TÌNH YÊU THUỞ BAN ĐẦU

21/12/2018

TÌNH YÊU THUỞ BAN ĐẦU

Gioan Tân

Trong sách khải huyền, Thiên Chúa đã khen ngợi Hội thánh Ephêsô nhiều điều, nhưng Ngài cũng trách họ “đã để mất tình yêu thuở ban đầu” (Kh 2, 4). Nên Ngài kêu gọi họ hãy hối cải và làm những việc đã làm thuở ban đầu (Kh 2, 5), nếu không cây đèn sự sáng sẽ bị lấy đi khỏi họ. Qua đây chúng ta nhận thấy, vấn đề chính không phải là chúng ta khởi đầu như thế nào, nhưng là sự kiên trì và lòng trung thành của chúng ta như thế nào mới là điều quan trọng. Người sống đời thánh hiến là người đã nghe và cảm nghiệm được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa và họ dấn thân đáp lại tình yêu đó một cách trọn vẹn, tuyệt đối và vô điều kiện (x. VC 17) bằng cách hiến trọn con tim không chia sẻ (x. 1Cr 7, 34) để bước theo Đức Kitô qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm. Nhưng giữ mãi được ngọn lửa nồng nàn của tình yêu thuở ban đầu và trung tín cho đến cùng trong ơn gọi quả là một thách đố. Vậy chúng ta xác tín rằng, ơn gọi thánh hiến trước hết là ân ban của Thiên Chúa cho Giáo hội nói chung và cho mỗi cá nhân sống đời thánh hiến nói riêng, tiếp đến mới là lời đáp trả của người được Thiên Chúa mời gọi. Thánh Phaolô đã xác tín: “Những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính” (Rm 8, 30). Tin tưởng phó thác vào tình yêu trung tín của Thiên Chúa, chúng ta hãy lấy tình yêu đáp trả tình yêu và dùng những phương thế tự nhiên lẫn siêu nhiên mà Giáo hội và Hội dòng cung cấp, chúng ta can đảm bước theo Đức Kitô trên con đường Ngài đã đi. 
Trong bài chia sẻ này, tôi xin đề cập đến hai mục chính: Tình yêu đáp lại tình yêu và phương thế để người tu sĩ không những chỉ giữ được vị nồng của mối tình thuở ban đầu với Đấng mà họ đã kết ước qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm, mà còn được “biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (x. Rm 8, 29), cho “đến tầm vóc viên mãn của Thân Thể Người” (x. Ep 4, 13).

 1. Tình yêu đáp trả tình yêu

Đời sống thánh hiến trong Giáo hội “là một ân huệ Thiên Chúa Cha ban cho Giáo hội Người qua trung gian của Chúa Thánh Thần” (VC 1). Và “nó cũng thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội” (GH 44). Vì thế, qua mọi thời, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, trong Giáo hội luôn có những người đáp lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa “đã chọn con đường đặc biệt để bước theo Đức Kitô, sequela Christi, để tự hiến cho Chúa với một con tim ‘không chia sẻ’” (x. 1Cor 7, 34; VC 1). Sở dĩ người tu sĩ có thể làm được điều đó vì Thiên Chúa đã yêu họ trước. Bước đầu là tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta đến nỗi đã ban Con Một cho chúng ta (Ga 3,16; 1Ga 4,10) để hòa giải chúng ta với Ngài (2Cr 5, 18-19 ), nhờ đó mà chúng ta được “gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3, 1; Rm 8, 14-16); được làm em của Đức Giêsu Kitô (x. Cl 1, 18); và được đồng thừa kế với Người (Rm 8, 17). Thêm vào đó, Đức Giêsu Kitô còn coi chúng ta là bạn nghĩa thiết với Ngài (Ga 15, 14-17), và đã hiến mạng sống mình vì chúng ta (x. Ga 15,13). Bước tiếp theo mới là sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa. Nếu ‘chúng ta yêu mến’ đó là ‘Người đã yêu chúng ta trước’ (1Ga 4, 10.19). Điều đó có nghĩa là nhìn nhận Người yêu ta với cái ý thức sâu đậm đã làm cho thánh Phaolô thốt lên: “Đức Ki-tô đã yêu tôi và đã hiến mạng sống cho tôi’ (Gl 2, 20)” (x. Huấn thị XPLTĐKT, số 22). Chính “kinh nghiệm về tình yêu nhưng không của Thiên Chúa mang tính cách thâm sâu và mạnh mẽ đến nỗi họ hiểu rằng mình phải đáp trả bằng việc hiến dâng cuộc đời vô điều kiện, bằng cách trao dâng mọi sự cho Người, ngay bây giờ và trong tương lai” (DT 17).
Người tu sĩ đáp lại tình yêu Thiên Chúa bằng cách hiến dâng “thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12, 1), qua hành động tuyên khấn trọng thể cách công khai các lời khuyên Phúc Âm. Khi làm thế, họ biểu lộ “nguyện ước minh nhiên được hoàn toàn nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (x. VC 18), để ngày càng trở nên giống Người hơn, hầu có thể diễn tả lại cho thế giới những khuôn mặt khác nhau của Chúa Kitô tùy theo ơn gọi và đặc sủng của ơn gọi mà họ đang sống (x. VC 29, 32). 
Giây phút linh thiêng nhất của cuộc đời người tu sĩ là đọc lời tuyên khấn. Đó là một khởi đầu cho việc dấn thân quyết liệt “lấy tình yêu đáp lại tình yêu”, vì họ đã cảm nghiệm được tình yêu vô biên và giàu lòng xót thương của Thiên Chúa (x. Hs 2, 18-20). Từ đây, họ chọn Chúa là đối tượng duy nhất của lòng trí và không có gì có thể tách họ ra khỏi mối tình này (x. Rm 8, 35-39). Từ nay, họ “không lấy gì hay quí trọng gì hơn tình yêu của Đức Kitô” (Tu luật Thánh Biển Đức 4, 21). Đó là ý nghĩa và mục đích của lời khấn như thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Các lời khấn của tu sĩ có mục tiêu là thể hiện chóp đỉnh của tình yêu: một tình yêu hoàn toàn dành cho Đức Kitô dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, và nhờ Đức Kitô mà tiến dâng lên Chúa Cha” (Gioan Phaolô II ngày 26/10/1994).
Mặc dầu ý thức thân phận yếu hèn của mình và những khó khăn đang chờ phía trước, nhưng với sự tin tưởng phó thác vào ân sủng có sức biến đổi của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài, người tu sĩ can đảm dấn bước trên con đường theo Chúa. Bên cạnh đó, họ cũng phải biết nỗ lực không ngừng canh tân bản thân và chuyên cần sử dụng những khí cụ tự nhiên lẫn siêu nhiên mà Chúa và hội dòng cung cấp để không những chỉ luôn giữ mãi được “tình yêu thuở ban đầu” mà còn ngày được “biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (x. Rm 8, 29), cho “đến tầm vóc viên mãn của Thân Thể Người” (x. Ep 4, 13).

2. Những Phương Thế

a. Biết được mục đích của đời sống thánh hiến

Khởi đầu đời tu, có thể chúng ta có nhiều mục đích, dự tính và cả những tham vọng nữa. Thế nhưng, trong suốt thời gian được huấn luyện, và trước lúc tuyên khấn trọn đời, chúng ta phải xác định được mục đích chính của đời tu là gì. Xác tín mục đích mà chúng ta tìm kiếm trong đời tu không phải danh vọng, vật chất, như được khấn trọn đời; được chịu chức thánh…, nhưng đó là một Con Người- Đức Giêsu Kitô. Ngài là cùng đích chúng ta nhắm tới, là kho tàng chúng ta tìm kiếm và bán tất cả để có được (x. Mt 13, 44-46). Do đó, “thực tâm tìm Chúa” (Tu luật thánh Biển Đức 58, 7), và “Không tìm kiếm hay quí trọng điều gì hơn Chúa Kitô” (Tu luật thánh Biển Đức 4, 21), phải là mục đích chính của mọi ơn gọi tận hiến. Công Đồng Vatican II dạy rằng: “Những ai khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm đều phải tìm kiếm và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, Đấng đã yêu thương chúng ta trước (x. 1Ga 4, 10)” (DT 6). Cùng với thánh Phaolô, chúng ta phải coi mọi sự là “thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu”, sánh với điều ấy, người sống đời thánh hiến không ngần ngại coi mọi sự như “đồ bỏ, để giành được Đức Kitô” (Pl 3, 8; VC 18). Có vậy đời tu chúng ta mới được triển nở và hạnh phúc.
Chỉ một mình Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là con người bằng xương bằng thịt như chúng ta, Đấng đã yêu thương đến cùng và đã thí mạng sống mình vì chúng ta (x. Gl 2, 20), Đấng luôn trung tín dù chúng ta bất tín (x. 2Tm 2, 13), mới có thể giúp chúng ta trung tín đến cùng với tình yêu thuở ban đầu mà chúng ta đã thề ước với Ngài trong ngày tuyên khấn. Chỉ tình yêu của Ngài mới giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong đời sống để chu toàn sứ vụ Chúa trao một cách hăng say và đầy sáng tạo. Huấn Thị Phát Xuất Lại Từ Đức Kitô số 22 khẳng định: “Chỉ khi ý thức mình được yêu thương vô cùng mới có thể giúp chúng ta vượt thắng mọi khó khăn cá nhân hay của Hội dòng cơ cấu. Người thánh hiến không thể có tính sáng tạo, có khả năng canh tân Hội dòng và mở ra những con đường mục vụ mới nếu họ không cảm thấy được yêu mến với tình yêu ấy. Chính tình yêu ấy làm cho họ trở nên mạnh mẽ và can đảm, có thể dám làm mọi sự”.

b. Sống đúng căn tính ơn gọi của mình

Để có thể trung thành với lời mình khấn hứa, với giao ước và tình yêu thuở ban đầu, người tu sĩ bắt buộc phải biết và sống ba điều: Tôi là ai? Căn tính đời sống thánh hiến nói chung và căn tính ơn gọi riêng biệt của hội dòng mà mình đang sống.

Tôi là ai? Tôi đến đây để làm gì?

Là người sống đời thánh hiến chúng ta xác tín rằng, mặc dầu không phải là người thánh thiện, tốt lành hơn người khác, nhưng đã được Thiên Chúa mời gọi, tuyển chọn và thánh hiến cho một sứ vụ (x. VC 22). Sứ vụ của chúng ta phải là men muối và ánh sáng cho đời (x. Mt 5, 13-16.13, 33). Chúng ta phải có khả năng phân định, tự lập và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. 
Chúng ta cần luôn tự vấn xem tôi đến đây để làm gì? Thường xuyên tự vấn về ý hướng của mình là phương thế giúp chúng ta trung thành với ý hướng và tình yêu thuở ban đầu: “Nếu người tu sĩ muốn trung thành theo Chúa, thì trong suốt thời gian tu hành luôn phải đặt lại vấn đề ý hướng, như thánh Bênađô, dù là bậc thánh nhân và là đan viện phụ cũng luôn tra vấn chính mình: Hỡi Bênađô, anh đến đây để làm gì?” (Bernarde, ad quid venisti?)” (Antôn Ngô Văn Vững, p.28).

Căn tính đời sống thánh hiến

Theo Antôn Ngô Văn Vững thì căn tính đời tu là “sống trọn vẹn chương trình Phúc Âm bằng một cuộc sống tận hiến[1] . Chính vì thế Công Đồng Vaticanô II đã nhắc nhở các cộng đoàn dòng tu phải lấy Phúc Âm làm qui luật tối thượng[2] . Và chỉ trong việc hiến mình cho Thiên Chúa qua việc bước theo Chúa Kitô trong tình yêu và phục vụ vô điều kiện mà đời thánh hiến tìm thấy căn tính của mình (Huấn Thị Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô, số 13).

 

 * Căn tính ơn gọi riêng biệt của hội dòng mà mình đang sống

Chúng ta phải biết căn tính và đặc sủng của ơn gọi chúng ta đang sống, kiên định trong căn tính, đặc sủng và sứ mạng ơn gọi đó đòi hỏi. Giáo Hội đòi hỏi chúng ta “phải trung thành với đoàn sủng sáng lập và với gia sản thiêng liêng được gầy dựng lên tiếp sau. Lý do mà Giáo Hội đưa ra là Việc trung thành với linh ứng của các đấng sáng lập,… giúp tìm lại và sống nhiệt thành những yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến[3] . Chính vì thế mà người tu sĩ phải biết rõ căn tính, đặc sủng và sứ vụ của hội dòng mình, tránh du nhập những tập tục “ngoại lai” từ những ơn gọi khác vào trong ơn gọi của mình. Bởi vì có những điều rất tốt đối với ơn gọi này, nhưng lại không thích hợp và không có tính cách xây dựng đối với ơn gọi khác. Đó là điều thánh Phaolô đã viết: “Được phép làm mọi sự; nhưng không phải mọi sự đều có ích. ‘Được phép làm mọi sự’; nhưng không phải mọi sự đều có tính cách xây dựng” (1Cr 10, 23). Tốt nhất chúng ta hãy biết trân trọng luật dòng vì “Càng trân trọng luật dòng, những người tận hiến càng có những tiêu chuẩn chắc chắn để tìm ra những phương thức thích đáng để làm chứng, đáp ứng những đòi hỏi của thời đại mà không xa rời linh ứng nguyên thủy” (PC 37).

c. Trung thành với đời sống cầu nguyện

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Xa mặt, cách lòng”. Chúng ta khó có thể tạo được mối liên hệ thân mật, sự hiểu biết lẫn nhau giữa cha mẹ, vợ chồng và con cái khi chúng ta không thường xuyên sống với nhau, dùng bữa và trò chuyện với nhau. Cũng vậy, làm sao chúng ta có được mối liên hệ thâm tình với Chúa Giê-su nếu chúng ta không thường xuyên hiện diện, chuyện trò, lắng nghe, chiêm ngưỡng Ngài và để cho Ngài nhìn ngắm chúng ta? 
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đặt đời sống thánh hiến trong khung cảnh cuộc hiển dung của Chúa trên núi và đặt lời của thánh Phêrô trên môi miệng của người sống đời thánh hiến “chúng con ở đây, thật là đẹp” (Mt 17, 4). Theo ngài: “Những lời ấy…diễn tả mạnh mẽ đặc tính triệt để của ơn gọi vào đời tận hiến: đối với chúng con, thật là đẹp khi được ở với Thầy, khi được hiến mình cho Thầy, khi dồn hết cuộc đời chúng con cho một mình Thầy” (VC 15). Cùng cái nhìn đó, Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích chúng ta hãy ở lại với Chúa Giêsu; hãy để cho Ngài ngắm nhìn chúng ta; và hãy để cho lửa tình yêu của Ngài sưởi ấm tâm hồn chúng ta (x. Giáo Hội Giàu Lòng Thương Xót, tr. 30). 
Chính đời sống cầu nguyện chung cũng như riêng của người tu sĩ là ngọn lửa sưởi ấm tình yêu thuở ban đầu với Đức Kitô, Đấng Lang Quân. Trong cầu nguyện, họ “hướng những khát vọng lên Chúa Cha, hàn huyên tâm sự với Người…, và trao tặng Người trái tim nồng nàn tình yêu” (Huần từ của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sống cầu nguyện trong đời sống thánh hiến, ngày 04/01/1995). Nên người tu sĩ phải “dành riêng thường xuyên, mỗi ngày, những thời gian thích hợp để tiến sâu vào việc đàm thoại trong thinh lặng với Người, Đấng mà họ biết rằng họ được yêu mến, để chia sẻ chính cuộc sống họ với Người và để đón nhận những soi sáng hầu tiếp tục cuộc hành trình mỗi ngày. Đó là một sự thao luyện đòi hỏi sự trung thành…” (Huấn thị xuất phát lại từ Đức Ki-tô, số 25). 
Chúng ta không thể giữ được “tình yêu thuở ban đầu” nếu chúng ta không trung thành với đời sống cầu nguyện chung cũng như riêng. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã từng nói: “Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi,…? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: họ bỏ cầu nguyện từ lâu” (Đường Hy Vọng, số 125). Công Đồng chung Vatican II đã khuyên các tu sĩ phải trung thành cử hành phụng vụ của Giáo Hội, và phải chuyên cần đọc và suy niệm Kinh Thánh: “Tu sĩ của các hội dòng phải cần mẫn luyện tập tinh thần cầu nguyện và cả sự cầu nguyện, múc lấy nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Kitô giáo. Trước hết, hằng ngày, phải có quyển Thánh Kinh trong tay, để nhờ đọc và suy gẫm mà học được những ‘Kiến thức siêu việt về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8). Phải theo tinh thần của Giáo Hội mà đem hết cả tâm hồn, miệng lưỡi chu toàn các Lễ nghi Phụng vụ, nhất là Mầu Nhiệm Thánh Thể, lại phải nuôi dưỡng đời sống tu đức bằng nguồn mạch phong phú ấy” (DT 6b; x. Gh 26c, 27c; LM 14a, 18c, DT 8b). Tóm lại, để có thể giữ mãi được vị nồng của “tình yêu thuở ban đầu”, chúng ta cần cảm được “cái nhìn thẩm thấu tràn đầy tình yêu” (Gioan Phaolô II) của Chúa Giêsu qua đời sống cầu nguyện và chiêm ngưỡng của chúng ta.

Kết luận

Đời thánh hiến là một sự đáp trả tiếng mời gọi thần linh của Đức Kitô: “Hãy theo Tôi” (Nhưng trước hết đó là một quà tặng mà Thiên Chúa ban cho Giáo hội nói chung và từng người sống đời sống thánh hiến nói riêng. Thiên Chúa đã yêu thương, kêu gọi và tuyển chọn từng người tu sĩ: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,13). Họ đáp trả lời mời gọi đó bằng chính tình yêu của họ. Họ đã lấy tình yêu đáp trả tình yêu, bằng cách dâng hiến cho Thiên Chúa “một con tim không chia sẻ” để được thuộc trọn về Người. Sự đáp trả này được cụ thể hóa bằng việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm một cách công khai và được Giáo Hội chuẩn nhận. Dẫu vậy, chúng ta những người sống đời thánh hiến ý thức được thân phận yếu đuối mỏng dòn của mình, chúng ta mang “kho tàng đó trong những bình sành dễ vỡ”. Vì thế, với một lòng tin tưởng phó thác và xác tín rằng, đời thánh hiến là một ân huệ của Chúa Cha ban cho Giáo hội dưới tác động của Chúa Thánh Thần, trước khi là lời đáp trả của chúng ta. Cùng với Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa Ba Ngôi về hồng ân thánh hiến và hãy dấn thân sống đời thánh hiến bằng cách nhìn về quá khứ với lòng tri ân, sống hiện tại một cách say mê và hướng tới tương lai với niềm hy vọng. 

 

[1] Antôn Ngô Văn Vững, Đời Sống Thánh Hiến theo công công đồng Vaticanô II: Dấu chỉ- Chứng từ- Ngôn sứ, tr 28.

[2] x Công đồng Vaticanô II. DT, số 2a

[3] Thánh giáo hoàng Gioan Phaolo II, tông huấn Vita Consecrata, số 36

 

 

 


Liên quan khác