HẠT GIỐNG VÀ THINH LẶNG New 

07/08/2019

Gioan Baotixita Nguyễn Tiến Dũng

Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy

(Ga 12,23b-26).


 

Một trong những đoạn Tin Mừng từng làm cho độc giả trở nên ngỡ ngàng đến kinh ngạc khó tin, có lẽ là đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan 12,23b-26 trên đây. Ngỡ ngàng đến kinh ngạc bởi vì, trong đoạn Tin Mừng này Chúa Giêsu bắt đầu bằng một câu nói mà các môn đệ và mọi người Dothái thời đó đang mong chờ, nhưng rồi những câu tiếp theo sau lại làm cho họ hụt hẫng đến kinh ngạc. Chúa Giêsu bắt đầu bằng câu: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Đây là một câu nói đem lại niềm vui lớn không chỉ cho các môn đệ của Ngài – những người đã bỏ mọi sự theo Chúa Giêsu – đang mong muốn từng ngày ‘giờ Con Người được tôn vinh’ để họ cũng được tôn vinh như Thầy. Câu nói ấy cũng làm thỏa lòng tất cả mọi người Dothái lúc bấy giờ đang mong mỏi đợi chờ ngày ‘Con Người ngự giá mây trời mà đến’ (x. Mc 14,62). Tiếc thay, những câu Tin Mừng sau đó lại làm cho các môn đệ và cả người Dothái thất vọng, hay ít ra khiến họ cũng không còn muốn nghe nữa: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,24).

Khi nói đến ‘giờ của Con Người (viết hoa) được tôn vinh’ đã đến, Chúa Giêsu có ý nói đến một thời khắc quyết liệt, một thời khắc quyết định tất cả lịch sử nhân loại. Nhưng khốn nỗi giờ quyết liệt Chúa Giêsu loan báo lúc này lại khác hẳn, khác hoàn toàn với ý nghĩ và sự mong chờ của tất cả các môn đệ, cũng như của mọi người Dothái. Giờ đó khác hẳn với thời khắc mà tất cả mọi người Dothái đương thời đang chờ đợi: thời khắc chiến thắng của Đấng Mêsia trần thế.

Rõ ràng hình ảnh hạt lúa được gieo vào lòng đất nói lên tính nhị nguyên trong đoạn Tin Mừng trên đây: sự sống và cái chết, được và mất, sự sống đời này và sự sống đời sau. Nói cách khác, tiến trình hạt lúa gieo vào lòng đất cũng tương tự tiến trình hạt giống đi vào thinh lặng, Con Người (viết hoa) đi vào cuộc khổ nạn và phục sinh, hợp với lời loan báo của Chúa Giêsu về Con Người.

Vì vậy, trước khi tìm hiểu đề tài ‘Hạt Giống và Thinh Lặng’ chúng tôi muốn tìm hiểu ý nghĩa, giáo huấn của Chúa Giêsu nói trong đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan trên đây, về hình ảnh Con Người vốn đã được sử dụng trong sách Đaniel chương 7: “Có ai như một Con Người[1] đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người” (Đn 7,13b-14a).

1. ‘Con Người’ trong sách Đaniel và ‘Con Người’ trong Tin Mừng Gioan

1.1. ‘Con Người’ trong sách Đaniel

Sách Đaniel chương 7 có mục đích mô tả các nước lớn trên thế giới vào thời của vị ngôn sứ, như: Syria, Babylon, Mê-Đi và Ba-Tư. Những đế quốc này vốn rất tàn bạo, thường tỏ ra thích thú gây đau khổ cho những nước bé nhỏ yếu thế, nên chúng được mô tả như những loài dã thú, chẳng hạn: “Sư tử có cánh, con heo có bốn cánh bốn đầu,…” (x. Đn 7,1-8). Ngoài ra trong giấc mơ ấy, vị ngôn sứ còn cho thấy một thế lực mới sẽ đến, chiến thắng và thống trị trần gian. Thế lực mới này được nói đến với những nét rất tích cực: rất hiền dịu, nhân hậu và được mô tả trong hình ảnh một ‘con người’ (đối lập với con thú trước đó)[2]. Ý nghĩa của cách mô tả này trong sách Đaniel muốn nói rằng thời kỳ dã man độc ác ấy đã mãn và sẽ qua đi, nhường chỗ cho một thời kỳ nhân hậu đang sắp đến. Đó là giấc mơ của những người Dothái đương thời.

Người Dothái mơ ước thời hoàng kim sẽ là một thời kỳ ngọt ngào và họ sẽ là người chiến thắng, họ sẽ làm bá chủ thế giới. Nhưng thời kỳ đó sẽ đến thế nào khi mà dân tộc của họ quá nhỏ bé, quá hèn yếu? Vì vậy họ trông chờ vào sự can thiệp kỳ diệu đến từ Thiên Chúa của họ, vị Thiên Chúa đã đích thân gọi và chọn cha ông họ làm dân riêng của Ngài. Vị Thiên Chúa của cha ông họ sẽ sai Con Người (viết hoa) đến, một con người chỉ biết đến tỏa sáng và chiến thắng. Vì vậy, câu nói trước đây chỉ được xem là biểu tượng, thì nay trở thành câu mô tả một tương lai tươi sáng. Cho dù trong suốt chiều dài lịch sử thăng trầm, cho dù phải trải qua những hoạn nạn, cho dù phải sống trong cảnh bị đô hộ, nước mất nhà tan,… người Dothái chẳng bao giờ mất niềm hy vọng vào sự giải phóng của một ‘Con Người’ đến từ Thiên Chúa.

1.2. ‘Con Người’ trong Tin Mừng Gioan

Với người Dothái, Con Người là danh xưng tiêu biểu cho sự khải hoàn đến từ Thiên Chúa, hay nói đúng hơn đó là sự chiến thắng của một nhân vật đến từ Thiên Chúa. Vì vậy, khi Chúa Giêsu nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” thì tất cả những người đang nghe Ngài lên tiếng lúc đó đều hiểu rằng khi tiếng kèn từ trời vang lên thì chiến thắng đã bắt đầu. Nhưng tiếc thay, chữ “Con Người được tôn vinh” Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng theo Thánh Gioan ở đây hoàn toàn không có nghĩa như người Dothái hiểu, cũng không có nghĩa như người Dothái mong chờ, theo kiểu Con Người sẽ là kẻ chiến thắng và chà đạp các vương quốc trần thế dưới chân Ngài. Trái lại, khi nói “Con Người được tôn vinh” Chúa Giêsu ngụ ý rằng Ngài sẽ bị đóng đinh, bị hủy diệt ra không. Nói cách khác, khi nghe Chúa Giêsu nói đến Con Người, người Dothái nghĩ ngay đến sự chiến thắng của các đạo quân hùng cường nhờ sự lãnh đạo kỳ vĩ của một nhân vật đến từ Thiên Chúa; trong khi Chúa Giêsu lại ám chỉ đến sức mạnh và quyền năng chinh phục của Thập giá mà chính Ngài sắp phải trải qua[3]. Những lời sau đây cho phép chúng ta xác tín như thế: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,24-25).

Chính những câu tiếp theo trong đoạn trích càng làm cho người Dothái kinh ngạc đến khó hiểu. Trong những câu này Chúa Giêsu không hề đề cập đến chiến thắng, nhưng chỉ nói đến hy sinh, mất mát, mục nát… Ngày hôm nay chúng ta cũng sẽ chẳng có thể hiểu Chúa Giêsu và thái độ của người Dothái đối với Ngài nếu chưa hiểu Chúa Giêsu đã làm đảo lộn các ý niệm của họ như thế nào. Ngài đảo lộn giấc mơ chiến thắng theo kiểu trần thế của người Dothái, thành mạc khải về Thập giá, về giá trị của sự mục nát, của sự khiêm hạ, của sự hy sinh phục vụ, ngay cả hy sinh tính mạng…

Cụ thể, qua hình ảnh ‘Con Người được tôn vinh’, Chúa Giêsu muốn mạc khải cho các môn đệ xưa kia và cho chúng ta hôm nay ý nghĩa chính yếu và cao siêu trong giáo lý Kitô giáo: Giáo lý về Thập giá.

2- Ý nghĩa sâu xa của bài giáo lý

2.1- Ý nghĩa của sự hy sinh mục nát

Nếu hạt giống được giữ gìn cách kĩ lưỡng và ‘an toàn’ trong kho lẫm thì nó không bao giờ mang lại bất kỳ một sự lợi nhuận nào. Trái lại, khi hạt giống rời khỏi chỗ ở an toàn của nó và ‘được vứt, được ném’ vào lòng đất ẩm ướt, bẩn thỉu; bị chôn vùi trong ‘nấm mồ’ của lòng đất, chấp nhận để cho người gieo giống dẫm đạp lên; chấp nhận ở lại trong thinh lặng trống vắng, thì với ngày tháng… từ bên trong hạt giống ấy sẽ mọc lên một mầm sống, dần dần thành cây cao lớn và có ngày sẽ sinh hoa kết trái, sẽ sinh lợi: gấp 30, gấp 60, gấp 100,… (x. Mt 13, 8).

Điều đó muốn nói rằng trong thế giới này, nhờ những con người chấp nhận sống khiêm nhường, chịu hy sinh, chịu mất mát, chịu thiệt thòi… mà những điều to lớn vĩ đại đã có thể xuất hiện. Trong lãnh vực thiêng liêng điều này càng trở nên hiển nhiên hơn bao giờ hết. Khi một người chịu chôn vùi những ước muốn thăng tiến bản thân cách riêng tư, thì người đó bắt đầu trở nên hữu dụng cho Chúa, người đó bắt đầu có thể sinh lợi cho Chúa. Thật vậy kinh nghiệm của Cha Biển Đức Thuận, Tổ Phụ Hội Dòng Xitô Thánh Gia cho phép chúng ta hiểu điều này cách dễ dàng hơn. Chính hạn từ “c’est perdu” (hỏng hết rồi, mất hết rồi) của Cha mà ngày hôm nay đã sinh lời được hơn một ngàn con cái trong Hội Dòng này…

Nói cách khác, nhờ chấp nhận bị chôn vùi trong lòng đất, trong thinh lặng, một sự thinh lặng đầy năng lực, mà hạt giống đã chuyển mình, đã biến mình, đã biến những gì của mình thành mầm sống mới. Như thế. chính khi một ai đó chấp nhận bị mục nát đi, bị ‘mất mình đi’ trong mắt người đời thì người đó bắt đầu xuất hiện trong mắt Thiên Chúa.

2.2- Ý nghĩa và cách sử dụng sự sống đời này

Ở đời, những người tham sống sợ chết luôn bị hai điều này tác động: một là tính ích kỷ, hai là ước muốn được yên thân. Chính khi bị hai điều ấy chi phối, kìm kẹp… khiến cuộc sống của họ trở nên co cụm, nhỏ nhoi, nghèo nàn…, chẳng có khả năng giúp gì cho người hay cho đời… Trong Tin Mừng, nhiều lần Chúa Giêsu đã nhấn mạnh rằng kẻ nào giữ mạng sống mình thì cuối cùng kẻ đó sẽ mất mạng sống của họ; còn người nào chấp nhận từ bỏ mạng sống của mình thì chắc chắn cuối cùng người đó sẽ được lại mạng sống của họ: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8,35-36; x. Mt 10,39; 16,25; Lc 19,24; 17,33). Các nhà truyền giáo trước đây, các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam là những nhân chứng cụ thể cho chân lý này.

Thế giới này sẽ chịu mất mát, thiệt thòi biết bao nếu không có những con người đã dám từ chối sự ích kỷ, co cụm trong vỏ bọc an toàn…; dám từ chối những lợi lộc, những thăng tiến cá nhân! Thế giới này đang mắc nợ, đang chịu ơn những con người đã tận lực làm việc quên mình, không ngại xả thân cho Chúa và cho tha nhân. Trên lí thuyết, con người có thể kéo dài cuộc sống của mình trong gang tấc, khi họ bảo vệ mình trong vỏ bọc chắc chắn của sự ‘chừng mực’, của sự chăm lo cho bản thân mình trong sự an toàn nào đó, trốn tránh những bấp bênh hiểm nghèo… Nhưng như thế, trái đất này sẽ chỉ còn những ‘đơn vị độc lập’ bên cạnh những ‘cá nhân độc lập’ và một ngày không xa những đơn vị, những cá nhân ấy sẽ kết thúc mà không để lại bất kỳ một lợi lộc nào và sau này cũng chẳng ai nhắc đến họ.

Như vậy, qui luật “mất – được; được – mất” đã có sẵn trong ‘tự nhiên’ rồi! Lịch sử cho thấy rằng bao chứng nhân đã và đang dùng sự sống mình như hạt giống âm thầm chết đi để sinh hoa kết trái cho đời. Họ hiểu rằng chính khi quảng đại cho đi, chịu mất sự sống là lúc nhận lại được sự sống, cũng như khi tưởng mình giữ được sự sống (giữ ích kỷ cho bản thân) là lúc thật sự mất sự sống.

2.3 – Ý nghĩa của hành động phục vụ quên mình

Có một sự thật không mấy tích cực là trong thế giới ngày nay, ý niệm hy sinh phục vụ tha nhân đang dần trở nên xa lạ, nhất là nơi một bộ phận những người trẻ. Thật vậy, ngày nay có nhiều người trẻ đang bị cuốn vào những công việc chỉ nhằm một mục đích duy nhất là khai thác, trục lợi cho cá nhân, cho gia đình mình mà thôi. Những người như thế rất có thể sẽ nhanh chóng trở nên ‘giàu có’ trong ý hướng trần thế của họ…, nhưng có lẽ còn xa mới đạt được hạnh phúc nước trời và, có thể rơi vào trường hợp Chúa Giêsu đã lên án: “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (Lc 6,24-25).

Với những người chỉ biết vơ vét của cải cho mình, Chúa Giêsu đã có vẻ nặng lời hơn khi Ngài cảnh cáo họ trong Tin Mừng theo Thánh Luca: “Đồ ngốc! Nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,20-21). Chỗ khác, Ngài còn thêm: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,21). Sau cùng, Ngài còn dùng hình ảnh con lạc đà chui qua lỗ kim để so sánh với việc người giàu có khó vào Nước trời: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao! Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Lc 18,24-25).

Giáo lý của Chúa Giêsu về thái độ phục vụ quên mình quả thật rất rõ ràng, dứt khoát. Giáo lý ấy chẳng những đi ngược với não trạng của người Dothái thời Ngài mà còn chống lại quan niệm và nhận thức về hạnh phúc của con người mọi thời đại. Nếu người đời coi sự thành công của mình được đo bằng địa vị danh vọng, quyền bính, giàu sang… thì Chúa Giêsu lại xây dựng sự thành công cho mình trên cây Thập giá, trên sự trần trụi và sự chết. Ngài dạy rằng chỉ bằng con đường hy sinh phục vụ, hy sinh cả mạng sống mình, người đó mới được tôn vinh, người đó mới trở thành vĩ đại, người đó mới trở nên hữu ích và sinh lời cho người khác. Giáo lý của Ngài thật rõ ràng: “Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,43-45).

3 – Sức mạnh thinh lặng của hạt giống và đời Đan tu

3.1. Thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa

Nếu hạt giống đã phải chấp nhận thu mình vào cõi thinh lặng trong lòng đất như là điều kiện tất yếu để nảy mầm, để đơm bông kết trái, thì khi hạt giống Lời Chúa được gieo vào thửa đất lòng người, cũng phải cần một thời gian thinh lặng nhất định mới có thể nảy mầm và đâm chồi nảy lộc… Chẳng vậy mà trong truyền thống Đan tu Biển Đức – Xitô đã không ngừng thực hành và cổ võ môi trường thinh lặng như là điều kiện tiên quyết cho nếp sống này, một nếp sống luôn đề cao việc lắng nghe tiếng Chúa để nhận ra sứ điệp của Ngài trong cuộc sống. Đó là lí do Cha Thánh Biển Đức luôn đòi hỏi nơi đan sĩ luôn phải ham thích sự thinh lặng (x. TL Ch 6). Thinh lặng sẽ tạo điều kiện giúp chúng ta nghiền ngẫm, “nhai lại” (rumimatio) Lời Chúa và chiêm ngắm những hành động của Ngài. Thinh lặng sẽ tạo một không gian trong đáy lòng chúng ta, để Thiên Chúa có thể sống ở đó, để Lời Ngài lưu lại trong chúng ta; nhờ đó, tình yêu của chúng ta được bắt nguồn và đời sống của chúng ta được sinh động.

Trong nghiên cứu khoa học, các chuyên viên hầu như cũng cần có một sự thinh lặng nhất định nào đó để suy tư, để tìm hiểu, để quan sát những phản ứng hóa học… trước khi đưa ra một kết quả hay một định luật. Để có thể lắng nghe các hành tinh, các nhà thiên văn đã cần phải loại bỏ hết mọi tạp âm. Theo một cách tương tự, nếu muốn có đời sống nội tâm, muốn lắng nghe và nhận ra tiếng Chúa, nhất thiết chúng ta cần sự thinh lặng, thinh lặng bên ngoài và thinh lặng bên trong. Nhất là trong thời đại mà người ta đang muốn tìm kiếm tiếng ồn của những bản nhạc inh tai… để lấp đầy sự trống rỗng trong tâm hồn.

Thiên Chúa luôn nói trong thinh lặng, vì thế tâm hồn chúng ta cần bình lặng để có thể lắng nghe tiếng Chúa. Chúa Giêsu nhiều lần đã dạy: “Đến ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói” (Mt 12,36). Thánh Biển Đức cũng từng khuyên các đan sĩ rằng ngay cả những lời tốt lành thì người môn đệ cũng không được nói khi chưa có phép… (x. TL 6,3).

3.2. Thinh lặng để phục vụ anh chị em    

Điều Chúa Giêsu nói về hạt giống phát triển trong thinh lặng còn muốn nhấn mạnh đến đặc tính khiêm nhường tự hủy như là điều kiện tất yếu để có thể phục vụ nhau trong tình huynh đệ. Nói cách khác, hạt giống được chôn vùi trong đất cũng là biểu tượng của sức mạnh và giá trị của thinh lặng phục vụ. Một sự thinh lặng khả dĩ làm tan biến mình đi như để cung cấp sức sống cho người khác, như làm tăng trưởng một sự sống khởi đi từ sự chết, một sự thinh lặng khả dĩ cung cấp năng lượng cho đời qua việc âm thầm phục vụ.

Hơn nữa, lời mời gọi “hãy theo Thầy” của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ ngày xưa vẫn đang vang vọng mãi đến hôm nay. Nhưng có vẻ lời mời gọi ấy hôm nay trở nên quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và dứt khoát hơn, nếu không muốn nói đây là điều kiện tất yếu để theo Chúa: Ai chấp nhận theo Thầy thì hãy phục vụ Thầy (x. Ga 12, 26). Việc phục vụ Thầy không gì khác hơn là đi theo con đường Thầy đã đi và đến nơi Thầy đã đến. Đương nhiên, con đường này sẽ dẫn người môn đệ đến đỉnh đồi Golgotha để cùng chịu đóng đinh đời mình vào Thập giá với Thầy. Chính cái chết này, chính cái ‘tự hủy’ này mới làm cho người môn đệ trở nên một với Thầy mình. Đấng mà mỗi người môn đệ trung tín hằng mến yêu và tôn thờ. Do đó, đi theo Chúa là chấp nhận đau khổ, chấp nhận thập giá và chấp nhận tự hủy, chấp nhận chết để được ở cùng Thầy như lời Thầy dạy: “Thầy ở đâu thì kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (Ga 12,26).

Tạm kết

Sự thinh lặng là một trong những trạng thái mà không ít người sợ hãi khi phải đối diện, nhất là trong thời đại hôm nay. Nhưng, sự thinh lặng cũng là khoảnh khắc vô cùng quan trọng để con người lắng nghe được sự khao khát chân thực nơi sâu thẳm lòng mình. Cách riêng trong đời sống của người đan sĩ, thinh lặng là môi trường, là giây phút để chúng ta tìm đến Chúa giữa những bộn bề của cuộc sống. Thinh lặng là bí quyết của sự suy ngắm và chiêm ngưỡng. Nhất là trong thời đại công nghệ và truyền thông hiện đại thống trị như hiện nay, thinh lặng càng trở nên khó khăn hơn, nhưng cũng khẩn thiết hơn. Vì thế, người đan sĩ có sứ mạng cao cả hơn bao giờ hết là cần phải nhận ra và thực hành sự thinh lặng một cách say mê, đầy lòng hâm mộ và xác tín, trước khi rao truyền và cổ võ sự thinh lặng nơi những môi trường khác trong Giáo Hội và xã hội.

 Tình yêu của Thiên Chúa ban, đang làm cho chúng ta được biến đổi và sinh hoa trái thánh thiện và bác ái. Tình yêu ấy đã, đang và vẫn mãi mãi âm thầm lớn lên trong chúng ta, cho dù đôi khi người đan sĩ chúng ta có thể lãng quên và xem thường. Chúa mời gọi chúng ta theo Chúa trong ơn gọi đan tu chiêm niệm với một nếp sống thinh lặng cô tịch nhưng cũng tràn đầy sức sống, để Chúa ở đâu chúng ta cũng sẽ ở đó với Ngài. Thinh lặng là khoảng thời gian rất quý báu để cho hạt giống Lời Chúa được gieo vào lòng mỗi người đan sĩ được hấp thụ và biến đổi; hạt giống ấy cần thinh lặng để nảy mầm trước khi thành cây và có thể đơm bông kết trái: hạt được 30, hạt được 60, hạt được 100 (x. Mt 13,8).

Nhìn vào mẫu gương các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến chứng tá về sự tự hủy của các ngài để Giáo hội Việt Nam của chúng ta trổ sinh biết bao hoa màu tươi tốt như ngày hôm nay. Nói cách khác, Giáo hội Việt Nam trổ sinh được nhiều hoa trái như hôm nay, chính là nhờ sự ‘thinh lặng – chết đi’ của các ngài. Vì vậy, theo tinh thần Giáo lý của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Gioan trên đây, mỗi Kitô hữu, đặc biệt mỗi đan sĩ thuộc Hội Dòng Xitô Thánh Gia chúng ta được mời gọi bắt chước các bậc cha ông mình, tiếp tục can đảm chấp nhận gieo mầm đức tin để con cháu mai sau được hưởng nhờ.

[1] Phần tô đậm trong các trích dẫn Kinh Thánh của bài viết này là của người trích dẫn.

[2] x. Xavier Léon-Dufour, Lettura dell’Evangelo Secondo Giovanni, San Paolo 1990, pp. 730-732.

[3] x. Francis I. Moloney, S.D.B., The Gospel of John, The Liturgical Press, Collegeville, Minesota 1998, pp. 359-360.

 


Liên quan khác