VƯỢT QUA BIÊN CƯƠNG HỮU HÌNH CỦA GIÁO HỘI

13/12/2018

  1. Bên kia “biên cương hữu hình của Giáo Hội”
  2. Có thể “vượt qua” không?
  3. Hiệp thông, con đường “vượt qua biên cương hữu hình của Giáo Hội”
  4. Thực hiện sự hiệp thông trong Giáo Hội 

       Kết luận


Theophan Phạm Hữu Ái

Giáo Hội là “Dân tộc mới”, là Dân Thiên Chúa, đang trên đường lữ thứ tiến về Quê Trời[1] . Vì thế, Giáo Hội vừa hữu hình, vừa vô hình và chúng ta chỉ thực sự hiểu được khi “Vượt qua biên cương hữu hình của Giáo Hội” để đụng chạm đến chiều kích vô hình, là chiều kích chính yếu tạo nên bản chất của Giáo Hội. Đây là chiều kích căn bản đã được Công Đồng Vaticanô II triển khai trong chương I, Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân. 

Xét về lý, trên bình diện “hiện tượng học”, “vượt qua biên cương hữu hình” không thể dừng lại ở việc ‘soi’ vào cơ cấu, cấu trúc hay ngay cả bản chất. Bởi lẽ, bên kia “Biên cương hữu hình của Giáo Hội” là một thực tại vượt lên trên mọi khả năng của con người; nó cũng không thể ‘mô tả’ theo phương pháp hiện tượng học để trở về với “sự vật như chính là sự vật”, vì cần phải có kinh nghiệm thiêng liêng. Tự mình, chúng ta có thể có kinh nghiệm thiêng liêng hay không? Kant cho biết: Nơi con người chỉ có trực giác cảm giác. Khả năng duy nhất của trực giác này nằm trong lãnh vực của hiện tượng và biết được những gì thuộc về hiện tượng, chứ không thể nào biết “vật tự thân”. Mặc dù không biết được “vật tự thân”, nhưng Kant tin là “có”, vì ông thấy được hiện tượng của nó.
Thấy được hiện tượng để đi đến khẳng định là có “vật tự thân” cũng chỉ mới dừng lại ở chỗ “hợp lý”. Từ hợp lý đến thực tại là cả một con đường không hề ngắn và không phải lúc nào cũng đạt tới đích, nhất là “cái bên kia” biên cương hữu hình của một thực tại mà Công đồng Vaticanô II gọi là “mầu nhiệm Giáo Hội”. Thế mà nơi mầu nhiệm Giáo Hội, giữa hữu hình và vô hình không hề có ranh giới: Vô hình nằm ngay trong hữu hình; hữu hình ở trong vô hình thì làm gì có biên cương để mà vượt. Cả hai trở thành một thực thể không thể phân tách. Như vậy, chúng ta có thể đề cập đến “cái bên kia ấy” là gì không? Có thể sử dụng hạn từ “vượt qua” để “thấu hiểu”, để “ngộ” được điều đó không? Và bằng cách nào?

  1. Bên kia “biên cương hữu hình của Giáo Hội”

Thánh Công đồng Vaticanô II, trong Hiến Chế Tín Lý đã trình bày Giáo Hội phát xuất từ ý định của Chúa Cha, một “ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm[2] . Với ý định đó, “Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ: Ngài đã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Adam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kitô…Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo Hội[3] . Ý định này đã được Đức Kitô thực hiện khi Ngài vâng phục Chúa Cha đến trần gian với sứ mạng cứu độ nhân loại, đồng thời khai sinh ra Giáo Hội từ nước và máu nơi cạnh sườn của Ngài để làm cho Giáo Hội trở nên bí tích cứu độ[4] . “Khi công trình của Chúa Cha trao phó cho Chúa Con trên trần gian đã được hoàn tất”, Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công trình đó bằng cách ban ơn thánh hoá và Ngài chính là hồn sống của Giáo Hội. Trong tư cách là thần chân lý, Ngài đã soi sáng, dẫn dắt con người đến cùng Chúa Cha; “nhờ sức mạnh Phúc Âm, Ngài làm tươi trẻ, không ngừng canh tân và dẫn đưa Giáo Hội đến kết hợp hoàn toàn với Phu Quân mình”[5] . “Như thế, Giáo Hội phổ quát xuất hiện như “một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần[6] .

Dân tộc ấy là gì? Và có thể tách biệt vô hình ra khỏi hữu hình không? Rõ ràng là không thể được. Vì thế, Tin Mừng không hề đưa ra một câu định nghĩa nào về Nước Thiên Chúa, nhưng chỉ trình bày bằng những hình ảnh như là hạt giống gieo vào lòng đất (x. Mc 4,14); chuồng chiên (x. Ga 10,1-10); Thửa ruộng hay toà nhà của Thiên Chúa (x. 1 Cor 3,9); hoặc Thành thánh Giêrusalem trên trời (x. Gl 4,6; Kh 12,7)… “Nhưng trước tiên, Nước ấy được biểu lộ trong chính bản thân Chúa Kitô, Con Thiên Chúa và Con loài người[7] 
Vì không thể tách biệt vô hình với hữu hình, nên có rất nhiều ngộ nhận. Những ngộ nhận đến từ những người ngoài Giáo Hội và ngay cả hiện hữu nơi con cái của mình. Những ngộ nhận đó đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy đến. Kết quả là hình ảnh của Giáo Hội được nhìn nhận và đánh giá rất phiến diện và méo mó. Sở dĩ đã xảy ra một thực tế đau lòng như thế là vì sự “vô minh” và tham vọng của con người muốn “vượt qua biên cương hữu hình của Giáo Hội” theo nghĩa là nắm bắt như một đối tượng. Nếu vậy, chúng ta không thể “vượt qua” biên cương hữu hình của Giáo Hội để “ngộ” ra được thực tại vô hình sao?

  1. Có thể “vượt qua” không?

Suy tư thần học về các mầu nhiệm luôn luôn là suy tư theo thần học phủ định, nghĩa là vừa khẳng định, vừa phủ định. Khẳng định là để cho con người hiểu một phần nào, nhưng điều mà con người hiểu được phần nào đó lại không phải hoàn toàn như vậy. Trong thực tế khi trình bày sự tốt lành của Thiên Chúa, người ta thường nói: Thiên Chúa là chân – thiện – mỹ; đồng thời lại phủ định ngay tức khắc: Thiên Chúa là chân – thiện – mỹ nhưng không phải như quan niệm của tôi. Tôi là hữu thể hữu hạn mà có thể “hiểu” được Thiên Chúa trong tầm mức của tôi, thì hoá ra Thiên Chúa ngang bằng tôi sao?

Cũng thế, Giáo Hội vừa là hữu hình, vừa vô hình, không hề có đường biên cương giữa hai thực tại này. Chúng ta nhận ra Giáo Hội vô hình ngay trong Giáo Hội hữu hình, nhưng “hữu hình” này không phải là “hiện tượng” như quan niệm của Kant; trái lại, hữu hình đó cũng chính là vô hình và vô hình được thể hiện nơi hữu hình trong một thực tại sự sống, tiến triển trong không gian và thời gian, trên đường lữ thứ về Quê Trời. Nếu không thể phân tách ra được thì làm gì có “vùng biên cương” để vượt qua? Vả lại, Công Đồng Vaticanô II, khi trình bày về Giáo Hội đã nhắc đến cụm từ “mầu nhiệm Giáo Hội”. Giáo Hội là mầu nhiệm, nên chúng ta không thể diễn tả Giáo Hội bằng ngôn ngữ khẳng định, nhưng phải suy tư dưới nhãn giới của thần học phủ định. Điều ấy cho thấy, với cái nhìn của lý trí và ngôn ngữ của con người thì không thể nào “ngộ” ra chiều kích vô hình trong hữu hình được mà phải cần đến một khả năng khác đó là trực giác. Theo triết gia Henri Bergson, trực giác này là trực giác tôn giáo. Một thứ trực giác thần bí nơi những con người có kinh nghiệm thần bí như thánh Gioan Thánh Giá, thánh Têrêxa Avila… Mặc dầu trong quan niệm của mình, Bergson đã đồng hoá kinh nghiệm triết học với kinh nghiệm của các nhà thần bí, nhưng dầu sao nó cũng cho chúng ta nhận thấy một vấn đề: Mầu nhiệm Giáo Hội là một thực tại sống, một đà sống (Vì Chúa Thánh Thần là hồn sống của Giáo Hội) chứ không phải là một cơ cấu cứng ngắc và hình thức như một tổ chức trần thế, nên phải được đón nhận bằng “trực giác tôn giáo”. Trực giác này không phải là kết quả suy tư của Bergson, nhưng rút ra từ những quan sát thực tế nơi những con người có kinh nghiệm thần bí. 
Kinh nghiệm thần bí là kinh nghiệm của một người đã đạt tới sự chứng nghiệm trong đức tin. Mức độ cao nhất của chứng nghiệm này là mức độ thần hoá). Cấp độ thứ 4 trong 4 cấp độ của tình yêu trong khảo luận “Tình yêu Thiên Chúa”. Ở mức độ đó, con người như hoà tan trong Chúa, chẳng khác nào giọt nước hoà tan trong thùng rượu, đến nỗi không thể nhận ra đâu là nước, đâu là rượu. Nơi mức độ này, chúng ta thực sự đang “ở trong Chúa” và “Chúa ở trong” chúng ta, như thánh Gioan đã diễn tả trong “Cây nho thật” (x. Ga 15,1-17). Chúng ta được “ở trong” Chúa nhờ được nối kết với thân nho là Đức Kitô. Trong thân nho, sự sống của Chúa ở trong chúng ta và chúng ta được ở trong sự sống của Chúa. Lúc đó, chúng ta “ngộ” ra được thực tại vô hình ngay trong hữu hình; và nhận ra những thực thể hữu hình của Giáo Hội cũng chính là những thực tại vô hình, mà khi đón nhận nó thì Giáo Hội chính là bí tích cứu độ mà Thiên Chúa muốn thiết lập vì chúng ta. Đây là con đường giúp cho chúng ta “vượt qua”. Con đường đó còn được gọi là con đường hiệp thông.

  1. Hiệp thông, con đường “vượt qua biên cương hữu hình của Giáo Hội”

Hiệp thông là từ ngữ thuần tuý Kitô giáo, không có trong “Từ điển tiếng Việt”, được dịch từ Koinonia [Hy-lạp] và Communio [La-tinh]. Theo nguyên ngữ, Koinonia phát xuất từ chữ koinos, diễn tả việc nhiều người cùng chia sẻ với nhau về một điều gì đó. Communio, có nguồn gốc từ communis, được cấu tạo từ chữ “cum” và “munis”, một tính từ xuất phát bởi chữ “munus” và cũng có nghĩa là cùng tham gia một công việc. Như thế, nếu lược bỏ mọi sắc thái tầm thường mà từ ngữ có thể gợi ra, thì koinonia và communio có thể diễn tả một phần nội dung của khái niệm hiệp thông trong Kitô giáo. 
Trong tiếng Việt, khái niệm hiệp thông có một ý nghĩa rất thâm sâu vì nó vừa là “hiệp nhất”: nên một, cùng chung; nhưng có “thông” từ bên trong như dòng nhựa sống luân chuyển trong thân cây và cành cây; như sự sống từ mẹ qua thai nhi và từ thai nhi qua người mẹ. Vì là “nên một” và “thông từ bên trong” nên khi sống hiệp thông với Giáo Hội chúng ta vừa đồng thời “ở trong” và “ở lại” trong Giáo Hội, giống như chúng ta được “ở trong” và “ở lại” trong Chúa Kitô khi thông hiệp nơi bàn tiệc Thánh Thể (x. Ga 6,50; 15, 1-17). Một khi “ở trong”, “ở lại” là chúng ta “ở trong”, “ở lại” nơi một “toàn thể” (Giáo Hội vừa là hữu hình và vô hình, không phân tách), nghĩa là không phân tách “hữu hình”, “vô hình”, và lúc đó chúng ta “đụng chạm” tới vô hình ngay trong hữu hình. Nói cách khác, khi sống hiệp thông là được “ở trong”, “ở lại” trong chính sự sống Chúa Ba Ngôi, là nguyên uỷ và là sự sống của Giáo Hội hữu hình.
Vì hiệp thông là được “ở trong” sự sống Chúa Ba Ngôi, nên cánh cửa để bước vào sự thông hiệp này theo Đức Phanxicô trong Tự Sắc “Porta Fidei” [Cánh Cửa Đức Tin] chính là đức tin. Thế nhưng, với Đức Benedicto XVI, Cựu Ước và Tân Ước không đề cập đến “tin có” mà chỉ nói là “tin vào”, vì chỉ có người ngu mới bảo không có Thiên Chúa (x. Tv 13,1). Tin có Thiên Chúa là điều hiển nhiên (x. Rm 1,19). Kiểu nói “tin vào” Chúa hàm ẩn cả ba nhân đức đối thần: Tin – Cậy – Mến. Ba nhân đức này như quyện vào nhau nơi hành động “tin vào”. Đây là ba khả năng mà mỗi người nhận lãnh qua bí tích Thanh Tẩy để trở nên con cái Thiên Chúa. Nhờ “tin vào” mà con người “vâng phục” Thiên Chúa để dấn thân cho Ngài , nhưng chúng ta chỉ có thể dấn thân [8] “hết mình” khi có một tình yêu mãnh liệt, và từ đó trở nên hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa. Như thế, “tin vào” đưa ta đến một sự gặp gỡ để nên một với Thiên Chúa, nguồn sự sống và tình yêu.

Theo thư thứ nhất của thánh Gioan (x. Ga 1,3): Khởi điểm cuộc gặp gỡ này là “gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đến với con người – nam cũng như nữ – thông qua lời rao giảng của Giáo Hội. Từ đó sẽ làm phát sinh sự hiệp thông giữa con người với nhau, và chính sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi [9] . Cuộc gặp gỡ với Đức Kitô là gặp gỡ trong sự sống và trong tình yêu và được thể hiện rõ nét trong mầu nhiệm Giáo Hội. 
Với hình ảnh thứ nhất, Giáo Hội được trình bày như là thân mình của Đức Kitô (x. 1Cr 12), trong đó mọi chi thể đều quy về đầu và về với nhau; các chi thể có cùng một sự sống với thân mình. Ngược lại, sự sống toàn thân là sự sống của từng chi thể. Mỗi chi thể liên kết với tất cả các chi thể khác trong cùng một sự sống của toàn thân và được “ở trong” sự sống, cũng như trong từng chi thể. 
Hình ảnh thứ hai sánh ví Giáo Hội như cây nho và cành nho (x. Ga 15, 1-17). Hình ảnh này không chỉ diễn tả sự thông hiệp ngay chính trong sự sống, mà Đức Giêsu còn chuyển qua sự hiệp thông trong tình yêu. Thế mà, nơi Thiên Chúa, tình yêu cũng chính là sự sống, vì bản tính của Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4, 8.16). Đây là tình yêu agape, tình yêu như “Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu anh em” (Ga 15, 12). Nói đến sự sống và tình yêu thì không thể nói đến từ “thông”, vì bản tính của tình yêu và sự sống luôn luôn “bởi” và “cho”. Chính vì đó mà tình yêu và sự sống không bao giờ chấp nhận sự tắc nghẽn; trái lại, luôn trao ban, thông cho nhau sự sống, tình yêu và làm cho toàn thân càng ngày, càng phong nhiêu và luôn sống động cùng với toàn thân.

  1. Thực hiện sự hiệp thông trong Giáo Hội

Toàn thân chỉ phong phú khi có sự sống sung mãn. Sự sống chỉ sung mãn khi và chỉ khi tất cả các chi thể cùng hướng về một mục đích. Mục đích của Giáo Hội là gì nếu không phải là để làm vinh danh Chúa Cha (x. Ga 15,8; 1Cr 10, 31). Thế mà, Giáo Hội phát xuất từ Chúa Ba Ngôi, nên để Giáo Hội có một sự sống sung mãn, cần phải thực hiện con đường hiệp thông trong Giáo Hội. Con đường hiệp thông ấy trước hết phải là con đường hiệp thông với sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. 
Đó là sự sống mà chúng ta đã lãnh nhận được khi chịu bí tích Thanh Tẩy. Nhờ sự sống này, mỗi người được tham dự vào bản tính Thiên Chúa và được gọi Ngài là “Abba, Cha ơi” (x. Rm 8,15). Một cách thiết thực, chúng ta nhận được sự sống Ba Ngôi bởi và qua Chúa Con. Như thế, để thông hiệp với sự sống Ba Ngôi, phải khởi đi từ sự thông hiệp với Chúa Giêsu. Một Chúa Giêsu đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể để cho chúng ta được thông hiệp với Thiên Chúa trong chính thân mình của Ngài. Bởi đó, không có con đường nào thiết thực, chắc chắn và ngắn nhất ngoài con đường Đức Giêsu đã vạch ra: Con đường “hiện diện, hiến tế và hiệp thông”. 

Nơi bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện với, cho và vì chúng ta. Ngài hiện diện để chúng ta được thông hiệp với sự sống và tình yêu của Ngài, và để sự sống, tình yêu đó thấm nhập, tràn đầy trong chúng ta. Do đó, qua bí tích Thánh Thể chúng ta thực hiện một sự hiện diện bằng việc “ở lại”, “ở trong” qua việc lắng nghe, vâng phục và thực hành giáo huấn của Giáo Hội để có thể đồng cảm, đồng nhịp và đồng tâm với nhịp bước của Giáo Hội hữu hình trên con đường lữ thứ. 
Một khi đã đồng cảm, đồng tâm, chắc chắn sẽ tiến tới đồng hướng. Hướng đi ấy không gì khác hơn là làm vinh danh Thiên Chúa nhờ được cụ thể hoá qua việc hiến tế của Chúa Giêsu, nên hiến tế nằm trong hướng đi của những ai muốn sống trọn vẹn chiều kích hiệp thông với Giáo Hội. Nó được thể hiện qua việc trở nên nghèo; nghèo để cho người khác được giàu như Chúa Giêsu (x. 2Cr 8,9); nghèo để trở nên “của nuôi” cho tha nhân. Cái nghèo này biến người thông hiệp trở thành một hữu thể luôn sống với những thao thức của Giáo Hội: là bí tích cứu độ.
Cuối cùng, thực hiện con đường hiệp thông được hoàn tất qua việc sống ý nghĩa hiệp thông. Một ý nghĩa được diễn tả tròn đầy trong 1Ga 1,1: “Điều vẫn có ngay từ đầu; điều chúng tôi đã nghe; điều chúng tôi đã thấy tận mắt; điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến; đó là Lời hằng sống”. Chạm đến Lời hằng sống là đụng chạm đến tình yêu, đụng chạm đến chính “sự sống” của Giáo Hội, và đây là cái “chạm” của cảm nghiệm giữa tình yêu với tình yêu đã được thánh Phaolô diễn tả qua xác tín của ngài: “Tôi sống mà không phải tôi, nhưng Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Nhưng xác tín này chỉ thực sự trọn vẹn khi “sống trong niềm tin vào Đấng đã yêu tôi và phó nộp mình vì tôi” (Gl 2,20). Đó là sự tròn đầy của con đường hiệp thông: hoàn toàn hoà quyện vào sự sống của Đức Kitô trong đức mến.

Kết luận

“Vượt qua biên cương hữu hình Giáo Hội” để khám phá ra thực tại vô hình là sự sống Chúa Ba Ngôi, là một lời mời gọi đối với tất cả những anh chị em đan sĩ Hội Dòng Xitô Thánh Gia trong những năm chuẩn bị Bách Chu Niên, ngày cha Tổ Phụ khai mạc đời sống đan tu tại Núi Phước. Sở dĩ cần phải khám lại là để mỗi người được đồng hành với Giáo Hội trong năm thánh ân phúc của Hội Dòng. Việc làm này rất thiết thực và hữu ích vì giúp cho chúng ta có được một sự chuẩn bị trong tâm hồn để sống hiệp thông với Chúa Ba Ngôi trong lòng Giáo Hội; và với Giáo Hội, mỗi anh chị em hiệp nhất để tiến tới thông hiệp trong cùng một sự sống và một tình yêu.
Để thực hiện vượt qua này không chỉ cần một xác tín, một sự can đảm nhưng cần phải xác định một hướng đi, vì Giáo Hội vô hình và hữu hình không hề có làn ranh giới vật lý. Vì thế, vượt qua ở đây không phải là vượt qua thể lý hay ngay cả siêu hình, nhưng là chính là sự hiệp thông trong sự sống để tiến tới sự hiệp thông trọn vẹn nơi thành Giêrusalem trên trời. Đó là trọng tâm trong lời mời gọi “Vượt qua biên cương hữu hình của Giáo Hội” để mỗi anh chị em kiếm tìm phương thế thực hiện theo hoàn cảnh và khả năng giới hạn của mình. Phương thế ấy cũng tuỳ thuộc vào cơ duyên và tình yêu của mỗi người đối với Hội Dòng và với Giáo Hội.

 

[1] Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chế “Ánh Sáng Muôn Dân”, số 9.

[2] Công Đồng Vaticanô II, Sđd, số 2.

[3] Công Đồng Vaticanô II, Sđd, số 2.

[4] X. Công Đồng Vaticanô II, Sđd, số 3.

[5] Công Đồng Vaticanô II, Sđd, số 3.

[6] Công Đồng Vaticanô II, Sđd, số 4.

[7] Công Đồng Vaticanô II, Sđd, số 5.

[8] Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chế Mạc Khải Của Thiên Chúa, số 5.

[9] Lm. Phêrô Trần Văn Hội, Giáo Hội-Mầu Nhiệm Hiệp Thông Theo Công Đồng Vaticano II, nguồn:http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/ThuongHuan/ThuongHuan2009/02GiaoHoiMauNhiemHiepThong.htm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Liên quan khác