ĐỘNG LỰC

19/12/2018

 

 FM.Theophan Phạm Hữu Ái

ĐỘNG LỰC

I. Động lực

II. Động lực “say mê Thiên Chúa”

III. Tạo động lực


Theo “Đại Tự Điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên. Hạn từ “động lực” bao gồm hai nghĩa: 
1. Năng lực làm cho máy móc chuyển động
2. Cái thúc đẩy làm cho biến đổi, phát triển. Chẳng hạn, tình yêu là động lực của cuộc sống.
Bài viết xin dừng lại ở nghĩa thứ hai, tức là sức mạnh thúc đẩy làm cho biến đổi, phát triển. Ở đây, chữ “động lực” được hiểu và suy tư dưới lăng kính của việc “say mê Thiên Chúa”. “Say mê Thiên Chúa” là một hạn từ cụ thể, nhưng nội hàm rất là siêu việt. Bởi lẽ, “Thiên Chúa chưa ai xem thấy bao giờ, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người sẽ tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1, 18). Nếu là siêu việt, vượt trí hiểu và sức lực con người, thử hỏi “say mê Thiên Chúa” là một khả thể? Và động lực nào có thể khiến con người bị cuốn hút đến mức không thể rời ra và không thiết điều gì ngoài Thiên Chúa? Có một động lực như thế trong thế giới này không, hay chỉ là sản phẩm của một sự tưởng tượng? Nếu có, động lực đó là gì?

I. Động lực

Có một điều ai cũng phải công nhận: con người luôn khao khát đi tìm kiếm hạnh phúc và xem đó như là đích đến của một đời người. Theo Aristote, hạnh phúc là sự hoàn thành, là đạt tới đích mà mình nhắm tới. Một khi hoàn thành thì điều đó cũng là trọn vẹn, trọn hảo. Thế mà, điều gì trọn hảo là thiện hảo. Như vậy, hạnh phúc theo Aristote là đạt tới sự thiện hảo và nó không gì khác hơn chính là có một cuộc sống tốt đẹp, một niềm vui tròn đầy ngay tại thế. Theo nghĩa này, để có một cuộc sống tốt đẹp, ta phải hướng về đích đến và hành động làm sao cho cuộc sống được hoàn thành xứng với phẩm giá con người. Ở đây ba yếu tố: đích đến, lòng ước ao và hành động (praxis), luôn đi liền và tương quan mật thiết với nhau. Ta chỉ ước ao khi thấy được sự hấp dẫn của đích đến. Đích đến càng hấp dẫn, sự ao ước càng mạnh mẽ và khiến ta phải thực hiện một hành động (praxis) để đạt tới đích đó. Tại sao ta ước ao hướng về đích, nếu không phải vì thích, vì yêu, vì nó thoả mãn được ước vọng của mình? Nếu như vậy thì càng thấy thích, thấy yêu, cảm được hạnh phúc, ta càng mong ước hướng về. Chẳng hạn, một người yêu thích thể thao thì tâm trí của họ luôn hướng về nó và chấp nhận tất cả để làm sao sự yêu thích của mình được mãn nguyện; một người chỉ có thể say mê chính trị khi họ thực sự thích, thực sự yêu quyền lực. Và, chỉ khi tình yêu đủ lớn, đủ mạnh người ta mới đủ lực để hướng về phía trước; vận dụng mọi khả năng, phương thế để đạt được điều mình yêu thích. Điều đó cho thấy: tình yêu chính là động lực và là động lực duy nhất để biến đổi và thôi thúc con người đạt tới đích mà họ nhắm tới. Thế mà, trong cuộc đời này hai chữ hạnh phúc thật sự mơ hồ. Nó được cảm nhận rất khác nhau tuỳ theo đối tượng, hoàn cảnh và tuỳ vào lợi ích. Một người đang đói, hạnh phúc đối với họ là có một bữa ăn; một người làm chính trị, hạnh phúc của họ là đạt được quyền lực, yêu sách được đáp ứng… và như thế, có bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu cảm nhận về hạnh phúc thì cũng có từng đó tình yêu; do đó, cũng có bấy nhiêu động lực.
Dẫu là thế, nhưng trong tiến trình lịch sử, người ta đã tổng hợp và phân tách tình yêu thành ba cấp độ khác nhau. Ba cấp độ này được diễn tả bằng ba hạn từ Hy Lạp: Eros, Philia và agape. 
Theo Platon, Eros là thứ tình yêu thiếu thốn, là nỗi đam mê của con người hướng về những gì mà nó không sở hữu, những gì nó cảm thấy thiếu, những gì không thuộc về nó. Tình yêu này là tình yêu chiếm hữu và mong muốn chiếm hữu để làm của riêng mình. Đó là tình yêu dễ dàng nhất, nhưng cũng mưu mô xảo quyệt nhất. Tuy nhiên, nó là nguồn của mọi đau khổ và chán chường. Đau khổ vì phải yêu những gì không thuộc về mình, nên nó không chắc chắn, hoàn toàn ở ngoài tầm tay. Người ta muốn giữ, nhưng giữ không nổi. Nó làm cho ta chán, vì bao giờ cũng vẫn thiếu, không thể thoả mãn, không thể tròn đầy; đến rồi lại đi, biến biến hoá hoá theo phương cách hiện hữu vô thường. Vì thế, động lực của nó rất mãnh liệt, nhưng mang tính cảm xúc, nên không ổn định và dễ làm tiêu tan nhiệt huyết. Đến một lúc nào đó, ta mất đi động lực để rồi phải đi tìm chữ “quên”, đánh mất phương hướng. 
Philia là tình bạn. Đây là tình yêu theo quan niệm của Aristote. Yêu những gì thuộc về mình, là mình và những gì mình tạo nên. Tình yêu mang lại niềm vui và không thể tách khỏi niềm vui. Đối với Aristote, yêu là vui sướng, là hạnh phúc. Với nghĩa này, yêu những gì mình đang thiếu theo quan niệm Platon thì không thể được gọi là tình yêu, vì nó không mang lại hạnh phúc cho ta. Trong thực tế, Eros và Philia luôn pha trộn và thường quyện lấy nhau. Chính vì thế, khi diễn tả tình bạn, Aristote cũng đã phân chia thành ba cấp độ: bạn để lợi dụng nhau; bạn vì thú vui và bạn mang đến hạnh phúc. Tiến triển của các cấp độ này diễn tả một kinh nghiệm: tình bạn chân thật sẽ mang đến cho con người hạnh phúc và con người chỉ có hạnh phúc khi có tình bạn chân thật. Tình bạn chân thật luôn mong ước điều tốt lành cho bạn; chia sẻ cho bạn những gì tốt nhất và cùng với bạn nếm hưởng niềm vui. Trong tình bạn này không phải không có lòng mong ước có nhau, cần nhau, nhưng lòng mong ước này không phải là một sự thiếu thốn mà nó chính là sức mạnh để xây dựng một tình bạn trọn hảo. Tình yêu ở cấp độ này thanh cao hơn eros, nhưng phần ưu tiên là niềm vui và hạnh phúc cho mình, vì bạn là nguyên nhân niềm vui của tôi. Vì thế, vẫn còn đó tính vị lợi nơi động lực của con người. 
Agape là cấp độ thứ ba và là cấp độ sau cùng của tình yêu. Tình yêu này được gọi là đức ái, bác ái (Caritas, la Charité). Tuy nhiên, agape là danh từ không hề được biết đến và sử dụng trong tư tưởng của Platon, Aristote và ngay cả Épicure mà xuất hiện rất trễ trong văn hoá Hy Lạp. Đặc biệt, thánh Gioan đã sử dụng danh từ “agape” khi định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Sau này, các triết gia như Simone Weil hay Jankélévitch đã sử dụng và khai triển trong tư tưởng của mình. Theo đó, agape là tình yêu trao ban và đón nhận; chấp nhận và bảo vệ; yêu và được yêu; một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi. Đây cũng là tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, “vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 6,45). Cụ thể, chúng ta có thể diễn tả: tôi yêu bạn như yêu chính tôi, không vì một lý do nào cả, hoàn toàn không. Tôi yêu bạn như Thiên Chúa đã yêu tôi “ngay khi tôi còn là tội nhân”. Tuy nhiên, thực tế mà nói: chúng ta là những hữu thể tại thế, nên không thể nào không có tham, sân, si và vì thế rất giới hạn. Giới hạn đến nỗi bất lực vì “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”(Rm 7,19). Thử hỏi, một hữu thể tham, sân, si như vậy có thể yêu tha nhân như Thiên Chúa yêu được không? Một hữu thể giới hạn có thể say mê Thiên Chúa, Đấng vô cùng siêu việt ngay tại thế này không? Và điều gì tạo nên động lực để con người “say mê Thiên Chúa”?

II. Động lực “say mê Thiên Chúa”

Rất khó để thực hiện tuyệt đối tình yêu agape trong cuộc sống đời thường, vì theo thánh Benado: khởi đầu tình yêu nơi con người là tình yêu vị kỷ (thuộc về bản chất của con người): “yêu mình vì mình” [1] . Do đó, để yêu như Thiên Chúa yêu ta là một khó khăn; yêu kẻ thù như yêu chính mình theo đúng nghĩa của nó- hoàn toàn vô vị lợi- là một điều rất khó, nếu không muốn nói là mâu thuẫn với khuynh hướng tự nhiên. Nếu vậy, agape chỉ tồn tại trong tâm tưởng sao? 
Thánh Benado cũng đã nhận ra điều nan giải này khi ngài phân chia tình yêu thành bốn cấp độ: “yêu mình vì mình”; “yêu Chúa vì mình”; “yêu Chúa vì Chúa” và “yêu mình vì Chúa” [2]. Ở cấp độ thứ tư là cấp độ mà con người như tan biến trong Chúa, trở nên trống rỗng hoàn toàn để kết hiệp mật thiết với Ngài. Linh hồn giống như giọt nước được bỏ vào thùng rượu và tan biến đi đến nỗi không còn là giọt nước nữa. Thánh nhân gọi đây là giai đoạn “thần hoá”, và cho rằng: ở trần gian, con người không thể đạt được mức độ này trọn vẹn, nếu có chăng là một số trường hợp đặc biệt do ân huệ của Chúa, nhưng chỉ được thực hiện khi ở trên Nước Trời.

Mặc dù không thể thực hiện cấp độ thứ tư của tình yêu cách trọn vẹn trong cõi thế này, nhưng không có nghĩa là không tồn tại tình yêu agape-yêu như Chúa yêu-trong cuộc sống chúng ta. Vì rằng: chúng ta có thể chứng kiến vô số con người tận hiến đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân với một tình yêu nhưng không; vô số người cha, người mẹ sẵn sàng hy sinh tất cả cho con cái của mình, ngay cả những người con hư hỏng và phản nghịch. Có chăng là khó tìm ra một agape tinh tuyền, một agape lý tưởng như agape nơi Thiên Chúa. 
Về điểm này, nhìn dưới khía cạnh triết học là một điều rất tự nhiên, nếu không muốn nói: đương nhiên là như vậy. Ba cấp độ của tình yêu: eros, philia và agape là ba điều cần thiết, liên kết trong một tiến trình nối tiếp nhau; chứ không phải là ba yếu tính tách biệt nhau. Vì thế, không thể tách eros ra khỏi philia và agape; cũng như không thể tách agape ra khỏi philia và eros. Đúng hơn nó là ba cực của cùng một lãnh vực tình yêu; ba khoảng khắc trong một tiến trình. Trong đó, eros là đầu tiên và luôn luôn vẫn thế, Freud và Schopenhauer đã nhắc lại cho chúng ta điều này trong học thuyết của họ; agape là đích đến mà Tin Mừng không ngừng chỉ cho ta thấy; còn philia là con đường, là phương thế và cũng là động lực để hướng tới đích. Vì, người ta sẽ không tiến tới đích được, nếu không có niềm vui (philia). Như vậy, niềm vui là con đường, là điều kiện để biến “cái vơi” (eros) thành “sức mạnh”; “cái thiếu”(eros) thành “tròn đầy” và “cái nghèo” thành “sung mãn, giàu có”(agape) [3]

Hiểu như thế để chúng ta chấp nhận một sự thật: agape vừa là một tình yêu đang tồn tại, nhưng cũng là cùng đích mà con người nhắm tới; vừa là nguồn dinh dưỡng tạo nên năng lực sinh động cả thế giới, nhưng cũng là một nỗi khao khát khôn vơi: “Lạy Chúa, linh hồn con khao khát mãi cho đến khi nào được nghỉ an trong Chúa”[4] . Ta khao khát hướng về cùng đích “agape” (tình yêu Thiên Chúa), vì chúng ta đã nếm cảm được niềm vui đó qua việc được trở nên bạn hữu của Chúa Giêsu (x Ga 15,15) và chính chúng ta có khả năng để trở thành bạn hữu của Ngài (x. St 1,26) [5]

Như vậy, trong thân phận con người, chúng ta vẫn có khả năng yêu Chúa đến độ “say mê”, nhưng “say mê” này không phải là cùng đích, mà chỉ là phương tiện và là động lực. Có thể nói: đó là tình yêu “agape-philia”, nghĩa là “thoả” mà “bất thoả”; là tình yêu của “tân lang-tân nương” trong sách Diễm Tình Ca, tưởng là trọn vẹn, nhưng vẫn luôn kiếm tìm. Vì thế, mức độ của động lực “say mê Thiên Chúa” tỉ lệ thuận với mức độ “làm bạn” với Chúa. Càng là “bạn bè” thì càng đầy tràn niềm vui; một khi đầy tràn niềm vui thì lại “say mê Thiên Chúa” hơn. Cứ thế, “say mê” tạo nên động lực, động lực dẫn đưa đến say mê và đến một lúc nào đó ta được “nên một” trong “agape” tuyệt đối.

III. Tạo động lực

Để nên “một” với agape tuyệt đối, nghĩa là tình yêu Thiên Chúa, dĩ nhiên cần phải có động lực. Động lực càng mạnh, càng thúc đẩy ta tiến về đích nhanh hơn. Thế mà, động lực của việc say mê Thiên Chúa tỉ lệ thuận với mức độ “trở nên bạn” với Thiên Chúa. Nếu là “bạn” của Thiên Chúa ở mức độ ba, tức là bạn để được hạnh phúc (theo Aristote), thì ta sẽ có được một niềm vui tràn đầy, trọn vẹn. Niềm vui sẽ tạo nên động lực để say mê Thiên Chúa hơn nữa. Thế nhưng để có một tình bạn tốt, tình bạn thực sự thì cần phải hiểu bạn, quí bạn và trách nhiệm với bạn.
Trước hết, cần phải hiểu bạn. Hiểu bạn là điều kiện đầu tiên để tạo nên một tình bạn chân thật. Nhưng để hiểu được một người bạn không phải là một chuyện dễ vì nó đòi hỏi cần phải biết rõ về người bạn đó. Để biết rõ phải có thời gian làm quen, tiếp xúc, gần gũi và chung sống. Chính khi biết rõ về bạn, nó sẽ tạo nên một sức hút, một sự hấp dẫn để hướng tới và xây dựng một tình bạn chân thật.
Cũng thế, để tạo nên động lực say mê Thiên Chúa, cần phải biết được Chúa. Làm sao chúng ta có thể biết được Thiên Chúa, Đấng vô cùng siêu việt? Chúng ta có thể biết được Thiên Chúa qua: giác quan, lý trí và mạc khải:
– Với giác quan, ta nhận ra sự kỳ diệu của vạn vật như là dấu chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa chân thật (x. Rm 1,19-20)
– Bằng lý trí, với phương pháp luận lý, ta khám phá ra có một nguyên nhân đệ nhất, tác tạo và chỉ huy trật tự lạ lùng của vũ trụ, mà nếu không chấp nhận điều này thì thật là phi lý.
– Nhờ mạc khải, Thánh Thần dẫn chúng ta vào sự thật trọn vẹn. Nơi đây, ta biết được Thiên Chúa qua những lời nói và hành động của Đức Giêsu. Những hành động như tha tội, cho kẻ chết sống lại và chế ngự thiên nhiên không thể đến từ bản tính con người, nhưng phải phát xuất từ quyền năng Thiên Chúa.
Một khi biết rõ Thiên Chúa, theo thánh Benado, chúng ta không thể không yêu mến Ngài: “Tôi khẳng định rằng lý do yêu mến chính là Thiên Chúa. Tôi nói đúng, vì Ngài vừa là Đấng tạo thành, vừa là cứu cánh của tôi; Ngài vừa tạo điều kiện, gây cảm tình và cũng chính Ngài thoả mãn mọi ước vọng. Ngài khiến tôi yêu mến Ngài, hay đúng hơn, Ngài có sức lôi cuốn đến độ ta không thể không yêu mến Ngài nếu ta biết rõ Ngài”[6] 

Kế đến, một khi biết rõ và cảm nhận được sự tốt lành của bạn, lẽ tự nhiên, ta quí mến bạn. Quí mến bạn là điều kiện thứ hai để có một tình bạn bền vững. Bởi vì, quí bạn sẽ không lợi dụng bạn, nhưng luôn trân trọng và giữ gìn. Thực tế cho thấy khi trân trọng và quí mến ai, người ta thường biết trân trọng và quí mến chính mình. Sự trân trọng này được thể hiện qua việc muốn trở nên giống người đó trong lời ăn tiếng nói và nhất là cố gắng làm sao tiến lên đạt tới tầm mức của bạn. Ước muốn này không phải để cạnh tranh hay ganh tỵ, nhưng là để hiểu rõ bạn hơn và nhờ đó tạo nên sự đồng cảm. Trong tình bạn với Thiên Chúa, chính Chúa cất nhắc ta trở nên bạn hữu của Ngài: “Thầy không còn gọi các con là tôi tớ nữa, nhưng gọi các con là bạn hữu của Thầy” (Ga 15,15), nên Ngài cũng muốn ta được giống như Ngài bằng chính việc thực hiện những hành động và suy nghĩ của Ngài (x. Mt 5: nói đến những đòi buộc của việc thực thi Hiến chương Nước Trời). Để có cùng một suy nghĩ, cùng một hành động như Chúa, điều kiện tiên quyết là nâng mình lên một tầm mức mới. Đó là cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới (x. Cl 3,9), để “đạt tới tuổi trưởng thành viên mãn trong Đức Kitô Giêsu” (Ep 3, 19).
Cuối cùng, tình bạn chỉ có thể trở thành nguồn hạnh phúc khi ta xây dựng một tình bạn có trách nhiệm, nghĩa là “thương mến bạn như thể thương thân”, vì ta với bạn, tuy một là hai; tuy hai là một (Tản Đà). Ta yêu mến bạn vì bạn là bạn của ta, chứ không vì lý do nào cả; ta yêu bạn vì ta cần có bạn và bạn cần có ta. Ta như “ở trong” bạn; bạn “ở trong” ta. Ta trách nhiệm với bạn, vì ta phải trách nhiệm với ta. Cũng thế, trở nên “bạn” với Thiên Chúa, ta cũng phải sống có trách nhiệm với Chúa. Thế mà, Ngay khi còn yếu hèn, Đức Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì ta là kẻ tội lỗi (x. Rm 5,6), Ngài thể hiện tình yêu qua Đức Giêsu và “yêu cho đến cùng” (Ga 13,1). Ngài mong muốn gì nếu không phải là “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2,4). Như thế, trách nhiệm với Thiên Chúa là làm theo thánh ý của Ngài, nghĩa là “trở nên hoàn thiện như Cha ở trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Vậy mà để hoàn thiện như Cha, ta phải yêu mến Cha. Đích đến của việc yêu mến này là chứng nghiệm Thiên Chúa, tức là hiệp thông trọn vẹn với Ngài. Một khi hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa, ta được “thần hoá” và sẽ tạo nên một động lực mãnh liệt say mê Thiên Chúa [7] . 

Như thế, tình yêu và chỉ có tình yêu là động lực duy nhất để ta “say mê Thiên Chúa”. Tình yêu đó khởi đi từ những gì hết sức cụ thể trong cuộc sống thường ngày, tuân theo một trật tự rất tự nhiên. Khởi đầu luôn vẫn là tình yêu eros và nhờ tình bạn Philia, ta biến cái vơi, cái thiếu thốn của tình yêu nhục thể thành tròn đầy của tình yêu agape. Thế nhưng, để tiến tới một tình yêu agape trọn vẹn, rất cần lực đẩy của những động lực được nuôi dưỡng bằng tình bạn với tha nhân và với Thiên Chúa. Động lực này chỉ có được khi ta biết rõ Thiên Chúa và yêu Ngài bằng một tình yêu không mức độ; một tình yêu khác với tình yêu thế gian. Đây là một thách thức cho chúng ta và con người thời đại, nhưng cũng là một động viên để mỗi người vươn ra khỏi mình, hướng về Thiên Chúa tình yêu. 

[1] Thánh Benado, De diligendi Deo (Phải yêu mến Thiên Chúa), số 23

[2] Thánh Benado, De diligendi Deo số 23-27

[3]André Comte-Sponville, Présentations de la philosophie, l’amour, NXB Albin Michel, năm 2000, tr 56-57. (Đây là tiến trình tình yêu của con người, chứ không phải của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là agape).

[4] Thánh Augustino, Tự thuật, quyển một, số 5

[5]St 1, 26: “Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…””.

[6] Thánh Benado, khảo luận: Phải yêu mến Thiên Chúa, số 22

[7]X. Thánh Benado, Phải yêu mến Thiên Chúa, số 27

 

 

 

 

 


Liên quan khác