Suy Niệm Tuần I, Sau khi Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa New 

12/01/2020

Hãy Sám Hối Và Tin

Thứ Hai sau Chúa Giêsu chịu phép rửa: Mc 1,14-20

Quý độc giả kính mến, sau khi chịu phép rửa bởi ông Gioan Tẩy Giả, Đấng được Thần Khí ngự xuống trên mình khi các tầng trời xé ra và tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” đã phải chịu cám dỗ bốn mươi đêm ngày trước khi bước vào sứ vụ công khai của Người (x. Mt 4,2). Theo trình thuật của Tin mừng nhất lãm thì sứ vụ rao giảng của Đức giêsu bắt đầu ở Galilê, một vùng đất đa phần là dân ngoại (x. Mt 4,15).

Trước khi đến miền đất phần đông là ngoại giáo có lẽ Đức Giêsu đang ở miền Giuđê, bởi theo bản văn của Mát-thêu và Mác-cô: “khi Đức Giêsu nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê”. Phải chăng chuyện ông Gioan bị nộp là một tình cờ cho Đức Giêsu đến với những kẻ ngoại ? thiết nghĩ rằng, đây không phải tình cờ mà cũng chẳng ngẫu nhiên, bởi Con Thiên Chúa xuống thế làm người cốt để chia sẻ cuộc sống của người dân cùng thời với Người. Và, cũng như các ngôn sứ, Người rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa bằng lời nói và việc làm “thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vài Tin mừng”. Quả thật, triều đại Thiên Chúa đã và đang hiện hữu giữa chúng ta “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5), nhưng người nhà đã chẳng đón nhận (x. Ga 1,11).  Lời mời gọi sám hối của Chúa Giêsu như đang chất vấn mỗi người chúng ta. Động từ “sám hối” nói tới một thái độ ăn năn thành khẩn và tự hạ, bởi chính khi nhìn lại và trở về chúng ta mới thực sự nhận biết chính mình và nhận biết “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cự ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14a). Việc bốn môn đệ đầu tiên đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu cách mau mắn cũng là một hành động của sự sám hối. Vì sám hối không chị gói gọn trong việc trở về với Thiên Chúa mà nó còn là lời đáp lại tiếng Chúa “lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người” (Mc 1,18). Thái độ dứt khoát của các môn đệ trước lời mời gọi của Chúa Giêsu cho ta thấy sự từ bỏ mang tính triệt để và dứt khoát. Triệt để và dứt khoát ở đây không phải là trốn tránh, chê ghét hay ruồng bỏ mà là hướng đến một tình yêu phổ quát “các anh sẽ trở thành những kẻ lưới người như lưới cá”.

Lời ca trong bài hát Hãy Trở Về của nhạc sĩ Ngọc Kôn: trở về với Cha nhân lành, trở về để sống an bình, trở về để mãi sống trong ân tình như đang thôi thúc mỗi người chúng ta hãy mau mắn quay trở về với Thiên Chúa, hãy tỏ lòng sám hối và từ bỏ thế gian để làm hòa với Thiên Chúa. Lạy Chúa, đã bao lần chúng con vấp ngã, chúng con lìa xa Chúa, chối bỏ Chúa nhưng Chúa vẫn như người cha nhân lành chạy đến nâng dậy và đón nhận với tất cả tình yêu mến và lòng thương xót. Xin cho chúng con được vững tin vào lượng từ bi thương xót bao la của Chúa mỗi khi ươn lười bất tuân.     

 

Sức Mạnh Và Hiệu Quả Của Lời  Chúa  

Thứ Ba sau Chúa Giêsu chịu phép rửa: Mc 1,21-28

Quý độc giả kính mến,  bài Tin Mừng hôm nay thánh Mác-cô tường thuật sự việc Chúa Giêsu dùng Lời quyền năng đuổi quỷ ra khỏi chàng thanh niên để chúng ta thấy rõ sức mạnh và hiệu quả của Lời Chúa.

Quả thật, Lời Chúa tự bản chất đầy quyền năng và hữu hiệu cho mọi người ở mọi nơi và mọi lúc.

Chúng ta biết rằng, trước ngày tạo thiên lập địa, mọi sự đều trong cõi hư vô, nghĩa là chưa có gì cả ; Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng Lời quyền năng của Ngài để tạo dựng nên mọi sự, sách Sáng Thế chương thứ nhất đã tường thuật rõ về công trình tạo dựng của Thiên Chúa trong sáu ngày. Chúa chỉ phán bằng Lời liền có mọi sự: Chúa bảo có ánh sáng liền có ánh sáng, có cỏ cây liền có cỏ cây, có chim trời, cá biển, súc vật, thú rừng liền có đủ mọi loài động vật, có con người liền có ngay con người chúng ta (x. St 1,1-31).

Do Lời Chúa đầy quyền năng như thế mà tiên tri Isaia đã khẳng định rõ trong sách của ngài ở chương 55, từ câu 10 đến 11 như thế này: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời sẽ không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và cây cối đâm chồi nãy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn thì Lời Chúa cũng vậy, một khi đã xuất phát từ miệng Chúa sẽ không trở về với Ngài nếu chưa đạt được kết quả, chưa thực hiện được ý muốn của Chúa, chưa chu toàn sứ mạng Chúa giao phó”.

Bởi thế, thật hạnh phúc cho những ai biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Vì những người ấy sẽ được thấy nhãn tiền hiệu quả của Lời Chúa trong chính cuộc sống của mình. Điển hình như Mẹ Maria đã chăm chú lắng nghe và thực hành Lời Chúa nên đã được Chúa Giêsu nêu gương qua lời xác định của Ngài: “Đúng hơn phải nói rằng, kẻ nghe và thực hành Lời Chúa thì có phúc hơn” (x. Mt 12,50). Cụ Áp-ra-ham đã tin vào Lời Chúa nên đã được gọi là cha của mọi kẻ tin. Bởi đó, truyền thống tốt đẹp trong Giáo hội mà hiện nay vẫn còn, đó là kể từ ngày tu sỹ được khấn trọng, các ứng sinh được lãnh chức linh mục hay giám mục, mỗi tân chức đều chọn một câu Lời Chúa làm châm ngôn cho cuộc đời tận hiến hay mục vụ của mình.

Ước gì khi nghe và hiểu rõ sứ điệp Lời Chúa dạy hôm nay, mỗi người kitô hữu, cách riêng mỗi người sống đời tu trì đều biết tin vào sức mạnh và hiệu quả của Lời Chúa để luôn biết lắng nghe và suy niệm rồi thực hành mọi Lời Chúa truyền dạy mỗi ngày hầu đón nhận được những hiệu quả thiết thực cho bản thân và cộng đoàn ở đời này lẫn đời sau. Bởi vì Lời Chúa là Lời quyền năng và hữu hiệu cho hết thảy mọi người chúng ta.  

 

 Chúa Đến Tìm Kiếm Loài Người  

Thứ Tư sau Chúa Giêsu chịu phép rửa: Mc 1,29-39

Quý độc giả kính mến, có những người thành công trong lĩnh vực nghệ thuật, kinh tế, văn hóa và ngay cả trong đời sống tâm linh và họ coi như thể chính họ là người khởi xướng và khổ công làm ra nên mới đi đến thành công. Vì thế, một nhạc sỹ kia ở vương quốc nọ đã tự tin sáng tác ra bài hát Vào Đời Tìm Chúa với các ca từ kiêu hãnh thế này: “với gói hành trang, tôi vào đời tìm Chúa Kitô. Với gói hành trang, tôi tôi lang thang tìm Con Thiên Chúa. Hai ngàn năm đã qua đi rồi, giờ này Người ở đâu ? Giờ này Người ở đâu ? …” Xin được phép hỏi rằng, có ai trong quý độc giả hoàn toàn đồng ý với nhạc sỹ ấy không ? Thiết nghĩ rằng, làm sao mà loài người với thân phận hữu hạn lại có thể tìm kiếm được Thiên Chúa là Đấng vô hạn ! Thật sự, chính Chúa Giêsu có lần đã khẳng định: “Các ông sẽ tìm Tôi mà không gặp, và nơi tôi ở, các ông không thể đến được” (Ga 7,34). Vậy thì phải nói ngược lại mới đúng. Vì thật ra, chính Thiên Chúa là Đấng yêu thương loài người vô bờ bến. Chúa mới là người khởi xướng việc đến và tìm kiếm loài người. Ngay từ thời Cựu ước, tác giả sách Sáng Thế đã tường thuật rõ thế này: sau khi tổ tông loài người phạm tội, hai ông bà xấu hổ và đã đi trốn trong bụi cây. Liền lúc đó, Thiên Chúa đã đích thân đi tìm và tha thiết gọi: “A-đam! A-đam! ngươi đang ở đâu ?” Chúa cứ gọi mãi cho đến lúc tìm thấy hai ông bà nguyên tổ trong bụi cây. (x. St 3, 8 – 24). Cũng vậy, đến thời Tân ước Thiên Chúa Ngôi Hai đã thân hành giữa trần gian để tìm kiếm loài người. Do đó, cuối bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã bảo với các môn đệ rằng: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mt 2,38).

Vâng, Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót đối với hết thảy mọi người. Ngài luôn khắc khoải lo lắng cho từng người để hết mọi người đều được lãnh ơn cứu độ. Từ ngàn đời Chúa đã yêu thương nên Ngài đã tạo dựng nên muôn vật muôn loài rồi cho loài người làm chủ và hưởng dùng. Khi loài người phạm tội, Ngài lại càng thương hơn và đã sai Con Một xuống thế làm người để rảo bước khắp các làng mạc tìm kiếm và cứu vớt những người tội lỗi. Dẫu biết rằng thân phận con người là bất trung với Chúa nhưng Chúa vẫn một lòng yêu thương – yêu thương đến cùng (x. Ga 13,1).

Hiểu được lòng Chúa yêu thương loài người chúng ta đến như thế thì mỗi người sẽ luôn hân hoan sẵn sàng đón nhận ơn Chúa. Bởi Chúa chính là người Cha rất mực yêu thương từng người con của mình. Ngài tìm mọi cách thích hợp để cho chúng ta được sống, được bình an và hạnh phúc muôn đời.

Thật hạnh phúc cho mọi người kitô hữu nhất là cho từng người sống đời tu trì. Vì biết rằng, Chúa luôn là người đi bước trước, Ngài luôn sẵn lòng gặp gỡ chúng ta và ban ơn cho chúng ta nếu như mọi người đều biết mở lòng đón nhận Ngài.

Noi gương Chúa đến để tìm kiếm loài người, mỗi người chúng ta ai cũng có thể ra khỏi mình, nghĩa là ra khỏi cái tôi ích kỷ, khỏi cảnh an phận để đến với tha nhân bằng lời cầu nguyện và những nghĩa cử đượm tình bác ái yêu thương. Ai làm được như thế thì mới mong đến ngày chung thẩm sẽ được tận hưởng hạnh phúc viên mãn với Chúa trên Thiên Đàng !

 

 

 Bỏ Hết Những Rào Cản Để Đến Với Chúa  

Thứ Năm sau Chúa Giêsu chịu phép rửa: Mc 1,40-45

Quý độc giả kính mến, bài Tin mừng hôm nay Giáo hội cho chúng ta nghe thánh Mác-cô thuật lại câu chuyện người bị bệnh phong hủi khiêm tốn và đầy lòng tín thác đến xin Chúa cứu giúp và Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh cho anh ta. Qua đó, Chúa muốn dạy từng người kitô hữu cần phải bỏ hết những rào cản để đến với Chúa.

Chúng ta biết rằng, theo luật Do Thái thì những ai mắc bệnh phong hủi đều không được sống trong cộng đoàn tôn giáo (Lv 13,35). Vì bệnh ấy dễ lây lan sang người khác. Hơn nữa, trong xã hội thời đó, phần lớn các bệnh truyền nhiễm như bệnh hủi đều bị coi như một hình phạt của Thiên Chúa. Do đó, người bị bệnh phong hủi không được trà trộn trong dân, họ bị cấm không được tiếp xúc với người khác, họ phải sống cách ly khỏi cộng đoàn.

Tuy nhiên, Người phong hủi được nói đến trong bài Tin mừng hôm nay thật đáng thương. Vì anh ta ý thức được thân phận cô đơn của mình nên anh đã vượt qua khỏi những rào cản của Lề Luật để khiêm tốn đến quỳ xuống trước mặt Chúa Giêsu. Thêm vào đó, anh ta là một người có lòng tin tưởng mạnh mẽ vào Thiên Chúa quyền năng và giàu lòng thương xót qua lời van xin tha thiết. Vì xin ai thì tín nhiệm vào người đó có và sẵn sàng cho điều mình xin. Thật sự, bệnh nhân ấy nhận thấy bản thân anh không còn phương nào để trông chờ ngoài niềm tin và hy vọng duy nhất nơi Chúa Giêsu. Nhờ niềm tin mãnh liệt ấy mà anh ta đã bất chấp Luật Lệ thời bấy giờ vốn đang cấm anh tiếp xúc với người khác để chạy đến gặp cho bằng được Chúa Giêsu và thưa một cách dễ thương thế này: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch” (Mc 1,40). Đây là thái độ khiêm nhường và phó thác hoàn toàn vào Chúa vì người bệnh ấy có một tâm trạng sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa nên anh ta đã nói “Nếu Ngài muốn” thay vì đòi hỏi Chúa chữa lành theo ý anh. Thiết nghĩ rằng, chính thái độ khiêm tốn đầy tin tưởng vào tình thương và quyền phép của Chúa như thế đã làm Chúa xiêu lòng và động lòng thương xót rồi chữa khỏi mọi bệnh hoạn tật nguyền cho anh ta.

Cũng vậy, ai trong chúng ta hiện nay cách nào đó cũng đã và đang mắc những chứng bệnh tật về thể lý, tâm lý và những bệnh trong tâm hồn. Do đó, ai cũng cần được Chúa cứu chữa. Vậy thì, việc cần làm lúc này đó là cố gắng vượt ra khỏi mọi rào cản bởi thói quen của bản thân hay luật lệ của xã hội để khiêm tốn và hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa là Đấng đầy quyền năng và rất mực yêu thương hết thảy mọi người. Chính Chúa là Đấng thấu hiểu mỗi người chúng ta hơn ai hết.  Ngài sẽ có cách để cứu thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ hầu giúp mọi người có được cuộc sống bình an và hạnh phúc ở đời này lẫn đời sau miễn sao chúng ta biết bỏ hết những rào cản để đến với Chúa.    

    

Chúa Sẽ Chữa Lành Bệnh Tật Cho Ta

Thứ Sáu sau Chúa Giêsu chịu phép rửa: Mc 2,1-12

Quý độc giả kính mến,/ câu chuyện Tin mừng hôm nay xảy ra tại thành Capharnaum. Dân chúng tuôn đến với Chúa Giêsu rất đông. Trong đám đông ấy, có một bệnh nhân bại liệt được bạn bè và người thân đưa đến với Chúa Giêsu bằng cách khiêng anh ta rồi leo lên nóc nhà, dỡ mái nhà và thả người bệnh xuống trước mặt Chúa Giêsu. Thấy được tinh thần tương thân tương ái và đức tin mạnh mẽ qua hành động bất chấp mọi trở ngại khó khăn miễn sao đưa được bệnh nhân đến thì Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương và chữa lành cho anh bại liệt ấy. Vì thật sự, Chúa là Đấng đầy quyền năng và giàu lòng thương xót mọi người nên chỉ cần tin vào Chúa thì Chúa sẽ chữa lành bệnh tật cho ta.

Ngày nay, trong các giáo xứ, nơi các cộng đoàn dòng tu vẫn còn có nhiều người đang rất cần những người thân, những người bạn chí tình tận tâm giúp đưa họ đến với Chúa Giêsu để được chữa lành đủ mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền về thể lý cũng như tinh thần.

Cũng vậy, trong đời sống thiêng liêng, cách nào đó mỗi người chúng ta cũng đang rơi vào tình trạng bất toại. Vì thế, việc cần làm ở đây vào lúc này là phải khiêm nhường để cho người thân và bạn bè đưa đến với Chúa Giêsu để được Chúa cứu chữa khỏi mọi bệnh tật. Thiết nghĩ rằng, người nào muốn được Chúa chữa lành mọi bệnh tật thì tiên vàn phải tin rằng Chúa sẽ chữa lành hết các bệnh hoạn tật nguyền cho ta. Bên cạnh đó, từng người kitô hữu khi đứng trước những nỗi thống khổ của anh chị em thì cần có thiện chí đến với họ để “khiêng”, để “leo lên cao”, để “dỡ đi” những rào cản là cái lâu đài của nỗi sợ hãi, tính tự tôn và tự ty, tính kỳ thị chủng tộc, màu da, giai cấp, sang hèn để “thả” họ xuống trước mặt Chúa hầu xin Ngài chữa lành. Nếu chúng ta làm được như thế thì Chúa sẽ chữa lành bệnh tật cho ta.

Như thánh Antôn viện phụ tu rừng mà Giáo hội nhớ tới hôm nay, ngài chào đời khoảng năm 250. Sau khi cha mẹ qua đời, đáp lại lời mời gọi của Tin Mừng: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Sau đó, lại có lời Chúa vang lên: “Anh em đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo, ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6,34). Từ đó, ngài quyết định bán tài sản mà cha mẹ để lại rồi đem chia sẻ hết cho người nghèo để rút lui vào sa mạc sống đời khổ hạnh mà đền tội, ngài sống đời khắc khổ để kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Ngài qua đời năm 356 và Giáo Hội đã chính thức tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

Noi gương Chúa Giêsu biết chạnh lòng thương và chữa lành bệnh cho kẻ bại liệt và noi gương thánh Antôn biết giúp đỡ tha nhân trước khi lo tu thân tích đức để được nên hoàn thiện thì từng người trong chúng ta cần đến làm bạn với những người không ai dám làm bạn vì họ bệnh tật về thể lý, tâm lý hay tâm hồn đầy tội lỗi để giúp đưa họ đến với Chúa Giêsu hầu được Ngài cứu giúp. Mặt khác, mỗi người chúng ta một cách nào đó cũng là những tội nhân đang bị người đời chê ghét nhưng một khi đã nghe được lời mời của Chúa thì nhanh chóng can đảm giũ bỏ mọi vướng bận ở trần gian và nếp sống tối tăm trước đây của đời mình rồi đứng lên và bước theo Chúa suốt những năm tháng còn lại trên cõi đời này. Nếu làm được như thế thì Chúa sẽ chữa lành bệnh tật cho ta.

 

Đi Theo Chúa Đến Cùng

Thứ Bảy sau Chúa Giêsu chịu phép rửa: Mc 2,13-17

 

Quý độc giả kính mến, câu chuyện Tin mừng hôm nay xảy ra tại một trạm thu thuế khi Đức Giêsu giảng dạy dọc theo Biển Hồ. Trạm thu thuế được thuật lại là nơi ông Lêvi đang làm việc. Chúng ta biết rằng, nghề thu thuế và bản thân người thu thuế thời bấy giờ dĩ nhiên bị dân chúng khinh thường và căm ghét, vì họ cấu kết với ngoại bang để bóc lột nhân dân. Hôm ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế của Lêvi. Ngài nhìn và ngỏ với ông một lời mời ngắn gọn nhưng rõ ràng: “Anh hãy theo tôi !” (Mc 2,14). Chắc chắn, Lêvi rất đỗi ngỡ ngàng và lúng túng trước tình thế ấy – một tình thế mà ông không ngờ cũng chẳng dám mơ có được. Vì thế, vừa nghe xong ông đứng dậy ngay, bỏ lại tất cả và đi theo Chúa đến cùng.

Cũng vậy, hiện nay trong Giáo hội vẫn còn những người chưa được thanh thoát để hòa nhập vào cộng đoàn mà toàn tâm thờ phượng Chúa, vì họ còn bị ràng buộc bởi bao nhiêu là rào cản của bóng tối tội lỗi. Đâu đó, vẫn còn có người bị loại trừ, bị khoanh vùng ra khỏi cộng đoàn giáo xứ hay cộng đoàn dòng tu, họ phải sống lạc lỏng như không có định hướng, ngày qua ngày cứ thui thủi một mình.

Trong ngày khởi đầu tuần cầu cho các kitô hữu hiệp nhất hôm nay, chúng ta nhớ lại lời của thánh giáo hoàng Phaolô VI đã diễn tả sâu sắc về giá trị tông đồ của sự hiệp nhất, ngài nói: “Lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu rằng, sự hiệp nhất giữa chúng ta không những là bằng chứng chúng ta là môn đệ Ngài, nhưng còn là bằng chứng Ngài được Chúa Cha sai đến và đó cũng là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của Chúa Kitô”. Bởi thế, khi nhìn thấy đời sống yêu thương hiệp nhất của các kitô hữu, người ta sẽ nhận ra có sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời. Đó cũng chính là lời khẳng định của Chúa Giêsu khi còn ở trần gian: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau” (Ga 13,35).

 Quả vậy, có hiệp nhất với nhau, có thương yêu nhau thì các kitô hữu mới tỏ ra mình không phải là những con người gây chia rẽ bởi những tranh chấp, những phong tục, những giáo phái hay giáo hội khác nhưng là những con người có đức tin trưởng thành, có khả năng đối thoại, gặp gỡ nhau nhờ việc cùng tìm kiếm chân lý cách chân thành vô vị lợi. Như vậy, sự hiệp nhất minh chứng chúng ta là môn đệ Chúa Kitô, là những con người có đức tin vững mạnh và đó là lý do hấp dẫn hầu thu hút người ngoài để họ dễ tin vào lời chứng của chúng ta. Hơn nữa, một sự hiệp nhất đến từ Thiên Chúa liên kết chúng ta lại với nhau là biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời ở giữa thế gian, như lời Chúa Giêsu thân thưa cùng Chúa Cha: “Xin cho họ nên một, như vậy, thế gian có thể nhận biết rằng chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con” (x. Ga 17,22-23).

Thiết nghĩ rằng, để có sự hiệp nhất giữa các kitô hữu thì chúng ta cần phải noi gương sống yêu thương và cứu chữa những người bị bỏ rơi của Chúa Giêsu để từng người trong chúng ta đến được với những người không ai dám làm bạn, những người cô thế cô thân, những người bị loại ra khỏi cộng đoàn hầu cứu vớt họ. Đồng thời, tựa như Lêvi, chúng ta nghe được lời mời của Chúa, rồi dám đứng lên và bước theo Chúa, bỏ lại nếp sống tối tăm trước đây của đời mình mà theo Chúa suốt những năm, tháng, ngày còn lại một cách tích cực. Đó chính là quyết tâm của những ai đi theo Chúa đến cùng.

 

Chim Én Nhỏ, TP

 

       

 


Liên quan khác