THỨ HAI TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 18,35-43
Nhìn Và Thấy
Trong cuộc sống đôi khi người ta nghĩ đơn giản rằng; nếu mình có thị lực tốt thì mình có thể nhìn thấy mọi sự xẩy ra quanh ta. Nhưng trong thực tế, nhìn và thấy là hai lãnh vực vô cùng khác nhau. Đôi khi ta nhìn nhưng ta không thấy; đôi khi ta có mắt sáng có thị lực tốt nhưng ta không thấy điều ngay trước mắt mà người mù không có thị lực lại có thể thấy. Đó cũng là trường hợp của người mù thành Giê-ri-cô mà Tin Mừng đề cập đến hôm nay.
Người mù đã thấy gì?
Khi có tiếng ồn ào, anh đã hỏi những người xung quanh và người ta cho anh biết là Đức Giêsu Na-za-rét đi ngang qua. Và chúng ta cùng nghe anh đã kêu xin như thế nào: “Lạy ông Giêsu Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” và người ta đã quát nạt muốn anh phải im miệng.
Tại sao người ta phải làm thế, đám đông đi theo Đức Giêsu không phải để chứng kiến những phép lạ cả thể mà Ngài đã từng làm sao? Và những lời giảng dạy khôn ngoan phát ra từ môi miệng của Ngài sao? Nay gặp người mù kêu cứu, đáng ra họ phải dắt anh đến để được chứng kiến phép lạ cả thể mà Đức Giêsu có thể làm chứ! Vậy tại sao họ lại dùng uy lực (quát nạt) để bắt anh ta im miệng?
Mấu chốt ở chỗ lời kêu cứu của anh mù là: “Lạy ông Giêsu Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” và khi bị cấm cản thì anh lại càng kêu to và nhấn mạnh hơn “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”
Nếu anh nói: “Lạy ông Giêsu Na-za-rét, xin dủ lòng thương tôi!” thì có lẽ không ai đứng ra cấm cản anh cả. Nhưng anh đã không kêu như thế; lần đầu anh kêu là “Lạy ông Giêsu Con vua Đa-vít”, nhưng sau anh nhấn mạnh hơn “Lạy Con vua Đa-vít”.
Và chúng ta biết rằng, đối với những người Do Thái thời bấy giờ, tước hiệu Con vua Đa-vít là tước hiệu dành cho một vị vua sẽ đến như lời sấm của các ngôn sứ: Đấng xuất thân từ dòng dõi Đa-vít sẽ đến và lãnh đạo dân. Ngai báu Ngài sẽ vô cùng vô tận và Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời! Đấng Mê-si-a, đấng muôn dân trông chờ, ngài là vua công chính, vua hòa bình.
Đối với đám đông: họ có mắt sáng, nhìn rõ nhưng họ không thấy! không thấy được Đấng đang ở giữa họ chính là Đấng mà họ đang mong chờ, trái lại anh mù thì lại khẳng định ông Giêsu đây chính là Đấng phải đến, là vua của Israel thuộc hoàng tộc vua Đa-vít, Đấng có quyền năng trên cả bệnh tật có thể làm cho người mù từ bẩm sinh được sáng! Còn đám đông thì không thấy được điều này nên họ đã cấm anh mù kêu như vậy! hay đúng hơn, trong thâm tâm họ cho rằng; lời kêu của anh mù là một lời nhảm nhí, nói xàm thiếu hiểu biết của một kẻ mù! Hay nói cách khác, những người được coi là sáng mắt nhưng họ đã đóng cửa lòng mình lại không đón nhận sự thật; và chúng ta cũng biết, chính vì danh hiệu Vua Ít-ra-el mà người Do- thái đã dùng để nộp Chúa Giêsu cho Phi-la-tô và buộc ông phải kết án Người trên cây thập giá.
Trong bối cảnh này ta có thể nói, người có mắt sáng, có thị lực tốt mà lại mù vì không thấy trong khi người mù lại thấy rất rõ. Và sau đó Chúa Giêsu đã nói vơi anh mù: “Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” nói như vậy cũng chẳng khác nào nói: anh đã thấy Ta tự trong tâm hồn rồi, đó là ơn đức tin mà Chúa Thánh Thần đã ban cho anh, thì bây giờ con mắt xác thịt của anh cũng sẽ được sáng.
Chúng ta nhớ đến chuyện của cụ già Si-mê-on và cụ bà An-na, khi Chúa Giêsu được dâng vào đền thờ, kinh thánh nói rõ, họ là những người được Thánh Thần thúc đẩy đến, bồng ẵm Hài Nhi Giêsu mà chúc tụng Thiên Chúa; cũng vào giờ đó, cụ Si-mê-on đã nói: “Lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ Ngài được an bình ra đi, vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân. Đó là ánh sáng sọi đường cho dân ngoại, và vinh quang của Ít-ra-el dân Ngài”. Chỉ nhìn một bé sơ sinh con của bác thợ mộc mà ông đã thấy Đấng cứu độ, Đấng ông hằng trông chờ!
Về mặt thể lý một người mù không thể nhìn thấy là một sự thật. Nhưng ngay cả khi anh không thể nhìn thấy bằng mắt thường, anh vẫn có thể nhìn thấy bằng trái tim yêu thương của mình. Về mặt tâm linh, chúng ta cũng là người khiếm thị vì chúng ta có đôi mắt khỏe mạnh để nhìn nhưng đôi khi chúng ta không thấy. Không muốn thấy nhu cầu của người khác giống như những người trong phúc âm hôm nay. Họ không chỉ không thấy được bản chất đích thực của Chúa Giêsu hoặc không muốn chấp nhận vương vị của Ngài, mà cũng không thấy được nhu cầu của người mù cần được chữa lành. Đôi khi ra đường gặp những người ăn xin, nhiều khi họ tự nhủ lòng; đây chỉ là những người biếng nhác giả bộ! Hoặc gặp các trẻ em xin ăn chúng ta nghĩ; mấy đứa này bị các tay ma-cô chăn dắt, cho tiền chúng vô ích (và tiền vẫn ung dung trong ví của họ). Rồi biết bao người chúng ta không thích nhìn thấy, những người chúng ta chơi mù, quăng cục lơ coi như họ không tồn tại! Và như vậy chúng ta cũng sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội gặp gỡ được Thiên Chúa trong cuộc đời của mình, Đấng mà chúng ta thực sự mong chờ và Ngài cũng đã tìm muôn phương ngàn cánh để tỏ mình cho chúng ta.
Và đây là cách gặp gỡ Chúa Giêsu mỗi ngày của Maria Carey đã chia sẻ:
Tôi muốn gặp Chúa Giêsu hôm nay. Tôi nhìn thấy một cụ già thay vì chỉ đứng bên máy bơm ở trạm xăng. Chúng tôi chào nhau khi chúng tôi chia sẻ nụ cười của mình và rời đi trên đường của mình.
Tôi muốn gặp Chúa Giêsu hôm nay. Tôi thấy em nhỏ và mẹ của em bé rất ngọt ngào với em ở siêu thị. Chúng tôi mỉm cười với nhau và cô nàng nhỏ bé vươn tay ra chạm vào tay tôi và tâm hồn tôi thật vui khi tôi nói, “Xin chào cô bé.” Cô bé cười, bỏ chạy. Tôi đứng đó mỉm cười và cười rạng rỡ từ sự ngây thơ thuần khiết và ngọt ngào nhất.
Tôi muốn gặp Chúa Giêsu hôm nay. Tôi nhìn thấy bà cụ, với cái lưng cúi rạp vì bị gù, hai tay giữ hai túi mua sắm rất nặng. Bà trông rất mệt mỏi. Tôi nhìn thấy bà đang cố băng qua đường. Tôi sợ bà ấy sẽ không chấp nhận lời đề nghị của tôi, “Hãy để con mang giúp bà” và bà ấy đã đồng ý.
Chúng tôi đi qua phố và tôi mang những chiếc túi đến trước cửa nhà bà. Bà cảm ơn tôi và tôi cảm thấy rất tuyệt.
Tôi muốn gặp Chúa Giêsu hôm nay. Tôi nhìn thấy người đàn ông ở nhà ga xe lửa, ông ta yêu cầu thay đổi chỗ ngồi, tôi nhìn ông. Không suy nghĩ về những gì ông sẽ làm với sự thay đổi, tôi nhường nó cho ông. Tôi đã làm như vậy với một lời cầu nguyện và chúc lành. Sau đó tôi rời đi và bắt tàu về nhà. Bạn thấy tôi thực sự muốn nhìn thấy Chúa Giêsu ngày hôm nay và Ngài thực sự muốn nhìn thấy tôi nữa. Tôi nhận ra rằng chúng tôi đã nhìn thấy nhau suốt cả ngày. Ngài ở trong một hình hài khác nhau mỗi khi tôi nhìn thấy Ngài nhưng đó là Ngài. Khuôn mặt và biểu cảm của Ngài sẽ khác nhau mỗi lần gặp, nhưng Ngài vẫn như cũ. Ngài muốn gặp tôi và biết tôi sẽ làm gì mỗi khi tôi gặp Ngài. Bạn thấy tôi thực sự đã muốn nhìn thấy Chúa Giêsu ngày hôm nay và tôi đã nhìn thấy Ngài rõ ràng suốt cả ngày. (st)
Lạy Chúa, chúng con đã luôn nhìn mọi sự xẩy ra bằng con mắt xác thịt và lòng dạ hẹp hòi, nên đã không gặp được Chúa. Xin cho chúng con biết nhìn mọi sự trong con mắt đức tin và lòng thương xót, để con có thể thấy Chúa trong mọi sự. Amen.
THỨ BA TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 19,1-10
Da-kêu Người Thu Thuế
Hạnh phúc là điều mà con người luôn khao khát và tìm kiếm, qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau học hỏi và tìm kiếm hạnh phúc đó qua câu chuyện của Da-kêu. Có ba điều chúng ta có thể học được sẽ mang lại cho mình hạnh phúc:
- Ta phải rất cẩn thận để không phán xét người khác vì sự xuất hiện của họ. Tin Mừng cho thấy, những người đi cùng Chúa Giêsu bắt đầu càu nhàu khi Ngài chọn làm khách trọ ở nhà Da-kêu. Họ không thể tin rằng Ngài chọn ở lại nhà của một tội nhân, trong thực tế có rất nhiều người “thánh thiện” trong thị trấn. Trong con mắt của đám đông, Da-kêu là một kẻ bất chính, nhưng trong con mắt của Chúa Giêsu, ông là một người đáng thương và sẽ trở nên người công chính khi được Ngài đến nhà ông, từ nay ông hoàn toàn thay đổi khi ông công bố: “Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.”
Trong trường hợp này, chỉ có Thiên Chúa mới biết những gì có trong trái tim và tâm trí của những người mà ta tưởng chừng đã quen mặt quen tên. Nên ta phải rất cẩn trọng để không vượt quá những phán xét khắc nghiệt về người khác.
- Giống như Da-kêu, chúng ta phải ao ước thấy Chúa Giêsu đi qua. Da-kêu rời đám đông và trèo lên cây sung để gặp Chúa Giêsu. Đối với tôi, tôi sẽ leo lên cây gì để được thấy Chúa Giêsu? Thật dễ dàng để ta nhìn thấy Chúa Giêsu vào buổi sáng khi thức dậy và ban đêm khi đi ngủ, đúng hơn là những lúc ta không bận rộn với lịch trình, công việc và mối bận tâm cho cuộc sống. Vậy, tùy vào hoàn cảnh mà mỗi người tìm một cây để leo lên theo thời gian, để không bị lạc mất đi sự hiện diện của Thiên Chúa trong những khoảnh khắc bình thường của cuộc sống hàng ngày. Tìm một khoảnh khắc để cầu nguyện cách đơn sơ sẽ giúp ta vượt lên trên và vượt qua những thời khắc, những khoảnh khắc bận rộn của mình.
- Tìm kiếm sự tha thứ với lòng khiêm nhường thẳm sâu và sám hối chân thành. Tất cả chúng ta đều biết rằng Da-kêu đã phạm một sai lầm nghiêm trọng. Ông đã làm giàu cho mình bằng cách sử dụng vị trí quyền lực của mình để chiếm đoạt nơi người khác. Nhưng ông ta đã tìm kiếm Chúa Giêsu với sự khiêm nhường và thống hối chân thành bằng cách leo lên cây sung, hành vi này chỉ có trẻ em và nô lệ mới làm, thế mà, thực tế rằng ông là một quan chức nổi bật trong thành phố. Chúa Giêsu đã nhìn thấu thiện chí của ông và đã tha thứ cho ông. Đối với chúng ta là tội nhân, được Thiên Chúa tha thứ vì: (1) Khi ta thừa nhận tội lỗi và những hành vi sai trái của mình; (2) Sửa đổi chính mình hoặc tránh tái phạm; (3) đền bù hoặc sửa chữa những thiệt hại gây ra bởi tội lỗi của mình giống như những gì Da-kêu đã làm: “Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Ông cũng thừa nhận đã làm thiệt hại cho những người khác và quyết tâm sửa đổi.
Sau đây, chúng ta cùng suy niệm mười quy tắc giúp con người sống hạnh phúc hơn (những lời này từ một nguồn không xác định):
- Cho một cái gì đó đi (Vô điều kiện).
- Làm vì lòng tốt (và quên nó đi).
- Dành một vài phút với người già (kinh nghiệm của họ là một hướng dẫn vô giá).
- Nhìn chăm chú vào khuôn mặt của một em bé (và ngạc nhiên).
- Cười thường xuyên (đó là chất bôi trơn của cuộc sống).
- Cảm ơn (một ngàn lần một ngày là không đủ).
- Cầu nguyện (hoặc bạn sẽ lạc đường).
- Làm việc (với sự hăng say và mạnh mẽ).
- Lên kế hoạch như thể bạn sẽ sống mãi mãi (vì bạn sẽ là).
- Sống như thể bạn sẽ chết vào ngày mai (bởi vì ngày mai nó sẽ tới với bạn).
Lạy Chúa, xin giúp con biết không dễ dàng xét đoán hoặc chụp mũ người khác về những gì mình thấy bên ngoài. Xin ban cho con có tâm hồn khao khát gặp được Chúa mọi nơi mọi lúc để con được biến đổi bằng lòng chân thành sám hối cũng như thực hiện việc bác ái yêu thương mọi người như Chúa đã biến đổi Da-kêu. Amen.
THỨ TƯ TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 19,11-28
Dụ Ngôn Mười Nén Bạc
Khi Chúa Giêsu công khai rao giảng về Nước Trời, người ta tưởng rằng Triều Đại Thiên Chúa sắp xuất hiện đến nơi rồi. Nhưng Chúa Giêsu khẳng định rõ rằng: Triều Đại ấy sẽ không như người ta tưởng, nó đã được bắt đầu nhưng chưa hoàn tất. Và vì vậy trong thời gian đó Ngài nhắn nhủ chúng ta hãy góp công xây dựng Triều Đại đó, nghĩa là, biết sử dụng tất cả tài năng, ơn ban và các đặc sủng của mình để làm vinh danh Thiên Chúa và làm những việc lành cho tha nhân. Nhưng đặc biệt qua câu chuyện ngụ ngôn, Ngài kêu gọi sự ăn năn sám hối, nghĩa là thay đổi tư tưởng hay mục đích của mình để phù hợp với Triều Đại của Thiên Chúa. Cũng có nghĩa là không phải mong đợi vị Vua của Nước Trời đến để thực hiện những gì theo ước muốn của người ta, mà phải biết thay đổi để tuân theo giáo huấn của Đức Vua, người đứng đầu của một triều đại mà đặc biệt là Triều Đại của Thiên Chúa.
- Một sự thay đổi về lòng trung thành. Không phải khư khư trung thành với những ý tưởng mà con người đặt ra cho Thiên Chúa theo ý muốn của họ, vì nếu Chúa Ki-tô là Vua, Ngài xứng đáng được vinh dự, lòng trung thành và vâng lời của chúng Hãy đặt mình dưới quyền năng của Ngài, bất cứ điều gì Ngài nói, chúng ta quyết định thực hiện. Đó là điểm then chốt được lặp đi lặp lại trong kinh Lạy Cha, “Nước Cha trị đến, ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10).
- Thay đổi trong kỳ vọng. Một trong những khó khăn mà ý tưởng của người ta nghĩ về một triều đại khi nó chưa xuất hiện. Và nhân loại dường như càng ngày càng xa dần Thiên Chúa. Kết quả là, người ta thật dễ dàng sống buông thả trong giây phút hiện tại, như thể cuộc sống hiện tại này là tất cả không có gì quan trọng hơn. Nhưng thực tế Triều Đại của Thiên Chúa là một cuộc sống vượt xa hơn nhiều so với những gì ta đang thấy. Triều Đại mà Chúa Giêsu hứa hẹn là một vương quốc tương lai, cho dù nó có thể chưa hoàn tất nhưng nó đã được thiết lập và sẽ tồn tại vĩnh viễn (Mt 6,13).
- Thay đổi những giá trị tốt hơn. Những giá trị văn hóa của chúng ta thì hay đề cao thành tích, thành công, độc lập và xây dựng hình tượng cho mình. Mỗi nền văn hóa khác nhau đều có những giá trị những phẩm chất khác nhau. Nhưng giá trị của Nước Trời phải là trên hết. Chúa Giêsu đã mô tả một số giá trị của Ngài trong Tin Mừng Mát-thêu 5,3-10 được biết đến như là những Mối Phúc. Nhiều người chấp nhận các giá trị này như hiến chương của Nước Trời và đã chọn lựa những giá trị đó để áp dụng thực thi trong công việc, gia đình và cộng đồng của họ.
- Một sự thay đổi trong các ưu tiên. Để biết đâu là giá trị thực sự mà một người đang ưu tiên, đang đặt trên hết, hãy nhìn vào cách họ sử dụng thời gian và tiền bạc của mình cho nó. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ biết đặt giá trị của Nước Trời lên trên hết và tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa vì người ta có lo lắng nhiều cho riêng mình thì cũng không thể kéo dài đời mình thêm được một gang tay (x. Mt 6,24-34). Mặc dù không phủ nhận về những công việc và nhu cầu vật chất mà con người đang theo đuổi, nhưng Ngài đòi hỏi những môn đệ của Ngài đặt giá trị Nước Trời vào cuộc sống hàng ngày của họ. “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa” (Mt 6,33).
- Một sự thay đổi trong sứ mệnh suốt đời. Nén bạc mà Thiên Chúa đã trao cho mỗi người, có người thì trung thành và làm lợi ra với mục đính rõ ràng, nhưng không ít những người không có mục đích sống, buông thả và vô trách nhiệm. Hôm nay, là những người môn đệ, Chúa Giêsu trao mục đích của Ngài cho chúng ta và trao nhiệm vụ: sống dấn thân và thúc đẩy các giá trị Nước Trời trong cuộc sống và công việc hàng ngày. Ngài muốn những môn đệ phải loan báo sứ điệp Tin Mừng của Ngài đến tận cùng trái đất, đến với mọi người, để người ta có cơ hội nhận biết, tin yêu vào Ngài là Đấng Cứu Độ và là Vua của họ (x. Mt 28,18-20).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết trung thành, không lười biếng, nhưng hãnh diện và hăng say vì được Chúa tin tưởng trao cho kho tàng đức tin. Xin giúp chúng con biết thể hiện đức tin ấy và loan truyền cho mọi người chúng con gặp gỡ, ngõ hầu mọi người đều nhận biết Chúa là Vua và là Đấng cứu độ trần gian. Amen.
THỨ NĂM TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 19,41-44
Đức Ki-tô Khóc Thương Giê-ru-sa-lem
Một câu nói không nhớ rõ của ai đã phát biểu thế này: “Sự an toàn không phải là nơi vắng bóng sự nguy hiểm, mà còn là nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa.”
Chúa Giêsu, trong phúc âm hôm nnay, khóc thương cho Giê-ru-sa- lem. Tại sao Chúa Giêsu khóc?
Ngài khóc vì họ đã không nghe Ngài. Ngài khóc vì họ đã không mở lòng mình cho Ngài. Ngài khóc vì mong muốn mang hạnh phúc và sự cứu rỗi cho họ, thấy họ bơ vơ như chiên không người chăm sóc, Người mong mỏi dẫn họ đến những đồng cỏ xanh tươi. Ngài khóc vì họ không hiểu lời phán xét của Thiên Chúa bởi sự kiêu ngạo và cứng lòng tin. Tuy nhiên, Giê-ru-sa-lem là ‘Ngai tòa của Đức Chúa’ (Gr 3,17tt.); nơi Đức Chúa đã chọn cho Danh Ngài ngự (1V 11,13); và Đức Chúa đã đặt vị quân vương do Ngài tuyển chọn, lên trị vì Xi-on núi thánh của Ngài (Tv 2). Nhưng hiện tại, nó không xứng đáng và không chịu lắng nghe vị Vua của nó. Nó là thành Thánh nhưng bây giờ lại bị biến thành sào huyệt của kẻ trộm cướp, buôn bán, đổi chác.
Trong thời đại chúng ta, Chúa Giêsu cũng phải khóc mỗi ngày khi Ngài chứng kiến những bất hạnh không đáng có, sự đau đớn từ những vết thương của con cái Ngài đang hoành hành trong từng quê hương đất nước và trên khắp thế giới. Những đau khổ này phát xuất từ sự lãng quên Thiên Chúa và sự ngu xuẩn nổi loạn chống lại ý muốn của Ngài. Do đó, tệ nạn nghèo đói, bắt cóc, hãm hiếp, giết người, nghiện ma túy và say xưa ập đến với họ. Có rất nhiều sự đau khổ không đáng có trong các gia đình từ sự thiếu chung thủy, thiếu nỗ lực để hiểu hoặc tha thứ lẫn nhau.
Đức Ki-tô đã đến để giải thoát người ta ra khỏi những khổ đau này. Nhưng giống như người dân ở Giê-ru-sa-lem, người ta đã không đón nhận Ngài và thích đi theo con đường riêng của mình. Và Ngài phải bật khóc vì chạnh lòng cho sự mù quáng của họ. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói trong phúc âm hôm nay: khi thấy thành Giê-ru-sa-lem, “Phải chi ngày hôm nay ngươi nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.”
Từ ‘Giê-ru-sa-lem’ bắt nguồn từ tên của nó ‘Salem’ có nghĩa là “hòa bình” nhưng cũng tại Giê-ru-sa-lem, các tiên tri đã bị sát hại.
Con đường mà Đức Ki-tô đã dẫn chúng ta thoát khỏi sự đau khổ là gì? Đó là con đường hòa bình. Chúng ta đã từng nghe nói về hòa bình, xây dựng hòa bình và làm cho hòa bình dưới nhiều khía cạnh khác nhau và dường như chẳng có kết quả gì! Theo Moody Bible Institute’s Today In The Word (tháng 6 năm 1988, trang 33), Nhân sự của tạp chí đã báo cáo số liệu thống kê đáng kinh ngạc này: kể từ khi bắt đầu lịch sử được ghi lại từ 3530 năm, toàn bộ thế giới đã hưởng yên bình dưới 8% thời gian! Trong nghiên cứu này đã phát hiện chỉ 286 năm thấy hòa bình. Thêm nữa, hơn 8000 hiệp ước hòa bình đã được thực hiện và phá vỡ. Dựa trên những dữ liệu này, tôi nghĩ rằng chỉ còn một thứ để chúng ta làm, đó là tạo cơ hội cho hòa bình và xem nó có hoạt động không.
Và để cho hòa bình ngự trị trước hết ta cần mở lòng đón nhận hòa bình vào tâm hồn mình, đó chính là đón nhận Đức Giêsu Ki-tô vua của hòa bình. Điều này chỉ đạt được thông qua sự hoán cải, từ bỏ tội lỗi, thật lòng sám hối, quay lưng lại với tội lỗi. Đầu quân dưới ngọn cờ Giêsu Ki- tô để nhận ra rằng mình đang đi sai đường. Ta sẽ không bao giờ đạt được đích đến là Nước Thiên Chúa nếu cứ tiếp tục theo đường lối cũ kỹ của riêng mình hay của ai đó vẽ ra. Nên việc dứt khoát quay lưng lại với tội lỗi hoặc chuyển đổi, ngừng lại những đường hướng sai trái và bắt đầu quay trở lại đúng hướng. Hoán cải, thay đổi hướng của cuộc sống từ việc đi sai đường để điều chỉnh sao cho đi đúng hướng, theo cách mà Thiên Chúa muốn, qua con Đường Giêsu Ki-tô.
Một câu chuyện được kể từ tập chí ‘WIT and WISDOM’ (ngày 1 tháng 2 năm 2000): Có một cô bé muốn gia nhập vào Giáo Hội và vị linh mục hỏi: liệu cô có muốn trải nghiệm sự thay đổi của trái tim hay không. Cô trả lời “có.” “Trước đây cô có phải là tội nhân không?” Cô trả lời: “có.” “Bây giờ cô có phải là một tội nhân không?” Một lần nữa cô trả lời, “có.”
“Vậy thì, sự khác biệt là gì?” Sau một khoảnh khắc suy nghĩ cô ấy nói, “Trước khi tôi được trở lại cùng Đức Ki-tô, tôi là một tội nhân chạy theo tội lỗi; bây giờ, tôi là một tội nhân muốn lìa xa khỏi tội. ”
Chúa đã nhỏ lệ vì tội lỗi nhân loại, xin cho chúng con biết khóc than về những tội lỗi và những tham vọng trần tục của mình, để chúng con biết thật lòng hoán cải xứng đáng là công dân của Nước trời, của Giê-ru-sa- lem Thiên Quốc. Amen.
THỨ SÁU TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 19,45-48
Tẩy Uế Đền Thờ
Khi đề cập đến sự tức giận, nhật báo mang tên ‘Bits & Pieces’ số ra ngày 27 tháng 5 năm 1993, Trang 1 đã viết như sau: “Một người tức giận trên cơ sở đúng đắn, chống lại đúng người, đúng cách, đúng lúc và đúng cường độ thời gian thì đáng được khen ngợi.”
Trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu 11,29 Chúa Giêsu tự giới thiệu Ngài là một người “hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” Bên cạnh đó, chúng ta có rất nhiều mô tả về Chúa Giêsu rằng Ngài là: Tình Yêu, Bánh Hằng Sống, Sự Sống, Bác Sĩ Tuyệt Vời, Thẩm Phán Chí Công, Ngọc Vô Giá, Tin Mừng của Niềm Vui, Vị Thầy Nhân Lành, Chốn Nghỉ Ngơi, vv và vv. Nhưng trong đoạn Phúc âm hôm nay, những mô tả về Ngài dường như không đúng. Vì Chúa Giêsu thể hiện rằng Ngài không phải là người nhu nhược. Đôi khi Ngài cũng trải qua những cảm xúc mạnh mẽ như giận dữ và thể hiện chúng một cách dứt khoát. Điều này khá bất ngờ theo nghĩa rằng hầu hết thời gian người ta giận dữ luôn kết hợp với tội lỗi, nó cứ như thể tức giận là tội lỗi. Nhưng thực ra giận dữ không hẳn là tội lỗi, nó còn là món quà từ Thiên Chúa ban cho con người nhằm vào các mục đích khác nhau như: tự vệ, bảo vệ người khác, bảo vệ người yếu, phục vụ công lý và tha nhân. Nó chỉ có thể là tội nếu sự tức giận biểu hiện quá mức hoặc không thích hợp.
Điều gì làm cho Chúa Giêsu nổi giận? Ngài nổi giận vì đền thờ được sử dụng cho mục đích thương mại thay vì là nhà cầu nguyện của vị Thượng Tế. Sự lạm dụng này làm Ngài bực bội. Chúng ta biết rằng nếu Nhà Thờ được làm giống như một siêu thị, sẽ không còn một nơi thích hợp để cầu nguyện và đánh mất đi bầu khí linh thiêng bên trong. Hầu hết thời gian, người ta bị quấy rầy bởi ai đó, giống như một đứa trẻ, đang chạy tới lui và la hét trong nhà thờ trong khi chúng ta đang cầu nguyện. Đây là những xúc phạm tới Chúa Giêsu theo nghĩa: nó chống lại lợi ích của chính các tín hữu hay lợi ích của người muốn đến với Thiên Chúa qua cầu nguyện.
Một linh mục đã kể lại rằng: Một lần tôi đang dâng lễ cưới cho một người bạn thân. Ngay trước khi cử hành, tôi đã thông báo với những người đến tham dự, xin vui lòng tắt điện thoại di động của họ hoặc đặt chúng ở chế độ im lặng để buổi lễ được diễn ra cách trang nghiêm. Trong khi đám cưới đang diễn ra, một chiếc điện thoại di động đổ chuông vang lên gần đôi hôn phối. Và trước sự ngạc nhiên của tôi, đó là điện thoại di động của chú rể, đã vô tình trở thành thủ phạm chính của dịp này. Có lẽ câu chuyện này làm cho chúng ta hiểu hơn lời khẳng định của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. “Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!” Việc chuông điện thoại di động vang lên trong nhà thờ đã ngày càng trở thành một trong những dấu hiệu lớn của sự thiếu tôn trọng và gây chia trí cho mọi người.
Thêm nữa, đền thờ bằng đá gỗ cũng tượng trưng cho đền thờ thiêng liêng trong tâm hồn của chúng ta, nơi mà dành riêng để cầu nguyện để gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng liệu Ngài đến, Ngài có chỗ để đứng không hay lại nổi cơn nôi đình mà đi ra! Vì trong tâm hồn của ta toàn là những kinh doanh buôn bán lọc lừa, những bon chen lường gạt và đổi chác. Tệ hơn nữa là một trung tâm phát sinh ra những tội lỗi và cái ác, thù hằn ganh ghét và sát phạt lẫn nhau. Ta có thể tự đặt câu hỏi cho mình: Nếu lúc này Chúa đến thăm đền thờ của Ngài là linh hồn tôi, Ngài sẽ vui hay buồn, hay sẽ nổi cơn thịnh lộ?
Lạy Chúa, giữa biết bao bộn bề của cuộc sống, giữa những tham sân si của cuộc đời trần thế, đền thờ là tâm hồn của chúng con ngổn ngang mọi thứ lợi lộc trần gian mà vắng bóng Chúa. Xin giúp chúng con biết thanh tẩy và chuẩn bị nơi xứng đáng trong trong tâm hồn để Chúa ngự vào và được tôn thờ xứng đáng. Amen.
THỨ BẢY TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN- Lu-ca 20,27-40
Câu Hỏi Về Sự Sống Lại
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu có một cuộc chạm trán với những người Sa-đu-sê. Đây là một giáo phái chính trị tôn giáo của người Do Thái có tên bắt nguồn từ Tsaddiqim, có nghĩa là, người công chính. Tên này được kết hợp với tên riêng “Sa-đốc”, tên của một vị thượng tế nổi bật trong thời đại của vua David và Solomon (1V 1,8.26.32). Họ giả định tham chiếu đến sự tuân thủ của bản văn ‘Luật’ mâu thuẫn với sự quan tâm của người Pha-ri-sêu đối với truyền thống của các tiền nhân.
Đối với dân Do Thái, Những người Sa-đu-sê không được dân chúng ưa chuộng vì họ có khuynh hướng sát cánh với quyền lực chính phủ La Mã. Trong khi những người Pha-ri-sêu nhiệt thành yêu nước ngày càng trở thành những người lãnh đạo của nhân dân. Trong số những khác biệt về niềm tin giữa hai bên: người Sa-đu-sê không tin vào sự sống lại, sự bất tử của linh hồn và sự tồn tại của các thiên thần (Mt 22,23; Mc 12,18; Cv 23,8). Họ cũng từ chối các truyền thống truyền khẩu mà Những người Pha-ri-sêu đã duy trì và nhấn mạnh như một bổ sung cần thiết cho luật văn bản. Đó là lý do tại sao họ công khai lập luận cách khoái chí nhằm bác bỏ niềm tin về sự sống lại qua lập luận rằng: “Nếu có sự phục sinh người phụ nữ đó sẽ là vợ của ai? Vì cả bảy người đã cưới cô ấy.”
Tại sao người Sa-đu-sê không tin vào sự sống lại? Vì niềm tin này không được nói rõ ràng trong luật Mô-sê. Nó chỉ là một khoản suy diễn bởi một số nhà chú giải luật. Tuy nhiên, niềm tin này được đón nhận cách sâu sắc hơn trong thời của Chúa Giêsu. Những người Sa-đu-sê là một nhóm độc quyền được quy tụ từ nhóm tinh hoa của xã hội Do Thái: thuộc tầng lớp những người giàu có, quý tộc và tầng lớp giáo sĩ. Đó là một cách bóp méo sự thật để nói rằng họ đã sống như “con bò mãn nguyện.” Họ là một nhóm người khép kín, tự cao, không muốn đón nhận bất cứ điều gì khác, không cần gì phải lo đến đời sống mai hậu, cũng có nghĩa chẳng cần quan tâm đến ai. Sống xu thời và hưởng thụ. Với cuộc sống như vậy, họ không quan tâm đến sự phục sinh. Đối với họ, nếu có một thế giới bên kia, nó chỉ đơn giản là một sự tiếp nối vinh quang của cuộc sống trần tục, hay được kéo dài nơi con cái của mình. Nhưng Đức Giêsu đã trả lời câu hỏi bằng cách giải thích cho họ hiểu về điều mà Mô-sê đã viết; khi Thiên Chúa bày tỏ sự hiện diện của Ngài cho ông trong bụi cây bốc cháy, Chúa bảo ông rằng Ngài là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Y-sa-ác và Gia-cóp, (Xh 3,6). “Ngài không phải Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối vơi Người, tất cả đều đang sống.” (c.38)
Qua Lời Chúa hôm nay cho ta một niềm xác tín về một thế giới tốt đẹp ở sau cái chết và đây cũng là động lực để ta củng cố niềm tin cũng như hăng say dấn thân hơn cho Nước Thiên Chúa, nơi hạnh phúc đích thực vĩnh viễn đang chờ đón mỗi người. Đức Giêsu không chỉ xác tín mà chính Ngài đã củng cố niềm tin của chúng ta bằng hành động, qua cái chết trên thập giá và mai táng trong mồ; Ngài cho thấy chết không phải là chấm hết. Và qua sự phục sinh, Ngài đã cho các môn đệ của Ngài thấy sự thành toàn của sự sống vượt qua cuộc sống hiện tại ở trần gian, mà đi vào vĩnh cửu xuyên qua cánh cửa tử thần và cái chết của thân xác. Thiên Chúa dựng nên con người để họ được chung hưởng hạnh phúc là sự sống vĩnh cửu với Ngài. Tuy nhiên cũng có những con người không hưởng được hạnh phúc đó mà phải trầm luân trong nơi bất hạnh, đó là những con người tự tách mình ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, ra khỏi nguồn sự sống, đó là những kẻ bất tuân thánh ý của Ngài.
Lần đầu tiên tôi được rước lễ, để giúp cho những đứa trẻ có một khái niệm trừu tượng về thiên đàng, cha xứ đã kể cho chúng tôi một câu chuyện. Ngài nói rằng khi chúng ta đến cửa thiên đàng, Đức Ki-tô và Thánh Phêrô sẽ đích thân ở đó để chào đón chúng ta. Các Ngài sẽ đưa chúng ta vào một sân vận động lớn đầy những người thực sự hạnh phúc và tất cả họ sẽ vui mừng chào đón chúng ta. Khi chúng ta hỏi Đức Ki-tô: “Tất cả những người này là ai?” Ngài sẽ đáp: “Đây là tất cả những linh hồn mà chúng ta đã giúp đến đây, và họ đang nói lời cảm ơn với tiếng vỗ tay tán thưởng của họ dành cho con.” Thật là một ngày tuyệt vời!
Lạy Chúa, Ngài đã dựng nên con người không phải để nó hư đi nhưng là muốn cho nó được tham dự vào đời sống vĩnh cửu của Ngài. Xin cho chúng con ý thức được điều đó để chúng con tin vào một Thiên Chúa Hằng Sống và muốn cho chúng con cũng được sống bên Ngài để chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển của Ngài muôn đời. Amen.