditatio, oratio, contemplatio) bốn giai đoạn bổ túc cho nhau, chúng đem lại lương thực thiêng liêng cho những mức độ khác nhau của tâm hồn con người, cho các giác quan, cũng như cho lý trí, và làm cho chúng cùng nhau đi tìm Thiên Chúa. Sự hòa hợp này sẽ đem đến một trực giác, một thứ linh cảm, vượt qua những từ ngữ và biến đổi thành một cái nhìn giản đơn, một sự chú ý yêu mến đối với sự hiện diện của Thiên Chúa. Sự kết hợp với Thiên Chúa vượt trên những tưởng tượng và lời nói, bao hàm nhiều cấp độ khác nhau được các nhà thần bí biết đến và diễn tả ra. Phương pháp đọc sách thiêng liêng là một sự trợ giúp lớn lao để đạt tới sự cầu nguyện liên tục. Đây cũng là một trong những gương mặt chính yếu của linh đạo đan tu.

 

III. LÀM VIỆC

1 – Truyền thống

Một sự lựa chọn, phẩm giá của lao động

Từ thuở nguyên sơ, nền đan tu Ki-tô giáo đã do dự giữa việc hành khất và lao động. Tin Mừng khen ngợi cả hai làm việc và phó thác cho sự quan phòng của Chúa. Tin tưởng vào Chúa có thể được diễn tả ra bởi việc hành khất, nó cũng được phần lớn các nền đan tu của các tôn giáo khác thi hành. Nhưng rất nhanh, các đan sĩ Ki-tô giáo đã chọn làm việc để nuôi sống mình, nhằm tránh trở nên gánh nặng cho người khác và có thể thực thi bác ái. Làm việc bằng chính đôi tay mình cũng là một phản ứng chống lại sự khinh miệt lao động, khi nghĩ rằng nó chỉ dành cho người nô lệ.

Thánh Phaolô đi trong chiều hướng này, ngài luôn luôn hãnh diện được giúp đỡ cho người nghèo và cho các cộng sự viên của mình bằng hoa lợi do chính tay ngài làm ra. Ngài kêu mời các tín hữu noi gương ngài:

“Chính anh em biết rõ: những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận”[47].

Ngay từ đầu, các đan sĩ đã tâm đắc với việc bổn phận này. Đối với thánh Antôn làm việc là một thành phần cốt yếu của cuộc sống tu trì trong sa mạc:

“Ngài lao động bằng chính đôi tay của người, bởi vì người đã nghe nói: “Ai không làm việc, thì đừng ăn”. Ngài dùng một phần hoa lợi để mua thực phẩm, còn phần còn lại được chia sẻ cho những người cần được giúp đỡ”[48].

Linh phụ Palamon cũng khuyên bảo như thế cho tu sĩ trẻ tuổi Pacôme khi người này hỏi về đời sống đan tu [49]. Đối với những đan sĩ này, lao động và cầu nguyện nâng đỡ cho nhau.

Một phương thế để cầu nguyện

Ông Cassianô kể lại rằng:

“Các ẩn sĩ tu trì trong nước Ai Cập không bao giờ ở nhàn rỗi. Họ liều lượng những thái độ của tâm hồn và những tiến bộ của họ trong nhẫn nại và khiêm tốn nhiệt thành làm việc”[50].

Sau những khoảng thời giờ lâu dài trong cô tịch suy niệm, một công việc đơn giản như đan lát rỗ rá, thúng mủng hay đan bện những sợi dây thừng sẽ giúp họ tránh được những sự lo ra chia trí. Làm việc như thế chính là một “chiếc neo để cố định các tư tưởng”[51].

Thánh Basiliô giải thích:

“Trong khi đôi bàn tay chúng tôi bị bận rộn, môi miệng chúng tôi […] hay ít ra tâm hồn chúng tôi có thể ngợi khen Thiên Chúa. Như thế, chúng tôi chu toàn bổn phận cầu nguyện trong khi vẫn làm việc. Bằng cách thức này, chúng tôi cám ơn Chúa đã cho chúng tôi đôi bàn tay khéo léo, cho tâm trí khả năng tri thức và cung cấp nguyên liệu để lao động. Cuối cùng chúng tôi cầu xin cho việc làm được đẹp lòng Chúa”[52].

Ở miền bắc Châu Phi, thánh Augustinô nhắc nhở các đan sĩ rằng họ phải tự nuôi sống mình và không trở nên gánh nặng cho người khác [53].

Nhưng còn đi xa hơn, đan sĩ của các nơi khác đã làm việc vì bác ái, để giúp đỡ người nghèo. Lịch sử cho biết rằng ngay các đan viện tiên khởi đã nâng đỡ cho những trung tâm tiếp đón và các bệnh viện trong thành phố. Các đan viện của Ai Cập đã gởi những chuyến tàu chở lúa mì cung cấp cho những miền bị nạn đói kém hoành hành.

2 – Thánh Biển Đức

Thánh Biển Đức là tiếng vang cho toàn thể truyền thống đan tu khi ngài viết lên:

“Chỉ khi nào ta sống bằng thành quả lao động của mình như các tổ phụ và như các tông đồ, khi ấy chúng ta mới thật là đan sĩ”[54].

Như các vị tiền nhiệm, ngài bảo tồn những tầm quan trọng của công việc. Trước tiên là đức bác ái, nhân đức này gợi lên trong chúng ta sự lo ngại trở nên gánh nặng cho người khác. Tu Luật chứng tỏ rằng ngài có một sự ưu tư thường xuyên cho người nghèo; người canh cổng và vị quản lý có bổn phận phải giúp đỡ cho họ. Chính thánh Biển Đức trong thời kỳ đói kém đã không ngần ngại cho họ bình dầu ăn cuối cùng của cộng đoàn. Vào thời đại của chúng ta, các tu viện muốn noi theo thánh Biển Đức, và trong những xứ nghèo khó, họ cố gắng hoạt động làm sao để đem lại ích lợi cho người và cho môi trường chung quanh họ.

Đức bác ái được thực thi bên trong cũng như bên ngoài đan viện. Các đan sĩ làm việc theo từng nhóm để phục vụ cộng đoàn. Thánh Biển Đức khuyên bảo anh em trong cộng đoàn hãy giúp đỡ lẫn nhau:

“Đối với những anh em yếu sức, hãy cho người phụ giúp để họ chu toàn công tác mà không buồn phiền; vậy mọi người đều được phụ giúp, tùy tình trạng cộng đoàn và hoàn cảnh địa phương”[55].

Tất cả mọi người phải có tâm hồn tự do để ngợi khen Chúa cách tự nhiên trong lúc làm việc, và để chu toàn công tác của mình với sự hớn hở vui tươi.

Một đường lối tu đức

Thánh Biển Đức thấy trước rằng những công việc đồng áng, khí hậu oi bức và nghèo khổ có thể làm cho công việc trở nên nặng nhọc. Người kêu mời đan sĩ hãy chịu đựng những sự khó khăn này với lòng quảng đại, đồng thời hãy “chúc tụng Chúa và đừng phàn nàn”[56].

Lao động trở nên một thứ tu đức giúp phát triển các nhân đức, thí dụ như đức khiêm tốn, quảng đại, vâng phục, từ bỏ và tinh tuyền trong tâm hồn. Đó cũng là một phương pháp tốt đẹp và hữu ích để chống lại một vài cám dỗ như sự buồn phiền và thối chí nản lòng.

Khi thông phần với người nghèo trong gánh nặng của lao động nuôi sống mình từng ngày, đan sĩ tìm gặp được một trong những cơ hội tốt nhất để hiệp thông với họ. Điều này cho phép các đan sĩ dâng lên Thiên Chúa tất cả sự đau khổ của nhân loại để cầu xin ơn tha tội cho thế giới.

Lao động vì Chúa

Công việc của đời sống đan tu có thể là lao động tay chân hay tinh thần, tùy theo nhu cầu địa phương và khả năng cá nhân. Nhưng nó luôn luôn bao hàm sự quý trọng đối với những dụng cụ nói chung: những dụng cụ dùng trong nhà bếp, hay những tác phẩm nghệ thuật, triết học. Người ta đối xử như thế không những vì giá trị vật chất của chúng, nhưng còn vì đối với tình yêu Thiên Chúa, bởi tất cả đều thuộc về Người. Tất cả mọi sự phải ca ngợi vinh quang Thiên Chúa qua việc chăm chút của đan sĩ khi sử dụng các dụng cụ.

Sự ước ao đạt đến đỉnh cao trọn lành trong tình yêu của Chúa đã dẫn đưa các “anh em thạo nghề trong đan viện”[57] trở thành những nghệ sĩ, kỹ thuật viên và kỹ sư. Sự đóng góp của họ cho việc kiến tạo nền văn minh của Âu Châu thật là lớn lao. Hiện nay trên toàn thế giới, những con cái của thánh Biển Đức vẫn ân cần như thế, để nỗ lực làm thăng hoa cho nền văn hóa của địa phương.

Nhưng lao động cũng có những sự nguy hiểm của nó. Làm việc thiếu chừng mực có thể trở nên một căn cớ cho sự phân tâm và sự tục hóa. Đây là hai yêu tố rất nguy hại cho đời sống đan tu. Nó cũng có thể trở nên như một thứ á phiện, làm cho người ta trốn tránh các việc bổn phận khác và làm cho họ trở nên cô lập đối với cộng đoàn. Chính vì thế mà Tu Luật nhấn mạnh đến sự “cẩn trọng”[58] (điều độ chính xác). Điều này đòi hỏi phải có một sự quân bình giữa lao động, cầu nguyện, học hành và nghỉ ngơi, hầu cho các đan sĩ có thể gìn giữ được sự bình an trong tâm hồn và sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tất cả những hoạt động này đều đưa đến một mục đích: chúng đóng góp để làm cho đan việc trở nên nhà của Thiên Chúa, nơi mà đan sĩ gặp gỡ, nhận biết, tôn thờ, yêu mến Người, và trong một mức độ nào đó, họ chiếm ngắm Người trong hạnh phúc của sự chiêm niệm.

Cuối cùng, chúng ta cũng phải lưu ý rằng lao động không phải là cách duy nhất để tôn thờ Thiên Chúa. Khi những hoàn cảnh xã hội thay đổi, sự tín thác vào Thiên Chúa và không dính bén với trần gian, được diễn tả ra bởi việc hành khất, được lấy lại bởi thánh Phan-xi-cô khó nghèo và “dòng hành khất”. Các ơn đoàn sủng khác nhau này làm nên sự phong phú và đa dạng của Giáo Hội.

III. SỰ THINH LẶNG

Kiểm soát lời nói và tư tưởng

1 – Truyền thống

Sự thinh lặng và kiểm soát tư tưởng là những quy luật[59] của đời sống đan tu mà người ta gặp thấy nơi nhiều tôn giáo khác. Tập sinh của Ấn Độ giáo học biết cách gìn giữ “ngôn từ được thanh luyện trong sự thật và gìn giữ tâm trí được tinh tuyền”[60]. Họ phải chịu đựng những sỉ nhục mà không được phản kháng lại, phải kiểm soát cơn nóng giận của mình, và hài lòng trong sự hiện diện của Đức Chúa, Đấng ngự trị trong tâm hồn của họ.

Nơi các tu sĩ Phật giáo, việc thuộc về một cộng đoàn sẽ dẫn đưa tu sĩ vào bầu khí thinh lặng, yên tĩnh và trật tự của tu viện. Họ phải coi đó như là một điều kiện cần thiết để đạt tới cô tịch nội tâm của sự thiền định.

Chúa Giê-su thường đi lên núi để cầu nguyện. Noi gương Người, thánh Antôn và các linh phụ của sa mạc rút vào trong cô tịch để kết hợp cách mãnh liệt hơn với Thiên Chúa.

Thánh Pacôme thiết lập các cộng đoàn của ngài trong làng mạc bị bỏ hoang. Đối với ngài và các môn đệ, làm chủ tư tưởng và ngôn ngữ sẽ dẫn đưa họ đến sự yên tĩnh tràn đầy bởi sự nhớ tưởng đến những lời Kinh Thánh. Sự suy tư về lời Chúa được nối dài bằng sự chiêm niệm thinh lặng và cũng bằng lời nói, mà hiệu quả là đem lại ơn thánh và ơn tha thứ của Chúa. Nhờ đó, họ xây dựng được mối tương quan của tình yêu, của sự hiệp thông (Koinonia), và dẫn đưa họ đến với Thiên Chúa.

Đối với thánh Basiliô, thinh lặng là bầu khí thường xuyên của đan viện. Ngay từ lúc bước chân vào đó, tập sinh đã phải có nó rồi. Nhiều khoản luật trong Tu Luật Toát Yếu[61] của ngài lên án thói quen hay nói, những lời nói lỗi phạm đến đức ái và những tiếng cười ầm ĩ. Nhưng luật cũng cho phép những nụ cười nhẹ nhàng vui tươi, như dấu chỉ của bình an và tự chủ trong tâm hồn.

Cassianô phân biệt sự thinh lặng thánh đức với sự thinh lặng xấu xa. Sự thinh lặng thánh đức nói lên lòng kính sợ Thiên Chúa. Nó tạo ra một bầu khí hồi tâm thuận lợi cho việc lắng nghe Thiên Chúa và người khác. Trái lại, sự thinh lặng xấu xa biểu lộ cơn giận dai dẳng của một ai đó: người này từ chối hiệp thông với người khác. Hậu quả của nó là sự cay đắng, buồn phiền và chạy trốn trách nhiệm.

Thánh Augustinô trong những bài chú giải Kinh Thánh, đã cho thấy sự thinh lặng chân thật của Ki-tô giáo là lưu trú trong Lời Chúa. Nó nuôi dưỡng tâm hồn và biến đổi con người nên giống hình ảnh của Chúa Ki-tô. Để làm nên chuyện này, một cách tiệm tiến con người cần phải tập sống thinh lặng và trở nên “nhà tạm nội tâm, một cung điện cho Thiên Chúa”[62].

2 – Thánh Biển Đức

Thánh Biển Đức thấu hiểu giáo huấn của các vị tiền nhiệm để kế thừa tất cả truyền thống Ki-tô giáo. Người ta thấy nơi ngài việc kiểm soát tư tưởng cần thiết như thế nào cho việc cầu nguyện, nhưng ngài cũng coi trọng không kém việc kiểm soát miệng lưỡi. Chỉ trong một đoạn của Lời mở mà ngài đã trích hai lần câu “lưỡi con chớ nói lời xằng bậy và môi con chớ thốt lời gian dối”[63] như là điều kiện để sống với Thiên Chúa. Ngài dùng tiếng La Tinh taciturnitas để nói về sự thinh lặng, với ý nghĩa là làm chủ lời nói để giúp đan sĩ tránh “những chuyện hư từ” và “đôi khi phải làm thinh cả những lời lành”[64].

Giống như các vị tiền nhiệm, thánh Biển Đức xác định thời gian và không gian phải giữ thinh lặng: ban đêm, sau khi cử hành thần vụ, nơi và thời gian đọc sách và nghỉ ngơi. Tuy nhiên, đối với thánh Biển Đức, sự thinh lặng không phải là thành phẩm của qui luật chặt chẽ, nhưng đó là kết quả của sự cố gắng làm chủ mình và là thành quả của đức bác ái trong cộng đoàn. Sự nỗ lực này nhằm tạo nên bầu khí bình an và hồi tâm trong đan viện. Tu Luật thánh Biển Đức lên án sự phân tâm và khuyến khích gìn giữ “sự trang nghiêm[65][66], nghĩa là sự đứng đắn và nhã nhặn mà người ta mong chờ nơi đan sĩ. Thái độ này làm nên môi trường cho đức mến phát huy và lòng khoan nhân phát triển, được diễn tả ra bởi lời nói cũng như bởi sự thinh lặng, tuỳ theo hoàn cảnh đòi hỏi. Quy luật tối thượng của sự thinh lặng cũng như của lời nói chính là đức ái[67]. Không có đức ái, sự thinh lặng có thể trở nên ích kỷ và cuộn gấp lại nơi chính mình[68].

Trong lãnh vực này, một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của Tu Luật thánh Biển Đức là nhấn mạnh đến sự thực tiễn của “lời nói tốt lành”: Lời giảng dạy của viện phụ phải như “men công chính của Chúa gieo vào tâm trí môn đệ”[69]. Theo gương Chúa, người quản lý phải ăn nói làm sao để “ai nấy khỏi phiền hà mà sinh buồn chán trong nhà Chúa”[70]. Vị này phải hành động như thế nào và ăn nói cách nào để duy trì được bầu khí bình an cho đan viện. Khi ngài không thể làm thỏa mãn nhu cầu người khác đòi hỏi, “ngài phải biết trả lời nhã nhặn, như đã viết: một lời tốt lành hơn quà tặng quý giá”[71]. Cuối cùng khách đến đan viện phải được đón tiếp với lòng bác ái và sự tôn quý, một anh em hãy gặp gỡ họ, nói năng lịch thiệp cho họ được xây dựng[72].

Sự quân bình chính đáng giữa lời nói và thinh lặng phải giúp đỡ các đan sĩ, cũng như khách đến viếng thăm, đạt đến sự tĩnh lặng trong tâm hồn, và theo như Kinh Thánh, có thể biến đổi các tâm hồn và đưa họ lên đến đỉnh cao trong kinh nghiệm khôn tả của sự gặp gỡ với tình yêu của Thiên Chúa[73].

IV. BÌNH AN

1 – Bình an là gì?

Truyền thống

Bình an là đối tượng mà mọi người phải tìm kiếm, cội rễ của nó phải đâm sâu vào những chiều kích sâu thẳm của tâm hồn. Các bậc thánh nhân của các tôn giáo ngày xưa ở Á Đông đã thấy rằng sự thông hiệp với Đấng Tuyệt Đối chính là nguồn mạch của sự bình an. Thánh Augustinô, sau đó là thánh Tôma Aquinô, khi tìm cách để xác định bản chất của sự bình an, đã thấy rằng nó có những nguồn cội sâu xa hơn là sự thanh thản trong tâm hồn, vì sự bình an này vẫn nằm trong lãnh vực của tâm lý. Các ngài định nghĩa bình an như là “sự an bình trong trật tự”[74], bình an giả thiết được dính kết vào trong một trật tự. Trật tự này phải là của Thiên Chúa, hay nói chung cho mọi trường hợp, phải là siêu việt[75], để có thể áp dụng cho mọi người. Các đệ tử của Đức Phật đã cảm nhận được nó khi đặt cuộc sống của người tu sĩ trên “Dharma”, nghĩa là những gì cá nhân phải làm cho phù hợp với trật tự của vũ trụ[76].

Sự năng động của bình an trong Tu Luật thánh Biển Đức

Tu Luật làm phát sinh bình an, bởi vì Tu Luật thường xuyên quy chiếu về một quy chuẩn là gương lành của Chúa Ki-tô. Thánh Biển Đức kêu mời đan sĩ “tiến bước theo Chúa dưới sự hướng dẫn của Tin Mừng”[77] mà đáp lại tiếng Chúa mời gọi[78]. Đan sĩ tìm thấy bình an khi đi theo trật tự của vũ trụ, được điều khiển bởi Đức Ki-tô, vì Người là “Vua chân thật”[79]. Ở đây, chúng ta có một hình ảnh quen thuộc với các giáo phụ Hy Lạp: Chúa Ki-tô là nhạc trưởng của dàn nhạc vũ hoàn[80] để dâng về Thiên Chúa Cha ca khúc tình yêu và ngợi khen[81].

2 – Bình an nội tâm

Bình an nội tâm giả thiết phải có sự tự chủ đối với những phản ứng bộc phát. Người ta chỉ nói đến bình an khi đặt tương quan của nó với những xung đột. Ngay từ những hàng đầu của Tu Luật, thánh Biển Đức trình bày đời sống đan tu như là một công phu, một cuộc chiến chống lại với những cám dỗ, nản chí, bất tuân, lo âu và sợ hãi[82]. Nhưng khi cùng với Chúa Ki-tô để chiến đấu, và chiến đấu cho Người, các môn đệ có thể vui mừng nói lên rằng:

“Vâng lạy Chúa, Ngài đã thử thách chúng con […]. Nhưng trong mọi tình huống đó, chúng con thắng vượt hết, nhờ Đấng đã yêu thương chúng con”[83].

Tu Luật kêu mời chúng ta làm điều nghịch lý này để đạt được sự bình an cho tâm hồn đang chiến đấu “để sửa chữa nết xấu và bảo toàn đức ái”[84].

Phương pháp mà đan sĩ Ki-tô giáo dùng đến, đang được nhiều người chú ý tới, vì nó gần với phương pháp của các tôn giáo khác. Danh sách các dục vọng cần phải kháng cự, nằm trong Chương bốn và Chương bảy của Tu Luật, có thể được tóm tắt như trong tu luật của các tu sĩ Phật giáo[85], gồm tóm lại thành hai điều: xa lánh ước muốn của dục vọng và bạo lực[86]. Kỹ thuật để chiến đấu cũng khá giống nhau, và chúng ta hãy đem ra so sánh để làm sáng tỏ vấn đề.

Một trong những bước đầu trong việc suy niệm của Phật giáo là chú ý đến những hình ảnh, tư tưởng hay những giác quan đi qua tâm trí. Người ta nhìn nó như một người bàng quang đứng ngoài mà nhìn, và phân tích nó. Làm như thế, người ta tạo ra một sự tạm ngưng, có hiệu quả làm tiêu tan mối giây liên lạc một cách bộc phát và theo bản năng giữa cảm xúc và phản ứng. Thí dụ như khi một người nghe một lời nói chói tai, cơn giận sẽ bùng phát lên trong họ. Nhưng nếu người ấy lùi lại một bước[87] để phân tích những gì đang xảy ra, họ có thể đập tan phản ứng tự động liên kết giữa lời nói đã nghe với sự bộc phát của cơn giận dữ. Như thế, họ có một khoảng thời gian làm chủ phản ứng bộc phát của mình.

Thánh Biển Đức tiếp nối các linh phụ của sa mạc nói rằng:

“Tất cả mọi tội lỗi đều khởi đầu bằng tư tưởng”[88].

Vậy ngài kêu mời hãy “chạy trốn sự xao lãng” và kiểm soát các tư tưởng phát sinh trong tâm trí. Nhưng ngài thay thế giai đoạn phân tích của Phật giáo bằng cách nhớ đến sự hiện diện của Thiên Chúa, “dù ở đâu, lúc nào và làm gì, Chúa đều nhìn thấy hết”[89]. Sự nhớ tưởng đến Thiên Chúa làm cho chúng ta phân biệt được những tư tưởng nào là phù hợp với Người, và những tư tưởng nào đối lập với Người. Đó là ý nghĩa trước tiên của tiếng “discretio”[90] được dùng trong thời của thánh Biển Đức, mà sau này, nó sẽ được gọi là sự phân định.

Quy chiếu về Thiên Chúa

Sự quy chiếu về Thiên Chúa—đặc trưng của Ki-tô hữu—là đưa lời cầu nguyện vào giữa cảm xúc và phản ứng, để đập tan mối dây liên lạc giữa chúng với nhau. Tu Luật xác định: Ngay khi các tà ý vừa nảy sinh, đan sĩ hãy “đẩy lui tà thần cùng mọi âm mưu quyến rũ của nó ra khỏi lòng mình mà đập tan vào Chúa Ki-tô”[91]. Hình ảnh này đến từ thánh vịnh[92], với ngụ ý muốn dạy người ta dùng một tư tưởng tốt thay thế cho một tư tưởng xấu, bằng cách nghiền ngẫm một vài lời Kinh Thánh. Cách thức này cũng được Cassianô khuyên dùng để chống lại chước cám dỗ[93], giống như lời khuyên trong huấn điều[94] của Ấn Độ giáo. Chương bốn của Tu Luật thánh Biển Đức đưa ra hơn bảy mươi thí dụ, còn được gọi là các khí cụ làm việc lành. Khi tiếp xúc với lời Chúa chính là lúc người ta hiện diện trước tôn nhan Người, là điều làm cho đan sĩ Ki-tô giáo tìm thấy được sự bình an. Thay vì nói đến chiến đấu, các linh phụ nói đến sự chạy trốn. Như người ta leo lên cây hay vào hang đá ẩn náu để thoát khỏi nanh vuốt của thú dữ[95]; đan sĩ trốn thoát cơn cám dỗ xấu xa, khi họ tìm ẩn náu dưới sự che chở của Chúa. Như thế, đan sĩ đạt đến bình an nội tâm trước khi dấn thân hành động.

Giống như các tu sĩ khổ hạnh của các tôn giáo khác, các Ki-tô hữu hoàn thiện việc làm chủ các tư tưởng bằng sự khổ chế thân xác, là những gì được bao hàm trong các lời khấn khó nghèo và khiết tịnh. Hai lời khấn này có sau thời thánh Biển Đức, nhưng chúng nói lên những chi tiết của các nguyên tắt chính yếu được kể ra trong Chương bốn của Tu Luật thánh Biển Đức.

3 – Bình an với người khác

Những tác nhân đem lại bình an

Chấp nhận những khác biệt

Bình an với người khác bắt đầu bằng sự tôn trọng họ. Trong Chương bốn, Tu Luật nhắc lại Mười Điều Răn Chúa ban cho dân Chúa qua Mô-sê. Nhưng thay thế sự tôn trọng cha mẹ[96] bằng “sự tôn trọng mọi người”[97]. Thái độ này được trình bày một cách rõ ràng trong những chương cuối cùng của Tu Luật[98]. Nó có nghĩa là chấp nhận người khác như là khác biệt với mình, với tất cả những gì trong độc đáo tính của họ: “phương diện thể lý, cá tính”[99], môi trường phát xuất[100], và phải nói thêm, cần phải chấp nhận cả tôn giáo của họ, ngay cả khi, người khác xem ra là thù địch, chúng ta cũng phải có lòng từ tâm đối với họ[101]. Thánh Biển Đức gọi sự cố gắng thiện chí này là sự “bảo toàn đức ái”[102]. Bình an và bác ái phải hợp nhất với nhau và lấy Chúa Ki-tô làm mẫu gương. Chính nhờ noi theo Người, đan sĩ có thể gieo rắc bình an trong môi trường sống của mình. Trong nội bộ của đan viện, sự bình an được xây dựng bởi các cấp khác nhau : viện phụ, các phụ tá và cộng đoàn.

Viện Phụ

Theo thánh Biển Đức, viện phụ là người đại diện cho Chúa Ki-tô[103]. Ngài vừa là thầy dẫn đường thiêng liêng vừa là người quản trị đan viện. Vậy ngài phải hướng dẫn mỗi thành viên thế nào để đưa họ tới sự bình an và hợp nhất với Chúa Ki-tô, và chăm lo cho việc tổ chức trong nhà tạo ra được bầu khí bình an.

Với tư cách là tôn sư tinh thần, ngài: “không được dạy dỗ, thiết định hay truyền khiến điều gì ngoài huấn lệnh Chúa”[104].

“Ngài phải tùy theo tính tình và trình độ hiểu biết của họ mà thích ứng sao cho phù hợp với mọi người […]. Ngài phải xác tín: Ngài đã nhận việc hướng dẫn các linh hồn thì tất nhiên phải trả lẽ về các linh hồn ấy”[105].

“Ngài phải ghét nết xấu và thương anh em […] Ngài cố gắng cư xử thế nào cho anh em yêu mến hơn là sợ hãi”[106].

Trong việc quản trị, “viện phụ đừng thiên vị ai […] không được ưu đãi người tự do hơn người xuất thân từ giai cấp nô lệ […] bởi vì chúng ta là một trong Chúa Ki-tô, cùng chiến đấu, phụng sự một Chúa, vì Thiên Chúa không thiên vị ai”[107].

Như thế, một trong những bổn phận chính yếu của viện phụ là bảo vệ những người yếu kém: con trẻ, người già, bệnh nhân. Tu Luật cũng nhắc lại vấn đề này trong các chương nói về đồ ăn và việc làm. Nhưng nói một cách chung chung, khi đề cập đến sự điều độ mà thánh Biển Đức gọi là “sự cẩn trọng”. Nó hệ tại việc giữ tỉ lệ thích đáng trong các hoạt động công việc, sao cho tương xứng với sức lực và khả năng của mỗi người.

“Nhớ gương cẩn trọng của thánh Gia-cóp khi ngài nói: “Nếu tôi thúc đàn chiên đi quá sức, chúng sẽ chết hết trong một ngày””[108].

“Vậy ngài hãy lấy lời đó và nhiều chứng từ khác về sự cẩn trọng là mẹ các nhân đức để biết điều hòa mọi sự sao cho người mạnh còn muốn làm thêm và kẻ yếu không lẫn trốn”[109].

Cuối cùng, thánh Biển Đức cảnh báo viện phụ “đừng xao lãng hoặc coi nhẹ phần rỗi các linh hồn Chúa ủy thác mà quá bận tâm đến của cải phù vân thế tục và chóng tàn”[110].

Tuy nhiên, viện phụ không phải là một con người khác thường. Ngoại trừ khía cạnh quyền bính, tất cả những gì nói về viện phụ đều có thể áp dụng cho bất cứ người nào có trách nhiệm, cho dầu là nhỏ bé đến đâu.

Các phụ tá

Trong khi thi hành nhiệm vụ, viện phụ được trợ giúp bởi các phụ tá được đặt lên để “duy trì sự bình an và bác ái”[111]. Trong lãnh vực tinh thần, ngài được các vị lão thành khôn ngoan phụ giúp. Những người này có vai trò lắng nghe lời xưng thú về các tội lỗi trong lương tâm, những tội kín[112], để yên ủi khuyên bảo và khích lệ anh em[113].

Quản lý và các phụ tá thì có trọng trách chăm sóc đời sống vật chất. Để duy trì sự bình an, trước hết họ lo lắng sao cho mọi sự được sạch sẽ, ngăn nắp. Họ phân phát những đồ dùng cần thiết tùy theo nhu cầu của mỗi người, không thiên vị cá nhân, và chú ý đến những người yếu đuối[114].

“Phát cũng như xin phải có giờ nhất định, để ai nấy khỏi phiền hà mà sinh buồn chán trong nhà Chúa”[115].

“Hãy phân phát cho mỗi người tùy theo nhu cầu của họ”[116] và những gì dư thừa thì đem cho người nghèo. Đối với thánh Biển Đức, chỉ có sự công bằng là chưa đủ để bảo đảm cho sự bình an: nó cần phải được bổ túc thêm sự ân cần lưu tâm đến những nhu cầu thực sự của mỗi người.

Các đan sĩ sinh sống bằng sức lực lao động của mình, để không trở thành gánh nặng cho xã hội và có gì để bố thí cho người nghèo. Mục đích của việc kinh doanh của đan viện không nhằm đến lợi ích của chính đan viện, hay các thành phần, nhưng là nhắm đến lợi ích chung.

Cộng đoàn

Làm chủ miệng lưỡi là một trong những điều kiện tiên quyết của sự bình an và để dẫn đến Thiên Chúa:

“Nếu con muốn hưởng sự sống […] thì hỡi con chớ nói lời xằng bậy, và môi con chớ thốt lời gian dối. Con hãy làm lành lánh dữ, hãy tìm kiếm và theo đuổi sự bình an”[117].

Qua lời khuyên trên đây, Tu Luật nhấn mạnh đến mối dây liên lạc giữa ước muốn điều tốt lành[118], sự thật và sự bình an. Bình an không bao giờ có ngay được trong một lúc, nó đòi hỏi một sự cố gắng trường kỳ nơi các thành phần của cộng đoàn để có thể sống hòa thuận với nhau trong đức ái.

Người ta cũng tìm thấy những lời giáo huấn tương tự trong tu luật của tu sĩ Phật giáo, nhưng thánh Biển Đức còn thêm vào đó lời khuyên bảo hãy nói những lời an ủi và khích lệ[119]. Ngay cả đối với những đòi hỏi không chính đáng, quản lý phải “biết trả lời nhã nhặn, vì một lời tốt lành hơn quà tặng quý giá”[120].

4 – Thiết lập sự bình an

Đối với anh em

Để duy trì trật tự và sự hòa thuận, Tu Luật đưa ra nhiều luật điều khác nhau. Thiếu sót là điều không thể tránh được đối với con người. Để sửa chữa lại những lộn xộn đã gây ra, điều đầu tiên là nhận ra lỗi lầm của mình. Sau đó, đan sĩ phải “làm việc đền tội”[121], nghĩa là thi hành một hành vi nào đó để diễn tả sự hối tiếc của mình và biểu lộ ước muốn sửa chữa lỗi lầm. Nhiều cách thức khác nhau của việc đền tội đã được dự kiến; kể cả khi đan sĩ thiếu sót trong việc đền tạ, Tu Luật cũng đề ra những hình phạt[122], nhắm đến mục đích chữa trị[123]. Gương mẫu của sự sửa phạt được Tu Luật đưa ra: “[Viện phụ] hãy học lấy gương hiền dịu của Đấng chăn chiên lành, bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm một con chiên lạc, và thương xót nó yếu đuối, thậm chí không ngại vác nó trên vai thánh của mình mà đưa về đoàn chiên”[124].

Mẫu gương của Chúa Ki-tô cũng dẫn đưa đến sự cầu nguyện. Chính vì thế mà thánh Biển Đức yêu cầu đọc Kinh Lạy Cha trong giờ kinh Sáng và kinh Chiều, “bởi vì trong đan viện thường có những va chạm xảy ra, để khi nhất trí trong lời nguyện: “Xin cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, anh em cũng được thanh tẩy các tội lỗi như họ”[125]. Nơi khác, ngài dặn dò:

“Vì lòng yêu mến Chúa Ki-tô, hãy cầu nguyện cho kẻ thù nghịch, làm hòa với người bất thuận trước khi mặt trời lặn”[126].

Đối với quyền bính: giải quyết các sự xung đột bằng đối thoại

Chương sáu mươi tám trước tiên đề cập đến những điều kiện cần có trong việc đối thoại[127]. Tìm cơ hội thuận tiện[128] nghĩa là tìm thời điểm mà các thành phần có thể đối thoại trong bình an, nhẫn nạiêm dịu. Chúng ta không nên bắt đầu bằng sự chỉ trích, nhưng hãy nói lên những sự khó khăn của riêng mình, luôn luôn với sự nhẫn nại, không kiêu căng, hay phản bác. Mỗi người, trong những tình huống này, có thể học được điều gì đó của người khác, mở rộng tầm nhìn của mình, và nhìn ra được những khía cạnh khác của vấn đề đang được đề cập đến. Việc chia sẻ thông tin với nhau thông thường sẽ dẫn đến sự cùng nhau tìm kiếm, và cùng nhau tìm ra một lối thoát cho vấn đề. Nếu như xảy ra việc chạm trán gay go và khó khăn, Tu Luật trù liệu vai trò của những người thân tín[129], đây là những người trung gian khôn ngoan, đóng vai trò kiến tạo cho một bầu không khí thuận lợi cho đối thoại.

Trong cái nhìn của người Ki-tô hữu, sự đối thoại nhằm đến việc khám phá ra ý muốn của Thiên Chúa. Nhờ tình yêu mà họ hoà hợp với ý muốn của Người và đem lại sự bình an.

Sự bình an mà Tu Luật Biển Đức cố gắng để xây dựng nơi mỗi người, sẽ được triển nở trong đời sống huynh đệ của cộng đoàn. Các linh phụ của đời sống đan tu Ki-tô giáo diễn tả sự cố gắng chung để sống bác ái bằng một từ ngữ Hy Lạp koinonia (hiệp thông) với ý nghĩa vừa là cộng đoàn vừa là hiệp nhất[130].

V. KOINONIA

Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn

1 – Truyền thống

Nhiều tôn giáo nhận biết sự hiện diện của Đấng Vô Biên trong nơi thẳm sâu của tâm hồn con người. Các tín đồ Phật giáo nhận thấy một giá trị đặc biệt của đời sống cộng đoàn như là định nghĩa cho căn tính của tu sĩ.

Nhưng với sự xuất hiện của Chúa Giê-su mà tình yêu đồng loại được quy chiếu một cách trực tiếp đến Thiên Chúa. Người nói rằng:

“Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”[131]. Và: “Đây là điều răng của Thầy: anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em”[132].

Ki-tô giáo khám phá ra đời sống chung như là một phương thế kết hợp với Thiên Chúa. Những cộng đoàn đan tu tiên khởi—những cộng đoàn của thánh Pacôme bên Ai Cập—đã nêu đích danh của sự sống chung hướng về Thiên Chúa là koinonia (*hiệp thông). Thuật ngữ này bảo tồn nguyên vẹn ý nghĩa chuyên môn của nó trong nền văn chương Ki-tô giáo.

Tuy nhiên, thánh Pacôme không tạo ra một quan niệm mới khi ngài đề nghị với các đan sĩ lý tưởng của sự hiệp thông thánh thiện[133], là sự an bình và tình huynh đệ siêu nhiên. Đó chính là giới răn đặc biệt của Chúa Giê-su, được các tông đồ truyền lại và được các Ki-tô hữu đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem đem ra thực hành.

Các linh phụ của sa mạc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhân đức này: trong cuộc thăm viếng các ẩn sĩ những vùng lân cận, thánh Antôn đã nhận ra những điểm chung nơi họ: “Lòng sùng mộ Chúa Ki-tô và sự tương thân tương ái”[134]. Trong sa mạc, người ta ít khi gặp người lân cận, nhưng họ luôn luôn hiện diện với nhau trong tâm trí. Để tránh cám dỗ xét đoán nhau, đan sĩ phải gìn giữ đức bác ái của Chúa Ki-tô trong tâm hồn của mình. Đức bác ái cũng cần cho tất cả mọi ẩn sĩ để họ luôn sẵn sàng đáp ứng những điều cần thiết cho những vị khách đến cách bất ngờ. Trong khung cảnh sống của mình, họ muốn thực hiện cách hoàn hảo điều răn kép: yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.

Thiên tài của thánh Pacôme là ngài biết đem áp dụng giáo thuyết này trong cộng đoàn. Ngài nói với các môn đệ:

“Chúng ta hãy hợp nhất trong đức ái, mang gánh nặng của nhau theo gương Chúa Ki-tô, để chúng ta có thể hợp nhất trong đời sống mai hậu […]. Ai sống hòa hợp với anh em là sống hòa bình với Thiên Chúa […]. Hãy có một tâm hồn với anh em mình […]. Hãy yêu thương tất cả mọi người và chúng ta sẽ trở nên anh em của Chúa Giê-su, anh cả của nhân loại”[135].

Thánh Basiliô đặc biệt chú ý đến những hiệu quả tốt hay xấu mà các hành động cá nhân có thể mang lại cho cộng đoàn.

“Ý muốn của Chúa là chúng ta cần có nhau, để hợp nhất với nhau […]. Chúng ta là một thân thể và Chúa Ki-tô là đầu và chúng ta là những chi thể của nhau. Mỗi người chúng ta góp phần của mình, chúng ta chỉ làm công việc xây dựng một thân thể nhờ Chúa Thánh Thần khi làm trong sự hòa hợp với nhau”[136].

Thánh Augustinô đặt toàn bộ tu luật của ngài trên bản văn của sách Công vụ Tông Đồ mà ngài trích dẫn từ những hàng đầu tiên.

“Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung”[137].

Và thánh Augustinô chú giải:

“Đây là những gì chúng tôi dặn dò anh em. Trước tiên, anh em đem ra thực hành trong cộng đoàn chúng ta—bởi lẽ, chính vì lý do này mà anh em hợp nhất cùng nhau—khi anh em sống trong cùng một tinh thần, một tâm hồn, một trái tim, và tất cả quy hướng về Thiên Chúa […]. Anh em hãy sống hợp nhất trong tâm hồn và trong trái tim, và tôn thờ Thiên Chúa trong người thân cận của mình, bởi vì anh em là đền thờ của người”[138].

Các truyền thống đan tu sau đó minh chứng rằng đan viện là điểm gặp gỡ giữa hai xu hướng, cả hai đều dẫn đưa các đan sĩ hướng về Thiên Chúa vì cả hai bổ túc cho nhau.

Xu hướng thứ nhất, thường gọi là “chiều dọc”[139], nó quy hướng tâm hồn lên Thiên Chúa. Đây là mục đích chung, gắn kết tất cả các chi thể cá biệt trong cộng đoàn. Các đan sĩ hợp nhất với nhau không phải vì một hoạt động nào đó ở bên ngoài, nhưng bởi vì lòng bác ái tinh tuyền, và cùng nhau tìm kiếm tình yêu Thiên Chúa. Trong viễn tượng này, viện phụ, là đại diện của Chúa Ki-tô, dẫn đưa anh em đến với Chúa. Tu Luật có mục đích để kiến tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của mỗi ơn gọi.

Xu hướng thứ hai được gọi là “chiều ngang”[140], nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa trong mỗi thành phần của cộng đoàn. Như thế làm cho mỗi người, là làm cho chính Chúa Ki-tô. Trong cái nhìn này, viện phụ đóng vai trò duy trì bác ái huynh đệ và hợp nhất anh em để cùng nhau tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa.

2 – Thánh Biển Đức

Tu Luật thánh Biển Đức là sự tổng hợp của hai xu hướng này. Đan viện là điểm gặp gỡ giữa yêu mến Thiên Chúa và bác ái huynh đệ. Xuyên suốt Tu Luật, thánh Biển Đức làm chúng giao thoa với nhau như dệt một tấm vải, bằng những sợi chỉ của lòng mến Thiên Chúa, qua sự hướng dẫn của viện phụ, và những sợi của tình huynh đệ, qua đó mỗi người tìm gặp Chúa Ki-tô trong người anh em của mình. Sự biến đổi nội tâm của mỗi người được thực hiện nhờ sự sát nhập của mình vào trong cộng đoàn. Thánh Biển Đức định nghĩa đan sĩ cộng tu là người “sống trong đan viện, chiến đấu theo một tu luật và dưới quyền viện phụ”[141]. Cơ cấu này là một trong những phương diện cốt yếu của đời sống theo Tu Luật thánh Biển Đức. Những lời khấn canh tân và vĩnh cư[142] thúc đẩy cá nhân nỗ lực kết hợp với Chúa Ki-tô trong đời sống cộng đoàn. Khấn vĩnh cư, lời khấn độc đáo của Tu Luật thánh Biển Đức, làm cho đan sĩ đâm rễ sâu trong một gia đình đan tu, đem lại cho họ một căn tính và những người anh em cùng đồng hành trên con đường tu trì với họ cho đến chết.

Những chương sau cùng của Tu Luật trình bày những mối liên lạc giữa các thành phần trong cộng đoàn nảy nở như thế nào trong tình bác ái huynh đệ. Sự vâng phục trong Chương bảy mươi mốt được xem như là phương thế đặt tâm hồn của đan sĩ hòa nhịp với ý muốn của Thiên Chúa trong tình thương. Tu Luật chỉ dẫn điều anh em nên làm: “Bày tỏ sự tốt lành của đức vâng phục […] khi vâng lời nhau, vì biết mình sẽ phải qua con đường vâng phục này mà đến cùng Thiên Chúa”[143]. Trong sự vâng phục lẫn nhau, không chỉ là người này vâng phục người kia, nhưng mà còn cùng nhau lắng nghe Thiên Chúa. Sự hài hòa này làm nên niềm vui, và “một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên dường giới răn Thiên Chúa”[144].

Cùng trong Chương bảy mươi mốt, mối tương quan giữa bậc đàn anh và đàn em được diễn tả qua sự yêu mến và ân cần vâng phục lẫn nhau. Tất cả mọi người hãy kiện toàn khuôn khổ của phép lịch sự để sẵn sàng lưu tâm cách tế nhị đến những nhu cầu của người khác như đã nói ở Chương sáu mươi ba:

“Đàn em hãy tôn kính đàn anh, đàn anh hãy yêu thương đàn em”[145].

Chương bảy mươi hai nói về “lòng nhiệt thành tốt lành giúp ta xa lìa nết xấu, mà dẫn đến Chúa và đời sống vĩnh cửu”[146]. Lòng nhiệt thành được thực hiện bởi sự sốt sắng của lòng mến trong những tình huống cụ thể sau đây:

“Hết sức nhẫn nại chịu đựng những yếu đuối xác hồn của nhau; thi đua vâng lời nhau; đừng ai chạy theo tư lợi, nhưng tốt hơn hãy mưu ích cho tha nhân, yêu thương nhau trong tình huynh đệ thanh khiết”[147].

Những điều này có thể thi hành được nếu người ta nhận ra gương mặt Chúa Giê-su nơi người khác. Chính vì thế mà Tu Luật thường xuyên quy chiếu mọi tâm tình về Chúa Ki-tô. Chính sự hiện diện của Người ở nơi mỗi cá nhân đã làm nên bầu khí bình an và yêu thương trong cộng đoàn.

“Họ kính sợ Chúa trong đức ái, kính yêu viện phụ trong tình mến chân thành và khiêm tốn. Tuyệt đối không lấy gì hơn Chúa Ki-tô, nguyện xin Ngài dẫn đưa tất cả chúng ta đến cuộc sống đời đời”[148].

Nhờ lòng yêu mến và kính trọng Chúa Ki-tô, Đấng dẫn đưa tất cả mọi người hướng về Thiên Chúa, đan sĩ trải dài tình yêu của mình trên viện phụ và anh em. Cùng chính sự quy chiếu về Chúa Ki-tô kết thúc Tu Luật như một lời ca chiến thắng:

“Bấy giờ nhờ ơn Chúa giúp sức, con sẽ đạt tới đỉnh cao đạo lý và nhân đức cha vừa trình bày trên kia. Amen”[149].

Sự thông hiệp trong tình yêu Chúa Ki-tô là đỉnh cao của đời sống đan tu. Sự viên thành này không được ích kỷ, nó phải toả chiếu cho tất cả những ai đến với đan viện, và nhất là cho những vị khách đến đây như là đến “nhà của Thiên Chúa”.

VI. HIẾU KHÁCH

1 – Truyền thống

Trong nhiều miền và nhiều tôn giáo, khách đến được tiếp đón và quý trọng như là tiếp đón người được Thiên Chúa sai đến, nếu không muốn nói là kính trọng như chính Thiên Chúa.

Trong Kinh Thánh, Abraham là mẫu gương thời danh về sự tiếp khách, khi ông tiếp nhận sự thăm viếng của Đức Chúa qua người khách lạ[150]. Sau này, Lề Luật và các Tiên tri coi việc tiếp khách là bổn phận cho những ai muốn Chúa tiếp nhận vào trong nơi ở trường cửu của Người. Sau hết, chính Chúa Giê-su coi việc đón tiếp khách lạ là đón tiếp chính Ngài:

“Ta là khách lạ, các người đã tiếp rước”[151].

Các linh phụ sa mạc quảng đại chia sẻ tài sản ít ỏi của mình cho khách đến. Trong những tu viện của thánh Pacôme, khách khứa được đón tiếp “trong một nơi thích đáng, và xứng hợp với địa vị của họ”[152]. Nhiều người đến tu viện của ngài để được nghe những lời khuyên tâm linh. Còn thánh Gioan Kim Khẩu kêu mời các tín hữu trong địa phận của ngài thường xuyên đến tu viện để tĩnh tâm. Hãy noi theo gương của ông Cassianô, thánh Augustinô, thánh Grêgôriô Cả và Luật của Thầy[153], vì các tu viện của các ngài xem ra thường xuyên đón tiếp những người nghèo và đan sĩ.

2 – Thánh Biển Đức

Thánh Biển Đức không những theo hình thức tiếp khách truyền thông, nhưng ngài còn thêm vào đó những điều mới mẻ của ngài.

Một trong những điều mới là đón tiếp các thành phần khác nhau đến với đan viện. Trong Tu Luật và trong quyển Đối Thoại[154] của thánh Grêgôriô, chúng ta thấy ngài tiếp đón những bậc cha mẹ, bạn bè, giáo sĩ, đan sĩ, người nghèo, bệnh nhân và ngay cả những thù địch lạc giáo[155]. Tất cả mọi người đến đan viện với hy vọng được giúp đỡ về đàng tinh thần hay vật chất nơi những con người sống gần Thiên Chúa.

Điều mới thứ hai, Tu Luật bãi bỏ những khoản luật chi tiết về phận sự của người gác cổng trong Luật của Thầy[156]. Trái lại, thánh Biển Đức nhấn mạnh đến thái độ siêu nhiên của người giữ cửa:

“Mọi khách đến đan viện phải được đón tiếp như Chúa Ki-tô”[157].

Đan viện được coi như nhà của Chúa, là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Vậy điều quan trọng là phải tiếp đón thật tử tế tất cả những ai đến đây để tìm kiếm Thiên Chúa.

Thánh Biển Đức ghi nhận rằng “không bao giờ đan viện thiếu khách”[158]. Dưới một hình thức nào đó, họ là những thành phần của cộng đoàn, không phải là thường trực, nhưng là qua đường. Đan sĩ sống thường trực và khách qua đường giống như hai hình ảnh bổ túc cho nhau của Đức Kitô: Đức Kitô hiện diện—là đan sĩ—đón tiếp Đức Kitô gõ cửa—là vị khách được đón tiếp. Sự hiện diện lưỡng diện này làm cho đan viện không phải là nhà của các đan sĩ, nhưng là nhà của Thiên Chúa.

Kể từ thời thánh Biển Đức, người ta liên tục đến gặp gỡ các đan sĩ, để nhận được lời khuyên và sự nâng đỡ. Các đan viện đôi khi được xây dựng dọc theo những nẻo đường của khách hành hương để giúp đỡ họ vượt qua những đèo núi cheo leo hay những con sông có thể đi qua được. Nhưng các đan viện thường tọa lạc ngoài rìa của những khu vực dân cư. Như thế, họ vừa có thể liên lạc với thế giới, nhưng vẫn ở trong nơi cô tịch; vừa là để hiệp thông với con người, vừa là nơi thích hợp để tìm Thiên Chúa.

Tình trạng này làm cho nội vi của đan viện có ý nghĩa, nó cho phép cộng đoàn bảo toàn đời sống riêng tư của mình trong khi vẫn mở ra đón nhận khách thăm viếng. Các dòng có khuynh hướng ẩn tu hơn[159] xem nội vi như yếu tố làm nên bầu khí sa mạc, là nơi giúp đan sĩ xa lánh sự ồn ào của thế gian và tìm kiếm đời sống thân mật với Thiên Chúa trong cô tịch. Trong cái nhìn này, các vị ấy tránh được chừng nào có thể việc nói năng với người khác, ngay cả muốn tránh né gặp gỡ họ. Trái lại, thánh Biển Đức có ơn đoàn sủng tiếp khách[160].

Trong thế giới duy vật hiện nay, hơn bao giờ hết đan viện vẫn là nơi chuyên biệt để giúp người ta quay trở về với Thiên Chúa. Sự tiếp đón thân tình dành cho những ai đến đây, dù thăm viếng hay tĩnh tâm, có thể giúp họ nhận ra chiều kích hàng ngang của bác ái yêu thương giữa người với người. Bầu khí bình an và cầu nguyện của đan viện mời gọi khách khám phá chiều kích hàng dọc của lời cầu nguyện[161] riêng tư hay cùng với cộng đoàn, khi họ phó thác những hoạt động của con người lên Thiên Chúa.

Tiếp đón người nghèo luôn chiếm vị trí quan trọng trong tình tương thân tương ai của các đan sĩ. Nhưng Giáo Hội cũng muốn các đan viện có bổn phận đặc biệt là tiếp đón mọi thành phần. Việc này trở nên khó khăn hơn ở vùng có nhiều hàng rào ngăn cách giữa các giai tầng trong xã hội. Thánh Biển Đức ám chỉ điều này khi yêu cầu đan sĩ “tôn trọng khách cho xứng hợp với từng người”[162]. Ngài mong muốn rằng tất cả mọi người được tiếp đãi một cách tử tế, sao cho sự tiếp xúc với nhà Chúa giúp đỡ họ tìm gặp Người.

Cư dân sống lân cận đan viện là những đối tượng khác cần được các đan sĩ hỗ trợ một cách đặc biệt. Đan viện là thành phần của nơi họ hiện diện, và cộng đoàn cần nỗ lực để được công nhận như là thành phần sống động và hữu ích cho nơi đó, nhất là khi miền đó là một nơi nghèo khó.

Đan viện cũng là nơi thuận lợi[163] cho sự gặp gỡ giữa những con người có thiện chí đi tìm Thiên Chúa bằng những đường lối khác nhau. Vậy các đan sĩ hãy cố gắng có một tấm lòng đại kết chân thật để dọn đường cho sự hợp nhất các Ki-tô hữu vốn đang chia rẽ với nhau.

Vào những năm gần đây[164], các đan sĩ Ki-tô giáo và các tu sĩ thuộc các tôn giáo khác bắt đầu cảm thấy gần gũi với nhau hơn. Sự cố gắng này được Giáo Hội khích lệ vì thể chế đan tu được xem như là chiếc cầu thuận lợi giúp các tôn giáo hiểu biết lẫn nhau. Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II yêu cầu các môn đệ của thánh Biển Đức đem các chương Tu Luật có liên quan đến việc tiếp khách áp dụng cho việc đối thoại liên tôn:

“Chư huynh có thể làm được nhiều chuyện qua việc tiếp đón ân cần. Khi mở cửa nhà và mở tấm lòng ra, chư huynh đang theo đúng truyền thống tinh thần của vị tôn sư thiêng liêng của chư huynh, là thánh Biển Đức. Cùng với anh em của chư huynh, là các đan sĩ đến từ mọi miền trên thế giới và từ các truyền thống tôn giáo khác nhau, chư huynh hãy đem những chương của Tu Luật liên quan đến việc tiếp khách ra áp dụng. Hành động như thế, chư huynh sẽ tạo ra một không gian thuận lợi cho sự gặp gỡ đích thực cho các tâm hồn”[165].

Sau các nghi thức tiếp đón, đan sĩ dẫn khách vào nơi cầu nguyện. Sự quý trọng phương diện mầu nhiệm của mỗi tôn giáo không cho phép mọi sự hỗn hợp[166], nhưng vượt trên ngôn từ và các nghi thức, sự thinh lặng cầu nguyện có thể đem lại một sự hiệp thông sâu xa trong tâm ý. Thiên Chúa là Đấng chấp nhận cả hai phía và kêu mời họ cùng nhau khám phá sự hiện diện của Người trong tâm hồn của họ.

Nếu như tình thương và sự tôn trọng cần phải có cho tất cả mọi khách đến, ngay cả cho những người xa lạ với đức tin Ki-tô giáo, phương chi đối với những anh em trong cùng một Đức Tin, cũng như các anh em thuộc các gia đình đan tu phát xuất từ thánh Biển Đức, họ càng được tiếp đón xứng đáng nhiều hơn thế nữa.

VIII. CÁC HÌNH THỨC ĐỜI SỐNG Tu Trì KHÁC NHAU THEO TU LUẬT THÁNH BIỂN ĐỨC

 Các đan sĩ Ki-tô giáo đầu tiên, ví dụ như những môn đệ của thánh Antôn, phần nhiều là những ẩn sĩ, và thánh Biển Đức khen ngợi đời sống tu trì của họ trong Tu Luật của ngài. Vào thời đại của chúng ta, sự tìm kiếm chiêm niệm và kinh nghiệm thiêng liêng qua đời sống ẩn tu, thường được thực hiện trong sự liên kết với một cộng đoàn đan tu.

Tuy nhiên, đời sống chung trong một đan viện được các linh phụ coi như là sự huấn luyện quan trọng không thể miễn trừ. Thánh Biển Đức đánh giá đây là “loại đan sĩ anh dũng nhất”[167]. Còn Thomas Merton viết:

“Đây là ngôi trường dạy yêu thương, trung tín và xót thương. Nhờ chia sẻ cầu nguyện, lao động và những thử thách với anh em của mình, và nhờ chấp nhận anh em như chính họ là, chúng ta học được cách kính trọng họ, yêu mến họ với một tình thương thanh khiết, một thứ tình thương sâu xa vượt trên những cảm tính thông thường […]. Trong trường học đức ái và bình an này, không những người ta học kính trọng và yêu mến người khác, nhưng còn học yêu thương và tôn trọng chính mình vì tình yêu Thiên Chúa.”[168]

Chúng ta đã nêu ra những đặc tính của cộng đoàn sống theo Tu Luật Biển Đức. Những đặc tính đó, trước tiên là một cơ cấu được xác định bởi ba yếu tố: Đan viện, Tu Luật và viện phụ[169], tiếp theo là một đời sống đống khung bởi sự cử hành thần vụ trong lao động, cầu nguyện và đọc Sách Thánh. Đời sống huynh đệ được thực hành trong bầu khí an bình qua việc làm chủ lời nói, vâng phục lẫn nhau và qua sự “cẩn trọng”, nghĩa là có chừng mực. Khách thì “không bao giờ thiếu trong đan viện […], và được tiếp đón như chính Chúa Ki-tô”[170], họ cũng được mời gọi tham gia cầu nguyện cùng với cộng đoàn.

Lịch sử cho thấy rằng, dựa trên căn bản đời sống chung, các đan sĩ đã đảm nhiệm tất cả mọi thứ công việc khác nhau, và kể cả việc truyền giáo, tùy theo khả năng của các thành viên và những nhu cầu của địa phương. Trong những công việc khác nhau này có một điều quan trọng cần lưu ý: Trong mọi lúc, sự nhiệt thành của đan sĩ cũng như của cộng đoàn cần được cân nhắc theo lòng quảng đại trong sự tuân giữ bậc thứ tám của đức khiếm nhường:

“Trong đan viện, đan sĩ không làm gì ngoài luật chung và gương lành của các bậc trưởng thượng”[171].

Điều này có nghĩa là các đan sĩ cần vâng theo Tu Luật như là đang được áp dụng trong tình thế hiện tại của mỗi nhà, và dưới sự hướng dẫn của bậc niên trưởng, với những trách nhiệm khác nhau để phục vụ cộng đoàn.

Gia đình của thánh tổ Biển Đức được phân chia thành hai nhánh chính yếu: Biển Đức và Xi-tô. Trong mỗi nhánh triển nởi ra nhiều hội dòng. Nhiều hội dòng đã khai triển nền phụng vụ và cầu nguyện chiêm niệm. Các thành viên của họ tìm kiếm Thiên Chúa trong sự trung tín tuân thủ những truyền thống, và họ thường gìn giữ những di sản cổ xưa để cho tương lai tham chiếu.

Các hội dòng khác phát triển công việc lao dộng tay chân hay tinh thần.
Đôi khi, sự hiếu khách và trợ giúp người nghèo mở ra xu hướng làm việc tông đồ trong các trường học hay trong các bệnh viện.

Tầm quan trọng lớn lao ít nhiều mà mỗi đan viện dành cho một phương diện nào đó của truyền thống sẽ làm cho đan viện đó có một gương mặt riêng của mình, nhưng sự ưu tiên tìm kiếm Thiên Chúa làm cho tất cả những hoạt động kia trở thành thứ yếu, so với sự tìm kiếm chính yếu là sống thân tình với Người.

Sự mềm dẻo này cho phép đời sống đan sĩ theo thánh Biển Đức được dễ dàng thâm nhập vào trong tất cả mọi nền văn hóa và mọi lục địa. Tu Luật Biển Đức có thể được áp dụng khắp mọi nơi, bởi vì nó nhấn mạnh trước tiên trên thái độ của tâm hồn, mà đan sĩ phải chấp thủ để trở nên môn đồ của Chúa Ki-tô. Chính các bề trên có nhiệm vụ chăm nom xác định cách áp dụng Tu Luật theo ánh sáng của Tin Mừng vào trong đời sống thường nhật của đan sĩ, làm sao “để trong mọi sự Thiên Chúa được tôn vinh”[172].

Trong các truyền thống và văn hóa khác nhau, con cái của thánh Biển Đức hợp nhất với nhau trong bầu khí tìm kiếm Thiên Chúa. Nét đa dạng của họ làm nên sự phong phú của ơn đoàn sủng mà thánh Biển Đức đem lại cho Giáo Hội.

DANH MỤC THAM KHẢO

Dom Piere Miquel, osb, La vie monastique selon Saint Benoît, Beauchesne, Paris, 1979.

Bertrand Rollin, osb, Vivre aujourd’hui la Règle de Saint Benoît, Coll. Vie Monastique no16, Abbaye de Bellefontaine (49122 Bégrolles-en-Mauges), 1953.

Ghislain Lafont, osb, Des Moines et des hommes, Éd. Stock, Paris, 1975.

Anselme Davril, osb, L’Ordre Bénédictin, Éd. Ouest-France, 2003.

Dieu intime, Paroles de moines (Trois personnalités de la vie monastique évoquent leur aventure intérieure), Éd. Bayard, 2003.

Mayeul de Dreuille, osb, La Règle de Saint Benoît et les traditions ascétiques de l’Asie à l’Occident, Coll. Vie Monastique no 38, Abbaye de Bellefontaine (49122 Bégrolles-en Mauges), 2000.

[1] x. TL 58,7

[2] *Ấn Độ giáo là tên gọi tiếng Việt của đạo Hindu

[3] *Nguyên tổ của loài người

[4] x. St 2,7

[5] Hs 2,16

[6] Tv 42,3

[7] Tv 63,5-6

[8] Ga 1,14

[9] x. Mt 14,23

[10] Lc 18,28-30

[11] Ga 17,21-23

[12] x. Cv 2,42-46

[13]TL 58,7; 7,34

[14] TL, Lm 1

[15] TL, Lm 3

[16]TL 4,20-21

[17] TL 31,10

[18] TL 33,3-4

[19] TL 33,7

[20] *nv: “Saint Benoît relie l’attachement aux biens matériels à la volonté propre, c’est à dire à ce qui, dans le coeur, s’oppose à Dieu, et veut prendre sa place”.

[21] TL 34,1-5

[22] TL 4,14

[23] TL 4,1-2; x. Đnl 6,5

[24] TL 72,8.7

[25] TL, Lm 18-20.48.49

[26] *Để tránh mọi sự hiểu lầm có thể, người dịch xin bỏ qua và không chuyển ngữ qua tiếng Việt đoạn này: “Celle-ci n’a pas de fin secondaire comme les Ordres modernes, qui se definissent par leur but propre: enseignement, soin des malades, prédication ou toute autre forme d’apostolat”.

[27] x. TL 53, 19-20

[28] V.A. 3

[29] Pacôme V.C., Bo 10

[30] VA 17

[31] VC, Bo 101

[32] x. Lc 18,1; x. Ep 5,20

[33] *Đọc sánh thánh

[34] Tu luật 16,2

[35] TL 43,3

[36] x. TL, Lm 14-15; 24-25

[37] x. Cassien Conf. 10,11

[38] TL 19,7

[39] TL 50,4

[40] Lời nguyện của các Chúa Nhật Thường Niên

[41] TL 52,2-4

[42] TL 20,1-2

[43] TL 7,65

[44] TL 52,4; Lm 49

[45] *nv: “Cette méthode a été retrouvée intuitivement”

[46] * “la rumination” 

[47] Cv 20,34-35

[48] V.A. 3

[49] Pacôme V.C., Bo 10

[50] Inst. 10,22

[51] Cassien, Inst. 10,24

[52] GR 37

[53] x. St. Augustinô, De opere monachorum, L’ascétisme chrétien,DDB, Paris, 1939.

[54] TL 48,8

[55] TL 35,3-4

[56] TL 40,8

[57] x. TL 57,1

[58]*nv: “la “discrétion””

[59] *nv: “des observances”

[60] Lois de Manou, 6: 46-48, cité dans M.D., ch. VII, p. 186.

[61] *nv: “Règles Brèves”

[62] Augustin, Com. Ps 41

[63] TL, Lm 17

[64] TL 6,2

[65] *nv: “gravité”

[66] TL 42,11; 43,2

[67] x. TL 42,9-10

[68] x. Cassien, Inst. 11,18

[69] TL 2,5

[70] TL 31,19

[71] TL 31,31

[72] X. TL 53,8-9

[73] Cassien, Conf. 9,15; Conf. 10,11

[74] *nv: “la tranquillité dans l’ordre”

[75] *nv: “supra-humain”

[76] *nv: “les Bouddistes l’avaient soupçonné en basant la vie du moine sur le Dharma, qui est à la fois le devoir personnel et l’ordre de l’univers”

[77] TL, Lm 21

[78] x. TL, Lm 16

[79] TL, Lm 3

[80] *nv: “chorège”

[81] x. St. Athanase d’Alexandre, De Incarnatione, 54,2,trad. C.Kannegiesser, Cerf, Paris, 1973.

[82] TL, Lm 2-3; 48

[83] TL 7,40.39

[84] TL, Lm 47

[85] *nv: “Dhammapada”

[86] *nv: “appétits de sensualité et de violence”

[87] *nv: “Mais, si on prend de la distance”

[88] Apophtegmes, Isaac de Syrie, 7.

[89] TL 7,13

[90] *Trong phần còn lại của tập sách, “discretio” sẽ được tạm dịch là “sự cẩn trọng”

[91] TL, Lm 28

[92] x. Tv 146

[93] x. Conf. 10,10

[94] *nv: “mantra”

[95] x. Aposphtegmes, Macaire l’Egyptien, 19; Poemen, 1.

[96] *Điều răn thứ tư của Mười Điều Răn: “Thảo kính cha mẹ”

[97] TL 4,8

[98] x. TL 70-73

[99] TL 72,5

[100] x. TL 2,20

[101] x. TL 4,29-32

[102] TL, Lm 47

[103] TL 2,2

[104] TL 2,4

[105] TL 2,32-34

[106] TL 64,11-15

[107] TL 2,16-20

[108] TL 64,18

[109] *TL 64,19

[110] TL 2,33

[111] TL 65,11

[112] *nv: “des fautes cachées

[113] x. TL 27,2-3

[114] x. TL 34,1-3

[115] TL 31,18-19

[116] TL 34,1

[117] TL, Lm 17

[118] *tác giả muốn ám chỉ đến sự sống đích thực

[119] x. TL 27,3

[120] TL 31,13-14

[121] *nv: “faire satisfaction”

[122] *nv: “sanction”

[123] *nv: “medicinal”

[124] TL 27,8-9

[125] TL 13,13-14

[126] TL 4,72-73

[127] x. TL 68,2-3

[128] *nv: “en temps opportun”

[129] *Là những vị lão thành về phương diện đức hạnh

[130] *nv: “Les Pères du monachisme chrétien désignent cet effort commun de charité par le mot grec de koinonia, dont le sens est à la fois communauté et communion”

[131] Mt 25,40

[132] Ga 15,12

[133] *nv: “la sainte koinonia

[134] V.A. 4

[135] Pacôme, Catéchèse I, CSCO, 160.

[136] Basile GR 7;47; PR 38;119.

[137] Cv 4,32

[138] Augustin, Reg., Ch. 1,1-8.

[139] * “vertical”

[140] * “horizontal”

[141] TL 1,2

[142] *nv: “les vœux de conversion de mœurs et de stabilité“

[143] TL 71,1-2

[144] TL, Lm 49

[145] TL 63,10

[146] TL 72,2

[147] TL 72,5-8

[148] TL 72,9-11

[149] TL 73,9

[150] St 18,1-8

[151] Mt 25,35

[152] Pacôme, V.C., Bo 34

[153] *Règle du Maître

[154] *Tập sách Dialogues của Thánh Giáo Hoàng Grêrôriô Cả

[155] St. Grégoire le Grand, Dialogues II, Ed de la Source, Paris, 1958

[156] x. St. Grégoire le Grand, Dialogues II, Règle du Maître, S.C. 106-107.

[157] TL 53,1

[158] TL 53,16

[159] *Như dòng Chartreux của thánh Brunô

[160] *nv: “St. Benoît a, au contraie, le charisme de l’hospitalité”

[161] * Tiếp xúc với Thiên Chúa

[162] TL 53,3

[163] *lieux privilégiés

[164] *Tập sách này được xuất bản năm 2006.

[165] Jean –Paul II, Osservatore Romano, Le dialogue interreligieu, 10 septembre 1987, no 592.

[166] *nv: “syncrétisme”

[167] TL 1,13

[168] Thomas Merton, The Silent Life, Burn & Oats, London, 1957, p.45.

[169] TL 1,2

[170] Tl 53,16.1

[171] TL 7,55

[172] TL 57,9

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Liên quan khác