THỨ HAI TUẦN I MÙA CHAY – Mát-thêu 25,31-46
Ngày Chung Thẩm
Thánh Âu-gút-ti-nô nói: “Về cơ bản, có hai loại người, vì có hai loại tình yêu. Một bên là thánh, còn lại là ích kỷ. Một bên lệ thuộc vào Thiên Chúa, bên còn lại tìm cách để ngang hàng với Ngài.”
Tin Mừng hôm nay vẽ nên một bức tranh về những gì sẽ xảy ra trong Ngày Chung Thẩm. Nhưng tôi tự hỏi tại sao đoạn Tin Mừng này được đặt vào đầu mùa Chay? Chắc chắn điều này là Giáo Hội muốn cung cấp cho các con cái Người một gợi ý tích cực để hoán cải và sửa đổi bản thân. Và cũng nhắc nhở rằng chính Chúa chắc chắn sẽ trở lại với tư cách là Thẩm phán tối cao và đây không phải là một chuyện xa vời. Mỗi người sẽ được xét xử riêng tư dựa trên tiêu chuẩn của tình yêu thực sự cụ thể qua những việc làm của lòng thương xót. Đó là chiên, chiên sẽ thừa hưởng cuộc sống vĩnh cửu vì chúng đáp ứng những đòi hỏi của Nước Trời, trong khi dê sẽ bị ném vào chỗ diệt vong vì chúng không đáp ứng những đòi hỏi tương tự.
Vào ngày phán xét là một sự phân ly không thể tránh khỏi. Ngày ấy sẽ tiết lộ những người đã thể hiện lòng trắc ẩn và lòng thương xót thực sự đối với người lân cận của họ. Chúa sẽ phán xét không chỉ dựa trên những sai lầm người ta đã làm mà còn dựa trên những gì người ta đã không làm. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu dạy chúng ta một bài học rất quan trọng về việc yêu thương người lân cận và có trách nhiệm với họ. Vì có thể cứu sống mà không cứu cũng có nghĩa là giết chết.
Dụ ngôn này tương tự như câu chuyện ngụ ngôn về La-za-rô và người đàn ông giàu có. Người đàn ông giàu có để mặc La-za-rô chết ngay trước cửa nhà, kẻ chỉ muốn được cho ăn những vụn bánh rơi xuống từ bàn của ông ta và ông ấy đã không hề quan tâm giúp đỡ anh ấy, vô cảm trước người nghèo!
Chuyện kể về Thánh Mác-tin của thành Tours (thế kỷ thứ 4), là người lính La-mã trẻ tuổi và là người tìm kiếm đức tin Kitô giáo, anh đã gặp một người đàn ông không có quần áo cầu xin bố thí trong thời tiết lạnh cóng. Anh dừng lại và cắt áo khoác làm hai và đưa một nửa cho người ăn xin. Đêm đó anh mơ thấy một phiên tòa mở ra trên trời với Chúa Giêsu đang mặc một nửa chiếc áo choàng của anh. Một trong những thiên thần có mặt hỏi Ngài: Lạy Chúa, tại sao Ngài mặc chiếc áo choàng chỉ có một nửa? Chúa Giêsu trả lời, tôi tớ của Ta Mác-tin đã giúp nó cho Ta. Và kết quả của thị kiến này Mác-tin đã đến để xin được rửa tội.
Chúa Giêsu muốn ta tìm thấy Ngài dưới bức màn của nhân tính về Con Người của Ngài, ngay cả khi Con Người đó đầy máu và quằn quại trong đau đớn. Nhưng Ngài cũng mong chúng ta gặp gỡ Ngài nơi người khác. Cho dù một số người ghê tởm có thể xuất hiện trước mắt ta như thế nào, Chúa Giêsu đồng nhất chính Ngài với tất cả những người cần được phục vụ. Đặc biệt là hàng ngày ở quanh ta, Chúa Giêsu, người tự nhận mình là người lầm lạc, những người rốt hết, bị chà đạp, chế nhạo và giết chết trong những bức tường sập sệ, và cuộc bi thương của kiếp nghèo. Bất cứ điều gì chúng ta đã làm cho họ, Chúa Giêsu nói rằng đó là làm cho chính Ngài, (c.40).
Thánh Têrêxa Calcutta nói rất hay: “Nếu đôi khi người nghèo của chúng ta phải chết vì đói, không phải vì Chúa không chăm sóc họ, mà vì bạn và tôi không phải là công cụ tình yêu trong tay Chúa, bởi vì chúng ta đã không nhận ra Chúa Kitô khi một lần nữa Chúa Kitô gặp nguy nan được ngụy trang dưới hình ảnh khác.”
Lạy Chúa Giêsu Kitô rất nhân từ và thương xót. Xin tuôn đổ trên con lòng xót thương của Chúa, để từ nay con biết đối xử với người lân cận của mình với lòng thương xót và tình yêu như Chúa Kitô đã đối xử với con. Amen.
ӷ
THỨ BA TUẦN I MÙA CHAY – Mát-thêu 6,7-15
Lời Cầu Nguyện Của Chúa
Kinh Lạy Cha là kinh duy nhất mà Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ cũng như cho mỗi người chúng ta. Một kinh khá vắn gọn nhưng đầy đủ những gì cần cho chúng ta trong mọi nơi, mọi lúc, và mọi hoàn cảnh khác nhau. Các học giả về đàng thiêng liêng đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để viết về Kinh này. Qua những suy tư thần học và những cảm nhận về đời sống nội tâm trong cầu nguyện khi dùng kinh Chúa dạy để thưa lên với Chúa Cha. Quả thật, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ có hiệu lực và chỉ biến chuyển nếu nó bắt chước lời cầu nguyện của Giêsu. Và đứng trong địa vị của Chúa Giêsu mà cầu nguyện.
Chứng kiến trước cảnh cầu nguyện theo kiểu những tư tế, kinh sư và biệt phái thời bấy giờ, họ thích nới rộng thẻ kinh và nối dài tua áo, thích cầu nguyện nơi công cộng và cách cầu nguyện lẩm bẩm lâu giờ của những người dân ngoại. Thực ra cầu nguyện lâu giờ thì tốt, trong những biến cố quan trọng, Chúa Giêsu đã lên núi cầu nguyện suốt đêm cùng Chúa Cha. Nhưng ở đây, những người Pha-ri-sêu muốn tỏ ra cho người ta biết là mình đạo đức, hơn là để tôn vinh Thiên Chúa, những người dân ngoại thì nghĩ nói nhiều sẽ được Chúa nhậm lời, nên Chúa Giêsu dạy các mộn đệ không nên làm như họ. Ngài nói: “Còn anh em, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng kín cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” (Mt 6,6).
Cầu nguyện trước tiên là để làm vinh danh Chúa Cha chứ không phải tìm vinh danh cho mình; “Chúng con nguyện Danh Cha được cả sáng,” nghĩa là Danh Thánh Cha được mọi người biết đến, được phổ biến rộng rãi trong nhân loại này, để nhờ đó mà người ta có cơ hội trở về với Đấng đã tác thành nên họ, là Cha và là Chúa tể trời đất, mà đến tôn thờ Ngài cho phải đạo. Và hơn nữa, Người Cha ấy không ở xa xôi trong tưởng tượng, nhưng xin cho Nước Cha trị đến, và Nước của Thiên Chúa đến giữa nhân loại khi người ta làm theo ý muốn của Ngài ở dưới đất cũng như ở trên trời. Cũng có nghĩa là Nước Trời không phải chờ khi nhắm mắt xuôi tay mới xuất hiện, mà ngay bây giờ đã hiện diện nơi trần gian. Nước Trời ấy chính là Đức Giêsu Kitô vì Ngài là hiện thân của Nước Trời, cùng với những người tin vào Ngài, và đang thực thi thánh ý của Chúa Cha.
Ý Chỉ thứ hai là chúng ta xin những gì chúng ta cần: Xin lương thực tinh thần và thể chất, Xin sự tha thứ và sức mạnh để vượt qua những cám dỗ mà chúng ta phải đối mặt hàng ngày. Cám dỗ quả thật không bao giờ vắng bóng trong đời sống Kitô Hữu, và chính Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ (x. Mt 4,1-11), nên Ngài dạy các môn đệ hãy cầu xin, hoặc hãy ở trong cầu nguyện để khỏi bị sa trước cám dỗ. Vì trong thân phận xác phàm của con người, không có ơn Chúa giúp, người ta không thể thắng được những sự tấn công của ma quỷ. Và một trong những cơn cám dỗ làm cho người ta dễ sa ngã và xa cách Thiên Chúa nhất, Chúa Giêsu cũng nêu ra trong Kinh này đó là lòng hận thù, không tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình. Tha thứ ở đây, như điều kiện để được đón nhận các ơn ban, mà Chúa Giêsu đã dạy. Chúng ta cầu xin, nhưng điều kiện để được Chúa ban ơn là chỉ sau khi chúng ta thực hiện sự tha thứ cho người khác. Nơi khác, Ngài còn dạy: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5,23-24).
Kinh Lạy Cha là lời kinh không chỉ để đọc, mà còn mạc khải cho chúng ta một mối tương quan của mình với Thiên Chúa, và là kim chỉ nam để hướng dẫn chúng ta biết gắn liền cầu nguyện với đời sống thực tế, về những nhu cầu căn bản của con người, và về cách cư xử trong tương quan nhân loại với nhau. Để chúng ta tiếp cận với Chúa trong lời cầu nguyện một cách tự tin, đơn giản và với ý định ngay thẳng. Vì Chúa biết nhu cầu thực sự của chúng ta tốt hơn chính chúng ta vạn lần.
Kinh Lạy Cha không chỉ dùng để đọc hay là thành công thức cầu nguyện mà trong chiêm niệm thẳm sâu người ta còn khám phá ra sự tuyệt vời ngây ngất khi đọc lên. Như thánh nữ Te-rê-sa Avilla đã kể về đời sống chiệm niệm của bà rằng: có khi thánh nữ đọc cả ngày mà không đọc xong được một kinh Lạy Cha.
Chúng ta vẫn dùng kinh này để đọc và đọc rất nhiều lần trong ngày. Trong phụng vụ Thánh lễ, trong phụng vụ của giờ kinh Sáng, kinh Chiều. Trong khi lần chuỗi mân côi trước một chục kinh Kính Mừng. Rồi trước các bữa ăn… nói chung là trong lời cầu nguyện của các Tín Hữu thì không thể bỏ qua kinh Lạy Cha. Thế nhưng đối với một số vị Thánh thì kinh Lạy Cha không phải chỉ dùng để đọc mà để thưởng thức, chiêm nghiệm như nếm hưởng một món ăn bổ dưỡng quý giá mà người ta đang tận hưởng, hay như nếm một hũ mật ong nguyên chất thơm ngọt mà không thể ăn quá nhiều vì sự ngọt lịm của nó. Vì vậy mới có chuyện các ngài đọc cả ngày mà không xong nổi một kinh.
Nhiều khi ta cho rằng có lẽ các thánh nói quá sự thật chăng, nhưng có một sự thật nơi một số người không giống như số đông chúng ta. Ví dụ, một họa sĩ giỏi khi đi vào bảo tàng viện để chiêm ngắm những bức tranh cổ, ông bỏ ra cả ngày đứng chết lặng dưới một bức tranh như một tượng đá, với đôi mắt như dán vào từng chi tiết của bức họa. Trong khi những người khác họ đã thăm hết mấy trăm bức tranh, thậm chí chỉ trong vài giờ đồng hồ, người ta đã đi thăm hết cả một bảo tàng viện.
Quả thật nếu với ơn Chúa giúp, và lòng yêu mến Thiên Chúa, khi cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha, người ta cũng có thể thấy rằng đây là một điều kỳ diệu được Chúa Giêsu mạc khải cho con người, là một thụ tạo mà lại có thể gọi Đấng Tạo hóa là Cha của mình. Chúng ta lấy đâu ra cái địa vị đó vậy! Nếu không phải là Chúa Giêsu cho ta được tháp nhập vào con người của Ngài, để qua Thánh Thần của Ngài chúng ta mới có thể kêu lên tiếng Abba, Lạy Cha hay Cha Ơi! đó sao! Và cứ như thế, không chỉ đọc, mà khi cầu nguyện, Kinh Lạy Cha gợi lên cho chúng ta mối dây liên hệ mật thiết với Đấng nào mà chúng ta đang thưa chuyện, và ở trong vị thế nào. Không thể diễn tả hết được về Kinh mà Chúa Giêsu đã dùng để cầu nguyện và dạy cho chúng ta. Ước gì với ơn Chúa giúp chúng ta sẽ được chìm ngập, ngụp lặn trong lời kinh Chúa dạy, để từ đó, mỗi người khám phá ra niềm vui và hạnh phúc mỗi khi kêu lên. Abba, Lạy Cha. Và, Cha ơi! Qua Cha, và bằng ân sủng Cha ban, chúng con nhận biết mọi người là anh chị em của nhau.
Lạy Cha, Lời Kinh ngọt lịm từ đầu môi, xin giúp con dốc quyết từ hôm nay, ngay giây phút đầu tiên của ngày mới, khi vừa thức dậy, ra khỏi giường hay còn đang nằm nướng dù trong trạng thái nào con cũng thầm thì kinh Lạy Cha để tạ ơn Chúa cho chúng ta được làm nghĩa tử của Ngài và mọi người là anh em với nhau. Amen.
ӷ
THỨ TƯ TUẦN I MÙA CHAY – Lu-ca 11,29-32
NHU CẦU VỀ MỘT DẤU HIỆU
Có lẽ không chỉ cách đây hơn hai ngàn năm mà loài người ngày nay cũng thế, điềm thiêng dấu lạ luôn là một sự thu hút người ta. Nếu có ai đó có thể làm những dấu lạ thì quả thật, người ta ở mọi nơi sẽ ùn ùn kéo tới. Đó dường như là tâm lý chung của con người, cái gì ghê gớm to lớn vượt ngoài tầm tay cũng như trí hiểu thì người ta dễ đón nhận hơn. Chắc chắn Chúa Giêsu dư biết chuyện đó, nhưng sao Phúc Âm hôm nay ta thấy Chúa Giêsu đã tỏ thái độ rất khó chịu với những người đến xin dấu lạ? Quả thật, một dấu lạ có sức thu phục người ta bằng ngàn vạn lời nói. Nếu chúng ta là Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ làm gì? Chắc chắn chúng ta sẽ tỏ uy quyền làm một phép lạ nào đó rất ngoạn mục khiến mọi người chứng kiến phải phục lăn sát đất. Sao Chúa Giêsu lại không làm như vậy nhỉ?
Ta nhớ lại rằng, khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã lui vào hoang địa và bị ma quỷ cám dỗ. Ngài đã trải qua ba cơn cám dỗ, quỷ đã thách thức Chúa dùng quyền, “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy biến đá thành bánh để ăn cho khỏi đói”, nó muốn Chúa Giêsu quỳ lạy nó để được nó ban cho toàn cõi trần gian, hay xúi Ngài dùng quyền để nhẩy từ trên nóc đền thờ xuống cách ngoạn mục để người ta tin vào Ngài. Nhưng Chúa Giêsu đã cự tuyệt với lời cám dỗ ấy. Và hôm nay, dưới chiêu bài xin một dấu lạ, nhưng thực ra người ta đang tìm cách thách thức Ngài để Ngài dùng quyền mà thu phục người khác. Và cũng như những cơn cám dỗ, Chúa Giêsu đã nói không với những yêu sách này. Ngài chứng tỏ cho chúng ta thấy, Ngài là Thiên Chúa làm người và không có nhiệm vụ làm theo những yêu sách của con Người. Mặc dù trong những tình huống khác, Ngài đã làm biết bao nhiêu phép lạ, xua trừ ma quỷ, chữa các bệnh tật, cho kẻ chết sống lại… nhưng tất cả những gì Ngài thực hiện là do tình yêu và lòng thương xót của Ngài, chứ không phải do những yêu sách nhiễu khê của con người, hay do Ngài thích thu phục người ta bằng quyền lực. Vì nếu Ngài muốn dùng quyền lực mà thu phục người ta thì có lẽ việc nhập thể của Ngài là điều không cần thiết, càng không cần thiết hơn cuộc tử nạn và Phục Sinh của Ngài.
Chúa Giêsu không muốn thu phục con người bằng quyền năng nhưng bằng tình yêu và sự hy sinh tính mạng để minh chứng cho tình yêu đó. Để tình yêu giữa Thiên Chúa và con người không có sự ép buộc chênh lệch bởi quyền năng, nhưng hoàn toàn ngang bằng và tư do tuyệt đối. Điều mà Thiên Chúa đã ban cho con người từ khi tạo dựng nên nó. Thế nên, dấu lạ mà Ngài trả lời cho những ai đòi hỏi đó là dấu lạ của tiên tri Gio-na, một người đã nằm trong bụng cá ba ngày. Dấu lạ đó ám chỉ đến chính cái chết của Ngài và sự Phục Sinh sau ba ngày. Đó là dấu lạ vĩ đại nhất, dấu lạ của Thiên Chúa làm Người, chấp nhận cho người ta đóng đinh mình trên khổ giá, chết, mai táng và Phục Sinh để minh chứng tình yêu của mình cho con người, vì “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Vì thế, chính Chúa Giêsu là một dấu lạ lớn nhất, dấu lạ ngàn đời để con người nhìn vào đó mà tin và được Ngài ban ơn cứu độ.
Thật thế, Chúa Giêsu muốn đề cập đến dấu lạ Gio-na vì Gio-na là người đã rao giảng sứ điệp của Thiên Chúa cho dân thành Ni-ni-vê và họ đã ăn năn trở lại, bốc tro bỏ lên đầu, mặc áo nhặm tỏ lòng thống hối. Ngài cũng đưa ra hình ảnh của Nữ hoàng Phương Nam là người đã nhận ra lời khôn ngoan của Salomon, bà đã băng ngàn vượt núi, đến để được nghe lời khôn ngoan. Thế nhưng đối diện với họ ở đây không chỉ là lời lẽ khôn ngoan, mà là chính Đấng Khôn Ngoan. Không chỉ là kẻ công bố lời của Thiên Chúa mà là chính Ngôi Lời của Thiên Chúa. Nhưng người ta lại không đón nhận. Họ chỉ lo đi tìm những điềm thiêng dấu lạ, những gì ngoạn mục bên ngoài Thiên Chúa. Hay đúng hơn, người ta đang đi tìm cái bản ngã kiêu căng tự phụ của chính mình.
Còn chúng ta thì sao, có hơn gì những người Do Thái xưa không? Biết bao lần nghe Lời Tin Mừng của Chúa, biết bao lần Thiên Chúa đi vào trong cuộc đời của ta qua các bí tích. Và đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Thế nhưng thực sự chúng ta có chú tâm đến Ngài không, hay chỉ đi lễ vì bổn phận, sau khi rước lễ là nhốt Chúa vào trong buồng tối om với một tâm hồn nguội lạnh của mình. Còn sau đó, mong cho ra khỏi nhà thờ thật nhanh để tiếp tục đi tìm những dấu lạ ở mọi nơi mình muốn. Như nhà hàng, rạp hát, bạn bè tụ tập, mua sắm… tệ hơn nữa, không ít người còn thích chạy theo những tà thuật, bói toán, mê tín dị đoan, xem tử vi, phong thủy để định hướng cho tương lai. Đó là những hành động đẩy Chúa ra khỏi cuộc đời của mình, hay muốn Chúa Giêsu phải cúi xuống để đáp ứng các tiêu chuẩn, cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động của con người, thay vì con người đi tìm vâng phục thánh ý của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, con người chúng con thì giới hạn nhưng lại tự cao và hay cho mình là tài là giỏi, sự kiêu ngạo đã ăn rễ sâu và tâm hồn và làm lu mờ cái nhìn thuần khiết của con mắt tâm linh, nên chúng con không thấy được quyền năng và tình yêu của Chúa thể hiện trong mọi giây phút của cuộc đời. Chỉ cần vài phút không có không khí để thở thì cả thế giới này tiêu tan, thế mà chúng con không nhìn ra bàn tay quan phòng kỳ diệu của Ngài. vẫn cứ mải mê tìm những dấu lạ nơi trần thế. Hoặc như những người Do Thái xưa đã từng thách thức về quyền năng của Ngài, đó là khi chúng con chạy theo các ngẫu tượng, đồng cốt và cho đó là linh hơn, là khả giác hơn! Xin giúp chúng con biết hoán cải trở về, để tâm hồn chúng con được trong sạch và con mắt đức tin được mở ra để thấy Chúa trong mọi sự, thấy tình yêu của Ngài luôn an bài trên cuộc đời chúng con. Amen.
ӷ
THỨ NĂM TUẦN I MÙA CHAY – Mt 7,7-12
Anh Em Cứ Xin Thì Sẽ Được
Một người theo thuyết bất khả tri, (đây là một thuyết chỉ tin vào tri thức, không tin vào những gì họ không chạm tới hoặc hiểu được, và họ rất thích bài xích những người có niềm tin tôn giáo) trong khi băng qua Đại Tây Dương trên một con tàu và mọi người đã nghe thuyền trưởng thông báo rằng, sẽ có một nghi thức phụng vụ về tôn giáo được cử hành trong một khoảng thời gian ngắn. Anh ta thấy nhiều hành khách đang đến và vì vậy anh ta cũng quyết định đến và chỉ muốn nghe những gì mục sư sẽ nói.
Anh ta bỏ hai quả cam vào túi, khi đang trên đường đến nơi sẽ cử hành phụng vụ, anh đi ngang qua một người phụ nữ lớn tuổi đang ngồi trên ghế xếp, bàn tay cô mở ra. Trong tinh thần vui vẻ, chàng trai không tin vào Thượng Đế kia đã đặt hai quả cam vào lòng bàn tay đang mở của cô. Sau buổi phụng vụ, anh thấy cô ta vui vẻ lột cam ăn một cách ngon lành. Anh ta tiến đến và hỏi: Dường như cô đang thưởng thức món cam phải không? Anh nói với một nụ cười khả ái. Cô ấy đáp: Đúng rồi, thưa anh, Cha tôi rất tốt với tôi. Anh ta vội nói theo: Cha, cha của cô, chắc chắn không thể còn sống?! “Ngợi khen Chúa,” bà đã trả lời, “Ngài sống và sống rất khỏe.” “Ý cô là gì?” anh ta hỏi. Cô giải thích, “Anh bạn à, tôi kể cho anh nghe, tôi đã say sóng nhiều ngày. Tôi đã xin Chúa bằng cách nào đó gửi cho tôi một quả cam. Tôi cho rằng tôi đã ngủ thiếp đi trong khi tôi đang cầu nguyện. Khi tôi thức dậy, tôi thấy Ngài không chỉ gửi cho tôi một quả cam mà là hai!” Người thanh niên kia không nói nên lời nào. Sau đó, anh đã được hoán cải sang Kitô giáo. Vâng, Hãy cầu xin Thiên Chúa và Ngài sẽ đáp lời chúng ta.
Cầu xin với lòng tin tưởng và khiêm nhường
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài cầu nguyện với sự tin tưởng và khiêm nhường, vì Cha trên trời là Đấng tốt lành luôn đáp lại những lời cầu nguyện. Cầu nguyện với sự tin tưởng, bởi vì ta biết rằng Chúa luôn lắng nghe và chỉ muốn điều tốt nhất cho những ai kêu xin Người. Và cầu nguyện cần có thái độ khiêm tốn để xác tín rằng mọi thứ đều phụ thuộc vào ân sủng và hành động của Thiên Chúa. Vì trên thực tế, ngay cả ước muốn tiếp cận với Chúa trong lời cầu nguyện cũng do tự ân sủng của Ngài tác động trong tâm hồn của chúng ta. Thế nên hành động kiên trì trong cầu nguyện, cho dù kết quả như thế nào, có thể không giống như ta mong đợi nhưng chắc chắn một điều rằng, Chúa biết sẽ ban điều gì ích lợi nhất cho những ai kêu cầu với Người hơn cả những gì mà họ muốn xin.
Thiên Chúa không bao giờ chê bỏ những lời cầu xin
Thiên Chúa là một Người Cha yêu thương, không bao giờ từ chối hoặc chê bỏ những lời cầu nguyện của con người. Có lẽ ngay trước mắt người ta không thấy kết quả của những gì mình xin theo ý của mình. Nhưng chắc chắn rằng, Cha Trên Trời luôn lắng nghe và đáp lại tất cả những lời nguyện cầu của con cái Ngài theo cách toàn năng của Ngài, bằng sự khôn ngoan và tình yêu, qua những biến độ của dòng thời gian và Ngài biết điều gì và lúc nào thực sự tốt nhất để ban ơn cho ta.
Ngoài ra, những thử thách trong cầu nguyện không phải để người ta ngã lòng, nhưng là một thúc bách sự kiếm tìm trong niềm tin của con người vào lòng tốt của Thiên Chúa, Ngài luôn lưu ý đến nhu cầu thực sự và bền vững của những ai cậy trông vào Ngài.
Hãy trình bày với Chúa mọi vấn đề của ta qua cầu nguyện
Giữa những phong ba của cuộc sống hay những bất toàn của chính bản thân, những lầm lỗi cứ chất chồng như những gánh nặng muốn đè bẹp chúng ta. Hãy cầu nguyện và xin Chúa ban ân sủng của Ngài để trợ giúp. Đừng bi quan rồi loay hoay với chính mình, vì có Đấng luôn lắng nghe và sẵn sàng ban ơn trợ giúp cách tốt nhất cho chúng ta. Có thể không phải là Ngài sẽ cất đi những gánh nặng hoặc áp lực của vấn đề mà ta đang chịu đựng, nhưng Ngài lại ban cho ta có sức mạnh, lòng can đảm, có sức chịu đựng, có sự bình an của tâm hồn và sự tha thứ. Vì vậy cầu nguyện phải chiếm một chỗ quan trọng trong đời sống đức tin đặc biệt vào thời buổi kinh tế tiêu thụ, dường như bị choáng ngợp bởi chủ nghĩa duy vật xung quanh. Chúng ta thường phải đối mặt với một loạt các nhu cầu: của chính mình, của bạn bè và của những người thân. Ngoài ra, thực hành cầu nguyện chung hoặc riêng cũng sẽ giúp đưa chúng ta đến những mức độ tăng trưởng tâm linh sâu sắc hơn.
Cầu nguyện cách kiên nhẫn và thường xuyên
Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta hãy kiên trì và kiên trì cầu nguyện mỗi ngày. Vâng, có những giờ đặc biệt dành cho cầu nguyện chính thức như tham dự thánh lễ và cầu nguyện hàng ngày vào buổi sáng, vào buổi tối và những giờ khác. Và cho dù như các đan sĩ, mỗi ngày bẩy lượt con ca tụng Chúa trong cầu nguyện, Nhưng chúng ta vẫn được mời gọi cầu nguyện mọi lúc mọi nơi, cầu nguyện luôn luôn, cầu nguyện như hơi thở của cuộc sống vì hạnh phúc đích thực của đời người là luôn được sống với Chúa. Và cầu nguyện là lúc người ta đang gặp gỡ Thiên Chúa, bởi chẳng ai nói chuyện với không khí bao giờ. Và trong niềm tin nói với ta rằng, Thiên Chúa hiện diện ở khắp mọi nơi và luôn lắng nghe lời ta nguyện xin.
“Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.” (c.12) Câu kết của bài giáo huấn về sự cầu nguyện của Chúa Giêsu thật tuyệt vời. Ta có thể hiểu: nếu muốn Chúa ban ơn cần thiết cho ta, muốn được Ngài ở bên phù trợ bênh đỡ ta trong mọi hoàn cảnh thì cách tốt nhất là ta phải cầu nguyện luôn luôn, liên lỉ kết nối với Ngài. Amen.
ӷ
THỨ SÁU TUẦN I MÙA CHAY- Mát-thêu 5,20-26
Lửa Của Cơn Giận Dẫn Đến Lửa Của Hoả Ngục
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra sự so sánh để thấy sự trầm trọng của tội nóng giận mà đôi khi chúng ta vấp phải mỗi ngày nhưng dễ biện hộ cho mình rằng vì nóng tính không kiềm chế được. “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt”. Qua đó ta thấy sự nóng giận là một tội nặng ngang bằng với tội giết người, vì từ sự tức giận mà dẫn đến nhục mạ người khác, sau đó là loại trừ, chụp cho anh em mình cái mũ phản đạo cũng có nghĩa ta tự cho mình là đạo, ai không hợp với tôi là chống lại đạo.
Đó là một cách tiếm quyền của Thiên Chúa hay nói đúng hơn là một hình thức kiêu ngạo. Và từ đó dẫn đến những bất đồng, bất hòa.
Một chuyện ngụ ngôn kể rằng: xưa kia mọi loài động vật biết nói tiếng của con người, trong vùng nọ có một con chim đại bàng, nó luôn hãnh diện về đôi cánh của mình. Và luôn tự hào là không có con chim nào có thể bay cao như nó. Thế rồi một hôm, bỗng đâu xuất hiện một con đại bàng khác, trẻ trung và khỏe mạnh hơn, bay cao và xa hơn nó. Nó tức giận lắm nhưng không biết phải làm sao. Thế rồi nó bóp đầu vo trán nghĩ cách phải tiêu diệt cho bằng được kẻ đã choán ngôi, làm lu mờ đi niềm kiêu hãnh của mình. Đang đậu trên một cành cây cao, nó nhìn thấy một bác thợ săn mang cung tên đi qua. Nó nghĩ ra một cách và bèn nói: “Này bác thợ săn, tôi đố bác bắn được con đại bàng đang bay lượn ở trên kia đó”. Bác thợ săn suy nghĩ một lúc rồi nói: “Được, nhưng nó bay cao quá, e rằng mũi tên của ta bay không tới, nhà ngươi có vui lòng cho ta mượn chiếc lông cánh của ngươi để ta gắn vào mũi tên, nhờ đó, mũi tên bay xa hơn sẽ giết được con đại bàng đang bay đó”. Con Đại bàng đang đậu nghe nói tin ngay, vì lòng nó đầy tức giận với con kia, thế là nó nhổ lông cánh ném xuống cho bác thợ săn. Nhưng một cộng mũi tên cũng không bay tới, nó lại ném xuống hai cộng và rồi nó nhỏ hết cả lông cánh ném xuống cho bác thợ săn mà mũi tên vẫn không bay tới để giết con đại bàng đang bay trên trời. Lúc đó bác thợ săn chĩa mũi tên vào nó. Nó giật mình đập cách để tẩu thoát, nhưng hỡi ơi! Nó đã không thể bay vì cánh đã không còn cộng lông nào, và nó đã nộp mạng.
Lửa của tức giận dẫn tới lửa hoả ngục
Tức giận là một trong những cảm xúc cơ bản nhất của con người. Đó là một cảm giác chống lại ai đó hoặc một cái gì đó hoặc chính mình. Theo bản chất của nó, sự tức giận liên quan đến sự đối kháng. Mọi người đều tức giận. Phản ứng trong cơ thể có thể cảnh báo cho người ta khi tức giận. Khi tức giận không được kìm chế, người ta sẽ sẵn sàng quăng đi tất cả những tài năng, sức khỏe và những vũ khí quý giá nhất của mình, cả nhân cách của mình chỉ để thỏa mãn cơn giận. Nhưng khi nhìn lại thì thật bẽ bàng. Lửa của cơn tức giận đã dẫn ta đến lửa của hỏa ngục đời đời.
Theo nhiều nhà tâm lý học, có những giai đoạn của dấu hiệu sinh lý của sự tức giận, như: Một khích động kích thích cảm xúc; Căng thẳng bắt đầu hình thành; (Adrenaline) hóc môn kích thích nơi tuyến thượng thận được phóng ra góp phần làm gia tăng căng thẳng; Tốc độ thở tăng; Nhịp tim tăng tốc; Huyết áp tăng; tạo ra một phản ứng giằng co giữa cơ thể và tâm trí.
Một số nhà tâm lý học nói rằng nếu sự tức giận được quản lý không phù hợp, nó có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Dẫn đến các rối loạn có thể phát triển nếu cơn giận bị ức chế mà không có lối thoát như: Nhức đầu, rối loạn tiêu hóa, rối loạn hô hấp, rối loạn da, rối loạn tiết niệu, viêm khớp, khuyết tật hệ thần kinh; Rối loạn tuần hoàn; Làm nặng thêm các triệu chứng thực thể hiện có, rối loạn cảm xúc và có thể dẫn đến tử vong.
Làm cách nào có thể kìm chế được cơn tức giận?
Hãy đến và học nơi Chúa Giêsu Kitô vì Ngài hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Hãy nhìn lên cây thập giá để thấy Chúa Giêsu đã chế ngự cơn tức giận như thế nào, Ngài vâng phục thánh ý Chúa Cha, và còn biện hộ cho những kẻ đóng đinh mình khi Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34).
Hãy sống mối thân tình với Thiên Chúa, thể hiện niềm tin bằng cách năng cầu nguyện và dâng của lễ cuộc đời mỗi ngày. Đặt mình làm của lễ trước mặt Chúa để nhận biết xem mình có gì bất hòa với Thiên Chúa, với chính mình và với anh em do những cơn tức giận của mình gây ra không. Nếu có sẽ dốc quyết sửa đổi, giao hoà với Chúa và với chính mình bằng việc năng lãnh nhận bí tích hoà giải. Tìm cách tiếp xúc với người đã bị mình làm tổn thương, xin họ tha thứ. Với ơn Chúa giúp, ta sẽ chế ngự được ngọn lửa của cơn tức giận và tránh được ngọn lửa đời đời trong hỏa ngục.
Xin Chúa giúp con luôn biết nhìn lên thập giá của Chúa, để giúp con chế ngự được những con nóng giận, biết thứ tha và cầu xin được tha thứ, biết siêng năng đón nhận bí tích hoà giải để trở về với Chúa và làm hoà với chính mình. Để chúng con có thể trở nên công chính trong tình yêu thương, và làn toả tình yêu thương ấy qua tấm gương hiền lành và khiêm nhường của Chúa đến với mọi người. Amen.
THỨ BẢY TUẦN I MÙA CHAY- Mát-thêu 5,43-48
Anh Em Hãy Nên Hoàn Thiện, Như Cha Anh Em Trên Trời Là Đấng Hoàn Thiện
Antisthenes đệ tử của Socrat và là nhà triết học đầu tiên đưa ra chủ nghĩa yếm thế, ông nói: “Hãy chú ý đến kẻ thù của bạn, vì họ là người đầu tiên phát hiện ra sai lầm của bạn”. Mà người phát hiện ra và cho ta biết sai lầm của mình thì là ân nhân chứ đâu còn là kẻ thù. Vì sai mà không biết để mà sửa mới đáng sợ.
1. Hãy yêu kẻ thù
Tin Mừng hôm nay, Chúa Kitô kêu gọi những người theo Ngài phải thay đổi tư duy. Ngài nói: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (c. 44). Điều này không phải hoàn toàn mới. Ngay cả từ thời Mô-sê, người Do Thái có nghĩa vụ phải yêu người lân cận của họ mặc dù ý tưởng của họ về người lân cận là rất mơ hồ. Người ta hiểu rằng yêu người lân cận là những người trong họ hàng hay chỉ những người công dân Ít-ra-en mà thôi. Thế nên, đối với họ, yêu kẻ thù sẽ bị coi là điên rồ. Nhưng Chúa Giêsu đưa ra ý nghĩa mới cho luật cũ và định nghĩa chính xác ai là người lân cận của ta, người lân cận được mở rộng khỏi khu vực và đến những góc xa nhất của địa cầu, yêu cả kẻ thù, giáo huấn này chính là cuộc sống của Ngài. Tin Mừng của Chúa Kitô đòi hỏi một tình yêu hoàn hảo hơn, tình yêu người thân cận và yêu cả kẻ thù. Những gì Chúa Kitô yêu cầu các môn đệ thì không có gì khác ngoài những gì Ngài đã sống, đã kinh qua trong cuộc sống của Ngài.
2. Tại sao phải yêu kẻ thù?
Có lẽ đây là điều khó nhất đối với một Kitô hữu, ‘yêu kẻ thù của mình’. Làm sao ta có thể yêu ai đó làm tổn thương mình! Và tại sao chúng ta phải yêu kẻ thù?
Chúng ta phải yêu kẻ thù của mình không phải vì họ xứng đáng được đối xử theo cách đó, mà vì Thiên Chúa muốn họ được đối xử với sự nhân ái và lòng thương xót. Hay nói cách khác, vì họ là đối tượng tình yêu của Thiên Chúa. Có thể nói rằng: Thiên Chúa luôn đối xử tốt cho kẻ bất công cũng như người công chính. Tình yêu của Ngài ôm lấy thánh nhân và tội nhân như nhau. Thiên Chúa tìm kiếm lợi ích cao nhất của chúng ta và dạy chúng ta tìm kiếm lợi ích lớn nhất của người khác, ngay cả những người ghét và lạm dụng mình, ngay cả những người vô ơn và ích kỷ đối với mình. Nhưng, Thiên Chúa yêu thương cả họ, chúng ta không thể ghét họ nếu chúng ta thực sự là con cái của Thiên Chúa đấng giầu lòng thương xót. Chúng ta được mời gọi: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng Hoàn Thiện.”
3. Ai thực sự là kẻ thù của tôi?
Thật dễ dàng hơn để thể hiện lòng tốt và lòng thương xót khi chúng ta có thể mong đợi được hưởng lợi từ việc đó. Khó hơn khi chúng tôi không mong đợi gì.
Chúa Giêsu dạy, hãy yêu kẻ thù. Ngài muốn nói với ta điều gì? Phải chăng tôi nên có kẻ thù và sau đó yêu họ? Hay Chúa muốn nói với ta là người môn đệ của Chúa không nên có kẻ thù? Theo Lời Chúa hôm nay, kẻ thù của các môn đệ của Ngài là những kẻ làm hại và bắt bớ họ, là những người ghét các ngài chứ không phải những người mà các môn đệ ghét. Môn đệ của Chúa Giêsu thì không được ghét ai. Quả thật, nếu bởi kẻ thù là những người chúng ta ghét, thì Kitô hữu không nên có kẻ thù. Còn nếu kẻ thù là những người ghét chúng tôi, thì chúng tôi không thể có kẻ thù. Vì người ta không thể kiểm soát cách người khác đối xử với mình; ta chỉ có thể kiểm soát thái độ của chính mình đối với người khác. Vì môn đệ của Chúa Kitô là người không thù ai nên cũng không loại ai ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa đang ở trong mình, cho dù họ đã hoặc sẽ đối xử tệ hại với mình. Đây không chỉ là lời dạy suông mà chính là cách mà chúa Giêsu đã sống. Ngài vẫn là người thầy vĩ đại nhất và làm gương về điều này ngay cả khi họ đang dẫn dắt Ngài đến một cuộc hành hình công khai, hổ nhục trên thập tự giá, Ngài vẫn có thể nói: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34).
4. Chúa Giêsu dạy tha thứ
Tha thứ lá cách duy nhất mà Chúa Giêsu đã chọn và hướng dẫn chúng ta hành động. Vì nếu chúng ta thực sự là môn đệ chân chính, nơi mình không có gì sai trái thì những gì người ta ghét bỏ và bách hại mình, ta cũng dễ nhìn họ bằng con mắt của Thầy Giêsu: “vì họ nhầm chẳng biết” chính Thiên Chúa sẽ trả lại sự thật cho chúng ta trong vinh quang của Ngài. Và cũng sẽ giải phóng chúng ta ngay cả những gì mà đang trói buộc tâm hồn mình nữa. Debbie Morris, một nạn nhân còn sống sót của Robert Willie (trong tác phẩm: Dead Man Walking), cho biết, “Công bằng mà nói, họ đã không làm điều gì để chữa lành vết thương cho tôi. Chính sự tha thứ đã chữa lành tôi!” Cô ấy chỉ ra một bài học quý giá. Khi chúng ta tha thứ, đó là một bước nữa để chữa lành. Tất cả công lý và tất cả sự tức giận trên thế giới không dẫn đến sự chữa lành, nhưng chính sự tha thứ là một điều cần thiết trong quá trình chữa lành. Điều này những người tham gia trong Canh Tân Đặc Sủng đã từng thấy rằng, nếu ai đó không tha thứ cho người khác thì họ cũng rất khó cảm nhận được ơn Chúa đến với họ trong những buổi cầu nguyện. Thánh Phan-xi-cô Át-si-di đã khẳng định trong kinh ‘Hoà bình’: “Chính lúc thứ tha là khi được tha thứ”.
Hãy xác định người môn đệ của Chúa Giêsu không có kẻ thù, yêu thương và tha thứ với cả kẻ thù ghét mình vì Thiên Chúa yêu thương họ và tha thứ cho họ. “Hãy nên hoàn thiện như cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48).
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin dạy con biết luôn nhìn lên Chúa và nhìn lên trên cây thập giá của Ngài. Xin đổ đầy trong trái tim con tình yêu của Ngài để con biết yêu với tình yêu của Chúa cho mọi người, cả kẻ thù ghét con nữa. Amen.