THÁNH! Thánh! Chí Thánh!

26/01/2019

Mai Thương

 

 Nhập đề

Trước khi đi vào đề tài, thiết nghĩ nên xác định từ ngữ “Thánh”. Tiếng “Thánh” trong ngôn ngữ Hy-bá là “Qâdôs” (thánh) có thể được hiểu:

  1. Theo ý kiến chung chung của các nhà chú giải[1] “Qâdôs” (thánh) bắt nguồn từ tiếng “Qâd”, có nghĩa là chia cắt, tách biệt, dành riêng, thí dụ dân thánh Israel là dân được Thiên Chúa tuyển chọn, tách biệt ra khỏi các dân khác, thánh hóa và dành riêng cho Thiên Chúa (x. Is1,4-20; Đnl 6,4-9).rước khi đi vào đề tài, thiết nghĩ nên xác định từ ngữ “Thánh”. Tiếng “Thánh” trong ngôn ngữ Hy-bá là “Qâdôs” (thánh) có thể được hiểu:
  2. Nếu phân tích sâu rộng hơn về phương diện cú pháp, tiếng “Qâdôs” (thánh) có thể đọc là “Qâdash”, lúc đó nó mang hình thức của một động từ chỉ trạng thái, và có nghĩa là trở nên thánh, hay được thánh hiến.
  3. Một số nhà chú giải còn cho rằng từ ngữ “Qâdôs” (thánh) bắt nguồn từ tiếng “Quddusu” của ngôn ngữ Assyrien, có nghĩa là tinh sạch, sáng chói và rực rỡ (Pur, splandide, brilliant)[2]. Trong trường hợp này “Thánh” có nghĩa là tinh tuyền, tỏa sáng, chói ngời, vinh quang. Nhưng ý niệm này tương cận (connetion) với sự thánh thiện.

Trong ba ý nghĩa của từ “Thánh” nói trên, ý nghĩa thứ nhất và thứ hai nói về con người được thánh hóa, ý nghĩa thứ ba chỉ xứng hợp cho Thiên Chúa.

Xét về khía cạnh tâm lý, con người ý thức về sự thánh thiện như là một thực thể không thuộc về thế giới này, và có tính chất siêu việt mà Rudolf Otto[3] gọi là linh thánh[4], và phản ứng của người ta có thể là sợ hãi (trenmundus), uy nghiêm (majestas) và hấp dẫn (fascinams)[5]. Bởi vậy, con người, cách riêng những người nguyên thủy, thường đồng hóa sự linh thánh này với những sức mạnh của vật chất: sông núi, cây cối, ánh sáng, nước, các ngôi sao…

Từ khi Thiên Chúa mặc khải cho Abraham, Môsê, các Tiên tri và nhất là trong Tân Ước, chữ “Thánh” rõ ràng là chỉ áp dụng cho Thiên Chúa. Người là Thiên Chúa độc nhất, siêu việt, toàn năng, Người không đứng ở xa nhưng can thiệp vào đời sống của các tín hữu và trong lịch sử của dân thánh mà Người tuyển chọn[6].

Sách tiên tri Isaia, chương 6 làm sáng tỏ ý nghĩa của chữ “Thánh”. Thiên Chúa mặc khải ra sự thánh thiện của Người: Ngài là Đấng Chí Thánh[7], là Thiên Chúa các đạo thiên binh (các thiên thần và các tinh tú). Các thiên thần Sêraphim không thể chịu đựng được vinh quang rực rỡ của Thiên Chúa nên phải lấy cánh che mặt, che chân. Ngài là Đấng hoàn toàn tinh tuyền, Ngài lấy than hồng thanh luyện môi miệng không tinh sạch của Isaia để ông có thể loan truyền lời thánh của Người cho dân tộc ô uế tội lỗi.

Như thế “Thánh” trong Kinh Thánh có liên quan đến nhiều vấn đề, bao gồm cả Thiên Chúa và thụ tạo.

Trong phạm vi hạn hẹp của bài này, chỉ xin nêu lên một vài khía cánh liên quan đến vấn đề  “Thánh”:

– Danh Ngài là Thánh;

– Thiên Chúa là Đấng Thánh của Israel;

– Sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ qua lịch sử của Israel;

– Sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ qua công trình sáng tạo.

I. Danh Ngài là Thánh

Đối với dân tộc Israel, tên nói lên phẩm chất, sứ mạng của người đó. Đặt tên cho ai là khẳng định quyền hành của người đặt tên trên người được đặt tên. Con người không thể đặt tên cho Thiên Chúa theo kiểu Thiên Chúa đặt tên cho các loài thụ tạo (x. St 1), vì họ chỉ là thụ tạo và chẳng có quyền hành gì trên Ngài.

Cũng như các dân tộc Sê-mít, tổ phụ dân Israel gọi Thiên Chúa bằng danh từ chung là “El” (thần linh). Tùy theo hoàn cảnh mà họ thêm những hình dung từ khác vào danh xưng này như: El Elyon (Thiên Chúa Tối Cao)(x. St 14,22), El Roi (Thiên Chúa thấy hoặc Thiên Chúa được thấy) (x. St 16,13), El Shaddai (Thiên Chúa Toàn Năng)(x. St 17,1), El Holam (Thiên Chúa Vĩnh Cửu) (x. St 21,23)… Riêng danh xưng Êlohim (số nhiều của El), diễn tả Thiên Chúa như một Đấng đa năng[8].

Hầu như tất cả những danh hiệu để kêu cầu Thiên Chúa, nói lên mối tương quan giữa Ngài và con người. Tuy nhiên, Cựu Ước dùng tính từ “Thánh” áp dụng vào chính ngôi vị Thiên Chúa, đến độ nó trở thành chính tên của Người: Danh Ngài là Thánh (x. Tv 33,21), Ngài là Đấng Thánh (x. Hs 11,9). Thật vậy, Thiên Chúa xuất hiện trước Israel trước tiên như là Đấng siêu việt, quyền năng Ngài bao trùm trên toàn thể vũ trụ, là Đấng vô phương đạt thấu, do bởi những đặc tính này, Ngài trở nên Đấng hoàn toàn khác, Đấng siêu việt, Đấng Thánh (le Tout – Autre)[9].

Trong thị kiến của Tiên tri Isaia, chương 6, nói lên hai yếu tố thánh thiện và vinh quang làm nền tảng cho lời chúc tụng ba lần thánh của các thiên thần Sêraphim, và để diễn tả chính bản thể siêu việt của Thiên Chúa: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!” (Is 6,3). Nơi Isaia 29,23: “Khi Giacop nhìn thấy những công trình Ta đã làm, nó sẽ tuyên xưng Danh Ta là Thánh”.

II. Thiên Chúa Là Đấng Thánh Của Israel

Như đã đề cập, thánh thiện và vinh quang làm nền tảng cho lời chúc tụng ba lần “Thánh”, nên chúng có tương quan mật thiết với nhau và minh họa cho nhau. Von Rad diễn tả: “Thánh thiện chính là vinh quang được ẩn giấu, và vinh quang là sự tỏa sáng của thánh thiện[10].

Vinh quang của Chúa được biểu lộ một cách cụ thể qua lịch sử của Israel và công trình sáng tạo:

1. Sự Thánh Thiện của Thiên Chúa Được Biểu Lộ Qua Lịch Sử Của Israel.

Có thể nói lịch sử của Israel được khởi đầu bởi mặc khải Danh Thánh Chúa cho Môsê trên núi Khô-rép trong khung cảnh thần hiện. Khung cảnh này được Kinh Thánh kể lại một cách đơn sơ nhưng không kém phần uy nghi và thánh thiêng. Ông Môsê nhìn thấy Thiên Chúa xuất hiện trong bụi gai mà không làm cho nó thiêu rụi. Trong kinh nghiệm căn bản của dân vùng hoang địa, ngọn lửa nói lên sự thánh thiêng của Thiên Chúa, vừa hấp dẫn, vừa đáng sợ, vì lửa không có hình tượng, đốt cháy, thiêu hủy và sưởi ấm[11].

a. Thiên Chúa là Đấng Thánh Thiện

Thiết nghĩ, ngôn ngữ Việt Nam diễn tả đầy đủ ý nghĩa hơn ngôn ngữ của tiếng Hy-bá về khía cạnh “Thánh” của Thiên Chúa khi nối kết hai chữ “thánh” và “thiện” để nói lên sự tốt lành tuyệt hảo của Thiên Chúa. Điều này thấy rõ qua việc đối thoại giữa Thiên Chúa và Môsê:

Trước tiên, Thiên Chúa nhắc lại Danh Thánh của Ngài: Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacob (x. St 3,16), là Đấng thành tín vì Ngài vẫn gắn kết với họ qua các thế hệ. Giờ đây Ngài nhớ lại giao ước của Ngài với các Tổ phụ, và muốn cứu độ dân Israel (x. St 2,24).

Thiên Chúa thành tín vì Ngài yêu thương. Vì yêu thương, Ngài nghe tiếng kêu than (x. St 2,23), nhìn đến những nỗi khổ cực của Israel và Ngài quyết định bằng mọi cách phải giải thoát họ khỏi kiếp nô lệ trong đất Ai cập.

b. Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan và Uy Quyền

Ngài là Đấng Thánh đầy khôn ngoan, cái nhìn của Ngài không bị giới hạn trong thời gian, nhưng nhìn đến chiều dài lịch sử của dân Israel. Không những Ngài muốn giải thoát họ khỏi tình trạng bị áp bức hà hiếp trong hiện tại, nhưng còn muốn đưa họ vào đất tốt tươi chảy sữa và mật[12]

Thiên Chúa là Đấng Thánh đầy quyền năng, Ngài sẽ ra tay mạnh mẽ làm những phép lạ để vua Pharaon phải cho dân Israel ra đi. Sau đó, trên đường đi Ngài vẫn tiếp tục ra oai thần lực, cho dân đi qua Biển Đỏ ráo chân, chôn vùi quân đội Ai cập dưới lòng biển, ban man-na, chim cút làm lương thực, cho nước chảy ra từ đá tảng và giúp dân chiến thắng những dân tộc hùng cường cản trở bước tiến của họ trên đường về đất hứa.

c. Mặc khải Danh Chí Thánh của Thiên Chúa

Trước sự yêu cầu của ông Môsê Thiên Chúa đã mặc khải ra Danh của Ngài chưa hề được tiết lộ ra: “Ta là Đấng Ta Là” – Ehyéh ashèr  Ehyéh (x. Xh 3,14).

Các giáo phụ giải thích về tên của Thiên Chúa: Ngài là Đấng Hằng Hữu (có từ đời đời), Đấng Tự Hữu, Đấng Bất Biến. Thánh Tôma-Aquinô diễn tả: Ngài là Đấng tuyệt đối và hoàn hảo.

Nếu hiểu theo hình thức mạnh của động từ “Ehyéh” (hayah): làm cho hiện hữu, người ta có thể hiểu danh xưng của Ngài là Đấng làm cho hiện hữu, làm cho vạn vật từ không ra có. Một danh xưng như thế hàm chứa quyền năng tuyệt đối và cao cả của Thiên Chúa, đồng thời nói lên sự hữu hạn của con người. Quả thực những điều này nói về những gì thuộc lãnh vực của Thiên Chúa, như đời đời, tự hữu, tuyệt đối, và hoàn thiện.

2. Sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ qua công trình sáng tạo

a. Con người tự do

Thiên Chúa muốn thực hiện chương trình cứu độ Israel, Ngài luôn trợ giúp dân trong việc thực hiện chương trình ấy, chẳng những là trong biến cố xuất hành, đưa dân về định cư tại xứ Canaan mà sau này qua thời các quan án, thời quân chủ, thời lưu đày và hậu lưu đày. Trong lịch sử của dân Israel, Thiên Chúa mặc khải ra mình là Đấng trung tín trong lời giao ước với dân, dù nhiều lần họ phản bội với Ngài.

Những điều này làm khởi điểm cho suy tư tôn giáo của Israel, để rồi cùng với mặc khải của Thiên Chúa, họ sẽ nhận ra ý định căn bản của Ngài về con người nói chung: bản tường thuật về tạo dựng sẽ nói đến chúc lành của Ngài trên con người, khi trao quyền cho họ quản trị trên tạo thành và tài nguyên thiên nhiên (x. St 1,28-29).

Qua việc giải thoát họ khỏi kiếp nô lệ và đem lại tự do, Ngài cho họ biết phẩm giá đích thực của con người. Họ không phải sinh ra để làm nô lệ, nhưng hưởng tự do vì họ là hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,27), do đó, người ta phải tôn trọng giá trị nhân bản của con người, và sự sống của con người thì bất khả xâm phạm[13].

b. Luật tự do

Khi giải thoát Israel khỏi cảnh nô lệ, Thiên Chúa đã cho con người biết Ngài là ai, họ là như thế nào và phải làm gì. Những điều này sẽ được ghi khắc trong lề luật thánh, gợi nhớ lại sự giải phóng và hướng đến sự bảo vệ tự do: Israel sẽ được gọi là dân thánh vì được thánh hiến để tôn thờ Đấng Thánh. Từ đây họ phải noi gương Ngài: “Các ngươi hãy nên thánh vì Ta là Đấng Thánh” (Lv 11,45; 19,2; 20,26; 21,7; 22,32.33). Mười điều răn chủ yếu dạy tôn thờ Đấng Thánh duy nhất (x. Đnl 4,39); “hãy yêu mến Thiên Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,5); hãy yêu thương và không làm hại ai; tôn trọng sự nghỉ ngơi (giữ ngày Sa-bát); quý trọng sự sống (chớ giết người); tôn trọng sự tự do (chớ trộm cắp)[14].

Cũng như Thiên Chúa không chịu được khi thấy vua Pharaon hà hiếp con cái Israel, thì đến lượt, họ cũng không được áp bức anh em mình và bắt họ làm nô lệ. Nếu người nào vì nghèo túng mà phải bán thân cho người khác nhưng không được quá bảy năm (x. Đnl 15,12). Ngay cả đối với ngoại kiều, Israel cũng phải tỏ ra có lòng nhân đạo, vì họ đã từng có kinh nghiệm đắng cay của số phận kiều dân bị hiếp đáp (x. Xh 22,20; Lv 19,33-34; Đnl 10,18-19).

Những hình thức nô lệ khác cũng bị ngăn cấm: ngày Sa-bát là ngày nghỉ không những đối với chủ nhân ông, nhưng còn đối với những ai làm việc cho họ: con cái, tôi tớ, bò lừa. Họ phải thi hành điều này để ghi nhớ đến biến cố Chúa đã dang cánh tay uy quyền giải phóng họ, nghĩa là nhớ đến để tôn thờ Đấng Thánh của Israel (x. Đnl 5,15).

Các tiên tri nhấn mạnh về bổn phận tôn trọng công lý, công bình trong xã hội. Các nghi thức phụng vụ và hy lễ chỉ có giá trị thờ phượng khi kèm theo sự thi hành giới luật yêu thương đối với tha nhân (Ed 7; Is 1,10-17). Tiên tri Hôsê cho chúng ta một quan niệm đẹp và hoàn hảo về sự thánh thiện của Thiên Chúa: Ngài là Đấng yêu thương, chăm sóc và tha thứ cho Israel, dầu cho có lúc Ngài phải tỏ ra thịnh nộ để dân thấy được tội ác và sự phi lý của họ, khi bỏ Đấng Tạo Hoá để tôn thờ ngẫu tượng hư không do bàn tay con người làm ra (x. Hs 11).

c. Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa

Công trình sáng tạo tỏ bày vinh quang Thiên Chúa: “Vinh quang Giavê tràn ngập trái đất” (Ds 14,21). Nếu như vinh quang là sự tỏa sáng của sự thánh thiện[15], thì công trình sáng tạo là sự tỏa sáng vinh quang của Thiên Chúa cho phàm nhân.

Sách Sáng Thế có hai trình thuật ở đoạn 1 và 2 để diễn tả công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Hai trình thuật này không nhắm đến việc diễn tả nguồn gốc của thế giới theo nhãn giới của khoa học, nhưng nhằm vào mục đích tôn giáo: Kinh Thánh kêu mời con người chúc tụng và tôn thờ Đấng Chí Thánh đã sáng tạo nên vũ trụ.

Việc Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong bảy ngày, rõ ràng không nói đến thời lượng tạo dựng, vì hiện nay Ngài vẫn đang sáng tạo qua sự quan phòng của Ngài khi chăm sóc, cung cấp thực phẩm, các nhu cầu cho loài người và sinh vật[16]. Nói đúng hơn đây là chu kỳ phụng vụ trong một tuần lễ mà người tín hữu dùng để tưởng nhớ đến công trình tạo dựng rất tốt đẹp của Ngài, mà cao điểm là ngày thứ bảy, ngày Sa-bát. Ngày này, họ sẽ cùng với Thiên Chúa chiêm ngưỡng tạo vật trong sự hân hoan và làm nên như một dấu chỉ của việc Thiên Chúa thánh hóa dân Ngài[17].

John Brook đã viết: “Mặc khải Thiên Chúa về vinh quang của Người qua việc sáng tạo là một mặc khải phổ quát. Mặc khải này đến được với mọi người, với mọi ngôn ngữ và mọi nền văn hoá. Bất cứ ai ở bất cứ nơi đâu đều đọc được, đều nghe thấy thông điệp này[18].

 Kết luận.

Việc tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh không nguyên chỉ có ở thời tiên tri Isaia (khoảng Thế kỷ VII TCN), mà ngay thời lập quốc của Israel người ta đã có ý niệm về sự thánh thiện của Thiên Chúa như là một quyền năng khủng khiếp đánh phạt những người bất xứng trước sự hiện diện của Ngài là Hòm Bia Thánh (1Sm 6,20). Ngài cũng chúc phúc những ai đón nhận Hòm Bia xứng đáng (x. 2Sm 6,11).

Kinh nghiệm tôn giáo của Israel về Thiên Chúa là Đấng Thánh là một kinh nghiệm của đức tin, một sự đính kết và tin tưởng vào Thiên Chúa. Như thế, đối với Israel có một sự biến chuyển về quan niệm thánh thiện theo dòng lịch sử của họ.

Israel qua Môsê nhận được mặc khải về Danh Chí Thánh của Thiên Chúa là Đấng Hằng Hữu, Đấng Tạo Hoá, và qua biến cố xuất hành, dân cảm nghiệm được lòng nhân từ, quyền năng, vinh quang là những ưu phẩm biểu lộ sự thánh thiện của Ngài.

Khoảng năm 740 TCN, tiên tri Isaia tuyên xướng lên sự thánh thiện khôn sánh của Thiên Chúa. Sự thánh thiện này là đá tảng vững chắc cho niềm tin của Israel (x. Is 26,4), nhưng lại là điều đáng sợ hãi cho những ai không tin tưởng và những thế lực hà hiếp Israel. Và rồi qua các thế kỷ VII, V TCN các tiên tri tiếp tục khai triển trào lưu tư tưởng tiên tri trước đó, và chứng tỏ rằng sự thánh thiện của Thiên Chúa được nối kết với các biến cố lịch sử của Israel.

Trong hoàn cảnh mất nước, bị lưu đày sau khi đã mất tất cả, các tiên tri đặc biệt là Đệ nhị Isaia… vẫn tiếp tục chúc tụng Thiên Chúa, Đấng đã làm bao kỳ công, với niềm hy vọng vững chắc rằng, một khi đã giải thoát dân khỏi ách nô lệ trong quá khứ, Ngài cũng giải thoát họ khỏi tình trạng nô lệ hiện tại, vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng, Đấng Tạo Hoá, Đấng luôn trung tín với lời giao ước. Ngài quả là thánh thiện trong cách đối xử với họ (x. Hc 36,3).

Và rồi còn nhiều vấn đề có liên quan đến sự thánh thiện chắc chắn sẽ được bàn sâu rộng trong tập san này, chỉ xin dừng lại và kết luận nơi lời chúc tụng của các thiên thần Sêraphim (Is 6,3): “Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh, cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa”. Phụng vụ sẽ dùng lại lời này trong Thánh lễ và các Lời kinh nguyện: “Trời đầy vinh quang Chúa”: theo niềm tin của Israel, trời là nơi Chúa ngự, như Thánh vịnh 115 đã nói: “Trời là trời của Chúa, đất Chúa cho con cái loài người” (Tv 115,16). Chúa cho… chứ không phải là các thần linh cho.

“Đất đầy vinh quang Chúa”: “Đất” hiểu về thụ tạo mọi sự trên mặt đất. Tạo dựng nên chừng ấy chuyện thì Ngài quả là Đấng Chí Thánh, vì không ai có thể sánh được với Ngài: “Muốn làm gì là Chúa làm nên” và “vinh quang Chúa chiếu tỏa đầy mặt đất” (Tv 57,12).

Các Giáo phụ như Origène, Fulgentius, Jérome… cho rằng ba chữ “Thánh” trong Is 6,3 là ám chỉ về một Chúa Ba Ngôi[19]. Đặc biệt thánh Cyrillo Alexandria cho rằng: “Thiên thần Sêraphim loan báo về mầu nhiệm cứu độ của Ngôi Hai nhập thể: Trước khi Ngôi Lời đến trong xác phàm, thế gian bị tà thần điều khiển. Còn các thụ tạo thì tôn thờ điều gì khác hơn là tôn thờ Đấng Tạo Hoá. Nhưng chỉ khi Ngôi Lời hạ mình xuống trần gian, mặc lấy bản tính nhân loại, lúc ấy toàn thể trái đất được tràn đầy vinh quang của Thiên Chúa[20]. Ngài chính là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Mc 1,14; 3,11), là Tôi Tớ Thánh (Cv 4,27.30), là Thượng Tế (Pontifex = “cầu nối” giữa Thiên Chúa và loài người), Đấng ngự đến nhân danh Chúa, Đấng trung gian duy nhất, nhờ Người và trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần mà sự thánh thiện của Thiên Chúa được thông ban cho loài người.

[1] x. G.Von Rad, Théologie des L’Ancient Testament, 2006, “Sainteté”.

[2] x. G.Von Rad, Théologie des L’Ancient Testament, 2006, “Sainteté”.

[3] x. Rudolf Otto, Le Sacré, éd. Payot Paris, 1929.

[4] x. Numineux, do bởi tiếng Latinh: Numen (thần thánh).

[5] x. R. Otto, op.cit.

[6] x. Catholicisme Hier, Aujourd’hui, Demain, encyclopédie publiée par G. Mathon et G.H. Baudry, éd. Letouzey et Ané, Paris, 1993, p.284.

[7] x. Trong ngôn ngữ Hy-bá lặp lại ba lần để miêu tả sự so sánh cao nhất: Thánh! Thánh! Thánh! có nghĩa là Chí Thánh.

[8] x. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, Việt Nam, 1974, mục từ Thiên Chúa.

[9] G.Von Rad, Théologie des L’Ancient Testament, 2006, p.156.

[10] Sainteté et gloire se tiennent par conséquent en rapport d’étroite parenté, si bien que la sainteté c’est la gloire cachée, et la gloire, l’écat de la sainteté (G.Von Rad, Ibidem).

[11] Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, mục từ Lửa.

[12] Chú giải của Xh 3,8, Kinh Thánh của Ban Phụng Vụ Các Giờ Kinh: Thực ra, vùng đất này sẽ là vùng đất tự do, làm việc tự do, và được hưởng những sản phẩm do họ làm ra và không còn bị bóc lột như ở đất Ai cập.

[13] St 9,6. A.M. Du Barle, “La Révélation de Dieu à Moise”, dans Revue La Vie Spirituelle, Aout-Sept, éd. du Cerf, 1968).

[14] Có lẽ ngày xưa giới răn thứ năm chủ yếu cấm bắt cóc người ta (cướp người) để làm nô lệ (A.M. Du Barle, “La Révélation de Dieu à Moise”, dans Revue La Vie Spirituelle, Aunt-Sept, éd. du Cerf, 1968).

[15] La gloire, l’éclat de la sainteté

[16] Tv 36,7; 145,15; Kn 14,3; Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, mục từ Quan Phòng.

[17] Ed 20,12: “Ta cũng ban cho chúng các ngày sa-bát của Ta làm dấu hiệu của Ta với chúng, khiến thiên hạ nhận biết Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hoá chúng”.

[18] The school of prayer, Haper collins Publishers, 1992, bản dịch Học viện Đa Minh, 2018, tr. 290).

[19] Ancient Christian Commentary on Scripture, Old Testanment X, ed. A Mckinnion.

[20] Commentary on Isaia 1,4, PG 70:176.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Liên quan khác