TỪ GIÊRUSALEM CHO ĐẾN TẬN CÙNG TRÁI ĐẤT (Cv 1,7-8)

10/01/2019

   

Gioan Baotixita Nguyễn Tiến Dũng. O.Cist

Trong buổi gặp gỡ cuối cùng trước khi về trời – được ghi lại trong sách Công vụ Tông Đồ – Đức Giêsu đã trả lời một số câu hỏi của Nhóm 12 Tông Đồ và các môn đệ về vương quốc tương lai của Ngài rằng: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất [1]” (Cv 1,7-8). Trong câu trả lời chứa đầy tấm lòng ân cần thân thiện, nhưng cũng rất thẳng thắn chân thành này, Đức Giêsu đã muốn trao lại cho các ngài một lời hứa và một lệnh truyền.

Lời hứa rằng: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em”. Nói cách khác, trong lời hứa ban Thánh Thần cho Nhóm 12 Tông Đồ và các môn đệ, Đức Giêsu đã khẳng định rằng việc Ngài về trời không phải là một cuộc giã từ hay chia ly, nhưng chính là bước chuyển tiếp trong công trình cứu độ của Ngài và đồng thời cũng là giai đoạn ‘chuẩn bị gần’ cho một cuộc đoàn tụ lâu dài, bền vững và toàn diện hơn, đó là cuộc đoàn tụ giữa Chúa Thánh Thần và các môn đệ (Giáo Hội).

Đàng khác, câu trả lời của Đức Giêsu còn chất chứa một lệnh truyền rất đỗi khẩn thiết: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giu-đê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”. Nghĩa là từ đây, việc công bố, loan truyền và làm chứng cho biến cố Con Thiên Chúa nhập thể, chịu chết, sống lại và lên trời, không còn là việc riêng của cá nhân Đức Giêsu nhưng là công việc của toàn thể Nhóm 12 Tông Đồ và các môn đệ của Ngài, những người đã được đích thân Ngài tuyển chọn và huấn luyện trong thời gian còn tại thế. Và để các ông thực hiện được công việc trọng đại này, Chúa Cha đã sai Thánh Thần đến hướng dẫn, ban sức mạnh và tiếp tục đồng hành với các ông cho đến ngày tận thế. Chính vì lý do này mà chúng ta có thể quả quyết rằng thời kỳ từ khi Đức Giêsu về trời cho đến khi Tin Mừng Phục Sinh được lan truyền ‘cho tới tận cùng trái đất’ là thời kỳ của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta sẽ cùng nhau nhìn về những diễn biến trong Giáo Hội, đặc biệt Giáo Hội thời sơ khai, để khám phá ra chương trình quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa dành cho Giáo Hội nói riêng và thế giới nói chung, được thực hiện trong Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng cứu độ con người và vũ trụ.

Cách riêng, đối với các Đan sĩ Xitô Thánh Gia trong thời điểm hồng ân mừng Bách Chu Niên lập Dòng, chúng ta hãy cùng nhau chiêm ngắm những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong Giáo Hội và thế giới, đặc biệt trong Hội Dòng Xitô Thánh Gia suốt một thế kỷ qua. Từ một ‘cộng đoàn tiên khởi’ (Dòng Đức Bà An Nam) chỉ có hai thành viên với đôi quang gánh gọn nhẹ trên vai, phải đối diện với biết bao khó khăn thử thách từ nhiều phía, nơi rừng sâu Phước Sơn – Quảng Trị; thế nhưng đến hôm nay, sau 100 năm đã phát triển thành ‘cây đại thụ’ – như lời Đức Tổng Phụ Dòng Xitô nói trong ‘Sứ điệp gửi cho các nam nữ Đan sĩ Xitô Thánh Gia nhân dịp Năm Thánh mừng Bách Chu Niên lập Dòng’ – đang lan rộng và tỏa bóng mát không chỉ gần khắp cả ba miền trên mảnh đất hình chữ ‘S’ này mà còn đang tiếp tục lan rộng ‘cho tới chân trời góc biển’…

1- Tin Mừng bắt đầu tại Giêrusalem

Sau khi Đức Giêsu về trời, các Tông Đồ và môn đệ của Ngài rất đỗi lo lắng về số phận và tương lai dường như còn rất bất định của các ngài, bởi vì những gì đang diễn ra trước mắt họ quá khác với những toan tính của các ông khi quyết định bước theo Thầy Giêsu lúc còn sinh thời. Tuy nhiên, điều may mắn đã xảy ra cho các ngài là mặc dù có những lo lắng, những sợ hãi, nhưng lòng tin vào lời hứa của Thầy đã không biến mất, các ngài tiếp tục ở lại Giêrusalem để chờ đón nhận Thánh Thần mà Thầy đã căn dặn: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2,1-4).

Thực tế đã cho thấy rằng ngay sau khi nhận được Thánh Thần, các Tông Đồ liền trở nên khôn ngoan và can đảm khác thường. Các ngài lập tức rời khỏi ‘gian phòng đóng kín’ mà trước đây các ngài tự giam mình trong đó vì sợ hãi, để bắt đầu rao giảng và làm chứng cho Chúa Phục Sinh và làm Phép Rửa cho nhiều người. Nói cách khác, chính trong biến cố Ngũ Tuần đặc biệt này, Giáo Hội được khai sinh tại Giêrusalem không do ý muốn của con người, nhưng do bởi sức mạnh và quyền năng của Chúa Thánh Thần.

Tác giả sách Công vụ Tông Đồ kể tiếp: “Lúc đó, tại Giêrusalem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình. Họ sửng sốt, thán phục và nói: “Những người đang nói đó không phải là người Galilê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?” (Cv 2,5-8).

Bản văn này ghi nhận thêm vài chi tiết thú vị khi cho biết thành phần của Cộng đoàn Kitô Hữu Tiên Khởi bao gồm những người Do Thái tin vào Đức Giêsu đang sống trong lãnh thổ Palestina và cả những vùng khác, cụ thể như sau: Nhóm 12 Tông Đồ là những người Do Thái chính gốc và có cả những người Do Thái sùng đạo đang sinh sống ở các vùng khác về Giêrusalem dự Lễ Ngũ Tuần năm ấy. Cuộc sống và những sinh hoạt của Cộng đoàn Giáo Hội Thời Đầu[2] này cũng được mô tả rất chi tiết với những hình ảnh thật sinh động và đáng khích lệ, tác giả kể tiếp: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42-47).

Thật vậy, trong thời kỳ đầu này, các sinh hoạt của Cộng đoàn Giáo Hội Sơ Khai tuy vẫn còn gắn bó với những sinh hoạt của Do Thái truyền thống, nhưng họ cũng đã có những hoạt động riêng, thậm chí còn khác biệt so với trước. Chẳng hạn, các kitô hữu vẫn lên đền thờ cầu nguyện như những tín hữu Do Thái sùng đạo, sau đó họ còn tham gia ‘Lễ Bẻ Bánh’ và nhất là họ góp mọi tài sản làm của chung, nên không ai trong họ phải túng thiếu. Những người mới tin vào Đức Giêsu đã chăm chỉ học giáo lý do các Tông Đồ giảng dạy, chuyên cần cầu nguyện, hiệp thông với nhau và vui sống trong tinh thần bác ái huynh đệ. Điều đáng nói là sự liên đới giữa các Kitô hữu thời đầu này hoàn toàn có tính hồn nhiên và tự nguyện. Chính vì vậy, tác giả sách Công vụ Tông Đồ kết luận rằng kiểu sống của họ đã lôi cuốn nhiều người và số tín hữu theo Đức Giêsu mỗi ngày một thêm đông số.

Khi con số các tín hữu đã gia tăng, các Tông Đồ chọn thêm các ‘Phó tế’ để cộng tác trong việc phục vụ bàn thờ và chăm sóc người nghèo của Cộng đoàn. Trong nghi thức tuyển chọn những người cộng tác này, các Tông Đồ đã đặt tay trao ban Thánh Thần cho các ứng viên mới, chính nhờ nghi thức này mà công việc của các ‘cộng tác viên’ mới đã tỏ ra rất hiệu quả (x. Cv 6-8). Điều đặc biệt đáng nói ở đây là trong số những người cộng tác mới được tuyển chọn này đã xuất hiện những thành phần ngoài Do Thái giáo. Một trong bảy Phó tế này có Stephano là người gốc Hylạp. Stephano được trao trách nhiệm phục vụ những nhóm người Do Thái gốc Hylạp[3], đặc biệt là những người nghèo như nhóm các bà góa, vì họ ít được quan tâm chăm sóc.

Với sự xuất hiện của Stephano và những đồng bào Do Thái gốc Hylạp này, con số cộng đoàn những người tin vào Đức Kitô bắt đầu phát triển ra khỏi phạm vi của Do Thái giáo và cũng lan tràn ra tới ngoại thành Giêrusalem. Lòng tin vào Đức Giêsu Kitô đã được lan truyền đi nhiều nơi, đến với những người không phải là Do Thái, đến với những thành không phải là Giêrusalem.

Cái chết của Phó tế Stephano mở đầu cho cuộc bách hại, các Kitô hữu gốc Hylạp phải phân tán đi khắp nơi. Biến cố này cũng đã mở ra một giai đoạn mới: “Những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo Lời Chúa” (Cv 8,4). Tuy nhiên, sự kiện Stephano cho ta thấy hai điều đáng chú ý, thứ nhất là tính cách độc lập và kiện toàn của Kitô giáo đối với Do Thái giáo; thứ hai là sự quan phòng khôn ngoan của Thiên Chúa đã làm cho cuộc phân tán này trở thành cơ hội cho các Kitô hữu đem hạt giống Tin Mừng đến gieo vãi khắp nơi (x. Cv 11,19-21).

Quả thật với biến cố này, ‘Giáo Hội Chúa Kitô’ được chính thức ra đời và nhanh chóng lan truyền rộng rãi. Tất cả các thành viên mới của Giáo Hội đều trở nên cản đảm nhờ đã nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà Chúa Cha đã ban cho họ theo lời Đức Giêsu căn dặn, để họ chính thức trở thành chứng nhân cho Người từ Giêrusalem, Samari và cho đến tận cùng trái đất.

2- Tin Mừng lan tỏa tới Antiokia và các vùng phụ cận

Những chương đầu của sách Công vụ Tông Đồ tường thuật cho chúng ta thấy sự khởi đầu của Giáo Hội Chúa Kitô tại Giêrusalem với Phêrô là thủ lãnh. Trong phần tiếp theo, tác giả sách Công vụ Tông Đồ tiếp tục cho thấy sự lan tràn nhanh chóng của Giáo Hội dưới tác động của Chúa Thánh Thần: “Ông Phêrô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phêrô nói rằng: ‘Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?’ Rồi ông truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Đức Giêsu Kitô. Sau đó họ xin ông ở lại ít ngày” (Cv 10,44-48).

Câu chuyện này mở ra cho Giáo Hội thời đầu và cũng cho các kitô hữu ngày hôm nay thấy rõ và xác tín hơn về ý định của Thiên Chúa là ‘cứu độ mọi người’; đồng thời, cũng cho thấy những hoạt động phong phú của Chúa Thánh Thần đang hướng dẫn Giáo Hội thi hành sứ vụ như thế nào: ‘Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?’. Đọc tiếp tập ‘Nhật Ký Của Hội Thánh Thuở Ban Đầu’[4] chúng ta thấy rằng hơn phân nửa còn lại của cuốn sách được tác giả dành để mô tả những sinh hoạt và sự bành trướng của Giáo Hội tại một số thành phố khác, đặc biệt là tại Antiokia và với một nhân vật nổi bật: Phaolô thành Tarso.

Thật vậy, sau cái chết của Phó tế Stephano, các kitô hữu buộc phải rời bỏ Giêrusalem vì cuộc bách hại ngày càng trở nên khốc liệt hơn, họ bị/được ném vào môi trường đặc biệt: giữa các các dân ngoại. Trước hoàn cảnh đó, họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nói cho người dân ngoại – nơi mình buộc phải tới ẩn náu – biết điều làm họ quan tâm nhất chính là quyền năng của Thiên Chúa biểu lộ lớn lao, nên đã có rất nhiều người gia nhập Giáo Hội, tác giả sách Công vụ Tông Đồ ghi lại rằng: “Những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Têphanô, đi đến tận miền Phênixi, đảo Sýp và thành Antiôkhia. Họ không rao giảng lời Chúa cho ai ngoài người Do Thái. Nhưng trong nhóm, có mấy người gốc Sýp và Kyrênê; những người này, khi đến Antiôkhia, đã giảng cho cả người Hylạp nữa, loan Tin Mừng Chúa Giê-su cho họ. Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa” (Cv 11,19-21). Có thể nói rằng cái chết của Stephano là một sự đe dọa nặng nề và là khởi đầu cho cuộc bách hại khốc liệt nhắm vào các tín hữu Chúa Kitô; nhưng đàng khác, cái chết của vị Phó tế tiên khởi này cũng là lời chứng hùng hồn cho một niềm tin mới và mạnh mẽ vào Đức Giêsu Tử nạn và Phục sinh; đồng thời cũng là nguyên cớ và động lực cho một cuộc truyền giáo vĩ đại và hiệu quả khôn lường đang từng bước được tiến hành. Nhờ vậy các cộng đoàn nhỏ đã bắt đầu được khai sinh tại nhiều nơi trong các vùng Giudea, Samaria và nhất là Antiokia (x. Cv 11,19-21). Có người đã cho rằng Giáo Hội Chúa Kitô Thời Đầu này là ‘Câu chuyện cổ tích của hai thành phốGiêrusalem và Antiokia’.

Từ đây, tất cả các cuộc hành trình truyền giáo kỳ diệu của Phaolô đều xuất phát từ thành Antiokia, chứ không phải từ Giêrusalem. Antiokia trở thành trung tâm mới của Giáo Hội để mang Tin Mừng Chúa Kitô tới khắp vùng phụ cận và sau đó là đến ‘tận cùng trái đất’. Chính tại Antiokia này – chứ không phải ở Giêrusalem – các môn đệ của Chúa Kitô được đặt cho một tên mới, họ được gọi là “kitô hữu” (x. Cv 11,26).

Cứ như thế, Giáo Hội tiếp tục phát triển theo hướng tách ra khỏi Do Thái giáo; Tin Mừng Chúa Kitô tiếp tục lan rộng không ngừng tới nhiều vùng khác nữa. Bài giảng của Stephano trong sách Công vụ nêu lên tính cách tạm thời của Do Thái giáo (x. Cv 7). Do Thái giáo phải nhường chỗ cho tôn giáo mới do Đức Giêsu Kitô thiết lập, một tôn giáo không còn bị giới hạn trong một quốc gia hay một đền thờ nào cả. Tuy nhiên, Stephano đã phải trả giá cho sự thật này bằng chính mạng sống: ông đã bị ném đá cho đến chết (x. Cv 7,55tt). Nhưng chính cái chết của Stephano đã trở thành ‘nguyên cớ’ cho sự lan tràn của Tin Mừng.

3- Tin Mừng tiếp tục lan rộng cho tới tận cùng trái đất

Biến cố Ngũ Tuần diễn ra ít lâu sau khi Đức Giêsu về trời đã chính thức khai sinh Giáo Hội. Cũng từ đó, Giáo Hội đón nhận sứ mạng tiếp tục rao truyền công trình cứu độ (Tin Mừng) mà Đức Giêsu đã khai mở. Chính Đức Giêsu đã từng nói lúc còn tại thế rằng: “‘Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó’” (Lc 4,43).

Thật vậy, Giáo Hội luôn được sai đi rao giảng Tin Mừng ‘cho đến tận cùng trái đất’ và ‘cho đến ngày Người lại đến lần thứ hai trong vinh quang’. Trải qua 2.000 năm, công trình Đức Giêsu trao cho Giáo Hội đang được thực hiện cách tốt nhất cho dù có/đã trải qua không ít thử thách, bách hại, thậm chí có những lúc tưởng chừng như sẽ bị tan rã.

Nói cách khác, Giáo Hội được khai sinh từ biến cố Ngũ Tuần hôm ấy, mãi mãi là Giáo Hội truyền giáo cho đến ngày cuối cùng của thế giới, cho tới khi Tin Mừng Phục Sinh hiện diện/lan tỏa đến khắp tận cùng thế giới. Lệnh truyền của Đức Giêsu Phục Sinh luôn cần được thi hành cách triệt để và khẩn trương: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”. Quả thật, trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, lệnh truyền này không ngừng được lặp lại nhiều lần dưới nhiều cách thức khác nhau phù hợp với từng thời kỳ và từng hoàn cảnh riêng biệt: “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21).

Lệnh truyền của Đức Giêsu mang tính triệt để bởi vì nó được trao gửi đến tất cả mọi người và không một kitô nữu nào, không một môn đệ nào được chuẩn miễn khỏi phải thi hành sứ vụ trọng đại và khẩn thiết này. Lệnh truyền của Đức Giêsu cũng triệt để vì không được giới hạn bởi một nơi chốn hay một đối tượng cụ thể nào. Thánh Phaolô, vị Tông Đồ Dân Ngoại đã khẳng định điều này khi viết cho môn đệ Timothê, cũng là con yêu dấu của ngài: “Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2,3-4). Tính triệt để trong lệnh truyền của Đức Giêsu còn được thể hiện nơi cái giá mà người môn đệ phải trả: “Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9,47-49); Triệt để còn thể hiện nơi thứ vị ưu tiên mà người môn đệ phải cân nhắc: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,3).

Lệnh truyền của Đức Giêsu còn mang tính khẩn thiết đến mức phải thi hành ngay tức khắc và không bao giờ được phép trì hoãn, bởi vì: “Người nói: ‘Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần’. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

Sau này khi đã cảm nhận được tính triệt để và khẩn trương của sứ điệp Tin Mừng, vị ‘Tông Đồ Dân Ngoại’ là Thánh Phaolô đã phải thốt lên trước những người Corintô rằng: “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1Cr 9,16).

Với tính triệt để và khẩn thiết ấy, suốt 2.000 năm qua Giáo Hội đã thi hành sứ vụ này một cách không mệt mỏi trong niềm tin vào lời hứa của Đức Giêsu: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28, 19-20).

 *Tin Mừng luôn hướng về ‘tận cùng trái đất’ theo lệnh truyền của Chúa[5]

Kể từ khi Đức Giêsu Kitô về trời, Giáo Hội tiếp tục công trình của Ngài cho đến ngày Ngài trở lại lần thứ hai (Quang lâm). Chúng ta thử vắn tắt ghi lại vài cột mốc trong lịch sử thi hành sứ vụ của Giáo Hội 2.000 năm qua khi tạm chia thành hai giai đoạn sau đây:

1/Ngàn năm đầu tiên

– Ba thế kỷ đầu tiên được ghi dấu bởi thử thách và bách hại. Bước đầu gian khổ báo trước mùa màng bội thu, như khẳng định của Giáo phụ Tertulianô: “Máu các chứng nhân tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”.

– Năm 313, với chiếu chỉ Milan công nhận Kitô giáo là tôn giáo hợp pháp, tên tuổi Hoàng đế Constantinô gắn liền với giai đoạn tự do và lớn mạnh rất nhanh của Giáo Hội trong đế quốc của Constantinô.

– Từ thế kỷ V, nhờ uy tín của các giám mục, nhờ đóng góp của các đan sĩ trong việc tổ chức nâng cao đời sống đạo đức, vật chất, văn hoá, xã hội… dân chúng dần dần xin gia nhập Giáo Hội. Giáo Hội vượt ra khỏi ranh giới đế quốc Roma, cảm hóa các sắc dân ở Âu Châu.

– Tin Mừng đến với các sắc dân thuộc Nước Đức vào khoảng thế kỷ V đến thế kỷ VIII và dân Slaves từ thế kỷ IX đến thế kỷ XI.

2/Ngàn năm tiếp theo

Ngàn năm thứ hai của Giáo Hội là một bức tranh đan xen ánh sáng và bóng tối, tích cực và tiêu cực:

– Phong trào canh tân phát xuất từ Đan viện Cluny (Pháp) đem lại mùa xuân mới cho Giáo Hội.

– Ngàn năm thứ hai bắt đầu bằng một biến cố chia rẽ đáng tiếc dẫn đến ly khai của Chính Thống Giáo với Công Giáo vào năm 1054, Đông Phương và Tây Phương không còn hiệp nhất nữa.

– Sự đe dọa của Hồi Giáo dẫn đến việc thành lập Đạo Binh Thánh Giá để chiếm lại Đất Thánh và thành Giêrusalem[6].

– Hai thế kỷ XII và XIII là thời cực thịnh của Giáo Hội Tây Phương. Các dòng tu, đặc biệt là Xitô, Đaminh và Phanxicô đã đem lại sinh khí mới cho Giáo Hội trong việc nâng cao đời sống đạo đức và luân lý cho các tín hữu. Các dòng tu đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt đạo đức, văn hóa, trí thức, cách riêng là lãnh vực thiêng liêng và triết học.

– Thế kỷ XIII là thời gian khủng hoảng vì bè rối và Tòa Án Pháp Đình của Giáo Hội đã phạm nhiều sai lầm.

– Thế kỷ XIV là thời kỳ đen tối vì cuộc đại ly khai ở Tây Phương 1378-1415, phân rẽ giữa Roma và Avignon gây ra hỗn loạn – thời có hai giáo hoàng tại vị.

– Cuộc cải cách của Luther dẫn đến ly giáo ngày 03-01-1521 – Thệ Phản Tin Lành.

– Vua Henri VIII và cuộc ly giáo 1533 ở nước Anh.

– Công đồng Tridentino 1545-1563 đáp ứng đòi hỏi canh tân nội bộ Giáo Hội về tín lý, bí tích và kỷ luật.

– Thế kỷ XV-XVII: giai đoạn truyền giáo dưới ‘Quyền Bảo Trợ’ của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, từ năm 1493 Tòa Thánh trao cho các vua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha điều khiển việc truyền giáo. Giáo Hội mở rộng tầm nhìn, vượt ra ngoài Âu Châu, đem Tin Mừng đến mọi dân tộc.

– Ngày 09-09-1659 là một ngày đáng ghi nhớ đối với Giáo Hội Việt Nam: Đức Thánh Cha Alexandro VII thiết lập hai giáo phận: Đàng Trong (Đức cha Lambert de la Motte) và Đàng Ngoài (Đức cha François Pallu).

– Do những lạm dụng và bất tiện của ‘Quyền Bảo Trợ’, năm 1622 Tòa Thánh thiết lập ‘Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin’ để chấn chỉnh và hướng dẫn, trực tiếp nắm quyền và điều hành, giúp cho việc truyền giáo đạt được nhiều thành quả mới.

– Cuộc Cách Mạng Pháp (1789) mở màn cho bước ‘tục hóa’ Giáo Hội: tước bỏ những quyền của Giáo Hội trong lãnh vực trần thế, gây nhiều khó khăn cho Giáo Hội, nhưng cũng giúp cho Giáo Hội ý thức về bản chất của mình.

– Công đồng Vaticano I năm 1870 xác định về ơn bất khả ngộ của giáo hoàng.

– Trong thế kỷ cuối cùng, với Công đồng Vaticano II, Giáo Hội bước vào con đường mới, đồng hành với con người và thế giới, thích nghi với những biến đổi không ngừng của xã hội.

– Ngày 24-11-1960, Đức Thánh cha Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo Phẩm Công Giáo Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam.

3- Ngàn năm thứ ba – Giáo Hội tiến bước trong niềm tin

– Giáo Hội đã trải qua nhiều thăng trầm, những chặng đường sáng ngời xen lẫn với đen tối suy sụp. Giáo Hội vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển vì đã được phát sinh từ Chúa Giêsu Kitô và được Chúa Thánh Thần không ngừng dẫn dắt.

– Bước qua ngàn năm thứ ba này, Giáo Hội vẫn tiếp tục tiến bước trong niềm tin rằng: “Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20) và Chúa Thanh Thần sẽ đồng hành và hướng dẫn Giáo Hội như Đức Giêsu đã hứa: “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13).

 4- Tin Mừng và ơn gọi Tông đồ

Để thực hiện công trình cứu độ, Đức Giêsu cần những cộng tác viên xuyên suốt mọi thời đại. Khởi đi từ Nhóm 12 do chính Ngài đích thân tuyển chọn. Sau đó, các Tông Đồ đã tiếp tục tuyển chọn thêm bảy Phó tế,… và cứ như thế, con số những người cộng tác và các kitô hữu ngày càng gia tăng.

4.1. Ơn gọi Tông đồ thời đầu của Giáo Hội

Như đã thấy trên đây, chính Đức Giêsu đã chọn Nhóm 12 Tông Đồ và 72 môn đệ để cộng tác và tiếp nối chương trình Chúa Cha đã trao phó cho Ngài và chính Ngài cũng sẽ trao lại cho các môn đệ: như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em…(x. Ga 20,21). Tuy nhiên, chúng tôi chỉ muốn nhắc tới trong bài này ơn gọi đặc biệt của thánh Phaolô như là một bước ngoặt quan trọng trong giai đoạn khởi đầu này và sự kiện này đã có một âm vang vô cùng to lớn trong thế giới dân ngoại cho đến hôm nay.

*Ơn gọi của Phaolô

Sự đặc biệt trong ơn gọi của Phaolô được thể hiện ngay trong con người của ngài: cá tính, quá khứ, sứ vụ đặc thù và nổi trội so với phần còn lại trong số các Tông đồ khác. Vì vậy, có lẽ sẽ rất ý nghĩa nếu chúng ta nhắc đến ơn gọi đặc biệt của Phaolô cho sứ mệnh ‘đến tận cùng trái đất’ của Tin Mừng cứu độ, trong đó có chúng ta đây vốn là thành phần thuộc Dân ngoại mà Phaolô được giao trọng trách rao giảng cho.

Truyền thống Giáo Hội quen gọi biến cố ngã ngựa của Saolô[7]trước cổng thành Đamas được ghi lại trong sách Công vụ Tông Đồ chương IX và những diễn biến sau đó là cuộc ‘trở lại của thánh Phaolô’. Nhưng trong tất cả các trình thuật do chính Phaolô kể về biến cố trọng đại này – trong các thư của ngài – thì không một lần nào Phaolô dùng kiểu nói ‘trở lại’. Theo vị Tông Đồ Dân Ngoại, ơn gọi của ngài đã được chính Thiên Chúa tuyển chọn và chuẩn bị từ khi còn trong dạ mẹ… như lời quả quyết của chính Đấng tuyển chọn Saolô bày tỏ với Khanania được ghi lại trong sách Công vụ Tông Đồ: “Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ítraen. Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta” (Cv 9,15-16). Chúa Giêsu Phục sinh nhất quyết chọn Saolô bất chấp những nghi ngại của Khanania và Nhóm 12 Tông Đồ; bất chấp những ‘xầm xì’ của đám đông về quá khứ ‘thiếu trong sáng’ của Saolô: “Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho các thánh Chúa tại Giêrusalem. Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa” (Cv 9,14).

Nghĩa là theo Phaolô, từ khi còn trong dạ mẹ, đến khi được chào đời, cả khi chuẩn bị tương lai bằng việc đào luyện phổ thông và chuyên biệt – Phaolô đã theo học ‘Luật Môsê và Các Ngôn Sứ’[8]với một vị thầy Pharisêu dang tiếng là Gamaliel với mong ước sẽ trở thành một Pharisêu nhiệt thành và trung thành tuyệt đối với ‘Truyền Thống Cha Ông’ – thì ngài vẫn luôn bước đi trong kế hoạch tuyển chọn và chuẩn bị của Thiên Chúa. Thiên Chúa chuẩn bị như thế theo cách của Ngài, cho công việc phù hợp trong tương lai sẽ trở thành ‘Tông Đồ Dân Ngoại’. Điều này sẽ được minh chứng thật rõ ràng sau này khi Phaolô dùng những kiến thức, những hiểu biết ấy phục vụ cho công việc rao giảng và làm chứng về Đức Giêsu cách thuyết phục và hiệu quả nhất (x. Cv 15,1tt).

Vì vậy, thay vì dùng kiểu nói ‘trở lại’, thánh Phaolô thích dùng những cách nói chính xác hơn để diễn tả ơn gọi đặc biệt của Ngài. Chẳng hạn, trong thư gửi tín hữu Galata, Phaolô kể rằng: “Thật vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải. Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Dothái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. Trong việc giữ đạo Dothái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông. Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, cũng chẳng lên Giêrusalem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ảrập, rồi lại trở về Đamát” (Gl 1,11-17).

Rõ ràng thánh Phaolô chưa bao giờ nhìn nhận ngài được ơn ‘trở lại’ nếu hiểu đó là sự trở lại từ một cuộc sống xấu xa trác táng, trụi lạc, phóng đãng,…và quả thật với tư cách là một tín hữu Do Thái giáo sùng đạo, trong cuộc sống của mình Phaolô đã không hề mảy may có ý tưởng hay thái độ chống lại lòng tin vào Thiên Chúa của truyền thống Do Thái. Ngay cả khi tình nguyện xin chứng chỉ từ vị Thượng tế để đi bắt giam các kitô hữu, Phaolô cũng tin rằng mình đang làm ‘cho Chúa và vì Chúa’(!). Đó là lý do tại sao mỗi khi kể về ơn gọi của mình, Phaolô thích dùng những kiểu nói như ngài xác tín để diễn tả lòng tin của Ngài vào Thiên Chúa của Cha Ông. Cũng chính Vị Thiên Chúa này – qua Đức Giêsu Khổ nạn và Phục sinh – đã ‘đoái thương mạc khải Con của Người’, ‘đã chọn’ ‘đã kêu gọi’ ‘đã dành riêng’ Phaolô từ trong lòng mẹ để thực hiện công trình của Người, tức là: “loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại”.

Tuy nhiên, có điều gì thú vị cần được ghi nhận ở đây, bởi vì ngay sau khi Phaolô được Thiên Chúa đoái thương mạc khải, thì ông có vẻ như đã bị ‘lạc mất’, các tín hữu ở đây dường như không quan tâm đến sự kiện này, duy chỉ có Barnaba là người đã phát hiện và giải quyết vấn đề, nên ông liền trẩy đi Tarsô tìm Saolô. Khi gặp thấy Saolô ở Tarso, hai người cùng trở lại Antiokia, cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người (x. Cv 11,25-26). Có người đã ‘cả gan’ đặt ra giả thuyết rằng giả như không có Barnaba, Phaolô có thể bị chìm vào quên lãng suốt đời! Và nếu như thế, chúng ta thử tưởng tượng xem thế giới sẽ mất mát ra sao nếu Saolô không được khám phá!

Thật may mắn đó chỉ là một giả thiết, mãi mãi chỉ là giả thiết. Thiên Chúa có chương trình của Người rất rõ ràng và khôn ngoan trên từng cá nhân, từng con người, từng hoàn cảnh cụ thể. Mỗi chúng ta cũng vậy, chính Thiên Chúa đang có một kế hoạch rất cụ thể và chi tiết đối với cá nhân trong chương trình cứu độ của Người. Điều quan trọng là cũng như Phaolô, chúng ta cần nhận ra ơn gọi đặc thù của mình và kiên trì theo đuổi trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối vào kế hoạch của Thiên Chúa, bởi vì cũng như Phaolô, chúng ta cần xác tín điều chính Phaolô đã xác tín: “Nhưng Người quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.’ Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,9-10).

4.2. Tin Mừng và ơn gọi Tông đồ ngày nay

Ngày nay, ơn gọi Tông đồ vẫn khẩn thiết không kém so với thời Giáo Hội Sơ Khai, bởi vì những nỗ lực, những thành công, lòng nhiệt thành tông đồ trong quá khứ sẽ là kinh nghiệm và là động lực cho người Tông đồ ngày hôm nay.

Thật vậy, thành quả vẻ vang việc loan báo Tin Mừng Chúa Phục sinh của các Tông đồ trong quá khứ không chỉ là ‘con số’ các kitô hữu…, nhưng là ‘động lực dây chuyền’ thúc đẩy chúng ta theo chân các ngài, tiếp nối công trình các ngài đã khởi sự và khẩn trương ‘lên đường’ rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng cứu độ như lệnh truyền của Thầy Chí Thánh mà các Tin Mừng kể lại (x. Mt 28,19; Mc 16,15).

Trong đoạn trích trên đây từ sách Công vụ Tông Đồ (Cv 1,6-8) cho chúng ta thấy rằng khi các môn đệ hỏi Đức Giêsu về thời giờ và kỳ hạn khôi phục vương quốc Israel, thì Ngài lại trả lời bằng cách nhắc lại sứ vụ “làm chứng cho Tin Mừng”. Qua câu trả lời ấy, Chúa Giêsu như muốn nói với các môn đệ điều này: đừng lưu tâm đến vương quốc hay triều đại… sẽ đến khi nào hay cách nào… điều duy nhất các ông phải quan tâm là làm sao cho Tin Mừng của Chúa phải lan tỏa ‘từ Giêrusalem… cho tới tận cùng trái đất’.

   Ý thức được điều này, các sứ giả loan báo Tin Mừng ngày xưa cũng như ngày nay đã gấp rút lên đường. Chẳng vậy mà, ngay sau lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), thánh sử Marco đã viết tiếp: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16,19-20). Cách mô tả của thánh sử Marcô thật tuyệt vời: khi Thầy ‘lên trời’ cũng là thời khắc các môn đệ của Ngài ‘lên đường’ thi hành sứ vụ Thầy trao phó. Một hình ảnh thật đẹp, thể hiện một sự liên tục có chủ ý giữa lệnh truyền của Thầy và sự mau mắn của người môn đệ thi hành mệnh lệnh.

Trải qua 2.000 năm lịch sử, Giáo Hội Chúa Kitô vẫn luôn trung thành và hăng say thi hành bổn phận và cũng là vinh dự rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa. Trong phần cuối của bài viết này, chúng tôi muốn nhắc tới hình ảnh của một vị Thừa sai, cũng là Đấng Sáng lập đời sống Đan tu Xitô trên Đất Nước Việt Nam thân yêu, nhân dịp kỷ niệm 100 khai sinh của Dòng, đó là Cha Henri Denis Biển Đức Thuận.

Thật vậy, Cha Biển Đức Thuận vốn là một nhà Truyền giáo nhiệt thành của Hội Thừa Sai Paris, được coi là người tiếp bước cách đặc biệt của thánh Phaolô. Xét về phương diện lòng nhiệt thành đem Tin Mừng đến cho Dân ngoại, Cha Henri Denis Biển Đức Thuận cũng còn nung nấu một thao thức lớn hơn nữa, đó là mong muốn cho người dân Việt Nam và Đông Dương được nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa. Dòng Đức Bà Annam – nay là Hội Dòng Xitô Thánh Gia là thành tựu của thao thức đó. Nối kết công trình của Cha Biển Đức Thuận với Thánh Phaolô như thế sẽ giúp cho người tín hữu kitô, đặc biệt là các Đan sĩ Xitô Thánh Gia thấy được phần nào tình thương quan phòng của Thiên Chúa trong lịch sử Giáo Hội của Ngài và xác tín hơn nữa vai trò đặc biệt của mình trong việc thực thi lệnh truyền của Đức Giêsu là rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa đến ‘tận cùng trái đất’.

-Nếu ngày xưa Phaolô và Barnaba lên đường từ Antiokia và đã hướng tới Phương Tây[9] (Âu Châu) để rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng… thì vào đầu thế kỷ XX vừa qua, cũng đã có những vị thừa sai lên đường từ Cảng Marseille (Nước Pháp) – trong số đó có vị Linh mục Thừa sai trẻ tuổi, Cha Henri Denis – hướng tới Phương Đông (Đông Dương) để đem Tin Mừng Chúa Kitô đến với người dân vùng này, đặc biệt là Việt Nam. Một đất nước vốn có một nền văn hóa tâm linh sâu sắc và tinh thần gia đình sâu đậm[10] như cách đánh giá của Đức Tổng Phụ Dòng Xitô trong sứ điệp gửi cho các nam nữ Đan sĩ Xitô Thánh Gia, dịp mừng Bách Chu Niên trong năm 2018 này.

-Nếu ngày xưa Phaolô được kêu gọi cho một sứ vụ đặc biệt: Đem Tin Mừng đến với Dân ngoại và Thánh Nhân đã hăng say, hy sinh, ‘đồng lao cộng khổ’ như thế nào để cho sứ vụ ấy đạt được những thành quả tuyệt vời…; thì ngày nay, Cha Henri Denis Biển Đức Thuận và con cái của ngài cũng đã và đang tiếp bước trên cùng một con đường rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng trong đời sống đan tu ‘cho những người chưa nhân biết Chúa’.

-Nếu ngày xưa Phaolô đã phải đối diện với muôn vàn khó khăn thử thách từ nhiều phía: hoàn cảnh túng thiếu, những hiểu lầm nghi kỵ từ những thành phần đối nghịch – đôi khi từ ngay cả những người trong ‘hàng ngũ tông đồ’, thì Cha Biển Đức Thuận cũng đã trải qua nhiều khó khăn thử thách từ hoàn cảnh gia đình, từ việc thích nghi với môi trường Á Châu, những hiểu lầm từ nhiều phía, ngay cả từ các Đấng bản quyền của ngài, nhất là trong những ngày đầu mới lập Dòng… Thế nhưng cũng như thánh Phaolô, Cha Biển Đức Thuận đã một bề tin tưởng cậy trông phó thác vào chương trình mà Cha trên trời chuẩn bị cho ngài và vì vậy ngài đã vượt qua nhờ Đấng ban sức mạnh cho ngài, để rồi ngài cũng nói được như thánh Phaolô: “Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,12-13).

Chính với niềm xác tín đó mà Cha Biển Đức Thuận đã trải qua và hoàn thành sứ vụ của ngài một cách xuất sắc, từ nhiệm vụ của một Cha sở, một Giáo sư Chủng viện, cho đến một Đan sĩ Chiêm niệm; nhất là nhiệm vụ nặng nề của người khai sinh đời Đan tu Chiêm niệm cho người Việt Nam như được kể trong cuốn Hạnh Tích Cha Benoît.

 

Tạm kết

Qua Lễ Ngũ Tuần, dưới hình lưỡi lửa, Chúa Thánh Thần đã đi vào nội tâm của các Tông Đồ thời đầu, thì Ngài cũng đang đi vào lòng những người Tông đồ hôm nay. Đây vừa là một cuộc thanh luyện, vừa là một sự xức dầu, nhờ đó người tông đồ được đổi mới hoàn toàn. Quả thật, trước khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ vẫn luôn phải ở lại trong ‘phòng kín’ với tâm trạng hoang mang, hoài nghi, lo sợ… Các ngài vẫn nhát đảm, vẫn rụt rè, trong lòng vẫn chất chứa những ý tưởng trần tục, vụ lợi và tầm thường, như những con người bình thường ít học, chậm hiểu, tranh dành, ganh tỵ…, nhưng sau khi nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần, khi để cho Chúa Thánh Thần thi hành sứ vụ thánh hóa và biến đổi con người mình, các ngài đã được ‘thay mới’ hoàn toàn. Điển hình là trường hợp của Nhóm 12 và Tông đồ Phaolô. Trước kia Phaolô bắt bớ các môn đệ của Chúa: “Ông Sao-lô vẫn còn hằm hằm những đe dọa và giết chóc đối với các môn đệ Chúa” (Cv 9,1). Nhưng khi được Chúa Giêsu Phục sinh kêu gọi và được Khanania đặt tay để lãnh nhận Thánh Thần, Phaolô đã mạnh mẽ, khôn ngoan hẳn lên, đến nỗi ngài đã công khai rao giảng khắp nơi và thu phục được nhiều tâm hồn Dân ngoại về cho Chúa và thành lập nhiều cộng đoàn tại những nơi ngài đặt chân tới rao giảng và làm chứng. Cũng như tất cả các Tông Đồ khác, Phaolô cũng trở nên mạnh mẽ không kém, ngài dám đối đầu với mọi thế lực thù nghịch, dám hy sinh cả mạng sống để rao giảng và làm chứng cho Đức Kitô Khổ nạn và Phục sinh.  

Công trình của Chúa Thánh Thần đã được khởi đầu nơi các Tông Đồ thời đầu và nơi Phaolô cũng luôn tiếp diễn trong tâm hồn của các kitô hữu mọi thời và mọi nơi. Chính Thánh Thần đó đã tác động nơi tâm hồn Cha Biển Đức Thuận trong từng đường đi nước bước của ngài. Cũng chính Thánh Thần đó đang tác động và biến đổi các Đan sĩ Xitô Thánh Gia để họ sống xứng đáng ơn gọi làm con và làm môn đệ của Thiên Chúa. “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22). Chúa Thánh Thần sẽ làm cho các môn đệ của Đức Giêsu và toàn thể nhân loại đạt tới chân lý vẹn toàn (x. Ga 16,13).

Chúa Thánh Thần là sự sống của Giáo Hội; Chúa Thánh Thần là Đấng tốt lành phát sinh những hoa trái tươi tốt. Những hoa trái ấy là: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,22-23). Niềm vui, tình yêu và bình an là những món quà vô giá Chúa Thánh Thần trao tặng cho nhân loại cũng như cho mỗi người chúng ta. Giáo Hội do Chúa Phục sinh thiết lập và được ‘khai sinh’ trong biến cố Ngũ Tuần năm xưa, luôn tồn tại nhờ sự hiện diện của Ngài và nhờ ơn huệ dồi dào của Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần là “linh hồn”, là sức sống của Giáo Hội và vì thế, Giáo Hội sẽ không thể sống và hoạt động, không thể chu toàn sứ mạng loan báo và làm chứng cho Tin Mừng Phục sinh trong hoàn cảnh sống của mình mà không có Chúa Thánh Thần. Quả thật, vì Tin Mừng Phục sinh của Đức Giêsu liên hệ trực tiếp đến tất cả nhân loại, ơn Chúa Thánh Thần cho phép Giáo Hội đáp trả lời mời gọi của Chúa Phục Sinh: trở nên những chứng nhân của Ngài “cho đến tận cùng trái đất”.

Cũng như các Tông Đồ, các kitô hữu mọi thời được mời gọi không được ‘đóng kín’ nơi bản thân mình như người đứng bên lề cuộc sống và ở bên lề thế giới, trái lại phải là những thành viên của thế giới, có bổn phận loan báo Tin Mừng cứu độ và bình an một cách mạch lạc và tự do cho thế giới mình đang sống. Bổn phận này được đặc biệt nhắc đến trong Công đồng Vaticano II về vai trò của người giáo dân, cũng như trong Tông huấn về ‘Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân trong Giáo Hội và giữa trần thế[11].

Các Kitô hữu thời Giáo Hội Sơ Khai đã ngoan ngoãn lắng nghe và để cho Chúa Thánh Thần qui tụ và hướng dẫn thành một cộng đoàn chứng nhân, một cộng đoàn mà tất cả mọi thành viên chỉ có ‘một lòng một tâm hồn’, nhờ đó Tin Mừng của Chúa đã nhanh chóng lan rộng ‘từ Giêrusalem đến tận cùng trái đất’. Ngày hôm nay, các thành viên của Hội Dòng Xitô Thánh Gia, những người đang thừa hưởng di sản của Chúa Thánh Thần ban qua Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, chúng ta có trách nhiệm và cũng là niềm vui khi làm cho Tin Mừng cứu độ và bình an của Chúa tiếp tục được nhân thừa và lan rộng – cả về số lượng và chất lượng – tới khắp mọi miền trên đất nước Việt Nam, Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thế giới, ngang qua sự hiện diện của của các Đan sĩ và các Cộng đoàn Xitô Thánh Gia luôn ‘một lòng một ý’ và nhất tâm tìm kiếm Thiên Chúa trên và trong tất cả mọi sự bằng chính niềm vui của Tin Mừng.


 

 

[1] Những chỗ đánh đậm một số trích dẫn Kinh Thánh dùng trong bài này là do ý hướng muốn nhấn mạnh theo tác giả bài viết.

[2] Các kiểu nói ‘Cộng đoàn Giáo Hội Thời Đầu’ hay ‘Cộng đoàn Kitô Hữu Tiên Khởi’,… được dùng trong bài này để nói về nhóm những người tin vào Đức Giêsu ngang qua lời rao giảng của các Tông Đồ tại Giêrusalem từ sau biến cố Ngũ Tuần năm ấy và cũng có thể là các cộng đoàn kitô hữu sau đó ở những vùng phụ cận.

[3] Cụm từ ‘Người Do Thái gốc Hylạp’ được dùng để chỉ những người Do Thái sinh trưởng ngoài xứ Palestina, sống theo văn hóa Hylạp và nói tiếng Hylạp, hay còn gọi là những người ‘Hy hóa’.

[4]Nhiều tác giả đã dùng kiểu nói như thế khi đề cập đến sách Công vụ Tông Đồ, http://www.simonhoadalat.com/hochoi/giaoluat/tusachgiaolygp/GiaoAnKinhThanhIII/ Bai01.htm

[5] x. http://www.simonhoadalat.com/hochoi/giaoluat/tusachgiaolygp/LichSuOnCuuDo/Chuong8.htm

[6] Có thể kể đến 7 cuộc Thập Tự Chinh: 1096-1099, 1147-1149, 1189-1197, 1202-1204, 1228-1229, 1248-1254, 1268-1291, như là những kinh nghiệm cả tích cực và tích cực cho Giáo Hội. Những cuộc Thập Tự Chinh đem lại nhiều thất bại và tai tiếng. Vì các thế lực chính trị đã lợi dụng tính chất tôn giáo để thực hiện những mưu đồ trục lợi của mình: dùng chiến tranh để cướp đoạt tài nguyên và mở rộng thị trường ở vùng Trung-Cận-Đông.

[7] Saolô hay Saul là tên của thánh Phaolô trước khi được Đức Kitô Phục sinh gọi ngài làm Tông đồ cho Dân ngoại, sau này đổi thành Phaolô (x. Cv 13,9).

[8] Kiểu nói này ám chỉ toàn bộ Kinh Thánh của người Dothái (Cựu Ước của Kitô giáo ngày nay).

[9] Quan sát các chuyến truyền giáo của Phaolô trên bản đồ được in trong cuốn ‘Kinh Thánh Tân Ước’ khổ lớn, giúp chúng ta nhận ra rằng các hành trình truyền giáo của Barnaba và Phaolô đi theo hướng Tây này – hướng tới Roma – Âu Châu.

[10] x. Đức Tổng Phụ Dòng Xitô Mauro-Giuseppe Lepori, Sứ điệp gửi cho các nam nữ Đan sĩ Xitô Thánh Gia, dịp mừng Bách Chu Niên năm 2018, HGCN số 23.

[11] x. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn về Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân trong Giáo Hội và giữa trần thế (Christideles laici), đề ngày 30/12/1998.

 

 

 

 

 


Liên quan khác