THÁNH GIUSE – CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM HY VỌNG

04/03/2019

An Nguyên

Dẫn nhập

Có một nhân vật trong lịch sử loài người, tuy không mấy ai để ý đến vào đương thời, rồi khi mất đi cũng chẳng mấy người quan tâm, thế mà từ xưa cho đến hôm nay biết bao nhiêu giấy mực, lời hay ý đẹp mà người ta không thể nào nói hết được về con người âm thầm ấy: Thánh cả Giuse.

Vì thế, trong hạn hẹp của bài này người viết cũng xin được phác họa đôi nét về chân dung của vị thánh đáng kính, đáng ca ngợi và thật đáng để cho hậu thế học đòi dõi theo. Đức tính đầu tiên khi nói đến cha Thánh Giuse là người dám đón nhận tất cả mọi biến cố xẩy đến cho đời mình.

1/ Đón nhận mọi biến cố trong cuộc đời

* Người công chính

Thánh sử Matthêu trong Tin Mừng của mình đã dùng từ “công chính” để gán cho Giuse là chồng của Đức Maria và là cha nuôi của Đức Giêsu:“Ông Giuse [… ] là người công chính” (Mt 1,19).

Thật ra, Thánh Giuse đã nên công chính trong những hành động đầy khôn khoan của mình. Khi Thánh Giuse thấy vị hôn thê của mình mang thai cách kỳ lạ, nhưng không phải do mình, nên ông đã không tố giác mà chỉ nghĩ đến chuyện bỏ đi cách kín đáo (x. Mt 1, 19). Thánh Giuse đã hành động đầy khôn ngoan, vượt trên cả lề luật, vì ông đã không tố giác Đức Maria theo luật.

Chính Thần Học gia Jean Galot cũng đã thấy rõ như thế: “Sự công chính của Thánh Giuse, không nằm ở việc thi hành những quy định của lề luật, nhưng trong sự tôn trọng sâu xa hơn những luật lệ và tiếng tăm của ngài. Đó là một sự chính trực vượt quá những đòi hỏi bề ngoài của lề luật[1].

Sự công chính của Thánh Giuse còn được thể hiện rõ nét qua việc ngài sống trung thành. Ngài trung thành với ý định của Thiên Chúa trong việc nuôi dưỡng Con Thiên Chúa, trung thành với lề luật và nhất là trung thành với vị hôn thê của mình là Maria, cho dù ngài đã từng nghi ngờ sự bất chính của vợ mình. Hay nói như Thần Học gia Jean Galot:“Sự công chính của thánh Giuse, người ta còn có thể gọi nó là một sự trung thành tuyệt đối. đó là lòng trung thành của người không những không muốn đánh lừa người khác, nhưng còn tránh khỏi việc tự đánh lừa chính mình, đồng thời cũng là người không hành động như là có thể đánh lừa Thiên Chúa. Thánh Giuse muốn trở thành đúng như con người trước mặt Thiên Chúa, trước cái nhìn của Thiên Chúa”[2].

Thánh Giuse, nên công chính là còn do luôn giữ tâm hồn thanh sạch: “Từ lâu Thánh Giuse luôn giữ tâm hồn hoàn toàn thanh sạch. Nơi ngài, không có những rắc rối, phức tạp do lòng tự ái gây nên, bởi vì ngay cả trong hành xử tốt đẹp đi nữa, tính cách này vẫn yêu sách sự thỏa mãn và tìm cách đạt được yêu cầu này. Không có bất cứ mưu mô nào để làm gia tăng hoặc phòng ngừa uy tín của ngài”[3].

Như thế rõ ràng, Thánh Giuse đáng được gọi là người công chính: công chính trong sự ngôn ngoan, công chính trong sự trung thành và công chính trong sự thanh sạch. Thánh Giuse không những chỉ công chính, nhưng ngài luôn có niềm tin vào Thiên Chúa và tin vào Đức Maria.

* Người có niềm tin mạnh mẽ

Thánh Giuse luôn có niềm tin kiên vững vào Thiên Chúa của ngài và tin tưởng vào người vợ yêu quý là Đức Maria, nhất là khi chấp nhận đón Maria về nhà mình khi cô mang thai không phải do mình. Thánh Giuse đang định tâm “đào tẩu” khi biết vợ mình đã mang thai khi thánh nhân chưa hề “biết” gì chuyện vợ chồng. Việc trốn chạy cách kín đáo của Thánh Giuse cũng chỉ vì không muốn làm tổn hại Mẹ Maria (x. Mt 1,19). Nhưng Thiên Chúa đã có kế hoạch của Người, vì không có gì mà Người không làm được (x. Lc 1,37). Người đã dùng Sứ thần Gabriel hiện ra báo mộng cho Thánh Giuse biết, Mẹ Maria đang mang thai là do quyền năng của Chúa Thánh Thần: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Sau giấc mộng, Thánh Giuse đã bừng tỉnh và đón Maria về nhà làm vợ: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse là như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1,24). Đó là thái độ mau mắn đáp lại lời xin vâng của Thánh Giuse, khi ông đón nhận vợ mình về nhà. Nếu không có niềm tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa, và nếu không tin vào vợ mình thì làm sao ông có thể đáp lời xin vâng cách mau mắn như thế?

Quả thật, Thiên Chúa đã ban cho Thánh Giuse một niềm tin mạnh mẽ vào Người, nên cho dù những mầu nhiệm xảy ra trong đời Thánh Giuse, ngài vẫn đáp tiếng xin vâng để công trình Chúa được thực hiện và ơn cứu độ của Thiên Chúa được thành toàn. Cho dù trong cuộc đời dương thế, Thánh Giuse cũng phải trải qua không biết bao nhiêu khó khăn, nhưng khi tin tưởng vào Thiên Chúa ngài đã vượt qua tất cả, để trở thành con người của niềm tin và trở nên gương mẫu về niềm tin cho chúng ta noi theo. Không những thế, Thánh Giuse còn là một nhân chứng cho Nước Trời.

2/ Thánh Giuse luôn làm chứng cho Nước Trời

* Con người của thinh lặng

Thánh Giuse, con người của thinh lặng. Các sách Tin Mừng đã minh chứng cho thấy rằng thánh nhân không mở miệng nói lời nào.

Các sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời của Thánh Giuse, cho dù là vui mừng, hay đau khổ, ngài cũng không mở miệng kêu than, hay oán trách, nhưng luôn giữ thinh lặng. Biến cố đầu tiên là sự kiện Đức Maria mang thai, nhưng không do mình là “tác giả”. Thánh Giuse mang đau khổ trong mình, không mở miệng than trách, hay tố giác vợ mình, nhưng định tâm bỏ đi cách kín đáo (x. Mt 1,19). Đây là một sự im lặng xóa bỏ mình, để bảo vệ danh dự và uy tín cho Đức Maria.

Thứ đến, trong biến cố Con Thiên Chúa Giáng Sinh tại Bêlem, Thánh Giuse được diễm phúc tham dự mầu nhiệm này, nhưng ngài cũng chỉ tham dự trong thinh lặng. Kể cả Tin Mừng Matthêu và Luca đều không ghi lại lời nào của Thánh Giuse trong biến cố này (x. Mt 2,1-12; Lc 2,1-20). Trong khi, các thiên thần ca hát, các mục đồng bái lạy, còn Thánh Giuse thì không nói lời nào, ngài giữ thinh lặng. Ngài giữ thinh lặng để tiếp nhận Mầu Nhiệm Nhập Thể trong sự chiêm ngưỡng say mê và cũng diễn tả niềm vui, sự biết ơn đang vùi sâu trong sâu thẳm của tâm hồn ngài.

Thứ ba, biến cố gặp Đức Giêsu trong Đền Thờ, Thánh Giuse đã thinh lặng để chuyển nỗi băn khoan lo lắng thành niềm vui. Lẽ ra, ngài là chủ gia đình, ngài phải có đôi ba lời với con để biết lý do tại sao con ở đây. Nhưng ngài đã thinh lặng và để phần đối thoại với Đức Giêsu cho Đức Maria (x. Lc 2,41-50). Đây có thể được gọi là một sự thinh lặng đầy dũng cảm của Thánh Giuse, ngài thinh lặng trong sự quên mình để người khác lớn lên. Và còn nhiều biến cố khác xảy ra trong cuộc đời, nhưng Thánh Giuse vẫn giữ im lặng để thánh ý Chúa được thành toàn.

Quả thế, Thánh Giuse là con người của thinh lặng, nên: “Ngài cũng là một giáo huấn sống đối với thời đại và thế giới chúng ta. Chắc chắn sự im lặng là một giá trị đối với bất cứ thời đại nào […]. Thánh Giuse nhắc nhớ rằng, người ta chỉ có thể đón nhận Chúa Kitô và mầu nhiệm của Người bằng sự thinh lặng. Chính sự im lặng này, đã cho phép ngài cũng như Đức Maria “lưu giữ trong trái tim” và “suy niệm” mầu nhiệm mà ngài chứng kiến[4].

* Thánh Giuse, nhà chiêm niệm đích thực

Thánh Giuse ắt hẳn là một nhà chiêm niệm thật sự, bởi ngài sống trong chiều sâu nội tâm hơn là những thái độ hời hợt bề ngoài. Trong các công việc tại ngôi nhà nhỏ, ở làng Nazareth, Thánh Giuse luôn hướng về Chúa Giêsu và Mẹ Maria, sâu xa hơn thế nữa, ngài hướng về trời cao để tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa.

Sự chiêm niệm của Thánh Giuse không hướng một cách đặc biệt vào sự nỗ lực trí thức, nhưng ngài dành hết tình cảm để gắn bó với Thiên Chúa, Đấng đã chiếm đoạt ngài mỗi lúc một trọn vẹn và thấm nhập vào toàn bộ cuộc sống của ngài. Tuy nhiên, thái độ chiêm niệm của Thánh Giuse đã không làm cho ngài xao lãng những hoạt động và những công việc trong gia đình nhỏ của ngài. Nhưng hơn thế nữa, sự chiêm niệm của Thánh Giuse đã thôi thúc nội tâm của ngài thực hiện các công việc với nhiều nghị lực hơn, nhất là tìm kiếm ý Chúa trong việc chăm sóc Gia đình Thánh Gia và làm cho gia đình nhỏ này trở nên dấu chỉ của ơn thánh sủng của Cha ban.

Tắt một lời, Thánh Giuse không những là con người thầm lặng nhưng nhất là con người chiêm niệm: Ngài sống trong sự đối thoại thân tình với Thiên Chúa, tìm hiểu mầu nhiệm của Thiên Chúa qua những dấu chỉ của các biến cố, và đặc biệt qua dấu chỉ nhân tính của Đức Kitô trong gia đình Nazareth. Ngài đúng là mẫu gương cho những ai được kêu gọi sống đời chiêm niệm

3/ Thánh Giuse – gương sáng ngời cho các đan sĩ hôm nay

* Ai khôn ai dại

Trong bài thơ Cảnh Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ.

Người khôn, người đến chỗ lao xao”

Có một thời, người ta nhận định một người có được hạnh phúc hay không là nhìn vào phúc ‘đa tử đa tôn’. Và cũng thật là hiếm thay vào thời buổi kinh tế như ngày nay mà lại có người nhìn nhận sự ‘khôn’, ‘dại’ qua nếp sống xô bồ với nơi vắng vẻ thanh nhàn.

Trong trọn bộ cuốn Thánh Kinh, người vĩ đại đóng góp vào công cuộc cứu độ nhưng lại ẩn mình kín đáo nhất thì không ai có thể phủ nhận được đó chính là bác thợ mộc Giuse. Thậm chí một trong ba vị ‘ẩn sĩ’ của gia đình Nazareth năm xưa thì vị ‘ẩn sĩ’ huyền bí nhất cũng chính là ngài. Ta chưa thấy ngài nói một lời nào trong Thánh Kinh, mà hoàn toàn nhường lời cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Như thế, cách đây hai mươi thế kỷ thì đã có người biết sống cái ‘dại’ trước ông Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi.

Thánh Giuse là người hùng không danh tiếng, là bác thợ không để lại tuyệt tác nào, đến không ai hay, đi không ai biết… Quan điểm sống của ngài là thinh lặng – lắng nghe – chiêm nghiệm.

Đó cũng không phải là đời sống người đan sĩ đang theo đuổi đấy ư? Khi người đời tìm cách để khẳng định mình bằng bất cứ giá nào cũng phải “có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ), thì đối với người đan sĩ thể hiện bằng cách tự xóa nhòa mình với thời gian, mà ở đây Cha Tổ Phụ đã có câu nói so sánh rất dí dỏm: “…chúng ta phải ước ao nên thánh. Nhưng chớ có ai ước ao cho được phong thánh, chớ ước ao cho mình có truyện thánh đọc trong nhà cơm” (DN, số 120).

Vì thế, để có thể sống trọn vẹn ơn gọi đan tu chiêm niệm, con người ngày nay, đặc biệt là người trẻ cần phải đón nhận và theo đuổi cái ‘dại’ mà Thánh Giuse đã từng sống.

 * Luôn trong tư thế sẵn sàng thực thi ý muốn của Thiên Chúa

Câu này nói thì dễ mà nghe cũng rất là êm tai, thế nhưng được mấy ai thực hành cho trọn vẹn. Và không ai có thể nghi ngờ khi nhân đức này được tặng ban cho Thánh Cả Giuse – người luôn phó thác theo thánh ý Thiên Chúa. Những con người như thế sẽ ít khi sai lầm trong khi phải quyết định, tâm hồn luôn được an bình và thư thái vì không làm theo ý riêng, dầu kết quả có ra sao đi nữa cũng không phải bận tâm, hối hận.

Cũng như mọi người sống đời thánh hiến, việc tìm kiếm và thực thi thánh ý Thiên Chúa luôn được trân trọng, luôn là lý tưởng để họ hướng tới. Nhưng với thời gian, với những nhu cầu của cuộc nhân sinh, lý tưởng ban đầu ấy đôi khi đã bị bào mòn, thay vì tìm kiếm và thực thi Thiên ý, họ lại ngụp lặn trong những dự phóng riêng tư. ‘Cái Tôi’ bắt đầu lớn dần, có khi choán hết cả cuộc sống của họ. Đến lúc này họ tỏ ra không bằng lòng với hoàn cảnh, với những thực tại xung quanh, thói lẫm bẩm kêu ca cũng bắt đầu lộ diện. Đó cũng chính là điều Thánh Phụ Biển Đức đã nhắc nhở các đan sĩ của ngài trong Tu luật chương thư bốn[5]. Và chính thói xấu này mà nhiều người Do Thái năm xưa đã không được vào đất hứa (x. Ds 17,25).

* Công dân của nước trời ngay tại thế

Người công dân được vinh dự và tự hào biết bao khi xuất thân từ một đất nước văn minh và cường thịnh. Họ không những hớn hở cho mọi người biết, mà còn hãnh diện với bè bạn năm châu khi thuộc công dân của đất nước mình. Trái lại, có những người phải lén lún, để không ai biết mình thuộc nước nào vì quá xấu hổ và nhục nhã là công dân của một đất nước lạc hậu, man di mọi rợ.

Là công dân của Nước Trời, Thánh Giuse cư xử không giống như những công dân trần thế: thánh nhân đã chấp nhận làm chồng trên danh nghĩa và làm cha trên giấy tờ. Vì sao thế? Vì ngài tin tất cả là công trình của Thiên Chúa.

Người đan sĩ hôm nay có xác tín mình là công dân Nước Trời đang làm chứng tá cho Tin Mừng hay đang làm chứng cho một Đức Kitô nào khác? Cách sống của người đan sĩ hôm nay còn cuốn hút người khác sống đời thánh hiến nữa không? Nếp sống của người đan sĩ hôm nay có còn thanh đạm, bình dân như Thánh Biển Đức mong muốn, hay đang tìm mọi cách thể hiện ‘đẳng cấp’, thứ vị?

Lịch sử vẫn còn đó. Các dòng tu đã một thời đạt tới hoàng kim với những thành tựu đáng trân trọng, với những đóng góp to lớn cho Giáo Hội và xã hội, nhưng rồi chỉ không lâu sau đó, chính danh vọng, quyền lực và nếp sống hưởng thụ đã vô tình dẫn họ tới chỗ khai tử. Nguyên nhân vì đâu nếu chẳng phải là do bởi đời sống xa hoa và quá chú trọng vật chất đấy ư?

Người đan sĩ hôm nay luôn phải tâm niệm rằng mình là công dân Nước Trời nên cần xa lánh nếp sống vương giả, vì nó tỉ lệ nghịch với nếp sống đan tu.

Kết.                                                              

Với kiến thức hạn hẹp, người viết đã điểm xuyến một vài nét về Cha Thánh Giuse đáng kính trọng và yêu mến. Làm như thế không phải là để “mẹ hát con khen hay”, nhưng là để nhìn lên Cha như là mẫu gương công chính, mẫu gương của đời sống thinh lặng đan tu đích thực và nhất là mẫu gương chứng nhân của niềm hy vọng cho các đan sĩ hôm nay.

Lạy Cha Thánh Giuse, mỗi khi chúng con nhìn lên Cha là trong lòng chúng con khơi lên một niềm hy vọng phấn khích về quê hương mai hậu. Xin Cha tiếp tục hà hơi để ngọn lửa âm thầm mà ngài đã nhen nhóm không bao giờ bị lụi tàn trong chúng con.  Amen.

 

[1] Jean Galot, S.J., Thần Học Thánh Giuse, Nxb. Phương Đông, trang 110.

[2] Sđd, trang 111.

[3] Sđd, trang 112.

[4] Jean Galot, S.J., Thần Học Thánh Giuse, Nxb. Phương Đông, trang 130.

[5] x. TL 4.

 

 

 

 

 

 

 


Liên quan khác