SUY NIỆM LỜI CHÚA NGÀY TRONG TUẦN, TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- LM M. Basilio Nguyễn Văn Phán

07/11/2022

THỨ HAI TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 17,1-6

Cớ Vấp Ngã, Sửa Lỗi Anh Em, Sức Mạnh Của Lòng Tin

   Có thể nói rằng cớ vấp phạm hay sự cám dỗ là thứ đưa chúng ta đến tội lỗi. Thiên Chúa không thể bị cám dỗ (Gc 1,13). Nhưng con người có thể bị cám dỗ bởi những ham muốn dục vọng của mình (Gc 1,13-15), như ham tiền bạc (1Tm 6,9), thiếu sự tự đề phòng (Gl 6,1) và niềm kiêu hãnh tự cao trong đời sống (1Ga 2,16), đó là những nguyên nhân dẫn đến phạm tội. Nhưng Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cách phòng chống sự cám dỗ hữu hiệu nhất đó là cầu nguyện, để được giải thoát khỏi cám dỗ (Mt 6,13) vì Thiên Chúa mới có thể giải thoát chúng ta khỏi cám dỗ, tội và sự chết (2 Pr 2,9). Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca ghi lại ba lời dạy của Chúa Giêsu được kết nối và liên quan đến nhau.

  • Chúa Giêsu cho thấy một điều hiển nhiên là không thể tránh khỏi những cám dỗ, những cớ vấp ngã khiến ta phạm tội. Nguyên cớ hay sự cám dỗ là không thể tránh khỏi bởi vì chúng ta là những phàm nhân. Rằng chúng ta vẫn có thể chọn làm trái ý định của Thiên Chúa cho dù ta đang ở trong ân sủng của Ngài.

Cớ vấp ngã là sự cám dỗ khiến một người vấp phạm. Nó có thể là những lời nói hoặc hành động làm trở ngại ngăn cản mọi người khó tin và chấp nhận Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Ngài. Đối với người Do Thái, kẻ làm cớ vấp ngã là một tội lỗi không thể tha thứ vì họ dạy cho người khác phạm tội. Nếu ta dạy một người về tội lỗi, họ có thể dạy người khác, cho đến khi một chuỗi tội lỗi được thiết lập mà không có kết thúc, không lường trước được hậu quả của việc làm này. Vì vậy, Chúa Giêsu cảnh báo các môn đệ của Ngài và chúng ta về trách nhiệm không làm cớ vấp ngã hoặc không đưa ra một ví dụ xấu có thể dẫn người khác đến tội lỗi.

  • Chúa Giêsu dạy về Sự tha thứ và hòa giải không ngừng. Tội lỗi là một vấn đề nghiêm trọng. Những tác động tiêu cực của tội lỗi là rất tai hại. Vì tội là xúc phạm đến Thiên Chúa, làm tổn hại đến lương tâm và tâm hồn của chính chúng ta, làm tâm hồn ra chai đá, hình thành thói quen xấu, mất ân sủng và ý chí, tạo ra khoảng cách giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau, sẽ rất khó khăn khi cầu nguyện cũng như gặp gỡ tha nhân. Tuy nhiên, việc làm cớ dẫn người khác đến tội lỗi thì nghiêm trọng và tai hại hơn nhiều, vì là Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi sống và giới thiệu Chúa Ki-tô cho người khác.

Mặc dù biết rõ phía con người không thể thiếu những cớ vấp ngã họ gặp phải mà dẫn đến phạm tội, hay vô tình hoặc hữu ý làm cớ cho ai đó vấp ngã thì Chúa Giêsu dạy rằng: chúng ta luôn được ơn tha thứ nếu chúng ta thật lòng ăn năn hối lỗi. Và cho dù việc hối lỗi đó không hoàn hảo, tội cứ lặp đi lặp lại, nhưng với sự khao khát thật lòng thì ta đều xứng đáng được nhận ơn tha thứ. Đó cũng là điều Chúa muốn chúng ta noi gương Ngài để tha thứ cho những người anh chị em đã xúc phạm đến mình, miễn là họ có lòng ăn năn hối cải mà xưng thú, thừa nhận tội lỗi của mình. Cho dù cùng một tội mà một ngày có tới bảy lần đến thú nhận thì đều được tha. Con số bảy theo Thánh Kinh nó là một con số hoàn hảo. Điều này Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta là tha thứ không giới hạn cho ai đã có lỗi với mình. Cũng như Thiên Chúa luôn tha thứ cho ta và ta cần được sự tha thứ vì ta là con người yếu đuối và là tội nhân luôn vấp ngã trong trần gian.

  • Chúa Giêsu dạy về đức tin, nghĩa là tin tưởng sâu sắc vào Chúa. Mặc dù đang ở với Chúa nhưng các Tông Đồ cách nào đó vẫn nhận thấy đức tin của họ rất mỏng manh, và đây có lẽ cũng tự phát hiện ra rằng chính các ngài cũng thường vấp ngã và cũng từng làm cớ cho người ta vấp ngã. Nên các ông đã xin Chúa Giêsu tăng thêm đức tin. Chúa Giêsu đã trả lời các ông, Ngài đã không nói; được, được, Ta sẽ làm cho đức tin của các con lớn lên, nhưng Ngài lại nói về sức mạnh của đức tin là vô biên, mặc dù chỉ cần có đức tin to bằng hạt cải thì mọi vật đều phải vâng lời chúng Thực tế, ta có thể hiểu Chúa Giêsu muốn nói rằng: Ồ! không sao, nếu đức tin của con nhỏ bé, chỉ cần sử dụng nó. Ngài sẽ cung cấp bổ sung phần còn lại, vì người ta chưa thực hành đức tin thì sao có thể biết nó nhỏ hay lớn và giá trị của nó như thế nào!

Qua cái nhìn của đức tin, ta có thể hiểu được sự ghê tởm của tội lỗi để rồi tìm thấy động lực cố gắng tránh những gì làm phiền lòng Chúa và thực thi những gì đẹp ý Ngài.

Lời phát biểu của Billy Graham đáng để chúng ta suy gẫm: “Tội lỗi là khi chúng ta nhượng bộ sự cám dỗ”.

Lạy Chúa, Chúa biết sự yếu hèn của chúng con và những cám dỗ luôn bủa vây tứ bề và làm cho chúng con sa ngã. Nhưng ơn tha thứ của Chúa thì lớn lao hơn mọi tội lỗi của chúng con, xin giúp chúng con biết thú nhận tội lỗi của mình để chúng con đón nhận được ơn tha thứ và cũng biết tha thứ cho những ai có lỗi với chúng con. Amen.

 

THỨ BA TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 17,7-10

Thái Độ Của Một Người Hầu

Nhận định về thái độ của con người đối với cuộc sống, Charles Swindoll nói:

Càng sống lâu, tôi càng nhận ra tác động của thái độ đối với cuộc sống. Thái độ, với tôi, quan trọng hơn là sự thật. Nó quan trọng hơn quá khứ, hơn giáo dục, hơn tiền bạc, hơn hoàn cảnh, hơn là thất bại, hơn thành công, hơn những gì người khác nghĩ hoặc nói hoặc làm. Nó quan trọng hơn ngoại hình, năng khiếu hay kỹ năng. Nó sẽ làm hoặc phá vỡ một công ty, một giáo xứ, một gia đình. Điều đáng chú ý là chúng ta có một sự lựa chọn mỗi ngày liên quan đến thái độ mà mình sẽ đón nhận cho ngày hôm đó. Chúng ta không thể thay đổi quá khứ của mình, không thể thay đổi thực tế rằng mọi người sẽ hành động theo một cách nhất định. Chúng ta không thể thay đổi điều không thể tránh được. Điều duy nhất chúng ta có thể làm là chơi đùa trên một chuỗi những gì đang có và đó là thái độ của chúng ta. Tôi  tin chắc rằng cuộc sống là 10% những gì xảy ra với tôi và 90% cách tôi phản ứng với nó. Và điều đó cũng sẽ xẩy ra như thế đối với bạn… thế nên chúng ta chịu trách nhiệm về thái độ của mình.

Với tâm thức của con người thời đại thì Tin Mừng hôm nay hơi khó hiểu, vì hình ảnh chủ tớ không còn xuất hiện nhiều như thời phong kiến, có chăng trên phim ảnh mà thôi, mặc dù thời nào cũng vẫn còn có hình thức giầu nghèo và chủ tớ nhưng nó được đặt dưới góc độ khác. Vì ngày nay người ta có đi làm cho các ông chủ là phải có giới hạn của công việc và lương bổng sòng phẳng. Thế nên nghe bài Tin Mừng hôm nay người ta có cảm giác rằng ông chủ mà Chúa Giêsu đề cập tới ở đây rất hà khắc và thiếu lòng biết ơn đối với những gì người hầu đã làm cho ông ta. (Ta có thể thấy hình ảnh của cậu chủ Khải Duy trong bộ phim ‘Tiếng sét trong mưa’ của tác giả Hà Thu và đạo diễn Kim Điền). Nhưng đây không phải là trường hợp mà Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta về thái độ cơ bản của một người đầy tớ hoặc một công nhân như chúng ta ngày nay. Một người hầu chỉ đơn giản là ở đó để làm việc và để hoàn thành các nhiệm vụ gia đình chủ có quyền mong đợi nơi họ. Mục đích chính của Chúa Giêsu là nhằm sửa dạy thái độ mà các kinh sư và người Pha-ri-sêu đối với Thiên Chúa. Họ nghĩ về tôn giáo như một hợp đồng giữa chủ và người hầu. Họ thực hiện nghĩa vụ tôn giáo với hy vọng nhận được phần thưởng đặc biệt và ưu đãi hơn trong vương quốc của Ngài.

Điều này cũng là để điều chỉnh thái độ của chúng ta về việc tự khen, tự thỏa mãn bản thân vì những điều tốt đẹp mình đã làm. Đôi khi ta cho rằng nếu tuân theo các lệnh truyền của Chúa, thì bằng cách nào đó Thiên Chúa mắc nợ chúng ta, rằng Ngài nợ chúng ta một số phần thưởng để trả công. (Điều này tôi đã từng nghe không ít người đã hay chất vấn, tại sao tôi làm việc tốt, hoặc tôi không làm gì ác mà Chúa để cho tôi gặp nhưng điều chẳng lành như vầy! để cho gia đình tôi lộn xộn, các con tôi không ngoan, bệnh tật xẩy đến với tôi. v.v). Nhưng Chúa Giêsu khẳng định rằng Thiên Chúa không mắc nợ gì ai hết. Con người không bao giờ có thể đặt Thiên Chúa vào tình trạng mắc nợ họ.

Điều ta có thể làm là coi mình là đầy tớ của Thiên Chúa, giống như Chúa Giêsu đến “không để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28).

Vẫn biết thế nhưng vấn đề ở đây là chúng ta rất quan tâm đến giá trị của những điều tốt đẹp mình đã làm, và tự hài lòng, tự xem như mình xứng đáng. Tuy nhiên, Tin Mừng hôm nay nhắc nhở ta những điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm và cần làm là để cho Chúa quyết định xem chúng ta có xứng đáng hay không. Ta hãy chú tâm, không phải vào chính mình, mà chỉ chú tâm vào một mình Thiên Chúa, Ngài mới là trung tâm điểm, là ông chủ thực sự của đời ta.

Giống như câu chuyện về Thánh Bê-na-đét (1844-1879), là thị nhân về việc Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức nước Pháp. Cô đã sống một cuộc đời ẩn dật như một nữ tu chiêm niệm. Một nhà báo đã có thể tìm hiểu về Bê- na-đét và cuối cùng được sự cho phép của bề trên đã phỏng vấn cô. Một câu hỏi mà nhà báo đặt ra với cô là: Tại sao cô lại chọn sống trong cuộc sống ẩn dật khi cô nổi tiếng khắp thế giới. Câu trả lời của Bê-na-đét, chị đã so sánh mình với một cây chổi quét nhà đã được đặt sang một bên trong tủ quần áo sau khi nó được sử dụng để dọn phòng. Bởi vì Chúa đã tìm thấy một mục đích cho cuộc đời cô và vì mục đích đó đã đạt được, giờ cô đã được đặt sang một bên và cô đã chọn làm điều đó trong niềm vui.

Lạy Chúa, tất cả những gì chúng con đã có thể làm tốt cho công việc của Thiên Chúa, cho cộng đoàn, cho Giáo xứ và cho tha nhân, xin giúp chúng con luôn có thái độ xác tín rằng: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.” Amen.

 

THỨ TƯ TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 17,11-19

Mười Người Mắc Bệnh Phong

Marcus Cicero nói: “Lòng biết ơn không chỉ là đức tính tốt nhất mà còn là cha mẹ của tất cả những nhân đức khác.”

Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta câu chuyện về mười người phong cùi, chín người Do Thái và một người là người Sa-ma-ri, được Chúa Giêsu chữa lành bệnh. Vào thời đó, bệnh phong cùi là một căn bệnh ghê tởm. Người cùi đã bị cấm không được sống chung với người khỏe mạnh. Thậm chí rằng họ phải mang theo chuông để lắc và miệng phải la lên: ‘ô uế! ô uế!’ để làm dấu cho người ta biết mà tránh mỗi khi đi ra ngoài đường. Đó là lý do Tin Mừng nói cho ta biết họ ra đón gặp Chúa Giêsu ở giữa vùng ranh giới của hai miền Sa-ma-ri và Ga-li-lê (là vùng đất hoang), bởi họ bị trục xuất ra khỏi dân làng. Đau đớn của bệnh tật thể lý và cô đơn của tâm hồn dày xé họ. Bệnh này cũng được liệt vào hàng tội lỗi và đáng bị nguyền rủa theo quan niệm của xã hội thời bấy giờ. Biết mình không được quyền tiếp xúc với người khỏe mạnh nên họ chỉ dám đón đường và đứng từ đàng xa để kêu xin lòng thương xót của Thầy Giêsu. Và họ đã được chữa lành. Thế nhưng trong số mười người, chỉ có một người Sa-ma-ri là người dân ngoại trở lại gặp Chúa Giêsu và tạ ơn Ngài. Chín người kia thì biệt tăm chim cá! Sự thất vọng hiện rõ trên nét mặt của Chúa Giêsu và Ngài buông lời hỏi vu vơ: ‘Thế thì chín người kia đâu?

Nói rằng Ngài đã buông lời vu vơ vì chỉ có Chúa biết chắc họ đã được Ngài chữa lành. Và Ngài cũng hiểu thấu lòng vô ơn bội bạc nơi con người của họ. Nhưng Ngài hỏi là để nhấn mạnh cho những người hiện diện đang nghe Ngài nói cũng như cho chúng ta hiểu về tầm quan trọng của lòng biết ơn, và đây là một việc làm vô cùng cần thiết đối với những người làm ơn làm phúc cho ta, dù chỉ là một việc nhỏ. Mà vì Thiên Chúa luôn nhớ đến những việc tốt của con người đã làm như Ngài đã dạy: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”(Mt 10,42). Thiên Chúa ghi ơn để thưởng cho con người dù chỉ một cử chỉ nhỏ khi họ làm cho nhau, thì Ngài cũng muốn ta phải có lòng biết ơn với những gì Ngài đã làm cho ta.

Ngày nay, sự biết ơn dường như đang bị cạn kiệt dần, khi người ta có nhiều phương tiện và của cải, thấy mình tự lo được cho mình một chút thì họ không muốn mang ơn hay nhớ đến ơn của người khác nữa. Warren Wiersbe trong sách chú giải thư gởi các tín hữu Cô-lô-sê đã kể về sứ vụ của một một nghiên cứu sinh tên là Edward Spencer, sống ở Evanston, Illinois, Hoa Kỳ, một thành viên của đội cứu hộ. Năm 1860, một con tàu mắc cạn trên bờ hồ Michigan gần Evanston. Edward Spencer lội qua một lần nữa vào vùng nước lạnh lẽo để giải cứu 17 hành khách. Trong quá trình đó, sức khỏe của anh đã bị tổn hại vĩnh viễn. Vài năm sau tại đám tang của anh ta, người ta đã lưu ý thấy không một ai trong số những người anh ta giải cứu đã đến và cảm ơn anh.54

Biết ơn là điều cần thiết của con người và còn là điều rất quan trọng đối với những người được ơn làm con cái Thiên Chúa. Vì thế, không phải chờ có biến cố gì đó to lớn mới nói lên lời tạ ơn mà phải chúc tụng tạ ơn Chúa trong mọi lúc mọi nơi (x. Tob 4,19).

Một tin nhắn được lan truyền phổ biến ở trên mạng gần đây đã nói nên lý do mà ta phải tạ ơn Chúa như sau:

Nếu bạn sở hữu chỉ một cuốn Kinh thánh, bạn đã được ban phúc hơn một phần ba nhân loại không thể có dù chỉ một trang để đọc. Nếu bạn thức dậy sáng nay với nhiều sức khỏe hơn bệnh tật, bạn sẽ may mắn hơn một triệu người sẽ không sống sót qua khỏi hôm nay. Nếu bạn chưa bao giờ trải qua sự nguy hiểm của trận chiến, sự cô đơn của tù đày, sự đau đớn của tra tấn hay những cơn đói giày vò, bạn đã có phúc hơn năm triệu người trên khắp thế giới. Nếu bạn tham dự một cuộc họp tại nhà thờ mà không sợ bị quấy rối, bắt giữ hoặc tra tấn và cái chết đe dọa, bạn may mắn hơn gần ba tỷ người trên thế giới. Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, quần áo mặc trên người, mái che trên đầu và một nơi để ngủ, bạn giàu hơn 75% số người trong thế giới này. Nếu bạn có tiền trong ngân hàng, trong ví của bạn và thay đổi dự phòng cho một bữa ăn ở một nơi nào đó, bạn nằm trong số 8% người giàu nhất thế giới. Nếu bố mẹ bạn vẫn kết hôn và còn sống, bạn là một trong số những người hiếm hoi. Nếu bạn ngẩng cao đầu với một nụ cười trên khuôn mặt, hãy thực sự biết ơn, bạn đã được ban phước bởi vì đa số có thể, nhưng hầu hết thì không làm được. Nếu bạn có thể nắm tay ai đó, ôm họ hoặc thậm chí chạm vào vai họ, bạn thật có phúc bởi vì bạn có thể mang ơn chữa lành của Chúa cho họ. Nếu bạn cầu nguyện ngày hôm qua và hôm nay, bạn thuộc thiểu số vì bạn tin vào sự sẵn lòng của Chúa đang nghe và đáp lại lời cầu nguyện của mình. Nếu bạn tin vào Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, bạn là một phần của một nhóm thiểu số rất nhỏ trên thế giới. Nếu bạn có thể đọc tin nhắn này, bạn sẽ may mắn hơn hơn hai tỷ người trên thế giới không thể đọc bất cứ điều gì cả.” Đây là những lý do tại sao chúng ta nên cảm ơn Chúa.

Như thế, cũng như người phong cùi biết ơn Chúa Giêsu vì Ngài đã chữa lành cho anh ta, chúng ta còn phải biết ơn nhiều hơn vì Chúa đã ban cho chúng ta đức tin Ki-tô giáo, sức khỏe tốt, những người thân yêu, giáo dục, tài năng và kỹ năng và hàng ngàn món quà khác mà chúng ta được ban tặng trong cuộc đời.

Lạy Chúa, tất cả đời sống của chúng con phải trở nên lời ngợi ca cho vinh quang và ân sủng của Thiên Chúa như lời kêu gọi trong thư gởi tín hữu Rô-ma: “muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người!” (Rm 15,11) “Vì tình Chúa thương ta vô cùng mãnh liệt, lòng thành tín của Người bền vững muôn năm” (Tv 117,2). Amen.

 

THỨ NĂM TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 17,20-25

Sự Đến Của Nước Thiên Chúa

 Chuyện kể rằng, một cô bé đang đứng cùng ông ngoại bên cạnh một cái giếng nước. Họ vừa hạ một cái xô xuống và lấy một ít nước để uống. Cô hỏi ông Ngoại: “Ông ơi, Thiên Chúa sống ở đâu ạ?” ông lão bế cô bé lên và cho em cúi mặt nhìn xuống giếng. Ông nói, “Hãy nhìn xuống giếng và cho ông biết những gì con nhìn thấy.” cô bé nói: “Dạ, con thấy chính con ạ,”. Ông bảo: “Đó là nơi Chúa sống”, “Ngài sống trong con”.

Tin Mừng hôm nay, những người Pha-ri-sêu đã hỏi Đức Giêsu về khi nào Triều Đại Thiên Chúa đến. Đức Giêsu đã làm họ ngạc nhiên với câu trả lời rằng “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói ‘ở đây này’ hay ‘ở kia kìa!’, Vì này Triều Đại Thiên chúa đang ở giữa các ông.” Nghĩa là Triều Đại mà người ta đang tìm kiếm trông chờ đã đến rồi và đang hiện diện trọn vẹn trong con người của Đức Giêsu Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian, Đấng, khi đến thời viên mãn đã đến theo lời hứa, để tái thiết lại Triều Đại của Ân Sủng và Lòng Xót Thương.

Tuy nhiên người ta vẫn đi tìm vì họ đã giới hạn mọi thứ quanh mình vào vật chất, vào cái gì đó cụ thể theo sự tưởng tượng của riêng mình, nên họ không nhận ra chính Đấng mà họ khao khát mong chờ đang hiện diện. Thế nên, Đức Giêsu cách nào đó muốn tỏ cho họ thấy Ngài chính là Đấng người ta đang tìm kiếm khi nói: “Sẽ đến thời anh em mong ước được thấy một trong những ngày của Con Người thôi, mà cũng không được thấy.” (‘Sẽ’ là điều xẩy ra trong tương lai) Cũng có nghĩa là bây giờ đây, ngay lúc này anh em đã thấy Triều Đại của Thiên Chúa đang hiện diện, nhưng chưa hoàn tất, anh em không thấy được là vì nó không giống như các triều đại của thế gian. Triều Đại mà Thiên Chúa thực hiện phải trải qua những đau khổ nhiều và bị người ta loại bỏ.

Qua đây cho ta thấy, không thể đi tìm một Triều Đại thiêng liêng theo kiểu thế tục, theo kiểu vua chúa quan quyền bành trướng thế lực, chém chém giết giết để tỏ uy quyền, đánh thắng ngoại bang, ngồi trên đầu trên cổ người khác, xưng hùng xưng bá. Nếu người ta còn dừng lại ở quan niện trần tục như thế thì họ sẽ không thể thấy được Triều Đại Thiên Chúa, vì Đức Vua của Triều Đại Thiên Chúa là Đấng đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ. Đấng đến không phải để gây thù chuốc oán mà là sẵn sàng hy sinh mạng sống để mang lại bình an cho nhân loại. Sứ vụ của Ngài không chỉ giới hạn trong một lãnh thổ, một dân tộc nhỏ bé nào, nhưng là cho mọi dân mọi nước, mọi nơi mọi thời. Ngài không áp đặt quyền uy nhưng là lòng nhân từ và thương xót. Không nhằm đánh phạt mà là ban ơn tha thứ. Thế nên chỉ những ai có trái tim nhân hậu và luôn mở rộng trong yêu thương, dám cho đi tất cả, chấp nhận sự khác biệt với thế gian hay bị thế gian ruồng bỏ vì tình yêu Chúa Ki-tô, thì Triều Đại Thiên Chúa đã đến với họ và sẽ dẫn họ đến ngày của Thiên Chúa, đến vinh quang và hiển vinh như ánh chớp chói lòa.

Theo cách diễn tả của Thánh Phao-lô “Triều Đại Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh thần.” (Rm 14,17).

Sánh Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo cũng dạy:

Triều Đại Thiên Chúa đến gần trong sự xuất hiện của Ngôi Lời nhập thể; nó được loan báo trong Tin Mừng; đó là Vương quốc thiên sai, hiện diện nơi con người của Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai; nó vẫn ở giữa chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Chúa Ki-tô đã trao cho các Tông đồ của mình công việc loan báo Nước Trời và nhờ Chúa Thánh Thần hình thành nên dân của Ngài thành một vương quốc Tế tự, Giáo hội, trong đó Nước Thiên Chúa hiện diện một cách bí ẩn, vì đây là hạt giống và khởi đầu của Vương quốc trên trái đất. Trong Lời cầu nguyện của Chúa ‘Nước Cha trị đến’, chúng ta cầu nguyện cho sự xuất hiện vinh quang cuối cùng của nó, khi Chúa Ki-tô sẽ trao lại Vương quốc cho Cha của Ngài. (GLHTCG số 541-554, 709, 763, 2816, 2819.)

Thế nên, Nước Thiên Chúa bắt đầu từ bên trong và biến đổi trái tim của chúng ta trở nên giống như Thiên Chúa, và một dân tộc biết sức mạnh của tình yêu, lòng thương xót và tha thứ của Ngài. Chúa Giêsu hiện diện trong Lời của Ngài, trong Thân thể của Ngài là Hội Thánh và trong Bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu tiết lộ chính Ngài bằng nhiều cách cho những người tìm kiếm Ngài bằng con mắt đức tin. Khi chúng ta đọc Lời của Thiên Chúa trong Kinh thánh, Chúa Giêsu nói với chúng ta và tiết lộ cho chúng ta tâm trí và trái tim của Chúa Cha. Khi chúng ta đến gần Bàn Tiệc Thánh, Chúa Giêsu tự hiến cho ta như một của ăn tinh thần tạo ra sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta (‘Ta là Bánh Hằng Sống,’ Ga 6,35).

Lạy Chúa, Ngài luôn hiện diện với chúng con và trong mọi tâm hồn. Ngài đã kết thân với con người bằng tình yêu muôn thủa, đồng thời cũng mời gọi chúng con cộng tác cách cụ thể như một công dân ưu tú của Nước Trời. Xin giúp chúng con biết điều chỉnh những gì sai lệch trong tâm hồn và trong hành động, để mọi việc chúng con làm đều hoàn tất trong vâng phục, ân sủng, tình yêu và vinh quang của Ngài. Amen.

 

THỨ SÁU TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 17,26-37

Ngày Của Con Người

 

Tin Mừng hôm nay Đức Ki-tô dạy cho biết về cuộc sống vĩnh cửu và ngày tận thế, ta có thể dừng lại ở ba điểm để thấu đạt sứ điệp mà Ngài muốn thông tri:

  • Thế giới chắc chắn sẽ kết thúc. Vì thế ta phải biết luôn để tâm đến cái gì là vĩnh cửu và tồn tại mãi để theo. Mặc dù công trình sáng tạo của Thiên Chúa thật tuyệt vời, nhưng không phải để cho con người dừng lại ở đó và coi nó là cùng đích đời mình. Trong thực tế, có không ít những con người đã chỉ biết đi tìm những hưởng thụ và vơ vét cho thật nhiều những của cải vật chất bằng mọi giá, coi vật chất như cứu cánh của đời mình. Thực ra, tất cả các tạo vật Thiên Chúa dựng nên là để giúp con người nâng cao tâm trí và mở rộng trái tim của mình đến với Chúa. Toàn vũ trụ này là công trình sáng tạo của Thiên Chúa và nó có vai trò trong kế hoạch vĩnh cửu của Ngài. Vì vậy, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm mọi thứ cách trung thực những tác phẩm tuyệt đẹp của Thiên Chúa nhưng chóng qua, nó chỉ là dấu chỉ để nhận biết Đấng toàn Mỹ vĩnh cửu và Đấng ấy muốn cho chúng ta đi vào trong cái vĩnh cửu hoàn mỹ của Ngài.
  • Ý muốn của Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu Ki-tô, Đấng đã đến và một ngày nào đó sẽ trở lại để dẫn con người về chung hưởng hạnh phúc với Chúa Cha và tất cả các thánh trên trời. Ngày đó sẽ là ngày bất kỳ xẩy đến với mỗi con người, ngày ấy vạn vật chúng quanh vẫn tiếp diễn không có gì thay đổi, sự bất chợt xẩy đến làm cho người ta không kịp di chuyển và đổi Nên thái độ của con người là phải luôn sẵn sàng, sẵn sàng ở đây không phải ngồi đó chờ đợi, không làm gì cả, nhưng là một sự sẵn sàng trong tâm hồn, trong mọi hành động biết hướng về một mục đích chính đó là quê hương vĩnh cửu trên trời. Đó cũng là luôn canh chừng chính mình để đi trên con đường Giêsu, con đường tốt nhất mà Thiên Chúa đã chọn cho chúng ta đi. Và chính Ngài sẽ đưa những người đã bước theo Ngài vào Vương quốc của Thiên Chúa để tận hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài mãi mãi.
  • Con đường lên Thiên đàng là con đường của tình yêu. Lời Đức Giêsu khẳng định: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống” (17, 33). Những lời này giống như một chiếc la bàn chỉ đường đến cuộc sống vĩnh cửu. Chỉ có một cách để duy trì cuộc sống đó là thông qua tình yêu. Mà yêu chính là sự tự hiến và hoàn toàn tự hiến để người khác được hạnh phúc. Đây là đức ái của Chúa Ki-tô, một trong ba nhân đức đối thần mà chúng ta đã nhận được khi lãnh nhân bí tích rửa tội. Nhân đức ấy đòi hỏi các Ki-tô hữu phải sống như Chúa Ki-tô đã sống, nghĩa là “Con Người đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ”.

Donna Eick đã rút ra những bài học từ kinh nghiệm khôn ngoan của mình như sau:

Tôi đã học được rằng sống tử tế thì quan trọng hơn là đúng lý.

Tôi đã học được rằng bạn không bao giờ nên nói không với một món quà đến từ một đứa trẻ.

Tôi đã học được rằng tôi luôn có thể cầu nguyện cho ai đó khi tôi không có sức mạnh để giúp anh ta theo một cách khác.

Tôi đã học được rằng cho dù cuộc sống của bạn đòi hỏi bạn nghiêm túc đến mức nào, mọi người đều cần có một người bạn để thực hiện những hành vi ngớ ngẩn với.

Tôi đã học được rằng đôi khi tất cả mọi người cần là một bàn tay để nắm giữ và một trái tim để hiểu.

Tôi đã học được rằng cuộc sống giống như một cuộn giấy vệ sinh. Càng đến gần cuối, nó càng đi nhanh.

Tôi đã học được rằng chúng ta nên vui mừng vì Chúa không cho chúng ta mọi thứ chúng ta kêu cầu.

Tôi đã học được rằng tiền không mua được đẳng cấp.

Tôi đã học được rằng từ những sự kiện nhỏ hàng ngày làm cho cuộc sống rất ngoạn mục.

Tôi đã học được rằng dưới lớp vỏ cứng che chắn của mọi người là người ta muốn được đánh giá cao và được yêu thương.

Tôi đã học được rằng Chúa đã không làm tất cả trong một ngày. Điều gì khiến tôi nghĩ rằng tôi có thể?

Tôi đã học được rằng khi bạn có kế hoạch để có được ngang bằng với ai đó, bạn chỉ để người đó tiếp tục làm tổn thương bạn.

Tôi đã học được rằng tình yêu chứ không phải thời gian, chữa lành mọi vết thương.

Tôi đã học được rằng khi lòng bạn đầy cay đắng, hạnh phúc sẽ cập bến ở nơi khác.

Tôi đã học được rằng mỉm cười là một cách rẻ tiền nhất để cải thiện ngoại hình của bạn.

Tôi đã học được rằng tôi không thể chọn cảm giác của mình, nhưng tôi có thể chọn những gì tôi hành động về nó.

Tôi đã học được rằng tốt nhất là đưa ra lời khuyên chỉ trong hai trường hợp; khi nó được yêu cầu và khi nó là một tình huống đe dọa tính mạng.

Lạy Chúa, xin cho con được trí khôn ngoan để hiểu rằng kiếp phù du là thế! Nhưng biết bám lấy Chúa và tuân giữ đường lối huấn lệnh Ngài, để kiếp phù du mang đầy ý nghĩa và đạt tới cùng đích vĩnh cửu, nơi Chúa đã dọn sẵn cho chúng con. Amen.

 

THỨ BẢY TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 18,1-8

Dụ Ngôn Quan Tòa Bất Chính Và Bà Góa Quấy Rầy

 Có một giả thiết cho rằng: nếu Chúa Giêsu quyết định cài đặt mục ‘thư thoại’ của Ngài, điều gì xảy ra? Hãy tưởng tượng về cầu nguyện như những cuộc gọi và hộp thư thoại tự động trả lời: “Cảm ơn bạn đã gọi cho Nhà của Cha tôi. Vui lòng kết nối một trong các yêu cầu sau: Bấm 1 cho các việc cầu xin; Bấm 2 để tạ ơn; Bấm 3 để khiếu nại; Bấm 4 cho tất cả các yêu cầu khác.” Chúng ta sẽ bấm số mấy khi cầu nguyện?

Cầu nguyện là một trong những chủ đề của Tin Mừng hôm nay. Và cầu nguyện là một món quà từ Thiên Chúa. Nó không phải là một cỗ máy cũng không phải là một công thức ma thuật. Nó đòi hỏi phải chiến đấu từ phía chúng ta, vì đó là một hành động của tình yêu và tự hiến. Cầu nguyện mang lại kết quả nếu ta kiên trì và cho phép Chúa hành động. Đôi khi chúng ta sẽ không thấy tác dụng của nó nhãn tiền, nhưng tiếp tục tìm kiếm Thiên Chúa trong lời cầu nguyện là hoa trái tốt nhất của việc cầu nguyện.

Tin Mừng trình bày cho chúng ta một dụ ngôn liên quan đến hai người: một thẩm phán bất chính và một góa phụ khiêm tốn nhưng kiên nhẫn. Thẩm phán ban đầu phớt lờ cô, nhưng cuối cùng cũng phải phán sử công lý cho cô vì cô quá kiên nhẫn kêu oan. Sự kiên nhẫn không từ bỏ ý định kêu oan đã khiến vị quan tòa bị quấy rầy đến quá sức chịu đựng và ông đã chịu thua cô. Chúa Giêsu cho thấy rằng: nếu một quan tòa bất chính còn xử cho người phụ nữ kia công lý, thì Thiên Chúa sẽ mang lại công lý cho những người Ngài đã chọn như thế nào nếu ngày đêm hằng kêu cứu với Ngài? Một sự so sánh mà chỉ có Chúa Giêsu mới có thể dám nghĩ ra. Qua đó Ngài muốn nói với ta điều gì về việc cầu nguyện? Xin dừng lại ở ba điểm:

  • Ngài nói với chúng ta rằng Thiên Chúa luôn lắng nghe khi ta cầu nguyện. Nhưng phản ứng của Thiên Chúa đối với lời cầu nguyện không theo thời gian biểu của chúng ta. Đây thường là sai lầm của con người khi họ nghĩ rằng Thiên Chúa nên hành động khi nào và làm gì theo như ý họ muốn Ngài hành động. Như thế, thường là người ta thích hướng dẫn Thiên Chúa và cho ý của mình là vượt hơn ý của Thiên Chúa. Thực tế tầm nhìn của con người rất hạn hẹp, và không thể nhìn thấy kết quả ngay từ đầu, vì nó vượt ngoài trí khôn của con người. Vì vậy, người ta hay có cảm giác cho rằng Thiên Chúa thờ ơ với lời cầu xin của mình và rồi mỗi ngày một rời xa niềm tin vào Thiên Chúa, không muốn tuân giữ các giáo huấn của Ngài. Nhưng sự thực, Thiên Chúa ban cho chúng ta tất cả những điều tốt đẹp mà chúng ta cần, bằng cách chỉ đòi hỏi sự kiên trì cầu nguyện. Điều này giúp ta ý thức được điều gì mình thực sự cần và hợp với ý Chúa hơn, gắn bó mật thiết với Ngài hơn và nhận biết rằng Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa yêu thương và muốn ban những gì tốt nhất cho con người. Thế nên thái độ khi cầu xin phải có là tình yêu và sự khiêm tốn.
  • Ngài muốn ta hiểu rằng; càng cầu nguyện, chúng ta càng trở nên gần gũi với Ngài hơn. Khi cầu nguyện những gì chúng ta kêu xin sẽ dần thay đổi. Hãy chờ đợi và kiên nhẫn. Và Thiên Chúa sẽ soi sáng cho thấy những gì ta thật sự muốn, thật sự cần. Và điều ta cần có hoàn toàn phù hợp với cách nhìn của Thiên Chúa không. Vì chỉ có Thánh ý Chúa mới có khả năng đem đến lợi ích tối hậu cho con người, Ngài thấu triệt trước sau, quá khứ và tương

Ta thường cầu nguyện như thế nào? Làm thế nào để ta cầu xin? Ta hay xin những gì? ta thực sự muốn gì? Có khi nào ta phân biệt giữa những gì mình muốn và những gì mình thực sự cần không? Và ta có thực sự tin tưởng vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa không?

  • Chúa Giêsu nhấn mạnh “sự cần thiết phải cầu nguyện luôn luôn, không được nản chí”. Nhiều người trong chúng ta có một số vấn đề với lời cầu xin nhưng không có vấn đề gì với lời kinh nguyện ngợi khen hay tạ ơn. Tuy nhiên, việc cảm tạ Chúa và ngợi khen Ngài có một ý nghĩa lớn lao thì việc kêu xin điều gì đó cũng có ý nghĩa không kém. Không phải Thiên Chúa không biết những gì ta cần nhưng Ngài muốn ta biết cầu xin, vì cầu xin không phải để làm thay đổi tâm trí của Thiên Chúa, nhưng nó thay đổi chính chúng ta: nó sẽ biến đổi cách tiệm tiến sao cho phù hợp với ý muốn yêu thương của Thiên Chúa. Giống như Chúa Giêsu có mối quan hệ mật thiết thân tình với Cha của Ngài, cũng như vậy khi ta cầu nguyện luôn luôn là được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và không trở nên mệt mỏi.

Samuel Johnson nói thật chí lý rằng: “Cầu nguyện không cần bằng chứng bên ngoài vì bằng chứng của nó nằm trong. Đó là bản chất và chức năng của con người, như thở, ăn và uống và người ta thực hành nó như là một phần của chính bản thân mình.”

Lạy Chúa, như thân xác cần hơi thở để duy trì sự sống, Xin cho linh hồn chúng con cũng biết kết hợp với Chúa trong mọi nơi mọi lúc bằng sự cầu nguyện cảm tạ ngợi khen để chúng con được luôn an bình hạnh phúc trong Ngài. Amen.


Liên quan khác