THỨ HAI TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH – Mát-thêu 28,8-15
Sự Phục Sinh Của Chúa Giêsu Báo Cáo Của Người Lính Canh Mộ
Jerald Jellison đã nghiên cứu và cho biết, mỗi người trong chúng ta nói dối ít nhất 50 lần một ngày. Ông đã giải thích rằng chúng ta nói dối về tuổi tác, về thu nhập hoặc về thành tích của mình. Và người ta sử dụng lời nói dối để thoát khỏi sự bối rối. Một lý do phổ biến cho những lời nói dối cách vô hại (little white lies), mà người ta cho rằng nhằm bảo vệ ai đó về mặt cảm xúc. Tuy nhiên, làm như vậy, người ta đang thực sự bảo vệ chính mình. Theo ông, đây là một số lời nói dối được sử dụng phổ biến nhất của chúng ta: “Tôi đã cảm thấy rất tốt”; “Tôi đã không muốn làm tổn thương cảm xúc của bạn”, “Tôi chỉ đùa thôi”, “Tôi chỉ cố gắng giúp đỡ”…
Vâng, Lễ Chúa Phục Sinh rất quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo đến nỗi được Giáo Hội cử hành trong cả tuần. Chúng ta gọi đây là “Tuần Bát Nhật” có nghĩa là khoảng thời gian 8 ngày, tính từ Chúa nhật Phục Sinh cho đến Chúa nhật tuần sau. Trên thực tế, mỗi Chúa nhật giống như một lời nhắc nhở về lễ Phục Sinh. Vì Chúa nhật là Ngày Của Chúa, là ngày mà Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết.
Hôm nay Tin Mừng đề cập đến việc báo cáo về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu bởi hai nhóm khác nhau: nhóm phụ nữ và nhóm cai ngục. Chúng ta hãy xem phần thứ hai của đoạn Phúc Âm và điều này nói lên sự lừa dối, dối trá. Các lính canh được các thượng tế mua chuộc để nói dối về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Họ đã hứa rằng nếu kiểm sát viên tìm hiểu vấn đề, họ sẽ bịa ra một câu chuyện rằng đó là các môn đệ đã đánh cắp xác của Thầy Giêsu khi họ đang ngủ. Có một sự mâu thuẫn về những gì họ sẽ nói với mọi người và với quan chức bởi vì làm sao họ có thể biết rằng chính các môn đệ đã đánh cắp thi thể của Chúa Giêsu đang khi họ ngủ? Do đó, các thượng tế là những đại diện chính thức của Thiên Chúa buộc phải nói dối và mua chuộc những người bảo vệ để che đậy việc họ giết Đức Giêsu. Thế nhưng, họ vẫn tự xem mình là người chính trực.
Nói dối dường như là một cách sống của nhiều người trong chúng ta. Cuốn sách The Day American Told the Truth, thống kê rằng: 91% những người được khảo sát thường xuyên nói dối về những vấn đề mà họ cho là tầm thường, 36% nói dối về những vấn đề quan trọng; 86% nói dối thường xuyên với cha mẹ, 75% với bạn bè, 73% với anh chị em và 69% giữa vợ hoặc chồng.14
Ngược lại với sự dối trá và lừa dối này. Tin Mừng hôm nay cho thấy những người phụ nữ đơn giản có trái tim vui mừng khôn xiết trước tin Chúa yêu dấu của họ được sống lại. Họ mong muốn chia sẻ niềm vui của mình. Những người phụ nữ này đã theo Chúa Giêsu từ Ga-li-lê đến thập tự giá, chu cấp các nhu yếu phẩm cho Ngài và trung thành khi ở với Ngài đến hơi thở cuối cùng trên thập giá. Cuộc gặp gỡ bất ngờ của họ với Chúa Giêsu là một khung cảnh tràn ngập bình an và niềm vui rạng rỡ.
Đức Giáo hoàng Benedict XVI trong tác phẩm ‘Salt of the Earth’ của ngài đã nói: Đức tin mang lại niềm vui. Khi Chúa không ở đó, thế giới trở nên hoang tàn và mọi thứ trở nên nhàm chán và mọi thứ hoàn toàn không thỏa mãn. Thật dễ dàng để thấy ngày nay một thế giới trống vắng sự hiện diện của Thiên Chúa cũng đang ngày càng tiêu thụ chính nó, làm thế nào thế giới lại trở thành một nơi hoàn toàn không có niềm vui. Niềm vui lớn đến từ việc có tình yêu vĩ đại này và đó là thông điệp thiết yếu của đức tin, rằng ‘chúng ta được yêu thương vô giới hạn’ (trang 27).
Xin niềm vui Phục Sinh của Chúa đổ tràn trong tâm hồn mỗi chúng con, để ngọn lửa yêu mến được đốt lên trong niềm tin yêu mãnh liệt và lan toả sự Phục Sinh của Chúa đến với mọi người bằng đời sống đức tin chân thật không hề gian dối. Cho dù chúng con phải đối mặt với biết bao áp lực và cạm bẫy cám dỗ của trần đời. Amen.
THỨ BA TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH – Gio-an 20,11-18
Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi.
Một người đàn ông say rượu bước ra từ một quán bar và cứ đi lom khom vòng quanh cột điện. Một người qua đường tò mò hỏi anh ta đang làm gì. Anh chàng lầm bầm: Tôi đang tìm chìa khóa của mình. Người qua đường này cũng tham gia tìm kiếm giúp anh ta. Một người đàn ông khác cũng đi ngang qua hỏi biết câu chuyện và cũng tham gia cùng hai người. Họ lật những chiếc lá, những hòn đá, v.v… để tìm giúp. Một lát sau, một trong số họ hỏi người đàn ông say rượu: “Thực sự thì anh làm mất chìa khóa ở đâu?” Anh ta trả lời: “Ở trong quán bar.” Người đàn ông này hét lên: “Vậy tại sao chúng ta lại tìm ở đây?” Người say rượu đáp lại: “Vì ở đây có ánh sáng!”
Liên quan đến đoạn văn Phúc Âm hôm nay, chúng ta được biết rằng Ma-ri-a Mác-đa-la đã tìm kiếm Chúa của mình. Lúc đầu, cô không nhận ra Chúa Phục Sinh vì trọng tâm của cô không phải đặt ở Chúa mà là ở ngôi mộ trống và ở nỗi đau buồn. Cũng giống như Ma-ri-a Mác-đa-la, nhiều người trong chúng ta tìm kiếm Chúa ở những nơi sai lầm như: trong men rượu, trong những thú vui, sự giàu có, xa xỉ và quyền lực. Nhưng những gì nơi ngôi mộ trống mới là nền tảng tín lý cơ bản của Giáo Hội. Như thánh Phao-lô đã viết: “Nếu mà Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1Cr 15,14). Nếu loại bỏ tín lý thì tất cả nội dung của lời tuyên tín của các thánh Tông Đồ sẽ giống như một ngôi nhà đổ nát! Giáo lý của Giáo Hội Công giáo cũng dạy rằng: Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba sau khi Ngài chết trên thập tự giá và chôn cất trong ngôi mộ. Sự sống lại của Chúa Kitô là sự thật hoàn hảo của đức tin của chúng ta vào Chúa Kitô (số 638).
Ma-ri-a Mác-đa-la không nhận ra Chúa khi đã gặp Ngài. Nhưng chỉ một lời là đủ để cho bà nhận ra Chúa Phục Sinh khi Ngài gọi cô bằng tên của mình ‘Ma-ri-a!’, sau đó nhắc nhở cô về sứ mệnh của mình là thông báo Tin Mừng về sự Phục Sinh cho các môn đệ của Ngài. Và thông điệp của cô là: “Tôi đã thấy Chúa!” qua đây cho chúng ta thấy rằng, ta sẽ không bao giờ biết đủ về Thiên Chúa cách chung chung, nhưng ta có thể nhận biết Ngài cách riêng tư cá vị. Có lẽ người ta không đủ để tranh luận về Ngài nhưng họ lại có thể gặp được Ngài. Trong sự Phục Sinh, chúng ta bắt gặp một Thiên Chúa thể hiện yêu thương cách riêng tư tới từng người và chia sẻ vinh quang của Người với mỗi người chúng ta. Ngài sẽ gọi đích danh của mỗi người nếu chúng ta đi tìm và mong gặp Ngài.
Giống như Ma-ri-a, chúng ta có một nhiệm vụ phải làm, đó là thông báo Tin Mừng về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu cho tất cả anh chị em của mình:
Đầu tiên, chúng ta được sai đi chia sẻ Tin Mừng. Chúa Giêsu muốn chúng ta ra đi và chia sẻ kinh nghiệm thực tế mà ta tìm gặp qua sự Phục Sinh của Ngài. Nó không thể được tích trữ cho riêng mình nhưng bất cứ khi nào chúng ta trải nghiệm Chúa Phục Sinh, đó phải như nguồn nước tuôn trào niềm vui nội tâm đến tha nhân. Đức tin chỉ phát triển khi chúng ta sẵn sàng chia sẻ đức tin của mình. Vì mọi người đang khao khát Tin Mừng Phục Sinh. Hudson Taylor chia sẻ rằng: “Tôi đã từng cầu xin Chúa giúp tôi. Sau đó tôi hỏi liệu tôi có thể giúp gì cho Ngài không. Cuối cùng tôi đã Xin Ngài thực hiện công việc của mình thông qua tôi.”
Thứ hai, sự Phục Sinh của Chúa Giêsu là niềm hy vọng của chúng ta. Đó là một hy vọng rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ thấy Chúa nhẫn tiền và chia sẻ vinh quang bất diệt của Ngài. Thánh Phê-rô nói: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.” (1Pr 1,8-9).
Cuối cùng, chúng ta hãy cầu nguyện với Chúa, xin Ngài bảo vệ đức tin và ơn kêu gọi của mình khỏi các cuộc tấn công của Satan, hắn luôn cám dỗ chúng ta rời bỏ bổn phận. Hãy cầu nguyện xin Chúa bảo vệ chúng ta khỏi bận rộn về công việc đến nỗi quên ngồi và lắng nghe gặp gỡ với Ngài. Hãy cầu nguyện xin Ngài bảo vệ chúng ta khỏi mất tinh thần thờ phượng, tình yêu và sự tận tâm với Ngài; từ sự chia rẽ, chỉ trích và cáu kỉnh với nhau; từ việc giải thích sai động cơ của nhau; từ tranh chấp, ghen tuông những địa vị thấp hèn.
Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, xin hãy tỏ lộ Thánh Nhan Ngài cho mỗi chúng con trên con đường tìm Chúa. Để chúng con gặp được Chúa trong mọi nơi mọi lúc, trong Lời Ngài và trong cầu nguyện cũng như trong khi thực hành bác ái, hoặc trong những sự gặp gỡ giữa người với người. Để niềm vui Phục Sinh của Chúa được lan toả qua mỗi lời nói, cử chỉ của chúng con. Để qua đời sống đức tin, cùng với thánh nữ Ma-ri-a Mác-đa- la, chúng con cũng nói với mọi người rằng: “Tôi đã thấy Chúa.” Amen.
THỨ TƯ TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH – Lu-ca 24,13-35
Chúa Giêsu Xuất Hiện Trên Đường Đến Emmaus
Tin Mừng hôm nay kể lại việc hai môn đệ không nhận ra Chúa Giêsu là người đồng hành với họ trên đường đến Emmaus. Thật ra họ quá thất vọng vì kết cục bi thảm của Chúa. Cái chết của Ngài làm vỡ mộng, phá tan hy vọng và ước mơ của họ. Và Chúa Giêsu đã giải thích Kinh Thánh để cố gắng cho họ hiểu ý nghĩa của những sự kiện vượt ngoài tầm hiểu biết của con người đã xảy ra trong thành thánh. Ngài giải thích cho họ một lần nữa ý nghĩa của những lời tiên tri về Đức Kitô, Đấng phải chịu đau khổ và chết vì tội lỗi nhân loại. Điều này, khi thấu hiểu được sự kỳ diệu của tình yêu thập giá, Thánh Phao-lô đã nhờ đó mà vượt qua những đau khổ của cuộc đời theo Chúa mà hãnh diện tuyên bố rằng: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19).
Điều gì khiến họ khó nhận ra Ngài? Thánh Âu-gút-ti-nô một giáo phụ nổi tiếng sống ở thế kỷ thứ năm đã viết về các môn đệ trên đường Emmau như sau: Người ta rất băn khoăn khi thấy Ngài bị treo trên thập tự giá mà họ quên mất lời dạy của Ngài, đã không tìm kiếm sự Phục Sinh của Ngài và họ cũng đã không giữ lời hứa của Ngài15. Cho nên mắt của họ bị che khuất, họ đã không nhận ra Ngài cho đến khi bẻ bánh. Vì thế, theo trạng thái của tâm trí, những người này vẫn không biết gì về sự thật rằng Chúa Kitô sẽ chết và sống lại, đôi mắt của họ bị cản trở. Sự hụt hẫng là do họ tưởng mình bị Đức Giêsu lừa, thực ra chính họ không thể nhận thức được sự thật.16 Và chỉ đến khi bẻ bánh, hai môn đệ mới nhận ra Chúa Giêsu.
Ngày nay, nhờ đức tin, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra Ngài trong Bí tích Thánh Thể, cũng như qua Kinh Thánh. Đây là hai cách tốt nhất để nhận biết Chúa Kitô. Sự nhận biết Chúa Kitô qua Lời Ngài sẽ dẫn ta đến sự hiểu biết Ngài đầy đủ trong Mầu nhiệm Mình Thánh và Máu Thánh của Ngài, đó là đỉnh cao của tình yêu của Thiên Chúa làm người. Giáo lý Giáo Hội Công giáo dạy chúng ta rằng:
Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, là hiện tại hoá hy tế duy nhất của Người, và dâng hy tế duy nhất đó cách bí tích, trong phụng vụ của Hội Thánh là Thân Thể Người. Trong tất cả Kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta đều thấy sau các lời tường thuật về việc Chúa thiết lập Thánh Thể, một kinh nguyện được gọi là kinh Tưởng Niệm.” (GLGHCG số 1362).
Nhờ sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể, Ngài đồng hành, ở cùng chúng ta trong cuộc sống và mang lại cho chúng ta niềm hy vọng.
Bí tích Thánh Thể gồm tóm tất cả những điểm sau đây:
- Lời tạ ơn – đối với Thiên Chúa về công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.
- Mầu nhiệm đức tin; Trái tim thần linh của Giáo Hội, (Thông điệp Ecèreia de Eucharistia, của Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phaolô II)
- Trao ban Bánh Hằng Sống (Cv 2,42; Lc 24,21).
- Tưởng niệm cuộc Vượt Qua và sự Phục Sinh của Chúa Kitô.
- Sự hy sinh thánh thiện: Chúa Kitô đang hiến chính mình cho Chúa Cha và sau đó cho tất cả chúng ta.
- Bí tích tình yêu: Thánh Ép-rem đã viết rằng: Chúa Giêsu đã đổ đầy Bí tích Thánh Thể bằng Thánh Linh tình yêu của Ngài.
- Thánh Âu-gus-ti-nô đã viết: Bí tích thành kính, dấu chỉ hiệp nhất, ràng buộc bác ái!
- Bữa tiệc Vượt Qua: Bánh ban sự sống; Chén cứu độ vĩnh cửu.
- Quà tặng tuyệt hảo: Chính thân mình Đức Kitô và công cuộc cứu độ của Ngài.
- Cam kết vinh quang vĩnh cửu: Sự sùng kính Thánh Thể vượt xa một việc tưởng niệm Lễ Vượt Qua, vì qua sự hiệp thông tại bàn thờ, chúng ta được tràn đầy phước lành và ân sủng trên trời. Bây giờ Bí tích Thánh Thể là một dự đoán về vinh quang trên trời.
- Lời hứa về sự trở lại của Chúa Kitô: Maranatha! Hãy đến, lạy Chúa Giêsu! (Kh 1,4; 22,20)
- Phụng vụ thiêng liêng (Thánh lễ) – Việc làm mỗi ngày của dân thánh theo hướng dẫn thiêng liêng. Đây là lối vào phụng vụ Thiên đàng, nơi Thiên Chúa sẽ là tất cả. (1Cr 15,28)
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết nhận ra sự hiện diện màu nhiệm của Chúa trong việc tiếp xúc với Lời Ngài và trong bí tích Thánh Thể mỗi ngày. Amen.
THỨ NĂM TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH – Lu-ca 24, 35-48
Sự Xuất Hiện Của Các Môn Đệ Ở Jerusalem
Hoạ sĩ nổi tiếng Paul Gustave Dore (1821-1883) bị mất hộ chiếu khi đi du lịch ở châu Âu. Khi anh đến một cửa khẩu biên giới, anh giải thích tình trạng khó khăn của mình với một trong những nhân viên bảo vệ. Để trình báo trường hợp của mình, Dore hy vọng anh ta sẽ được công nhận và được phép vượt qua. Tuy nhiên, nhân viên bảo vệ nói rằng nhiều người đã cố gắng vượt qua biên giới bằng cách khai gian tên tuổi của người khác chứ không phải là chính họ.
Dore khẳng định rằng anh ta không nói dối, Tất cả những gì anh khai đều đúng. Nhân viên cửa khẩu đã đề nghị anh làm một bài kiểm tra, và nếu vượt qua nó, họ sẽ cho phép anh ta qua. Họ đã đưa cho Dore một cây bút chì và một tờ giấy, rồi yêu cầu nghệ sĩ phác thảo một vài nông dân đứng gần đó. Dore đã làm điều đó một cách nhanh chóng và khéo léo đến nỗi người bảo vệ tin rằng anh ta thực sự là người mà anh ta tuyên bố là. Công việc của anh đã khẳng định lời nói của mình!17
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hiện ra với mười một Tông Đồ làm cho các ông kinh hồn bạt vía tưởng là thấy ma. Ngài đã trấn an bằng cách chứng minh mình không phải là ma, Ngài đã cho họ xem những dấu đinh của mình. Cho họ chạm vào những vết thương, và cuối cùng, giống như một bằng chứng mạnh mẽ nhất về việc Ngài đã thực sự sống lại, Ngài đã yêu cầu họ cho Ngài thức ăn và đã ăn trước mặt họ. Sau đó Ngài giải thích về những lời Kinh Thánh đã tiên báo về cái chết và sự Phục Sinh của Ngài.
Thánh Giê-rô-ni-mô giải thích: Sau khi cho họ chiêm ngưỡng khuôn mặt Phục Sinh, chạm vào chân tay thực sự, Ngài thực sự đã ăn với các môn đệ của mình; thực sự đi bộ với Cơ-lê-ô-pát; nói chuyện với hai môn đệ trên đường Em-mau với một miệng lưỡi thực sự; thực sự đồng bàn trong bữa ăn tối; với bàn tay thực sự đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, và trao cho họ. Do đó, không được đặt sức mạnh của Chúa lên ngang tầm với những mánh khóe của các pháp sư, xem có vẻ như không phải là Ngài, và có thể được cho là đã ăn mà không cần nhai, đi không cần chân, cầm bánh mì không cần tay, nói mà không có miệng lưỡi, và cho họ xem một bên không có xương sườn.18 Thánh Giê-rô-ni-mô đã dùng cách nói khẳng định để đối lại với triết lý của dân Hy-lạp, họ coi thân xác chỉ là cái nhà tù. Nếu nó Phục Sinh thì con người lại chả phải ở tù vĩnh viễn sao! nên họ đã từng suy diễn theo cách như các pháp sư vẽ ra về kiếp sau của con người.
Mặc dù, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu trong thân xác vinh quang của Ngài không cần phải ăn. Ngài ăn vì lợi ích của các Tông Đồ. Ngài ăn để chứng thực là thân xác con người được Phục Sinh thực sự. Đối với con người chúng ta, bởi không phải là những tinh thần thuần túy, thực tế hầu hết mọi thứ đến với chúng ta đều phải vượt qua một quá trình nhân hóa, ngay cả những nhu cầu cơ thể cơ bản nhất. Cũng như những điều cao quý nhất, như niềm tin vào Thiên Chúa, cũng được đến với chúng ta thông qua các giác quan của mình, nói như thánh Phao-lô: “Có đức tin là nhờ nghe giảng” (Rm 10,17). Thế nên, sau khi Phục Sinh, Chúa Giêsu đã tỏ mình cho các môn đệ, để các ông có một kinh nghiệm thực sự về Con Người Phục Sinh, giải thích cho các ông hiểu về Thánh Kinh, củng cố niềm tin còn đang lung lay chao đảo, và để truyền cho các ông một sứ vụ ra đi làm chứng nhân về Chúa Phục Sinh.
Qua đây cho thấy, môn đệ của Chúa phải là một chứng nhân về Chúa, “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (c.48). Nhưng câu hỏi được đặt ra là: Làm sao chúng ta có thể làm chứng nhân về Chúa khi không có kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục Sinh như các Tông Đồ?
Thưa, Tin Mừng hôm nay cho ta thấy hai khía cạnh giúp chúng ta có kinh nghiệm về Thiên Chúa đó là qua việc tham dự Thánh Lễ và qua việc học hỏi Thánh Kinh.
Qua tham dự Thánh Lễ, ta thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đã đồng hành và đồng bàn với các môn đệ và “họ thuật lại những gì đã xẩy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (c.35) Chúa Giêsu luôn tỏ mình ra qua việc cử hành bí tích Thánh Thể cách cụ thể để cho các môn đệ có kinh nghiệm gặp gỡ, đón nhận Ngài. được rước Ngài vào lòng, trở nên một với Ngài. Để rồi người môn đệ không chỉ là ra đi mang theo những lời chứng mà là một nhân chứng sống động vì từ nay, “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Qua việc học hỏi Thánh Kinh. Chúa Giêsu sau khi hiện ra đã giải thích cho các Tông Đồ hiểu biết về Thánh Kinh. Qua đó niềm tin của các ông được củng cố. Vì thế việc học và hiểu biết về Thánh Kinh, về Lời Chúa là một điều không thể bỏ qua nơi một người môn đệ của Chúa Kitô.
Người môn đệ là người được Chúa sai đi. Ngày nay, có rất nhiều người Kitô hữu muốn trở nên chứng nhân của Chúa Kitô Phục Sinh nhưng lại không thích tham dự thánh lễ mỗi ngày, không muốn học biết về Thánh Kinh. Đó là những người thích nâng mình lên như một sứ giả của Chúa. Nhưng thực chất là sự kiêu ngạo thẳm sâu, và những thành phần này thường hay tìm cách chống phá Giáo Hội hơn là xây dựng. Vì họ thực sự không phải là người được Chúa sai đi.
Lạy Chúa xin củng cố đức tin yếu kém của chúng con qua việc tham dự bí tích bẻ bánh, là lúc chúng con được kết hiệp với Ngài. Xin mở trí cho chúng con trong việc học hiểu Lời Chúa để chúng cho thực sự trở thành những chứng nhân của Chúa Phục Sinh giữa lòng nhân loại. Amen.
THỨ SÁU TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH – Gio-an 21,1-14
Đức Giêsu Hiện Ra Ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a
Tin Mừng hôm nay tường thuật về Chúa Phục Sinh tỏ mình ra cho các môn đệ ở biển hồ Ti-bê-ri-a. khi thánh Phê-rô đã khởi xướng lại nghề cũ mà đi đánh cá, thế rồi nhóm các bạn cùng ở với ông cũng đồng thuận xuống thuyền. Có lẽ ở giai đoạn này các ông cũng chưa thực sự hoàn hồn vì biến cố vượt qua, rồi những lần tỏ mình sau biến cố Phục Sinh của Chúa. Bây giờ Thầy không còn ở bên để chăm sóc các ông như trước nữa, Thầy không còn đi rao giảng để các ông được đi theo. Thầy chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc nên các ông thấy trống vắng mà không biết làm gì. Có một số chắc về thăm gia đình, hoặc đi thăm bạn bè người thân, chỉ có nhóm bẩy Tông Đồ ở cùng với nhau. Thế là họ theo Phê-rô xuống thuyền ra khơi đánh cá. Nhưng cả đêm các ông đã chẳng bắt được gì.
Khi trời đã sáng, Chúa Giêsu đã xuất hiện trên bãi biển, hỏi về tình trạng thất bại sau cả một đêm lao nhọc của các ông và chỉ cho các ông phải thả lưới ở mạn phải của Thuyền. mặc dù không nhận biết đó là Thầy nhưng các ông cũng làm theo và mẻ lưới cá đầy cách lạ lùng lại xuất hiện.
Gio-an đã bắt đầu nhận ra Thầy và nói với Phê-rô: “Chúa đó”. Phê-rô đã mặc áo vào và nhẩy xuống biển để bơi vào bờ cho nhanh.
Tin Mừng hôm nay cho thấy, mặc dù không thường xuyên hiện diện với các môn đệ như trước đây, nhưng Chúa Giêsu không hề xa rời các môn đệ. Ngài vẫn hiện diện bên các ông cách thần linh và chỉ điểm cho các ông biết thả lưới như thế nào để bắt được cá. Đây cũng là lần thứ ba Chúa Giêsu xuất hiện sau khi Phục Sinh trước các Tông Đồ và ban cho họ một biểu tượng về sứ mệnh của họ trong một mẻ cá kỳ diệu, tiếp theo là bữa sáng cá nướng mà Chúa Giêsu đã chuẩn bị cho họ. Sau một đêm vất vả thì có cái gì để ăn ngay là điều cần thiết và cụ thể nhất. Điều này nói lên sự quan tâm chăm sóc cách rất cụ thể của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, dù cho thời gian này Ngài không kề cận bên các ông nhưng Ngài không ngừng quan tâm các ông như những đứa con nhỏ của Ngài.
Qua đây cho ta thấy, Chúa Phục Sinh rất gần gũi với các môn đệ của Ngài, và luôn chăm lo cho mọi nhu cầu cụ thể của họ. Ngài ban ơn chỉ dạy cho những thành công và đến an ủi củng cố trong sự thất bại. Nhưng nhiều người trong chúng ta thành công quá cũng không biết cám ơn Chúa vì họ không nhận biết sự hiện diện của Ngài. Chỉ có người nào có một trái tim yêu mến Chúa thực sự như Gio-an mới mau mắn nhận ra Chúa khi ông chứng kiến mẻ lưới thành công. Mặt khác, có nhiều khi thất bại trong cuộc sống người ta cũng mất luôn cả niềm tin vào sự gần gũi của Đấng Phục Sinh. Đó là có không ít những người vì quá thất vọng đã không còn tin vào Thiên Chúa và thậm chí tự huỷ hoại cả mạng sống mình. Nhưng trong ý định màu nhiệm của Thiên Chúa cho ta thấy, nếu Sao-lê không bị quật ngã khỏi ngựa trên đường đi Đa-mát thì ông đã chẳng bao giờ trở nên một vị Tông Đồ của Chúa Phục Sinh (x. Cv 9,1-13).
Vì vậy, niềm tin vào Chúa Phục Sinh cho ta xác tín thêm rằng, Ngài luôn ở gần ta hơn bao giờ hết, như bà mẹ luôn chăm sóc con thơ của mình, cho dù hoàn cảnh thuận lợi hay bất lợi, Ngài luôn ở đó để giúp đỡ và chăm sóc cho ta. Điều quan trọng là ta có nhận ra Ngài trong mọi biến cố của cuộc sống hay không. Ngài quan tâm các môn đệ là mỗi người chúng ta không chỉ dừng lại ở cá nướng và bánh mì, mà là Bánh Ban Sự Sống Vĩnh Cửu và Chén Cứu Độ trong bữa tiệc Thánh mà Ngài đã chuẩn bị cho tất cả những ai yêu mến và tin vào Ngài. Những ai yêu mến Chúa nồng nàn như người môn đệ Chúa yêu mới nhận ra Ngài luôn ở bên và họ sẽ không bỏ lỡ cơ hội để đến đón nhận Ngài trong các bữa tiệc Thánh.
Lạy Chúa xin ban thêm đức tin, tình yêu và lòng khao khát để chúng con luôn thấy Chúa hiện diện trong mọi nơi, mọi lúc, mọi biến cố buồn vui của cuộc đời. Vì Chúa đã Phục Sinh và đồng hành để giúp chúng con một ngày kia sẽ được Phục Sinh với Ngài muôn đời. Amen.
THỨ BẢY TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH – Mác-cô 16,9-15
Đức Giêsu Phục Sinh Hiện Ra Với Các Môn Đệ
Thánh Phao-lô viết cho Giáo đoàn Cô-rin-tô: “Đức tin của anh em không dựa vào lẽ khôn ngoan của người phàm, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa” (1 Cr 2,5). Lời khẳng định này của thánh Phao-lô làm ta nhớ lại nghi thức trước khi làm phép rửa tội cho các dự tòng. Vị chủ sự hỏi? ACE xin gì cùng Hội Thánh Chúa? Người dự tòng: Thưa, con xin đức tin. Chủ sự: Đức tin sinh ơn ích gì cho ACE? Người dự tòng: Thưa đức tin đem lại cho con sự sống đời đời. Quả thật, vấn đề của đức tin không phải bởi sức riêng của con người do học hỏi, nghiên cứu mà có được, nhưng nó dựa vào quyền năng của Thiên Chúa.
Tin Mừng hôm nay cho thấy chỉ có 7 câu nhưng đã bốn lần đề cập đến đức tin của các môn đệ. Hai lần các ông đã không tin bởi các nhân chứng Phục Sinh của Chúa đó là bà Ma-ri-a Mác-đa-la và hai môn đệ trên đường Em-mau sau khi đã được gặp Chúa Phục Sinh, và hai lần Chúa khiển trách các ông đã không tin vì cứng lòng bởi không tin những kẻ đã được thấy Người. Các Tông Đồ vốn là những môn đệ thân tín nhất mà lại bị khiển trách về sự cứng lòng tin. Điều đó cho thấy đức tin chính là món quà mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta để nhận biết Ngài hơn và để hiểu được mầu nhiệm về cái chết và sự Phục Sinh của Ngài. Đức tin không phải là cái gì đó ta đang sở hữu.
Nhiều người trong chúng ta có thể nghĩ rằng họ có đức tin bởi vì được sinh ra từ cha mẹ Công giáo, đã được rửa tội khi còn là trẻ sơ sinh. Thế nên đức tin như một thứ gì đó vốn có và ta nói về cũng như tự hào là người có đức tin một cách hết sức tự nhiên. Và đôi khi còn sống ngược với những gì mình tin và mình tuyên xưng nữa, vì ta lầm tưởng rằng đức tin của mình là cái mình có và có quyền sở hữu nó theo ý riêng mình. Nhưng thực sự không phải thế. Nó có một chiều kích khôn lường thẳm sâu mà chỉ có nó ta mới đạt tới được sự sống đời đời. Vì vậy, có một thực tế là chúng ta không thể sở hữu món quà này theo ý riêng mình như chúng ta từng sở hữu những thứ khác. Đức tin nói lên rằng chúng ta được Thiên Chúa chiếm hữu, được Ngài đưa ta vào huyền nhiệm sự sống và sự Phục Sinh của Ngài.
Vì thế, sự đi kèm với ơn đức tin đó là sứ vụ: “Anh em hay đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (c.15). Sứ vụ này chính là điều mà chúng ta đã đón nhận nhưng không, ơn mà Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ta nhận biết Đấng Phục Sinh và Ngài sẽ dẫn đưa ta vào nguồn sống Phục Sinh với Ngài. Đó là ơn vô giá của đức tin nên cũng phải có trách nhiệm nối dài bàn tay của Chúa ra đi loan báo cho mọi người về Đấng Phục Sinh.
Đức giáo hoàng Benedict XVI Trong bài giảng về Kết Thúc Năm Thánh Thể (23/10/2005) đã nói: Tinh thần Thánh Thể phải là động lực bên trong của mọi hoạt động và không có sự phân đôi nào được chấp nhận giữa đức tin và cuộc sống trong sứ mệnh truyền bá tinh thần của Kitô giáo trên thế giới.
Tuy nhiên, người môn đệ đi loan báo Tin Mừng của Chúa không phải là không có những khó khăn, chông gai, thập giá và sự chống đối. Hình ảnh của người môn đệ đi loàn báo Tin Mừng Phục Sinh đầu tiên là Ma- ri-a Mác-đa-la đã bị từ chối, không ai tin vào cô, kể cả những môn đệ thân tín của Chúa. Vì có lẽ họ hay nhìn đến quá khứ của cô, một người đã từng bị bảy quỷ ám. Đó, sự khước từ còn đến từ những người quen thân, những người luôn tự cho mình là trong sạch hơn người.
Sự cứng lòng cùng với cái nhìn không thiện cảm của người khác dễ làm cho người môn đệ nản lòng, nhưng những ai có ơn đức tin thực sự và có những kinh nghiệm đức tin trong tương tác với Chúa Phục Sinh, thì đức tin của họ sẽ được củng cố bởi ơn Chúa luôn đồng hành, và được sự trợ giúp nếu họ ra đi trong sứ vụ mà Chúa giao phó. Thêm nữa, theo Thánh Âu-gút-ti-nô: “Đức tin là tin vào những gì chúng ta không thấy và phần thưởng của đức tin là nhìn thấy những gì chúng ta tin.” Vì vậy, người đi gieo trồng đức tin cũng phải là người biết chờ đợi, biết sống trong hy vọng, biết phó thác cho Đấng có quyền làm cho những hạt giống chúng ta gieo được mọc lên và bội thu.
Lạy Chúa Giêsu, như các môn đệ xưa, chúng con quá cứng lòng tin, xin Chúa đến và ban ơn củng cố đức tin của chúng con để chúng con có thể trở thành tông đồ của đức tin và sẵn sàng ra đi rao truyền Tin Mừng Phục Sinh của Chúa cho mọi người. Amen.