KAIROS-Thời gian là gì?

12/12/2018

KAIROS

Theophan Vernad Phạm Hữu Ái

Thời gian là gì? Một câu hỏi khó đến nỗi Thánh Augustino phải thú nhận: “Nếu có người nào hỏi tôi thời gian là gì, tôi hiểu được nó; nhưng nếu có ai yêu cầu tôi giải thích thì tôi không biết gì về nó nữa[1]. Câu hỏi khó, vì theo André Comte-Sponville, thời gian là một điều hiển nhiên, nhưng cũng chính là huyền nhiệm[2]. Huyền nhiệm không phải vì nó là chronos (là thời gian vật lý, là niên đại), nhưng chính vì nó được gọi là kairos[3]. Kairos là thời gian định tính, thuộc lãnh vực siêu hình, được sử dụng trong triết học Hy lạp hay trong lãnh vực y khoa cổ đại với nghĩa: cơ hội, thời cơ thuận tiện, chín mùi… Nó cũng được sử dụng rất nhiều trong Cựu Ước và Tân Ước[4] để chỉ thời gian cứu độ, thời gian Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử con người; ngày của Chúa và thời gian cuối cùng. Chính vì thế, kairos là thời gian mang một nội hàm rất phong phú, đầy ý nghĩa với cả niềm vui lẫn nỗi buồn; hạnh phúc và bất hạnh, đầy năng lượng, nhưng cũng có cả sự chán chường…và vì thế, kairos được gọi là “kairos của thế giới” và là “thế giới như là kairos”, có khả năng tạo nên một bước ngoặt trong lịch sử. Theo nghĩa này, Paul Tillich, một nhà thần học Tin lành gọi kairos là một “cuộc khủng hoảng” (crise). Cuộc khủng hoảng trong lịch sử cứu độ và ngay cả trong phạm vi văn hoá, tạo nên một sự thay đổi. Sự thay đổi có thể là tích cực hay tiêu cực. Điều đó tuỳ vào thái độ của chúng ta khi nắm bắt cơ hội.

I. Kairos thời gian cơ hội, thuận tiện

Kairos là một trong những từ mà người Hy lạp dùng để diễn tả thời gian, nhưng rất khó để chuyển ý qua các ngôn ngữ khác vì không có từ tương đương. Người ta sử dụng nó theo nghĩa siêu hình với hàm ý: một cơ hội, một thời gian thuận tiện. Nếu là một cơ hội, có nghĩa là thời cơ đã đến độ chín mùi, mang tính quyết định để hành động, để đạt được kết quả tốt nhất khả dĩ giúp con người gặt hái được thành công. Nếu thời gian được xem là cơ hội thì chắc chắn thời gian đó không thể nào là thời gian được hiểu theo nghĩa niên đại (chronos), có trước, có sau theo trình tự: quá khứ, hiện tại và tương lai mà ý thức có thể nối kết được trong một tổng thể. Sở dĩ khẳng định thời gian này không thể tạo nên một cơ hội là vì: khi đề cập đến quá khứ, chúng ta đang muốn nhắm đến điều gì đã trôi qua. Một điều đã qua đi nghĩa là không còn tồn tại trong hiện tại. Nếu không tồn tại thì làm sao nó có thể là cơ hội được. Trong khi đó, tương lai là điều chưa đến. Một điều gì chưa đến thì không thể là một cơ hội, có chăng chỉ là tiềm năng. Thế mà tiềm năng thì có thể, hay không có thể trở thành hiện thực, nên nó không chắc chắn. Cũng thế, hiện tại theo nghĩa này là điều sắp trở thành quá khứ và đang bước vào tương lai. Người ta gọi nó là một lúc, một chốc, một khoảng khắc rất ngắn. Chúng ta sẽ làm gì được trong một khoảng khắc chốc lát, bởi vì chỉ một tích tắc thôi thì hiện tại đã thành quá khứ và đang đứng trước ngưỡng cửa tương lai, không còn là hiện tại nữa. Thời gian này là thời gian của “kim đồng hồ” đang chuyển động, mà theo Henry Bergson: nó chỉ có một chút ít hiện tại, nên nó không phải là thời gian theo đúng nghĩa (la durée) mà là không gian. Nó là đối tượng của chủ thể, vì chỉ duy tinh thần, chỉ duy ý thức mới có thể nhớ về, hướng về vị trí của quá khứ, để cho nó xuất hiện trên ý thức[5]; và dự đoán trước vị trí của tương lai qua khả năng của trí tưởng tượng. Thời gian này được gọi là thời gian của chủ thể mà theo các triết gia nó chỉ là một “hữu thể thuộc lý”; của ý thức, của linh hồn, là một tổng thể quá khứ và tương lai.

Ngoài thời gian của chủ thể, triết học còn đề cập đến một loại thời gian khác, có tên gọi là thời gian khách thể. Hai loại thời gian này không loại trừ nhau, nhưng chỉ là hai cách thức khác nhau để suy tư về thời gian.

Thời gian khách thể là thời gian thuộc về thế giới, nó tham dự vào thực tại; đúng hơn phải nói: nó chính là thực tại, không thể phân chia và là sự kéo dài vô định sự hiện hữu của thời gian. Henry Bergson sử dụng hạn từ “la durée” để chỉ loại thời gian này. Đây là thời gian mang một nội hàm, một nội dung có độ sâu, độ dài với cả hai chiều kích thời gian và không gian. Chẳng hạn: người ta sử dụng cụm từ: thời gian nghỉ hè; thời gian khởi động; thời gian tồn tại… để chỉ một khoảng thời gian “hiện tại” gắn liền với một thực tại, và thực tại đó tạo nên khoảng thời gian đó. Thật vậy, việc đi nghỉ hè tạo nên một thời gian nghỉ hè trải dài trong một tuần lễ hay hai tuần lễ. Nó là hiện tại chứ không phải là quá khứ; hiện tại để hiện diện và chính sự hiện diện tạo nên “thời gian hiện tại”. Hiện diện theo Heidegger luôn luôn là hiện diện của một ngôi vị: Thiên Chúa và con người.

Nhờ sự hiện diện này mà thời gian chronos: thời gian không ngừng, có đặc tính giống nhau trở thành một kairos: “ở đây và bây giờ”, và nó là con đường duy nhất mà chúng ta xây dựng tình bạn, thực thi bác ái, tập nhân đức…Chúng ta sẽ không làm được điều này trong hiện tại được xem như là một chốc lát, một tích tắc. Trái lại, chỉ nơi kairos “ở đây và bây giờ” là chỗ duy nhất của hành động, duy nhất để suy tư, để tưởng nhớ, để đợi chờ; và vì thế, nó thật sự là một cơ hội, là thời gian thuận tiện của mỗi chúng ta. André Comte-Sponville gọi thời gian “ở đây và bây giờ” là “kairos của thế giới” hay “thế giới như là kairos”, nghĩa là thời gian của hành động; là thực tại đang hành động. Do đó, sống với kairos chỉ đơn giản là sống trong chân lý. Mà mỗi khi sống trong chân lý là chúng ta được mời gọi tham dự vào Vương quốc của Thiên Chúa, là đụng chạm đến vĩnh cửu ngay từ bây giờ.

II. Kairos, thời gian cho một lời mời gọi

Tân Ước lấy lại từ kairos của người Hy lạp nhưng sử dụng một cách đặc biệt theo nghĩa thần học để chỉ thời giờ Thiên Chúa hiện diện với con người và mạc khải cho họ bản tính của Ngài là tình yêu (x. 1G 4, 8). Đây là thời giờ sau hết, “Thời giờ đã mãn (kairos)” (Mc 1,15). Hạn từ “thời giờ đã mãn” không có nghĩa là chấm dứt, nhưng là thời gian đã “chín mùi” và là khởi điểm cho một thời đại mới; tạo nên một sự biến đổi trong lịch sử: Thiên Chúa đến viếng thăm con người. Một cuộc viếng thăm rất đặc biệt vì Ngôi Lời đã làm người, “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7). Ngài đã tự nguyện trở nên nghèo để chúng ta được giàu có (x. 2Cr 8,9), và cho ta trở nên dưỡng tử của Thiên Chúa (x. Rm 8, 4tt). Trong ý nghĩa này, kairos có một đặc tính mà Paul Tillich gọi là cuộc khủng hoảng (Crise). Kairos đồng nghĩa với một cuộc khủng hoảng, tạo nên một bước ngoặt trong lịch sử. Việc Chúa Giêsu đến thế gian là một kairos, và đã tạo nên một thời đại mới, thời đại của ân sủng, của lòng thương xót và của ơn cứu độ, của một sự biến đổi triệt để.

Tuy nhiên, “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần”, nghĩa là vẫn chưa đi tới đích; nó biến đổi thế giới, nhưng chưa hoàn toàn biến đổi. Do đó, lời của Chúa Giêsu: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” mở ra thời gian của lời mời gọi (kairos) mà những ai “tin và đón nhận” thì sẽ được làm Con Thiên Chúa (x. Ga 1,12). Rõ ràng, trong kairos luôn luôn có chiều kích của ngôn sứ, không theo nghĩa là “cho biết trước”; trái lại là chuyển giao sứ điệp của Chúa và mời gọi đón nhận để được biến đổi.

Theo André Gounelle, đặc trưng của ngôn sứ là kết nối giữa việc loan báo với lời mời gọi. Ngôn sứ như là cầu nối để nối kết giữa mệnh lệnh cấp thiết và sự tự do của con người, vì sứ điệp của Chúa tuy là một mệnh lệnh cấp bách cần phải thực hành để có được những kết quả tốt đẹp, nhưng nó còn là lời mời gọi chờ đón sự đáp trả tích cực. Do đó, nó luôn cần đến tự do. Tự do là điều cần thiết để “thời điểm thuận tiện” trở nên một cơ hội quyết định vận mệnh của một con người, một đất nước. Tự do ở đây là tự do đón nhận lời mời gọi, nó bao gồm cả một trách nhiệm; trách nhiệm với Đấng mời gọi và trách nhiệm với chính mình. Trách nhiệm càng cao thì mức độ tự do càng lớn. Điều này hệ tại vào việc thấu hiểu giá trị của thời điểm và cơ hội mà họ nắm bắt để có được một kết quả mỹ mãn.

Thế nhưng ngôn sứ không do con người tạo nên hay sinh ra; ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến với con người. Từ đây, ta nhận ra một điều: ngôn sứ là ân huệ của Thiên Chúa. Thiên Chúa sai ngôn sứ đến là vì con người và cho con người. Việc làm này không đến từ bổn phận mà phát xuất từ tình yêu. Tình yêu bao giờ cũng muốn điều tốt lành cho người mình yêu và tạo tất cả cơ hội có thể, để họ được lớn lên và nên hoàn thiện. Đây là tình yêu nhưng không, nhưng cũng bao hàm một lời hứa.

Ngôn sứ đến do một lời hứa. Lời hứa nằm ngay trong bản tính nội tại của tình yêu. Thiên Chúa tạo dựng con người vì tình yêu và Thiên Chúa hài lòng với công việc tạo dựng này. Trình thuật sáng thế ký (1,1-8.27-28-2,3) mô tả con người được tạo dựng sau cùng như là chót đỉnh của công trình sáng tạo và là tác phẩm cao quý nhất, do được “dựng nên theo và giống hình ảnh Thiên Chúa”. Trong trình thuật ở sáng thế ký đoạn 2, Thiên Chuá đã đặt “hết tâm huyết” như một người thợ gốm tỉ mỉ trong từng chi tiết để tạo ra con người. Một khi đã đặt tất cả tâm hồn vào việc tạo dựng, chắc chắn ở nên đó trách nhiệm sẽ ở một mức độ rất cao và ẩn tàng một lời hứa là giữ gìn và hướng tác phẩm đạt tới mức hoàn thiện của nó. Vì vậy mà ta không hề ngạc nhiên vì sao Thiên Chúa ra hình phạt vì tội bất trung của nguyên tổ đi liền với một lời hứa cứu độ: “Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi với người Phụ Nữ; người Phụ Nữ sẽ đạp đầu ngươi và ngươi sẽ rình cắn gót chân người” (St 3,15). Chính từ lời hứa này mà các ngôn sứ được gửi đến trong suốt dòng lịch sử, mời gọi con người đón nhận tình yêu của Thiên Chúa qua mệnh lệnh: “Phải thay đổi”.

“Hãy sám hối”, “hãy thay đổi” là yêu sách cho những ai đón nhận lời mời gọi của ngôn sứ. Yêu sách đi liền với sự xuất hiện của ngôn sứ. Cựu ước đã đưa ra tiêu chuẩn để phân biệt ngôn sứ giả và ngôn sứ thật. Ngôn sứ giả là ngôn sứ không có yêu sách cho người đón nhận; còn ngôn sứ thật luôn luôn đi kèm một yêu sách. Đây là dấu chỉ chắc chắn nhất để phân biệt (x. 1V18,19-40; 1Sm 10,5; Is 1,10…; Ed 21,26). Có thể nói, yêu sách không chỉ hiện hữu trong sứ điệp, nhưng là một đặc tính căn bản của ngôn sứ thật. Yêu sách này đòi hỏi một câu trả lời quyết liệt, dứt khoát và kịp thời, vì sứ điệp sẽ không xuất hiện và không lập lại một lần thứ hai giống như vậy nữa. Và câu trả lời đó sẽ giúp cho người đón nhận sứ điệp không những tiến gần tới triều đại Thiên Chúa, mà còn cho họ được tham gia vào công trình của Ngài, để trở nên những ngôn sứ đắc lực trong cộng đồng kairos, cộng đồng dấn thân trong triều đại của Thiên Chúa.

Như vậy, chiều kích ngôn sứ của kairos giúp cho chúng ta sống với thực tế của niềm tin để phá tan những ảo tưởng dễ mắc phải. Ảo tưởng thứ nhất là nghĩ rằng tự mình đủ sức mà không cần đến sự can thiệp của Thiên Chúa để thay đổi và đưa lịch sử đến mức thành toàn của nó; ảo tưởng thứ hai là sợ gian khổ, sợ hy sinh mà nghĩ rằng Chúa đã đến, Ngài sẽ thực hiện tất cả, chúng ta không phải làm gì cả và sống với thái độ từ chối dấn thân, từ chối góp phần vào lời mời gọi của Thiên Chúa: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần, anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Hai ảo tưởng này là cản trở để sống giây phút hiện tại, là cơ hội để đạt đến thời gian cuối cùng, là chiều kích thứ hai của kairos.

III. Kairos, thời gian cuối cùng

Thời cuối cùng là gì nếu không phải là sự hoàn tất của lịch sử mà Kinh Thánh gọi là ngày cánh chung, ngày mà con người đạt tới vĩnh cửu; ngày mà thời gian gặp gỡ với vĩnh cửu để không còn quá khứ, tương lai mà chỉ là hiện tại, vĩnh viễn là hiện tại. Vì thế, Paul Tillich mô tả ngày cuối cùng, ngày cánh chung là “tình trạng của chúng ta đối diện với vĩnh cửu”. Tình trạng đó là thời gian, có giới hạn, tạm thời đối diện với không giới hạn, mãi mãi, vô cùng. Đối diện như thế nào? Paul Tillich phân biệt có hai dạng thức thiết yếu trong mối tương quan giữa thời gian và vĩnh cửu. Dạng thứ nhất là thời gian lệ thuộc vào vĩnh cửu, vì thời gian bắt nguồn từ vĩnh cửu; dạng thứ hai, vĩnh cửu hoàn thiện thời gian. Thời gian luôn hướng về vĩnh cửu. Tuy nhiên, giữa thời gian và vĩnh cửu không chỉ có hai dạng thức này, mà còn dạng thức thứ ba, dạng thức hiện sinh, diễn tả sự đối lập và đối đầu giữa thời gian và vĩnh cửu. Thời gian không chấp nhận và muốn trốn chạy vĩnh cửu, vì vĩnh cửu là dấu chấm tận của thời gian. Như thế, thời gian vừa hướng về, nhưng lại chống lại vĩnh cửu. Đây là tính lưỡng năng của kairos.

Thật vậy, Thánh Marco loan báo: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần”, nghĩa là kairos đang hiện diện trong thời gian hiện tại, nhưng không có nghĩa là đang ở đây hay ở kia. Như vậy, nơi kairos vừa là thời gian hiện tại, vừa hướng về thời gian cuối cùng, thời cánh chung. Theo nghĩa này, trong kairos, chiều kích cánh chung đã hiện hữu, nhưng chưa hoàn thành. Nó cần con người để hoàn thành, bởi kairos là kairos cho con người, vì con người và với con người. Do đó, kairos theo Kinh Thánh luôn luôn được hiểu là thời gian Chúa đến và thời gian Chúa đến trong vinh quang; là thời gian cuối cùng tròn đầy, viên mãn để con người đón nhận và nắm bắt kairos hầu được nên hoàn thiện: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha của anh em ở trên trời” (Mt 5,48).

Tuy nhiên, có một khó khăn là vì: chiều kích cánh chung của kairos nội tại trong lịch sử, nhưng lại siêu vượt trên lịch sử; nó đến và hiện diện trong lịch sử mà lại ở trên lịch sử. Làm sao có thể nắm bắt được? Gọi Kairos là thời gian cánh chung, thời gian cuối cùng là muốn nhấn mạnh rằng kairos mang vào thế giới một điều mới mẽ thực sự, nhưng nó chỉ là “những dạng rời”; nó mang đến một sự hoàn thành, nhưng luôn chỉ từng phần và có tính nước đôi; vừa hoàn thành, vừa khiếm khuyết; vừa đầy, vừa thiếu hụt. Đây chính là sự huyền bí của thời gian, huyền bí của kairos mà dấu ấn của nó được khám phá ngay trong lời loan báo khởi đầu của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Marco: Triều đại Thiên Chúa đã hiện diện, nhưng nó chưa trọn vẹn là hiện tại, chưa bao giờ hoàn toàn được hoàn thành trong thế giới chúng ta.

Từ đây, khi nắm bắt và dấn thân vào kairos, chúng ta cần tỉnh táo và nên có một cái đầu thực tế để tránh việc thần thánh hoá hay tuyệt đối hoá những kairos xuất hiện trong dòng chảy lịch sử như: các cuộc cách mạng tư tưởng, cách mạng xã hội, ngay cả những sự kiện mang tính chất tôn giáo đi nữa, vì các sự kiện này dầu có vĩ đại hay tạo nên một sự đổi mới thế nào cũng chỉ là những kairos. Thế mà, kairos không bao giờ đã hoàn thành, mà chỉ là thời điểm thuận lợi đang hoàn thành và hướng về tầm mức viên mãn nơi đích đến.

Thứ đến, khi mang chiều kích cánh chung, không có nghĩa rằng: kairos là một trạng thái thanh bình, an nhiên tự tại, hài hoà, không xung đột; trái lại, kairos là cả một quá trình biện chứng giữa hai thực tại thiện và tà; chân và giả. Cái ác phát triển trong cùng một thời gian (kairos) mà sự thiện tăng trưởng; ngay cả khi sự thiện chiến thắng thì chiến thắng đó cũng không bảo đảm là không có đau khổ và bất hạnh. Chính vì thế, Tân Ước đã khẳng định: Phục sinh chỉ đến sau và xuyên qua tủi nhục của Thập giá. Ngay cả Chúa Giêsu cũng cũng phải uống chén đắng mới đạt tới vinh quang trong ánh sáng Phục sinh. Điều này củng cố cho niềm tin của chúng ta là sẽ đạt được tới thời gian cuối cùng, thời gian viên mãn trong Chúa Kitô, nếu như sống theo lời khuyên của Thánh Phaolo nắm bắt lấy cơ hội thuận tiện: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy anh em hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu” (Rm 13, 12).

Kết luận

Kairos là từ ngữ chỉ thời gian trong thế giới Hy lạp có nghĩa là cơ hội, là thời gian thuận tiện. Nó chỉ xuất hiện một lần và không bao giờ lập lại trong cùng một thời gian. Ý thức điều này, người Hy lạp đã nhạy bén trong việc nắm bắt thời cơ và đã tạo nên một nền văn hoá vĩ đại trong thế giới cổ, cũng như tạo nên những triết gia tên tuổi, những chiến binh dũng mạnh. Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước đã sử dụng hạn từ kairos hầu như trong tất cả các trường hợp chỉ thời gian, đặc biệt khi diễn tả việc Chúa can thiệp vào lịch sử và tạo nên một cuộc đổi mới toàn diện để hướng về đời sống vĩnh cửu, hạnh phúc vĩnh cửu như một sự nhắc nhở cho mọi người: Chúa luôn cho con người cơ hội thuận tiện, vì Chúa muốn cho tất cả mọi người đều được nên hoàn thiện và được sự sống đời đời. Ta phải nhận ra lời mời gọi của Chúa và sống triệt để chiều kích ngôn sứ, chiều kích cánh chung của cơ hội này.

Những gì người Hy lạp đã nắm bắt, những gì Chúa muốn mời gọi từ các thời điểm trong lịch sử cứu độ nhắc nhở chúng ta một chân lý: hãy quý trọng thời gian hiện tại; hãy sống với những gì trong hiện tại và hãy biến tất cả thời gian hiện tại thành những cơ hội thuận tiện, những thời điểm chín mùi cho tất cả mọi hành động của chúng ta; nhất là hãy học cách cầu nguyện của thánh Têrêxa Avila: “Xin cho con sống giây phút hiện tại và giây phút hiện tại đã đủ cho con rồi”.

 

 

[1] Thánh Augustino, Tự Thuật, XI, 14, 17

[2] André Comte-Sponville, Présentations de la philosophie,  “Le Temps”, Albin Michel, Paris, năm 2000.

[3] Trong văn hoá Hylạp có ba chữ diễn tả ba loại thời gian: Chronos là thời gian định lượng, thời gian có tính niên đại. Ví dụ: thứ hai, thứ ba…; năm 2017, 2018…; Kairos là thời gian định tính, thuộc về phạm vi siêu hình rất khó để chuyển ý ra các ngôn ngữ khác, và aiôn là thời gian chỉ chu kỳ. Ví dụ mùa hè, mùa đông, thời kỳ cánh chung.

[4] Được dùng 162 lần, trong khi đó chronos chỉ vỏn vẹn 4 lần (x. Dictionaire Encyclopédique de la Bible, từ temps).

[5] X. Ý thức trong “Hiện tượng học” của Husserl

 

 

 

 

 


Liên quan khác