SUY NIỆM NGÀY TRONG TUẦN, TUẦN II MÙA CHAY – LM M. Basilio Nguyễn Văn Phán

06/03/2023

THỨ HAI TUẦN II MÙA CHAY – Lu-ca 6,36-38

Anh Em Hãy Tha Thứ, Thì Sẽ Được Thiên Chúa Thứ Tha

 

Trong một bệnh viện tâm thần, một phóng viên kiên quyết đã hỏi bác sĩ phụ trách làm thế nào họ biết nếu một người đã “bình thường”. Bác sĩ nói: “Chúng tôi làm bài kiểm tra qua bồn tắm. Đó là, chúng tôi đổ đầy nước vào bồn tắm và đưa cho bệnh nhân một cái muỗng, cốc và xô và yêu cầu anh ta đổ sạch nước khỏi bồn tắm.

Aha Aha! Dĩ nhiên, một người bình thường sẽ sử dụng cái xô, phải không? “Không!” ‘Một người bình thường’ sẽ chỉ cần rút phích cắm cống! Bạn có muốn một phòng hay một nơi biệt giam ở đây không?

Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài phải có lòng trắc ẩn, không phán xét, không lên án, tha thứ cho những lỗi lầm và quảng đại khi đánh giá người khác. Thực tế, có một số tình huống trong cuộc sống, người ta không thể thoát khỏi nghĩa vụ đưa ra phán xét, ngay cả về tính cách đạo đức của người khác. Cha mẹ, vợ chồng, chủ nhân, thẩm phán dân sự, người quản lý và những người có thẩm quyền, tất cả đều có nghĩa vụ nhận định rõ về một sự dữ phải bị lên án. Chính Chúa Giêsu đã làm như vậy. Tuy nhiên, giáo huấn của Chúa Giêsu cảnh báo chống lại việc tiếm quyền phán xét cuối cùng của Thiên Chúa, chỉ một mình Người nhìn thấu trái tim con người. Và dưới sự phán xét của Thiên Chúa, người ta phải công nhận phán đoán của mình chỉ là phỏng đoán, là mảnh phần và không thỏa đáng.

Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” Chúa Giêsu ra lệnh cho các môn đệ phải có lòng nhân từ, xót thương như Chúa Cha, nghĩa là thái độ của Thiên Chúa phải trở thành thái độ của các Kitô hữu. Phải đối xử với người khác như Thiên Chúa đã đối xử với mình.

Đây không phải là một lựa chọn thái quá mà là một nghĩa vụ của các môn đệ Chúa Kitô. Hơn bao giờ hết, thế giới ngày nay có rất nhiều linh hồn đang cần đến tình yêu và lòng thương xót của Chúa Giêsu, là môn đệ của Ngài, ta được mời gọi làm chứng nhân sống cho lòng thương xót và tình yêu đó. Và cũng là trách nhiệm của các Kitô hữu vì họ là hình ảnh sống động và mang danh hiệu của Chúa Kitô.

Không xét đoán, không lên án, không đồng nghĩa với sự nhu nhược yếu đuối. Nhưng các Kitô hữu được Chúa Giêsu mời gọi đừng để cho bản năng và sự kiêu hãnh xỏ mũi dắt đi, vì những điều này chỉ dẫn người ta đến sự kết án, nhưng hãy đi theo con đường đức hạnh, yêu thương và tha thứ. Không ai muốn bị lên án cả. Kẻ tội lỗi nào cũng muốn trải nghiệm sự tha thứ của Thiên Chúa. Thế nên Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ của Ngài là mỗi người chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12).

Hãy tha thứ cho lỗi lầm của người khác. Đây là vấn đề rất quan trọng, vì nếu người ta không tha thứ cho người khác, thì họ cũng sẽ không thể trải nghiệm tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Thực sự, tha thứ là quyền năng của Thiên Chúa, nhưng Ngài cho ta được tham dự vào đó là để tự giải thoát cho chính mình, vì kẻ nào xây nhà tù để nhốt kẻ thù của mình vào trong đó thì suốt ngày phải canh chừng kẻ thù của nó mà không có thời giờ nghỉ ngơi. Còn kẻ thù của nó cứ ăn ngon ngủ yên, nhưng nó phải thức để canh! Chúa trao cho ta chìa khoá để mở cửa cho kẻ thù cũng là giải phóng cho chính mình, chìa khoá đó là tha thứ. Thêm nữa, thánh Phao-lô tông đồ còn cho thấy, khi chúng ta từ chối tha thứ, chúng ta thực sự sẽ tạo cho Sa- tan một chỗ đứng trong cuộc sống của mình (x. 2Cr 2,10-11).

Hãy hào phóng trong việc đánh giá về người khác để nhân cách của mình được triển nở hơn trong đời sống đức tin. Thánh Phaolô khuyên nhủ chúng ta: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe… phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.” (Ep 4,29.32).

Câu chuyện của hai lái buôn đi trong sa mạc. Salmat và Aran. Salmat muốn chia 4/6 vì lạc đà chở hàng là của anh, Aran muốn 4,5/5,5 nhưng Salmat không chịu bèn nói mỉa bằng câu chuyện hai thợ săn chia con quạ và con thỏ. Aran buồn đã viết lên cát: ‘Hôm nay người bạn thân của tôi đã xúc phạm tôi.’

Hôm sau, Aran bị chết đuối, được Salmat cứu. đêm đến anh đã âm thầm lấy dao khắc lên cây gỗ: hôm nay người bạn thân đã cứu sống tôi.

Salmat thấy điều đó bèn hỏi tại sao và được Aran trả lời: những buồn phiền lầm lỗi của người khác thì viết lên cát để gió cuốn đi, còn lòng tốt thì khác trên gỗ để không có gì xóa đi được, Almat cảm động và đã quyết định chia 5/5 số lãi của chuyến hàng đó.

ӷ

 

 

THỨ BA TUẦN II MÙA CHAY – Mát-thêu 23,1-12

Các Kinh Sư Và Người Pha-ri-sêu Giả Hình

 

Người xưa có câu “Đức xứng kỳ danh”. Muốn có danh thơm tiếng tốt thì ta phải thực sự tích được nhiều công đức, làm được nhiều việc thiện cho đời. Như vậy, người ta tôn kính mình mới xứng đáng.

Chứng kiến cảnh các kinh sư và nhứng người Pha-ri-sêu là tầng lớp lãnh đạo về tinh thần của người Do Thái. Họ muốn tỏ ra mình là những nhân vật đáng kính, tri thức hơn người, thế nên có không ít những hành động lố bịch, vị hình thức, thích khoe mẽ, thích ngồi chỗ nhất trong hội đường, trong các đám tiệc, thích đeo các thẻ kinh thật to và nối dài tua áo làm ra vẻ đạo đức, ngõ hầu được người ta chào hỏi tôn kính nơi công cộng dưới danh hiệu là những vị thầy của thiên hạ. Vì vậy Chúa Giêsu nhân cơ hội này đã dạy cho các môn đệ một bài học: “Phần anh em thì đừng để ai gọi mình là Ráp-bi, nghĩa là thầy, vì tất cả anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời…” (c. 8-12)

Dựa trên những lời dạy này của Chúa Giêsu, không ít những thắc mắc mà chúng ta thường nghe, đặc biệt từ phía những người anh em tin lành. Họ cho rằng các tu sĩ Công Giáo bắt giáo dân gọi là thầy, những linh mục gọi là cha, các giám mục thì gọi là Đức Cha… điều này không hợp với Kinh Thánh.

Đó là một cách hiểu Lời Chúa theo nghĩa đen mà không lột tả hết bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay. Điều chính yếu Chúa Giêsu muốn dạy các mộn đệ của Ngài là đừng tìm danh lợi hư ảo, thích được người ta tôn vinh theo hình thức bên ngoài mà không giữ đúng vai trò của mình, là “muốn làm lớn hơn cả phải là người phục anh em.” Sự phục vụ không để tìm lợi lộc trần thế để được người ta tôn vinh, vì “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.” Và Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Ngài phải tập trung vào một vị Thầy duy nhất là chính Ngài, đấng đến hiến thân phục vụ cho con người và tự hủy mình ra không để vâng phục cho đến chết trên cây thập tự (x. Pl 2,5-11). Để nên giá cứu chuộc cho loài người, để tôn vinh Thiên Chúa là Cha của Ngài và cũng là Cha của chúng ta. Vì vậy, hiểu theo nghĩa này thì tiếng gọi ‘Cha’ chỉ dành cho Thiên Chúa là Cha và ‘Thầy’ cũng chỉ có một thầy duy nhất là Đức Kitô.

Nhưng một cách nào đó trong cách xưng hô theo thông tục của trần gian thì người dạy cho chúng ta học biết kiến thức chúng ta gọi là gì cho phải phép ngoài chữ ‘thầy’. Và theo cách giáo dục thì các tu sĩ quả xứng đáng được gọi là thầy vì họ không chỉ giảng dạy giáo lý mà còn làm gương sống động cho người khác về đời sống đức tin.

Cũng thế, người ta gọi đấng sinh thành của mình là cha mẹ. Vì sao? Vì họ sinh ra mình và đó là ngôn ngữ đẹp và xứng đáng dành cho họ. Vai trò làm cha ở đây cũng bắt nguồn từ tình phụ tử nơi Thiên Chúa đấng tạo dựng nên con người, các bậc cha mẹ cũng cộng tác trong việc sinh ra các sinh linh mới. Thế nhưng, các linh mục đâu có sinh ra ai mà người ta lại gọi là cha? Quả thật, về thể lý thì không, nhưng gọi cha ở đây theo nghĩa thiêng liêng, mà thánh Phao-lô đã viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Tôi viết các lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em như những người con yêu quý của tôi. Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em.” (1Cr 4,14-15). Thêm nữa, trong thư gởi tín hữu Ga-lát thánh Phao-lô còn khẳng định việc sinh ra các tín hữu cách đau đớn như một người phụ nữ sinh con: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em” (Gl 4,19). Như vậy vai trò ‘cha’ ở đây là nhờ Tin Mừng mà các linh mục đã sinh ra và chăm sóc các tín hữu trong Đức Kitô. Vì vậy mà được người ta tôn kính và gọi là cha, và là Đức Cha nếu là các Giám mục.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta rằng, không có ai trên mặt đất này xứng đáng là “Cha” của chúng ta theo nghĩa người cha tối thượng, chúng ta chỉ có một Cha là Cha Trên Trời. Và cũng chỉ có một Thầy duy nhất là mẫu gương hoàn hảo mà chúng ta phải học theo đó là Đức Kitô.

Nhưng theo trật tự của thế gian thì chúng ta gọi người sinh ra mình là cha và người dạy dỗ chúng ta là thầy thì cũng không có gì sai trái. Nhưng riêng với các Linh mục và các tu sĩ, cũng luôn phải nhớ rằng, ‘đức xứng kỳ danh’, danh xưng mà người ta gọi mình thì các ngài cũng cần sống sao cho xứng đáng với những gì mà người ta dành cho mình. Hay nói đúng hơn phải thực sự thể hiện được hình ảnh của Chúa Giêsu là một vị Thầy kiêm nhường, và hiền hậu. Hình ảnh của Chúa Cha là đấng giầu lòng thương xót, để không chỉ xứng đáng với danh hiệu người ta dành cho mình mà còn là mẫu gương trong việc dẫn người ta đến với Chúa Cha, bằng con đường bình an, niềm vui, sự công chính, thánh thiện và hạnh phúc đích thực. Con đường hạ thấp chính mình như một người tôi tớ, phục vụ và hy sinh. Đó là con đường mà Chúa Giêsu đã đi và muốn chúng ta tiếp bước theo Ngài vào cõi vinh quang.

Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, ngày nay cũng không thiếu những hình ảnh của các kinh sư và các Pha-ri-sêu giả hình trong hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội. Gần đây, nhưng điều đáng tiếc xẩy ra, nhưng scandal của hàng giáo sĩ cũng như những lạm dụng xẩy ra đây đó. Trước tình cảnh này, chúng ta cũng cách nào đó thực lòng sám hối và cầu nguyện cho các nạn nhân, nhưng đàng khác, chuyện trắng đen hư thực thế nào chỉ có Chúa biết rõ, đấng đọc được trái tim của con người, chỉ một mình Ngài là thẩm phán xét xử. Chúng ta chỉ biết cầu nguyện cho các vị và xin Chúa chữa lành mọi chi thể của chúng ta ở khắp nơi đang đau yếu. Amen.

 

THỨ TƯ TUẦN II MÙA CHAY – Mát-thêu 20,17-28

Lời Cầu Xin Của Bà Mẹ Hai Ông Gia-cô-bê Và Gio-an

 

Bác sĩ tâm thần nổi tiếng, Tiến sĩ Karl Menninger đã có một bài giảng về sức khỏe tâm thần, sau đó, một khán giả hỏi ông rằng, ông sẽ đề nghị một người làm gì trong trường hợp nghi ngờ bị suy nhược thần kinh. Mọi người đều nghĩ rằng Tiến sĩ Menninger sẽ tư vấn như một biện pháp phòng ngừa khi đến gặp bác sĩ tâm thần. Thay vào đó, ông trả lời: Khóa chặt nhà của bạn, đi đến phía bên kia của đường ray xe lửa và tìm người cần giúp. Sau đó làm một cái gì đó để giúp đỡ họ. Đặt mình trong cuộc sống của những người khác. Tôi chắc chắn đây là phương thuốc tốt nhất cho chứng suy nhược thần kinh, buồn chán và những cảm giác không tốt khác.

Tin Mừng hôm nay, các tông đồ khác phẫn nộ với Gia-cô-bê và Gio-an vì mẹ của họ, thay mặt cho hai con trai của bà, cầu xin Chúa Giêsu cho hai con trai của bà sẽ ngồi bên trái và phải của Ngài. Trong Phúc Âm của Thánh Mác-cô 10, 35tt. Không đề cập đến sự can thiệp của người mẹ mà chính Gia-cô-bê và Gio-an đã xin với Chúa Giêsu. Đáng buồn thay, các tông đồ nổi giận với hai người này không phải vì thất vọng mà bởi vì, chúng ta có thể tìm thấy trong các đoạn Phúc Âm khác, rằng họ có cùng tham vọng với hai người này. Nhưng vì Gia-cô-bê và Gio-an đã xin trước họ.

Qua việc cầu xin của Gia-cô-bê và Gio-an, Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ của Ngài thấy phải làm thế nào để trở nên thực sự vĩ đại, đó là bằng con đường phục vụ như Ngài, Đấng đã đến để phục vụ người khác và trao nộp chính mình cho lợi ích của họ. Ngài mời gọi các môn đệ hãy trở nên giống như Ngài, không phải là ngồi bên tả hay bên hữu nhưng là trở nên một Giêsu Kitô khác cho nhân loại bằng cách phục vụ như Ngài đã phục vụ.

Giáo huấn của Chúa Giêsu về tinh thần phục vụ:

Đầu tiên, người ta vĩ đại khi phục vụ. Khi Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II qua đời, rất nhiều người hành hương đã cùng nhau kéo đến để kính viếng thi thể của ngài. Và lịch sử cho biết, ngài là người đã chịu đựng rất nhiều đau khổ cả về thể chất và tinh thần trong những năm cuối đời. Ngài đã phục vụ Giáo Hội và Thiên Chúa hết sức có thể và đã mang lại một diện mạo hoàn toàn mới cho triều đại giáo hoàng của ngài. Nhiều người đã gọi ngài là “Vĩ Đại”, là người tuyệt vời. Ngài vĩ đại không chỉ vì những gì ngài viết, những bài diễn văn mà ngài đã đọc, và những chiến công đáng kinh ngạc mà ngài đã đạt được khi làm Giáo hoàng. Nhưng ngài thật tuyệt vời, thật vĩ đại vì ngài thực sự đã thuộc nằm lòng đoạn văn Phúc Âm hôm nay rồi mang vào hành động, phục vụ anh chị em của mình.

Thứ hai, đặt lợi ích của người khác trên lợi ích của mình. Thiên Chúa yêu cầu phục vụ người khác và đặt bản thân mình rốt hết. Đòi hỏi này không hàm ý người ta phải làm bất kỳ chiến công ngoạn mục nào về đức hạnh hay hiến mạng sống mình cho Chúa Kitô trong sự tử đạo. Ngài chỉ yêu cầu người môn đệ phải là người tìm kiếm lợi ích hợp pháp của người khác trước lợi ích của chính mình. Phục vụ những người xung quanh, mang Chúa Kitô đến cho họ thông qua sự phục vụ khiêm nhường của chúng ta, đó là sứ vụ của người môn đệ Chúa. Những điều này đôi khi chỉ thể hiện cách rất đơn giản như nở một nụ cười, một lời nói tử tế hoặc một hành động bác ái trong khi tiếp xúc với những người khác, đó có thể đã thực sự thể hiện tốt điều mà Chúa muốn nơi các môn đệ của Ngài là mỗi chúng ta. Nói như Thánh giáo hoàng Gio-an Phao-lô II luôn xác tín mình là ‘tôi tớ của mọi tôi tớ’.

Cuối cùng, bài học phục vụ từ cây vĩ cầm vĩ đại. Một câu chuyện có thật được kể bởi J.K. Laney, Marching Order (tr.34) Nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại, Niccolo Paganini đã đưa cây vĩ cầm tuyệt vời của mình đến thành phố Genève với điều kiện không bao giờ được chơi. Gỗ của một nhạc cụ này, trong khi được sử dụng mới chỉ mòn một chút ở chỗ tay cầm, nhưng khi đặt để chưng bày trong bảo tàng không dùng đến, nó bắt đầu phân hủy. Cây vĩ cầm đáng yêu của Paganini, ngày nay đã trở thành mồi cho mối mọt và trở nên vô dụng, ngoại trừ được giữ lại như một di tích.

Bài học đạo đức của câu chuyện này kêu mời chúng ta nhìn lại rằng, nếu người môn đệ của Chúa Kitô mà không sẵn lòng phục vụ, mà chỉ muốn đặt trưng bày ở nơi trang trọng thì chính là lúc chúng ta đang sớm phá hủy những khả năng hữu ích của chính mình, và sẽ trở nên vô dụng.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin cho chúng con hiểu được giá trị của người môn đệ đi theo Chúa không phải là để ngồi chỗ này chỗ nọ, mà là để trở nên giống Chúa trong khiêm tốn và phục vụ. Và chính lúc vui vẻ hăng say phục vụ, chúng con được ngồi gần bên Chúa hơn khi nào hết vì chúng con được trở nên giống Chúa, nên chứng nhân của Ngài giữa lòng nhân loại. Amen.

ӷ

 

 

THỨ NĂM TUẦN II MÙA CHAY

16,19-31

Dụ Ngôn Người Giàu và Lazarô

Câu chuyện về một doanh nhân ở Trung Tây Hoa Kỳ, người đã giấu tên trong việc đóng góp hơn 600 triệu đô-la cho các trường đại học, trung tâm y tế, tổ chức từ thiện và những người được thụ hưởng khác trong hơn mười lăm năm. Khi một số thủ tục về pháp lý của tài khoản ngân hàng, danh tính của ông ta được biết đến, một người bạn mô tả ông ta là một người đàn ông thậm chí không sở hữu một ngôi nhà hoặc một chiếc ô tô, luôn mua vé máy bay hạng phổ thông và đồng hồ đeo tay trị giá 15 đô-la. Ông giải thích sự hào phóng của mình bằng những từ ngữ đơn giản khi nói: “Tôi đã quyết định, tôi có đủ tiền và tôi nghĩ tốt nhất nên chia sẻ nó vì lợi ích của nhiều người không có điều kiện hưởng lợi từ nó. Dù sao đi nữa, khi chúng ta chết, chúng ta không thể mang bất cứ điều gì lên thiên đàng.”

Quả thật, ông ta không phải mất trí như nhiều người nghĩ, ông đã cho đi cái mà ông ta không thể giữ mãi, và đã gởi tới nơi mà không thể nào mất được. Điều này trái ngược với người đàn ông giàu có trong Phúc Âm mà chúng ta vừa nghe, mối quan tâm của anh ta là quần áo đẹp và yến tiệc linh đình mỗi ngày.

Câu chuyện dụ ngôn của Tin Mừng nói về La-da-rô và người đàn ông giàu có. Chúa Giêsu đã vẽ nên một khung cảnh tương phản đầy kịch tính: giàu sang và nghèo khó, thiên đường và địa ngục, lòng trắc ẩn và sự thờ ơ, bao bọc và loại trừ. Chúng ta cũng thấy một sự đảo ngược đột ngột và kịch tính của phúc lợi. La-da-rô không chỉ là người nghèo, mà còn mụn nhọt đầy mình, bất động, nằm ở cổng nhà của người đàn ông giàu có. Những con chó liếm vết lở loét của anh ta vì dường như anh ta không còn khả năng để xua đuổi chúng.

Chó trong thế giới cổ đại tượng trưng cho sự khinh miệt. Chịu đựng sự quấy nhiễu của những con chó man rợ đến liếm những vết thương này làm sự tăng phần khốn khổ và đau đớn nơi thân xác của La-da-rô. Trước cảnh tượng này, với một con người bình thường chắc chắn phải có một chút rung động hay một chút cảm thương! Thế nhưng người đàn ông giàu có hoàn toàn vô tâm; đối xử với người ăn xin bằng sự khinh miệt và thờ ơ, cho đến khi anh ta thấy vận may của mình bị đảo ngược.

Vào cuối đời, La-da-rô ở trong lòng của Áp-ra-ham, không phải vì anh ta nghèo, bệnh tật và mất năng lực, mà vì anh ta đã không mất hy vọng vào Chúa. Tên của anh ta là La-da-rô có nghĩa là, ‘Chúa là sự trợ giúp của tôi’, mặc dù người đời khinh dể coi là không đáng giá, thì đôi mắt của anh vẫn đặt trọn niềm cậy trông vào một kho báu được cất giữ cho anh trên thiên đàng.

Trong khi người đàn ông giàu có quằn quại rên siết trong đau khổ ở dưới địa ngục, tại sao? Thật ra anh ta không quấy rối La-da-rô; Anh đau khổ không phải vì ăn vận xa xỉ. Anh ta đau khổ vì giống như nhiều người trong chúng ta, anh ta không làm gì để cuộc sống của La-da-rô sẽ trở nên tốt đẹp hơn; anh không làm gì về quyền lợi của người nghèo và không giúp đỡ họ; anh vô cảm và thờ ơ. Anh đã không biết nhìn xa hơn nhu cầu của bản thân, về phẩm giá của những con người đang tồn tại chung quanh mình. Anh ta không ý thức rằng; những của cải của mình là do Chúa ban và mình phải có nghĩa vụ sử dụng nó để làm tôn vinh Thiên Chúa, bằng cách thể hiện sự quan tâm đến những người xung quanh, đặc biệt là người nghèo đói bệnh tật.

Giá trị thực sự của tiền của không phải là chỉ giữ cho riêng mình, mà là sử dụng nó vì lợi ích của người khác. Khi không thể nhìn thấy gì ngoài kho báu vật chất của mình, anh phú hộ đã đánh mất Thiên Chúa vì không thi hành ý muốn của Ngài, cũng là đánh mất đi kho báu của thiên đàng vì anh chỉ bận tâm tìm kiếm hạnh phúc nơi trần gian. Anh ta đã phục vụ sự giàu có hơn là Thiên Chúa. Nói cách khác, anh ta phạm tội bỏ sót điều căn bản, không phải không làm hại ai, không xúc phạm đến ai, không trộm cắp và ăn gian nói dối. Nhưng anh ta quên một nguyên tắc vàng là. “Có thể cứu sống mà không cứu là giết chết.” Theo ấn bản năm 1917 của bách khoa toàn thư Công giáo rằng: tội lỗi của sự bỏ sót được cho là sự thất bại trong việc làm, một việc mà người ta có thể và nên làm. Nó không chỉ đơn thuần là vì, một người ở đây và bây giờ không làm gì để xúc phạm đến người khác, mà vì anh ta bỏ bê hành động trong những hoàn cảnh mà anh ta có thể và nên hành động.

Sau cùng, câu nói như một châm ngôn luôn nhắc nhở chúng ta là: “Tiền là một ông chủ tồi và là một tên đầy tớ hữu dụng.” Ước gì chúng ta không tôn thờ tiền bạc như ông chủ của mình, chỉ lo cất dành cho mình cho những ai mình yêu thích, chỉ lo làm đẹp, sung sướng cho bản thân  ở đời này, mà biết dùng nó như một tên đầy tớ trong việc phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt những người đang đói khổ và cần đến sự quan tâm giúp đỡ của chúng ta. Amen.

ӷ

 

THỨ SÁU TUẦN II MÙA CHAY- Mát-thêu 21,33-43.45-46

Dụ Ngôn Các Tá Điền Thuê Vườn Nho

 

Hôm nay Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về vườn nho để diễn tả lòng nhân từ của Thiên Chúa với dân của Ngài, đồng thời cũng cho thấy con người ích kỷ nhỏ nhoi nhưng đầy tự phụ của mỗi chúng ta.

Vườn nho là hình ảnh rất quen thuộc ở Palestin, ở đây có rất nhiều vườn nho, và việc các chủ sở hữu cho thuê bất động sản của họ cho người khác canh tác là điều khá phổ biến. Và các chủ vườn sẽ nhận được tiền cho thuê vào đúng thời điểm nhất định trong năm. Tại sao câu chuyện của Chúa Giêsu về những người thuê vườn độc ác lại gây ra một cú sốc đối với các kinh sư và người Pha-ri-sêu? Họ đã cảm thấy bị xúc phạm bởi vì nó chứa cả một thông điệp tiên tri và lời cảnh báo. “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi”. Lời kết án Người con thừa tự của ông chủ cũng chính là lời kết án dành cho Chúa Giêsu trong một tương lại gần bởi những nhà lãnh đạo của dân Chúa. Các Kinh Sư và những người Pha-ri- sêu khi nói về vườn nho là họ hiểu ngay Chúa Giêsu muốn nói về dân tộc Do Thái như trong Thánh Vịnh: “Gốc nho này Chúa bứng từ Ai Cập, đuổi chư dân lấy chỗ mà trồng” (Tv 80,9). Và họ là những người đại diện chăn dắt dân chúng cũng chính là các tá điền trong dụ ngôn. Và lời tuyên bố thẳng thắn không úp mở: “Tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”. (c.43)

Dụ ngôn vườn nho nói gì với mỗi chúng ta ngày nay?

Thông điệp của dụ ngôn này cho ta biết một số sự thật quan trọng về Thiên Chúa và cách Người đối xử với dân của Ngài. Đó là sự hào phóng và tin tưởng của Chúa. Vườn nho được trang bị tốt với tất cả mọi thứ cần cho người thuê. Người chủ đi xa và để lại vườn nho trong tay người thuê. Chúa cũng vậy, Ngài tin tưởng con người đủ để cho họ tự do điều hành cuộc sống và chọn hướng đi cho mình, công chính theo thánh ý Ngài hay bất lương theo thói thế gian.

Từ dụ ngôn, nói nên cách thức hành động của Thiên Chúa thật lạ lùng và không có gì để diễn tả sự khác biệt với cách hành động của con người. Một Thiên Chúa nhân từ, kiên nhẫn và thương xót bao nhiêu thì con người lại bất công, tham lam và gian dối bấy nhiêu. Nhưng đây cũng là lời mời gọi và thức tỉnh những người tín hữu thay đổi đời sống, và bắt chước cách hành sử của Thiên Chúa để đối sử cách kiên nhẫn, nhân từ và đầy lòng thương xót với những người anh em đồng loại của mình. Mặc dù con người yếu đuối nhưng với sự cố gắng và ơn Chúa giúp, hy vọng chúng ta có thể bắt chước các mô hình thiêng liêng của việc tìm kiếm và giúp đỡ những người cần đến mình. Nhậy cảm với những người muốn tìm đến ơn cứu rỗi nhưng họ không biết phải bắt đầu từ đâu. Đó cũng là nhiệm vụ của các tín hữu và đòi hỏi mình biết luôn mở rộng trái tim, mở rộng đôi tay và biến suy nghĩ của mình thành hành động bác ái yêu thương người khác. Dụ ngôn cũng cho biết về sự kiên nhẫn và công lý của Chúa. Không phải một lần, mà nhiều lần Ngài tha thứ cho những tá điền thuê vườn nho. Như được diễn tả trong lời thánh vịnh:

Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm.

Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình Chúa thương kẻ thờ người cũng trổi cao.

Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm, tội ta đã phạm Chúa cũng ném thật xa ta”. (Tv 103,10-12).

Vâng, tha thứ là một ơn nhưng không của Thiên Chúa, sự tha thứ liên tục và không giới hạn. Nó không lệ thuộc vào công trạng của con người, nó cũng không phải người ta có thể làm gì đó để được trả công, vì không có công trình nào của con người có thể nói là xứng đáng với ơn tha thứ vô biên của Thiên Chúa. Cho dù chúng ta có làm việc vất vả và đánh đổi cả mạng sống cũng không thể có được ơn tha thứ. Vì sự tha thứ của Thiên Chúa là tất cả do ân sủng nhưng không của Ngài.

Mặc dầu vậy, dụ ngôn này cũng có lời cảnh cáo rằng, những tá điền thuê vườn nho đã lợi dụng sự kiên nhẫn và tha thứ của ông chủ và cuối cùng sự phán xét và công lý vẫn phải thực hiện. Cũng thế nếu chúng ta thấy Chúa kiên nhẫn và chờ đợi thế mà cứ ỷ lại vào sự kiên nhẫn của Chúa, không ăn năn sám hối xin ơn tha thứ, không sửa đổi, tiếp tục ở trong tội, thì ngày ấy bất chợt ập đến, công lý của Chúa sẽ không bỏ sót một ai. Và kẻ thích ở lì trong tội sẽ phải đuổi ra ngoài vĩnh viễn. Thật khủng khiếp! Ước gì không ai trong chúng ta phải đối diện với công lý của Thiên Chúa, nhưng được dìm vào đại dương lòng thương xót và tha thứ của Ngài.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn cảm nhận được Chúa vô cùng nhân từ và thương xót, kiên nhẫn và tha thứ. Nhưng Chúa cũng là Đấng công thẳng vô cùng để trong hân hoan đến với Chúa chúng con cũng biết sửa đổi mình mỗi ngày. Amen.

ӷ

 

THỨ BẨY TUẦN II MÙA CHAY Lu-ca 15,1-3.11-32

Dụ Ngôn Người Cha Nhân Hậu

 

Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu thường quan tâm, chăm sóc, gần gũi những người tội lỗi. Nhóm Pha-ri-sêu và Kinh sư trách móc, xầm xì, phản đối. Đối với họ, việc làm của Chúa Giêsu là không đáng, bởi lẽ những kẻ tội lỗi là hạng vất đi. Nhưng đối với Chúa, người tội lỗi là người cần được yêu thương nâng đỡ hơn. Chúa đã dùng những dụ ngôn để trả lời những thắc mắc chất vấn của họ.

Tin Mừng hôm nay kể về dụ ngôn “Người cha nhân hậu”. Nội dung câu chuyện đều hướng đến tình Cha. Hình ảnh của người cha thật đẹp, có vẻ như khờ khạo một chút và cũng có thể nói thật tội nghiệp khi phải đứng giữa hai người con.

Hình ảnh người con thứ đòi chia tài sản rồi bỏ xứ ra đi. Không phải đi làm ăn xây dựng sự nghiệp mà là đi phung phí, ăn chơi trác táng cho đến khi thân tàn ma dại, không còn hình tượng gì nữa. Tính kiêu ngạo của nó đã dìm nó xuống tận đáy sâu của cái đói, đến nỗi nó muốn ăn của heo ăn cho đầy bụng nhưng không ai cho. Và chỉ đến cận kề của cái chết, trong thập tử nhất sinh, sự khao khát được tiếp tục sống bùng lên. Và lúc này nó mới nhớ đến cha của nó. Và cả trong ký ức thực sự nó cũng không nhớ nó có một người cha cũng như nó không nhớ nó đã từng làm con nữa!, mà chỉ ước ao được cái gì đó nhét cho đầy bụng nên nó nhớ ra một ông chủ đã từng đối xử tốt với các đầy tớ. Thế là nó ao ước được gia nhập vào đám đầy tớ của ông ta. Với một tờ đơn viết vội:

Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy’. May mà những lời trong tờ đơn này chưa được trình bày, nó chỉ kịp nói vế thứ nhất khi gặp cha nó là: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa” thì Người cha đã ôm lấy nó và xóa hết tội của nó. Nếu nó đọc hết lá đơn thì quả thật, nó đã đâm vào tim của cha nó thêm một nhát gươm nữa. Vì có bao giờ cha nó hết thương nhớ mong mỏi nó về đâu, có bao giờ dù chỉ là một giây hay một ý thoáng qua cha nó nghĩ nó là tôi tớ đâu! Nếu cha nó biết rõ nó đánh giá tình yêu của ông dành cho nó có giới hạn như vậy thì ông sẽ buồn biết chừng nào.

Trong sự hoang đàng của chúng ta, có nhiều người trên con đường trở về từ vực sâu của tội lỗi cũng đã vô tình lần nữa xúc phạm đến tình yêu vô biên của Thiên Chúa là Cha như vậy đó. Suy niệm đến đây tôi nhớ đến một người đàn ông mà tôi đã gặp. Anh ta là một người đạo gốc, trước năm 75 anh đã từng là nhị ca của một băng cướp. Khi có ai nói với anh ta về việc xưng tội, anh luôn khẳng định rất chắc chắn rằng: ‘Chúa sẽ không tha tội cho tôi đâu’. Câu nói chứa đầy sự thất vọng nhưng cũng ẩn chứa một sự cao ngạo nào đó khi mình tự lấy mình làm thước đo cho Thiên Chúa. Trong khi Ngài phán: “Tội các ngươi dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Hay “Ta không muốn tội nhân phải chết nhưng là muốn nó ăn năn trở lại để được sống” (x. Ed 13,22).

Hình ảnh của người con cả là biểu tượng của những người biệt phái. Hiếu thảo, vâng phục cha, không đi hoang, không ăn chơi. Anh là con người mẫu mực. Thế nhưng, biến cố đứa em trở về đã bộc lộ con người thật của anh. Tuy ở trong nhà cha nhưng lại xa trái tim cha. Tại sao cha đãi tiệc bê béo cho thằng con bất hiếu của cha, còn anh ta một con bê nhỏ để vui với bạn bè cũng không có? Anh tức giận vì thấy quyền lợi bị xúc phạm; Anh chẳng chịu vào nhà.

Hoá ra, cả hai người con vừa khác lại vừa giống nhau. Cả hai đều ở ngoài nhà cha. Con thứ không thấy hạnh phúc bên cha nên ra đi. Con cả không chia sẻ được hạnh phúc của cha nên không vào nhà. Anh thiếu bao dung và thiếu tha thứ cho em. Thái độ của người con cả là thái độ tiêu biểu của người biệt phái, luật sĩ hôm qua và hôm nay. Ích kỷ cho quyền lợi riêng mình. Tự mãn về cách giữ luật “con không hề trái lệnh cha một điều nào”, tự hào về cách sống đạo “không như thằng con của cha”. Tự hào tự phụ tuân giữ nghiêm nhặt lề luật, kiêu hãnh mình là người công chính mà khinh chê lên án những người khác. Chỉ muốn kẻ lỗi lầm không được cứu thoát mà phải chết.

Người Cha tội nghiệp lại hạ mình năn nỉ, anh chẳng chịu nghe. Cha bộc bạch tâm tình với anh: “Con ơi, mọi sự của cha đều là của con, chúng ta phải ăn mừng vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Lời cha làm anh bàng hoàng xúc động vì anh hiều rằng mình quá ích kỷ, quá nhỏ mọn. Cái ích kỷ làm anh tẩy chay sự trở về của đứa em. Cái nhỏ mọn làm anh xua tan lòng bao dung của cha. Tình cha lớn hơn cuộc đời anh, lớn hơn tính ích kỷ trong anh. Anh không hiểu được rằng, tài sản lớn nhất của người cha là hai đứa con chứ không phải là những vật chất ông đang có.

Hình ảnh người con cả thật gần với chúng ta. Phụng dưỡng cha mẹ với trách nhiệm, chứ chưa phải là tình thương. Không chia sẻ nỗi buồn, nỗi khổ tâm, nỗi âu lo của cha mẹ. Chỉ biết than trách và đòi quyền lợi cho mình thật nhiều. Ghen tị, chỉ trích phê bình, đặt mình là tiêu chuẩn cho mọi việc đạo đức. Thiếu lòng bao dung, không chịu tha thứ. Hình ảnh đó thật giống tinh thần biệt phái, có đạo mà không có đức.

Cả hai người con cần phải trở về. Sám hối chính là trở về với tình cha, trở lại với người anh em.

Chúng ta thấy người cha đã tha thứ cho người con thứ trước khi nó tự thú. Cha vui “vì đứa con đã chết nay sống lại, đã mất nay tìm thấy”.

Người cha cũng nói với người con cả bằng cung giọng thật trìu mến: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha. Tất cả những gì của cha đều là của con… Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Người cha muốn giúp con trai khám phá chiều kích tha thứ của tình yêu. Tình cha là lời mời gọi vượt qua thái độ duy luật, mở rộng tấm lòng trước tình thương yêu.

Dung mạo người cha đó, chính là Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương. Thái độ người cha đối với hai đứa con là thái độ của Thiên Chúa đối với con người. Trong trái tim Thiên Chúa chỉ có tình thương. Người không nhớ đến tội lỗi con người.

Cha yêu con dù con hư hỏng, bất trung. Cha yêu con không vì con ngoan, được việc. Cha yêu con chỉ vì con là con. Cha không muốn mất một đứa con nào. Thiên Chúa của Đức Giêsu mạc khải là người cha nhân hậu, hiền từ, bao dung, hay tha thứ.

Trong cuộc đời, cả hai người con trong dụ ngôn đều có mặt trong mỗi con người chúng ta. Nhiều lần ta hoang đàng bỏ Chúa để chạy theo những đam mê của thế gian. Thiên Chúa vẫn ngày ngày chờ đợi chúng ta trở về. Nhiều khi trong vai trò con cả, ta tưởng mình đạo đức nên lên án tẩy chay người khác. Giận hờn với Cha khi người em trở về, không chịu vào nhà. Cuộc trở về của người này lại làm cớ cho cuộc ra đi của người kia. Kẻ ra đi lại là kẻ trước đây coi như đàng hoàng! Thực đáng buồn khi thấy: chính Chúa mở rộng đôi tay đón ta trở về nhà Cha. Nhưng kẻ cản ta lại là một loại con nào đó của Chúa! Cần trở về với Cha, về với Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương. Sám hối là trở về với tình Chúa, với tình anh em. Sám hối là trở lại với tình yêu, niềm vui và sự sống.

Xin cho con nhận biết con là ai và nhận biết tình yêu của Chúa để con biết quay trở về trong nhà Cha muôn đời. Amen.

ӷ


Liên quan khác