TÌNH BẠN GIỮA ĐA-VÍT VÀ GIO-NA-THAN New 

20/06/2020

FM. Mai Thương

Aelred, Viện phụ Đan viện Xitô Rievaulx, vào thời của ngài (thế kỷ XII), đã là một đan sĩ nổi tiếng, một viện phụ nhân ái và làm việc không biết mỏi mệt, một gương mặt quen thuộc với các vua chúa, công hầu bá tước, các giám mục, các viện phụ và các nhà ẩn sĩ. Ngày nay ngài vẫn còn được biết đến như một văn sĩ trong lãnh vực tu đức của tu trào Xitô và là một sử gia của Anh Quốc. Trong tác phẩm “Tình bạn thiêng liêng (Spiritual Friendship)”, ngài phân chia các loại tình bạn theo ba chiều kích:

– Tình bạn theo xác thịt;

– Tình bạn theo thế gian;

– Tình bạn thiêng liêng.

Tình bạn theo xác thịt được xây dựng trên những đam mê và thói hư tật xấu của nhục thể. Tình bạn theo thế gian được hâm nóng bởi hy vọng của lợi lộc. Còn tình bạn thiêng liêng được gắn kết “bởi những người tốt lành, khi họ đồng thuận với nhau trong những sự việc thiêng liêng và trần thế, với sự thành tâm thiện chí và lòng bác ái”[1]. Đây cũng chính là định nghĩa về tình bạn thiêng liêng của Cicero mà Viện phụ Aelred đã trích dẫn trong tác phẩm của ngài.

Đương nhiên, trong ba loại tình bạn nói trên, loại thứ ba mới đúng thật là tình bạn đích thực và đáng ước ao. Tuy nhiên, Aelred còn bổ túc thêm cho định nghĩa về tình bạn của Cicero khi xác quyết thêm rằng, Thiên Chúa thiết lập nên tình bạn ngay từ khi mới tạo dựng con người và đặt nó trên nền móng của sự hiện diện của Đức Kitô[2]. Tình bạn đích thực sẽ dẫn đến kinh nghiệm của Chúa Kitô ngay từ đời này: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa… nhưng là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,15)… Kinh nghiệm về tình bạn trong Đức Kitô sẽ phát triển cho đến tình bạn nghĩa thiết đời đời với Thiên Chúa. Aelred cũng không ngần ngại đính kết tình bạn chân thật vào câu nói của thánh Gioan Tông Đồ: “Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1Ga 4,16).

Kinh Thánh kể ra nhiều đôi bạn, tốt cũng có nhiều, mà xấu cũng không thiếu. Chúng tôi chỉ xin dừng lại nơi tình bạn giữa Gio-na-than và Đa-vít. Phải chăng đây là loại tình bạn thiêng liêng thánh thiện và bền vững? Phải chăng đây là mẫu gương của tình bạn cao quý, chân thật và phản ánh tình bạn lý tưởng và trường cửu của Đức Giêsu Kitô với nhân loại?

1. Đa-vít, người được yêu

Xét theo thứ tự thời gian, Kinh Thánh trình bày Đa-vít là người được yêu và Gio-na-than là người chủ động. Số là, sau khi hạ sát Gô-li-at, tên tướng giặc khổng lồ của người Phi-li-tinh, Đa-vít xách đầu y về diện kiến vua Sa-un. Sau khi trả lời câu hỏi của nhà vua về thân thế của mình: “Con là con của tôi tớ ngài là Giê-sê, người Bê-lem” (1Sm 17,58), thì tâm hồn Gio-na-than gắn bó với tâm hồn Đa-vít, và Gio-na-than yêu mến Đa-vít như chính mình (x. 1Sm 18,1). Tiếp liền sau đó, Thánh ký lặp lại một lần nữa câu “Gio-na-than yêu mến Đa-vít như chính mình” để xác quyết về tình bạn giữa Gio-na-than với Đa-vít. Lần này, có thêm hai yếu tố nữa để củng cố cho tình bạn giữa hai người: Gio-na-than lập giao ước với Đa-vít và tặng quà; những món đồ tượng trưng cho địa vị và thân phận của Gio-na-than và cần thiết cho cuộc sống của một chiến binh, những vũ khí cá nhân để tự vệ và chiến đấu: “áo khoác, áo trong, gươm, cây cung và cả thắt lưng” (1Sm 18,3).

Thánh ký diễn tả tình bạn giữa hai người qua những câu vắn tắt và không xác định diễn tiến về thời gian của tình bạn này, làm cho người ta có cảm tưởng đây là một “tiếng sét ái tình”.

Có lẽ không phải như thế, vì theo một truyền thống kể lại[3], Đa-vít được giới thiệu vào làm người gảy đàn và hầu cận vua Sa-un trong khi ông bị trầm cảm. Do đó, Đa-vít ở sát cạnh ông trong lúc bình thường và hộ tống ông trong các trận đánh quân Phi-li-tinh (x. 1Sm 17,1-11).

Qua sự giới thiệu của viên hầu cận của vua Sa-un, Đa-vít được biết đến như là “một dũng sĩ can đảm, một chiến binh, một người có tài ăn nói, đẹp trai, và Đức Chúa ở với Đa-vít” (1Sm 16,18).

Còn Gio-na-than là một dũng sĩ can đảm và có lòng trông cậy vào Đức Chúa (x. 1Sm 14,6.12). Cả hai người đều có đủ điều kiện để được liệt kê vào số những người đạo đức thánh thiện theo tiêu chuẩn của Cựu Ước: đó là những người kính sợ Đức Chúa.

Đa-vít đã ở với vua Sa-un một thời gian lâu dài. Chắc chắn Gio-na-than đã có dịp gặp gỡ, trao đổi và tìm hiểu lẫn nhau, nên họ đã có sự mộ mến nhau từ trước: phục nhau vì tài, mến nhau vì đức là điều dĩ nhiên. Đa-vít hồi trào trong chiến thắng hiển hách, có lẽ chỉ là một giọt nước làm đầy tràn “chén” tình cảm của hai người để Kinh Thánh có thể nói lên rằng: “Tâm hồn Gio-na-than gắn bó với tâm hồn Đa-vít”… trong tình yêu dân tộc (hòa hợp trong sự việc của con người) và trong niềm kính sợ Đức Chúa (hòa hợp trong sự thiêng liêng).

2. Đa-vít được nâng cao trong tình bạn

Xét về phương diện tài năng, sự can đảm, tuổi tác hai người ngang cơ nhau (có lẽ Gio-na-than có tuổi đời cao hơn Đa-vít). Cả hai đều là những chiến binh dũng cảm và mưu lược, dầu cho xem ra Đa-vít có vẻ mạnh mẽ hơn, thành công và có khả năng lãnh đạo hơn (x. 1Sm 18,5.7.12.14-16.). Tuy nhiên, xét về địa vị xã hội, Gio-na-than thuộc tầng lớp quý phái vì chàng là thái tử, còn Đa-vít xuất thân từ giới bình dân. Thân phụ của chàng là người chăn chiên và Đa-vít cũng là người chăn chiên. Do đó, Gio-na-than cao hơn Đa-vít về địa vị là chủ, còn Đa-vít thấp hơn với địa vị của người tôi tớ. Quả thật, từng nhiều lần Đa-vít xưng mình là tôi tớ của Gio-na-than (x. 1Sm 20,7-8.28). Khi Đa-vít nói với Gio-na-than “nếu tôi có tội, thì chính anh hãy giết tôi đi” (1Sm 20,8), là chàng đã chân nhận vai trò vương giả hợp pháp của Gio-na-than. Ba lần Đa-vít đã sấp mình trước Gio-na-than (x. 1Sm 20,41). Những điều này cho thấy vị trí khác biệt giữa hai người, Gio-na-than là chủ, Đa-vít là tôi tớ.

A-rít-tốt[4] đã nói rằng: “Người bạn tốt thì được chia sẻ bởi những điều tốt, còn người tốt thì mong muốn điều tốt cho người khác”. Gio-na-than tỏ ra là người bạn tốt với Đa-vít khi chia sẻ chính địa vị cao quý của mình cho Đa-vít. Nói cách khác, Gio-na-than muốn nâng Đa-vít lên ngang hàng với mình qua việc tặng y phục, vì y phục là biểu hiện cho địa vị xã hội của con người[5]. Hơn nữa, quà tặng của Gio-na-than biếu cho Đa-vít (x. 1Sm 18,4) chẳng những nói lên ý muốn thăng cấp cho Đa-vít mà còn muốn chuyển giao quyền thừa kế vương vị cho chàng, do bởi sự khâm phục tài năng và tư cách của Đa-vít. Hẳn thật, Gio-na-than qua việc tặng y trang, khí tài, muốn nhường quyền kế vị cho Đa-vít. Từ đây, Đa-vít không những ngang hàng mà còn tiến lên địa vị cao hơn Gio-na-than[6].

3. Tình bạn trong thử thách

Tình bạn giữa hai người không luôn luôn xuôi thuận, nhưng trải qua nhiều gian nan thử thách. Các thử thách ấy không do bởi người ngoài, nhưng do bởi người thân trong nhà, người ấy chính là vua Sa-un. Vua Sa-un đã gả con gái Mi-kha cho Đa-vít, như thế Đa-vít trở thành con rể, và là người thân thuộc của nhà vua.

Nhắc lại chuyện cũ: Sa-un được tiên tri Sa-mu-en thay mặt Đức Chúa tuyển chọn và phong vương. Ông có đủ tiêu chuẩn để làm một vị quân vương lý tưởng theo những tiêu chuẩn của người đời: thuộc dòng dõi có thế giá, trẻ trung, đẹp trai, cao hơn toàn dân từ vai trở lên và trong toàn dân không có ai được như ông (x. 1Sm 9,1-2.24).

Những năm đầu của triều đại Sa-un được tô điểm bằng những chiến công rực rỡ: ông đánh tan kẻ địch thù tứ phía “quay về phía nào ông cũng thắng”. Điều này do bởi tài năng cá nhân, mà cũng do bởi ông khéo dùng người: “Hễ thấy ai là dũng sĩ và người can đảm, vua Sa-un đều thu dụng” (1Sm 14,52).

Về sau, vì vua Sa-un không tuân theo các mệnh lệnh của Đức Chúa, Người loại bỏ nhà vua và chọn Đa-vít lên làm vua thay ông.

Nhân dịp cuộc khải hoàn thắng trận của Đa-vít, các phụ nữ Ít-ra-en tung hô: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, Đa-vít hàng vạn” (1Sm 18,7), vua Sa-un đâm ra buồn bực, ghen tức rồi ghen ghét và sợ Đa-vít (chiếm ngai vàng của vua Sa-un) đến độ muốn lấy mạng sống của chàng bằng bất cứ giá nào. Ba lần (x. 1Sm 18,11; 19,10) nhà vua lấy giáo phóng vào Đa-vít; một lần định dùng tay quân Phi-li-tinh giết Đa-vít; hai lần triệu tập lực lượng hùng hậu để truy sát Đa-vít (x. 1Sm 23,8; 24,3), nhưng Đa-vít đều thoát nạn. Còn Gio-na-than, chàng không đồng lòng với vua cha trong âm mưu đen tối này, nhưng vẫn trung thành với Đa-vít, khi thì che giấu, khi thì lập kế để báo tin cho Đa-vít về ý định xấu xa của nhà vua, hầu để Đa-vít đào tẩu và bảo toàn mạng sống, đến độ chính Gio-na-than cũng bị chính vua cha căm giận và phóng lao để giết chết (1Sm 19,1-7).

Cảnh chia tay lần cuối cùng giữa hai người bạn tại Khoóc-sa thật cảm động. Chính lần này, Gio-na-than đã bí mật lên đường tìm kiếm Đa-vít và động viên tinh thần cho người bạn thân. Gio-na-than biết chắc rằng đại cuộc sẽ thay đổi, Đa-vít sẽ lên làm vua, nên hai người lập lại giao ước với nhau một lần nữa, như ngầm nói lên rằng cho dù vật đổi sao dời tình thân của đôi ta vẫn muôn đời không đổi thay.

Sau lần chia tay này, hai người không còn gặp nhau nữa, cha con của vua Sa-un sau đó bị người Phi-li-tinh thảm sát tại núi Ghin-bô-a (x. 1Sm 31,1-7).

Nghe tin dữ, Đa-vít làm bài văn tế khóc than cho vua Sa-un và Gio-na-than. Đây có thể là yếu tố của một quốc tang, cho xứng đáng với danh dự của một nhà vua tiên khởi của Ít-ra-en[7].

Lời lẽ trong bài điếu văn thật lâm li bi thảm:

“Hỡi Ít-ra-en, trên các đồi của ngươi, những người con ưu tú đã bỏ mình. Than ôi! Anh hùng nay ngã gục!

… Hỡi núi đồi Ghin-bô-a, ước gì trên các ngươi chẳng còn mưa rơi sương đọng, chẳng còn những cánh đồng phì nhiêu, vì tại đó khiên thuẫn các anh hùng đã bị vứt bỏ!

… Ôi những con người dễ thương, dễ mến, sống chẳng xa nhau, chết cũng chẳng rời, nhanh hơn chim bằng, mạnh hơn sư tử!

Thiếu nữ Ít-ra-en hỡi, hãy khóc Sa-un, người đã mặc cho các cô vải điều lộng lẫy, đính trên áo các cô đồ trang sức bằng vàng.

Than ôi! Các anh hùng đã ngã gục giữa lúc giao tranh! Trên các đồi của ngươi, Giô-na-than đã bỏ mình!

Giô-na-than, anh hỡi, lòng tôi se lại vì anh! Tôi thương anh biết mấy! Tình anh đối với tôi thật diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ” (2Sm 1,19-26).

Sau này, vì tình nghĩa với Gio-na-than, vua Đa-vít sẽ đối xử tốt với cận thần của vua Sa-un và tận tình chăm sóc cho con của Gio-na-than là Mơ-phi-bô-sét.

Có lẽ do bởi câu cuối cùng trong bài văn tế: “Tình anh đối với tôi thật diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ” (2Sm 1,26) mà không ít người cho rằng mối quan hệ giữa hai người thuộc loại tình bạn nhục thể, đồng tính luyến ái (homosexual). Gary stansell[8] cho rằng đây là một kiểu giải thích bất thường (queer reading) đối với tình bạn của Đa-vít và Gio-na-than. Bởi lẽ, Kinh Thánh bài xích và lên án tội đồng tính luyến ái. Nếu Kinh Thánh có nói tới thì là để lên án như trường hợp của dân thành Sô-đô-ma hay như điều luật cấm được nói tới trong sách Lêvi[9], và thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rô-ma[10].

Có người gợi ý rằng tình bạn giữa Gio-na-than và Đa-vít là loại tình cảm của phái nam gắn bó mật thiết với nhau hơn là tình yêu nhục dục (erotic love) và câu 26 của sách thứ hai Sa-mu-en, chương 1 vừa trích dẫn ở trên chỉ muốn nói lên rằng “Gio-na-than yêu Đa-vít…hơn là một người đàn bà yêu người đàn ông (Jonathan loves David…more than women love men)”[11].

Kết luận

Đa-vít và Gio-na-than là đôi bạn kiểu mẫu trong Kinh Thánh và có thể giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tình bạn cao sâu và nhiệm mầu của Ngôi Lời nhập thể – Đức Giêsu Kitô – đối với nhân loại.

Điểm nổi bật trong tình bạn này là lòng trung tín (hesed) được lặp đi lặp lại trong câu chuyện của họ. Đôi bạn trung thành và gắn bó với nhau trong mọi lúc, khi thuận lợi cũng như trong lúc gian nan. Cả sau khi người bạn đã khuất bóng, Đa-vít, vì tình nghĩa với Gio-na-than, vẫn ân cần chăm sóc cho người thân của bạn mình.

Sách Châm Ngôn tán dương về tình bạn chân thật: “Có thứ bạn bè gây ra tai hoạ, có người thân hữu gắn bó hơn cả anh em” (Cn 18,24), áp dụng đúng cho trường hợp của Đa-vít và Gio-na-than (gắn bó với nhau hơn cả anh em), và trường hợp của Đa-vít và vua Sa-un (có thứ tình bạn gây tai hoạ).

Tình bạn chân thật nâng nhau lên và làm cho nhau thăng hoa. Thái tử Gio-na-than coi Đa-vít – người chăn chiên, ngang hàng với mình qua việc tặng y trang với khí giới và lập giao ước với nhau nhân danh Đức Chúa và trước tôn nhan Chúa. Họ đã trung thành tuân giữ giao ước này, nên có thể nói đây là một tình bạn thiêng liêng và thánh thiện, khi họ cùng nhau lập giao ước trước tôn nhan Chúa, cũng như hành động và chinh chiến trong sự trông cậy vào ơn Chúa phù giúp (x. 1Sm 14,6; 16,18).

Đến thời Tân Ước, Thánh Tử Giêsu đã thực hiện tình bạn lý tưởng với nhân loại qua việc tự huỷ, mặc lấy thân phận con người để thực hiện việc trao đổi kỳ diệu là cho con người được nâng lên địa vị làm “thái tử” – làm con Chúa trong ân sủng. Ngài đã ký kết với họ một giao ước mới và trường cửu, Ngài yêu thương con người cho đến cùng khi nhận lấy cái chết để trao ban cho họ đời sống ân nghĩa với Thiên Chúa Cha, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần. Trước khi chịu chết để cứu độ con người, Ngài còn ban cho các môn đệ một điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,14).


 

[1] “Est enim amicitia nihil aliud nisi omnium divinarum humanarumque rerum cum benevolentia et caritate consensio” (Amic 6.20). Aelred of Rievaulx, “Spiritual Friendship”, Cistercian Publications, Lituragical Press, Minnesota, p. 1.38.

[2] Ga 1,3: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành”.

[3] x. Chú thích a, 1 Sm 17,12. Kinh Thánh trọn bộ, ấn bản năm 2011 của nhóm phiên dịch CGKPV, Nxb. Tôn Giáo.

[4] Nicomachean Ethics, Books VIII and IX.

[5] Gary Stansell, David and His Friends, Social-scientific Perspectives on the David-Jonathan Frienship, Biblical Theology Bulletin Volume 41, p.22.

[6] Gary Stansell, David and His Friends, Social-scientific Perspectives on the David-Jonathan Frienship, Biblical Theology Bulletin, Volume 41, p.22.

[7] x. Chú thích d, 2 Sm 1,17. Kinh Thánh trọn bộ, ấn bản năm 2011 của nhóm phiên dịch CGKPV, p. 533, Nxb Tôn Giáo.

[8] Gary Stansell, David and His Friends, Social-scientific Perspectives on the David-Jonathan Frienship, Biblical Theology Bulletin, Volume 41, p.37.

[9] Lv 20,13: “Khi người đàn ông nằm với một người đàn ông như nằm với người đàn bà thì cả hai đã làm điều ghê tởm: chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng”.

[10] Rm 1,26-27: “Bởi thế, Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình”.

[11] Gary Stansell, Op.Cit, p.37.


Liên quan khác