THỨ HAI TUẦN II MÙA PHỤC SINH – Gio-an 3,1- 8
Sinh Ra Bởi Thần Khí
Sự nhận biết Thiên Chúa qua lương tâm trong sạch: Ni-cô-đê-mô, một người trong nhóm Pha-ri-sêu, một thủ lãnh của người Do-thái. Ta thấy đây là nhóm người luôn chống đối và tìm cách bắt bẻ cũng như sát hại Đức Giêsu. Nhưng với ông, một trong những người có tâm hồn trong sạch, biết lắng nghe và hiểu biết về Kinh Thánh, ông đã nhận ra những lời nói và việc làm của Đức Giêsu là những điều đã đã được đề cập đến ở trong Kinh Thánh. Mặc dù ông không công khai thừa nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai trước mặt các đồng nghiệp, vì điều này thực sự bất lợi cho ông vì hơn ai hết, ông biết rõ tầng lớp lãnh đạo của ông đã có thái độ nào với Đức Giêsu, nên ông đã âm thầm đến gặp Đức Giêsu ban đêm và đã trải lòng với Ngài: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả thật, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.” (c.2).
Qua lời bộc bạch trải lòng của Ni-cô-đê-mô, ta thấy rằng, một nhà trí thức, địa vị cao sang trong số các thủ lãnh, nhưng nhận thức của ông về quyền năng của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu thật là vất vả. Đang khi đó, đám đông dân chúng nghèo hèn thì lại cuồn cuộn đi theo, chẳng nói ra họ cũng đã nhận Ngài làm vị tôn sư cao cả vì họ mong mỏi được lắng nghe Lời giảng dạy của Ngài. Điều này cho thấy không cứ có nhiều kiến thức và địa vị cao sang là dễ dàng gặp gỡ được Thiên Chúa. Vì Ngài là Đấng nâng cao những kẻ khiêm nhường (Lc 1,52). Vì thế , như Ni-cô- dê-mô, người có tri thức và có địa vị cao sang muốn gặp được Thiên Chúa thì phải thực sự có lòng khiêm tốn , hành động đến với Đức Giêsu lúc ban đêm nói lên điều đó. Ban đêm cũng là hình ảnh tượng trưng cho những người đang mò mẫm trong đêm tối của đức tin, họ khao khát nhận được ánh sáng của Đức Kitô (x. Ga 1,3-5).
Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình.
Khi có tâm hồn khiêm tốn thành tâm đến găp Chúa, Ngài đã mạc khải cho Ni-cô-đê-mô điều mà ông chưa hề nghĩ tưởng tới, điều hoàn toàn mới và xa lạ đối với đạo đức truyền thống, với những gì ông đã nghiên cứu và học hỏi được từ trong kho tàng của mạc khải, đó chính là ơn tái sinh trong Nước và Thánh Thần
“Thật tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (c.3). Câu nói này làm cho ông càng hoang mang, vì ông chỉ có thể nghĩ đến những chuyện vật chất và thể lý trong khi Đức Giêsu muốn đề cập đến Nước Thiên Chúa, người ta chỉ có thể được cấp vi-sa để vào khi đã được tái sinh bởi Nước và Thần Khí (c.5). Và qua cuộc gặp gỡ này Tin Mừng của thánh Gio-an đã cho ta biết, Ni-cô-đê-mô đã cách nào đó trở thành môn đệ âm thầm của Đức Giêsu. Ông đã dám đứng ra trước thượng hội đồng đòi hỏi quyền xét xử công bằng cho việc luận tội Đức Giêsu cũng như ông đã là một trong những người tham gia trong việc táng xác Đức Giêsu. (x. Ga 7,51; 19,39) Từ một Pha-ri-sêu, ông đã trở thành môn đệ của Đấng cứu thế, và từ một thủ lãnh trần gian ông đã trở thành công dân Nước Trời.
Sự khiêm tốn và chân thật, Ni-cô-đê-mô đã được Thánh Thần của Thiên Chúa soi sáng cho ông nhận biết và tin vào Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai. Nhờ qua việc tiếp xúc đàm đạo với Đức Giêsu, bức màn đêm tối của ông đã được mở ra là cho ông được mạnh mẽ trong đức tin, và Thần Khí của Thiên Chúa đã tái sinh con người của ông trở thành môn đệ của Đấng Kitô, trở thành công dân Nước Trời. Điều này vượt xa những kho tàng hiểu biết của con người.
Qua đây cho ta thấy, có nhiều cơ hội trong cuộc sống mà người ta có thể nhận biết Thiên Chúa, đặc biệt qua các kỳ công của Ngài. Người khiêm tốn và có lương tri lành mạnh sẽ nhận biết được Thiên Chúa. Thêm nữa, Thiên Chúa cũng luôn ban ơn và tỏ mình cho những người khiêm nhu. Nhưng chỉ khi người ta tiếp xúc, trò chuyện với Thiên Chúa qua việc học hỏi Lời Ngài và qua việc cầu nguyện xin ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, người ta mới có thể có được đức tin cách trọn vẹn, đức tin vào Đức Kitô Giêsu, Đấng làm cho người ta trở nên công dân Nước trời bằng việc tái sinh trong Nước và trong Thần Khí.
Lạy Chúa, bí tích Thánh Tẩy đã cho chúng con được tham dự vào công dân Nước Chúa và Thần Khí của Chúa đã tái sinh chúng con trở nên con cái của Thiên Chúa để chúng con một ngày kia được tham dự vào sự sống vĩnh cửu trong Nước của Ngài. Xin chúc tụng ngợi khen và tôn vinh Danh Ngài đến muôn đời. Amen.
ӷ
THƯ BA TUẦN II MÙA PHỤC SINH – Gio-an 3,7-15
Sinh Ra Bởi Thần Khí
Khi đề cập đến Chúa Thánh Thần chúng ta nghĩ ngay đến những hình ảnh đã được Kinh Thánh ghi lại dưới những hình ảnh như: Nước, Dầu, Gió, Lửa, Bồ câu và Dấu ấn niêm phong.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập đến Gió: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.” (c.8). Chữ ‘Gió’ ở đây nói về Chúa Thánh Thần, theo tiếng Hy Lạp là ‘Pneuma’, trong tiếng Do Thái là ‘Ruah’ có nghĩa là ‘hơi thở’ và ‘tinh thần’. Chúa Giêsu nói những lời này bởi vì Ni-cô-đê-mô đã không thể hiểu thông điệp mà Ngài đã nói với ông về việc sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. (c.7). Chúa Giêsu đang đề cập ở đây về sức mạnh biến đổi và tái tạo của Thánh Linh, ‘bởi ơn trên’, ơn từ trên ban xuống. còn Ni-cô-đê-mô lại hiểu nhầm nó là ‘một lần nữa.’ Nên ông đã thắc mắc là làm sao con người đã già rồi mà lại có thể chui vào lòng mẹ để được sinh ra một lần nữa! (c.4). Chúa Giêsu đã giải thích cho ông cũng như cho chúng ta biết, đây là một cuộc sinh thành mới thuộc tâm linh. Cuộc sinh ra một lần nữa với tất cả những người được tái sinh bởi phép Đức Chúa Thánh Thần.
Cụm từ ‘Sinh ra một lần nữa.’ cũng đã từng được hiểu là ơn gọi của các Kitô hữu, những người đã thay đổi lối sống của mình, đón nhận Đức Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ của họ. Nhưng thực sự thì không thể tách rời cụm từ ‘sinh ra một lần nữa’ khỏi câu mà Chúa Giêsu muốn khẳng định: ‘nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên’. Những gì Chúa Giêsu nhấn mạnh là sự cần thiết phải sinh ra ‘từ trên’ và ‘qua nước và Thần khí.’ Các Kitô hữu được sinh ra trong một cuộc sống mới qua dòng nước ban sự sống của Bí tích Rửa tội. Cuộc sống mới là cuộc sống của Thiên Chúa trong chúng ta. Đó là một cuộc sống mà chúng ta có được bởi tác động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn.
Thánh Grêgôriô Nazianzus cũng đã nói về Chúa Thánh Thần:
Thần Vị của Chúa Thánh Thần phải được công nhận rõ ràng trong Kinh thánh. Hãy nhìn vào những sự thật này: Chúa Kitô được sinh ra; Chúa Thánh Thần là tiền trạm của Ngài. Chúa Kitô được rửa tội; Chúa Thánh Thần làm chứng nhân. Chúa Kitô bị cám dỗ; Chúa Thánh Thần dẫn Ngài vào sa mạc. Chúa Kitô thăng thiên; Chúa Thánh Thần thay thế vị trí của Ngài. Những điều tuyệt vời nào có trong tính cách của Thiên Chúa mà không được tìm thấy trong Chúa Thánh Thần? Những danh hiệu nào thuộc về Thiên Chúa mà cũng không được áp dụng cho Ngài? Ngài được gọi là Thánh Thần của Thiên Chúa, Thánh Thần của Chúa Kitô, tâm trí của Chúa Kitô, Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần của sự tuyển chọn, của chân lý, của tự do; Thánh Thần của ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn Biết lo liệu, ơn Sức mạnh, ơn Thông minh, ơn Đạo đức, ơn kính sợ Đức Chúa Trời. Qua đây chỉ khởi điểm cho thấy Thánh Thần là Đấng không có giới hạn như thế nào.
Là những người đã đón nhận được phép rửa trong Chúa Thánh Thần, đã được Ngài biến đổi chúng ta trở nên các tạo vật mới, làm công dân của Nước Trời. Vì thế hãy sống theo tác động của Chúa Thánh thần, Đấng âm thầm hiện diện trong mọi lãnh vực của cuộc sống để tác động, ban ơn, biến đổi và thánh hoá người ta nên xứng đáng là con cái Thiên Chúa hơn. Ơn đó mời gọi mỗi Kitô hữu noi gương Chúa Thánh Thần, xin Ngài ban cho chúng ta biết hành động bác ái yêu thương, biết đem Tin Mừng vào cuộc sống để giới thiệu Thiên Chúa cho mọi người, nhất là những người chưa nhận biết Thiên Chúa. Bằng không, ngọn lửa của Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận sẽ lụi tàn dần, và tất cả những gì ta đã được lãnh nhận sẽ trở nên vô ích cho chính mình (x. Gl 3,3-4). Nếu ta để cho Thánh Thần dẫn dắt thì chắc chắn sẽ sinh nhiều hoa trái thiêng liêng như: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23).
Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con đã được thanh tẩy và tái sinh trong Ngài, Ngài là một vị Thầy tuyệt vời nhất trong tâm hồn chúng con, xin giúp chún con biết sống trong Thần khí Ngài và hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước. Để ngọn lửa tình yêu của chúng con đã lãnh nhận luôn rực sáng trong Ngài và soi sáng cho mọi anh chị em, những người chúng con sẽ gặp gỡ. Amen.
ӷ
THỨ TƯ TUẦN II MÙA PHỤC SINH
Gio-an 3,16-21
Nghị Luận Với Ni-cô-đê-mô
Có tư tưởng cho rằng Ga 3,16 là bản tóm tắt của toàn bộ Tin Mừng, bởi từ ngữ của nó đều chứa đựng thông tin rất vui mừng cho nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.”
Lời Tin Mừng trên diễn tả như Thiên Chúa đang mở lồng ngực của mình ra để lộ cho con người nhìn thấy trái tim tràn ngập yêu thương của Ngài dành cho họ. Hay nói cách khác, Ngài tỏ cho con người biết Ngài đang yêu và yêu con người vô cùng. Ai đã từng yêu thì đều biết rằng một người yêu thật sự thì không giữ lại điều gì, nhưng muốn cho những gì tốt đẹp nhất mà người ấy có thể, ngay cả những sở hữu riêng tư nhất cũng dành cho người mình yêu.
Thiên Chúa chứng minh tình yêu của Ngài dành cho loài người bằng cách ban cho họ những gì tốt nhất mà Ngài có, ngay cả Người Con trai duy nhất của Ngài, Đấng tự nguyện hiến dâng chính mình như một của lễ đẹp lòng Thiên Chúa và hy sinh đền vì tội lỗi của nhân loại. Tình yêu của Ngài được ban cho thế gian, nghĩa là không phải bị giới hạn trong một vài quốc gia, dân tộc hoặc ngôn ngữ nào nhưng là cho toàn thể nhân loại. Một tình yêu cứu rỗi bao trùm tất cả chúng ta và cả thế giới. Một tình yêu không hề mệt mỏi, nhưng luôn sẵn sàng đi đến bất cứ nới nào trong nhân loại này để tìm những con chiên xa đàn trở về một mối. Một tình yêu của Đấng đã hy sinh bằng cái chết trên thập hình để cho đi đến giọt máu cuối cùng.
Khi suy niệm về câu Tin Mừng này, tôi nhớ câu chuyện có thật về một người cha anh hùng, tên của anh là John Griffith. Vào năm 1937, anh làm việc ở Minnesota với tư cách là người điều hành cầu rút, một cây cầu được thiết kế để có thể nâng lên, hạ xuống hoặc kéo sang một bên để cho con tàu đi qua. Để một chuyến tàu đi qua, anh ta phải gạt cần điều khiển để cầu nâng lên và sau khi tàu đã đi qua anh hạ nó xuống mặt đất để nối lại dao thông đường bộ.
Một ngày nọ khi anh đi làm và anh mang theo đứa con trai tám tuổi. Cậu bé thích chơi quanh nơi làm việc của cha. Rồi John thấy một con tàu đang đến. Ngay lập tức, anh ta gạt cần nâng cây cầu để cho con tàu đi qua. Đột nhiên anh nhận ra rằng con trai mình không ở bên cạnh. Anh cuống cuồng tìm con.
Cuối cùng anh cũng thấy cậu bé leo lên bánh răng của cây cầu! Anh cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy khắp cơ thể. Anh vội vã giải cứu con trai nhưng ngay sau đó, anh nghe thấy tiếng tích tắc của một đoàn tàu đang đến gần. Anh bị rơi vào trong tình huống khó xử! Nếu anh dành thời gian để giải cứu con trai, tàu chạy nhanh sẽ gặp nạn, làm chết toàn bộ 400 hành khách trên tàu; nếu anh ta nâng cầu lên, anh sẽ hy sinh cho con trai mình vì các bánh răng hoạt động sẽ nghiền chết thằng bé. Cuối cùng, anh ta đã phải đưa ra một quyết định khủng khiếp: anh ta kéo cần của cây cầu! Chuyến tàu đi qua với những hành khách không hề biết rằng John đã hy sinh những gì cho họ.
Đứng trước tình huống éo le và bi thương như vậy trong cuộc sống nhiều người thường đặt câu hỏi: Tại sao Chúa cho phép điều này xảy ra, rằng lòng tốt của Chúa ở đâu, nếu Ngài tốt, tại sao Ngài lại cho phép như vậy? Nhưng Lời Chúa hôm nay củng cố đức tin của chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và thế gian, Ngài đã ban cho chúng ta Con Một của Ngài. Vấn đề là cái ác trên thế giới là có thật và hiện tại là những việc làm xấu xa của nhiều người đã hợp tác với sức mạnh của cái chết. Tuy nhiên, sức mạnh của cái chết đã bị phá huỷ bởi thập giá của Đức Kitô và trở thành nguồn sống vĩnh cửu cho tất cả chúng ta là những người tin vào Ngài. Niềm tin của người Kitô hữu không dừng lại ở những đau khổ và cái chết ở đời này, nhưng là tình yêu và ơn cứu độ vĩnh cửu trong Đấng đã toàn thắng đau khổ và sự chết của mình trên thập giá như Ngài đã phán: “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12,32).
Khi suy gẫm về tình yêu bao la vô bờ bến của Thiên Chúa, có không ít người cho rằng, đi đạo, thức khuya dậy sớm, kinh sách lễ lại hàng ngày rồi cũng lên thiêng đàng, người sống tà tà rồi cũng lên thiên đàng, tình thương của Thiên Chúa là vô biên có loại trừ ai đâu, bởi đến người Con Một duy nhất mà Ngài còn ban cho ta mà! Nhưng người ta dễ quên đi vế thứ hai rằng, Thiên Chúa ban cho ta Người Con của Ngài để ai tin vào người Con ấy mới được cứu độ. Đức tin không chỉ dừng lại ở tâm trí hay lời nói mà là qua hành động vâng phục những Lời dạy từ Người Con của Thiên Chúa mà đem ra thực hành. Đó cũng chính là cách mở lòng ra với ánh sáng, đón nhận ánh sáng. Bằng ngược lại cứ ở lì trong bóng tối, tìm mọi cách để ẩn mình để che đậy cái bóng tối tội lỗi xấu xa của mình, thì cho dù ánh sáng có đó vẫn vô ích đối với những kẻ ẩn núp và xa lánh nó.
Lạy Chúa nguồn Tình yêu, Chúa đã đổ tràn tình yêu của Chúa cách cụ thể trên nhân loại qua Người Con Chí Thánh của Ngài. Như mặt trời công chính chiếu toả ánh sáng cho nhân loại. Xin giúp chúng con biết mở lòng đón nhận ánh sáng của tình yêu Ngài để chúng con một ngày kia được hưởng trọn vẹn tình yêu vĩnh cửu trong Nước Ngài. Amen.
* Chuyện kể rằng: Một đan sĩ thời trung cổ đã tuyên bố rằng ông sẽ thuyết giảng vào tối Chủ nhật tuần sau chủ đề “Thiên Chúa là Tình yêu”. Khi bóng tối buông xuống và ánh sáng không còn lọt qua cửa sổ nhà thờ, cộng đoàn tín hữu tập trung đông đủ. Trong bóng tối của bàn thờ, vị đan sĩ thắp lên một ngọn nến và mang nó đến cây thánh giá. Trước tiên, anh ta soi sáng vương miện gai, tiếp theo, hai bàn tay bị thương, sau đó là vết thương của ngọn giáo ở cạch sườn. Trong sự im lặng bao trùm, anh thổi tắt ngọn nến và rời khỏi cung thánh, không nói bất kỳ một lời nào.
ӷ
THỨ NĂM TUẦN II MÙA PHỤC SINH – Gio-an 3,31-36
Đấng Từ Trên Mà Đến
Tin Mừng hôm nay trình bày với chúng ta rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Rỗi đến từ Chúa Cha, Người làm chứng về những gì đã thấy, đã nghe, rằng Thiên Chúa Cha đã ban cho Ngài tất cả mọi quyền bính: quyền xét xử (Ga 5,22), quyền trên sự sống (Ga 5,26), quyền ban sự sống đời đời (Ga 17,2), quyền trên những người Chúa cha đã tuyển chọn (Ga 17,6), quyền ban Lời hằng sống (Ga 17,8), đồng Danh Thánh với Chúa Cha (Ga 17,11tt)… Để “Ai tin vào Ngài thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào Người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (c.36).
Cũng trong chương ba của Tin Mừng thánh Gio-an đã nói cho ta biết Thiên Chúa quá yêu Thế gian đến nỗi đã ban cho thế gian Người con duy nhất của Ngài (Ga 3,16) và câu kết của đoạn Tin Mừng này có đề cập đến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên những kẻ không tin vào người Con. Qua đó cho ta thấy, tình yêu phải đi đôi với niềm tin. Hai vợ chồng yêu nhau rồi về chung sống trong một mái nhà nhưng họ không tin nhau, luôn sống trong ngờ vực, người này không tin vào người kia thì thử hỏi ngôi nhà ấy có phải là tổ ấm, có phải là căn nhà hạnh phúc, hay là hoả ngục của trần gian!
Vì vậy tương tác của cái gọi là tình yêu phải được xây dựng trên niềm tin. “Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời”. Niềm tin ở đây còn vượt xa hơn cái niềm tin giữa con người với nhau trong việc mưu cầu hạnh phúc của thế gian cần phải có. Ở đây là tin vào Con Thiên Chúa làm người và để được sự sống đời đời. Tin vào ‘Đấng từ trên cao mà đến, Đấng ở trên mọi người’. Nên niềm tin này đặt nền tảng trong sự tương quan với Thiên Chúa, với Đấng Tối Cao và mang lại hạnh phúc vĩnh cửu. Vì thế, niền tin này phải được thể hiện qua sự vâng phục.
Tin, yêu, vâng phục phải được hoà quyện với nhau để làm nên một người Kitô hữu, một công dân của nước trời. Và sự vâng phục ở đây không chỉ là vâng vâng, dạ dạ cho qua mà người tin phải trả bằng cái giá không hề rẻ, đôi khi nó phải đối đầu với quyền bính thế gian. Như thánh Phê-rô cùng các Tông Đồ khác đã khẳng định khi đối đầu với những người quyền thế: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm.” (Cv 5,29).
Cái giá của đức vâng phục ấy Đức Giêsu Kitô đã làm gương bằng chính mạng sống và cái chết của mình cho các môn đệ (x. Pl 2,6-11). Đành rằng, không phải cứ hễ ai tin vào Con Thiên Chúa cũng đòi hỏi sự hy sinh đến đổ máu, nhưng niềm tin là một sự dám đi ngược lại với những người không tin, nên sự bách hại luôn có thể xẩy ra ở bất cứ nơi nào và lúc nào. Hơn nữa, để đức tin kết hợp nhuần nhuyễn với tình yêu và vâng phục, thì sự hy sinh tự nó xuất hiện. Vì đi vào quỹ đạo tình yêu của Thiên Chúa là con người phải từ bỏ những thói quen phạm tội, những bản tính ươn hèn và lối sống phù phiếm… đó chính là điều mà những người không tin họ đã khước từ không muốn bước vào, không muốn thay đổi, thích ngụp lặn trong những bóng tối của trần gian, không muốn tham gia vào Ánh Sáng của Sự Sống và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vẫn ở trên kẻ ấy (c.36).
‘Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa’ ở đây không phải là vì Thiên Chúa không phải là Tình Yêu, hay Ngài không thương, Ngài thích nổi nóng, Ngài mâu thuẫn với bản chất yêu thương của mình! Không phải thế, Nhưng là ánh sáng của sự sống đã đến trong thế gian mà người ta thích thoải mái ở trong bóng tối, quen với bóng tối, với lối sống sa đoạ của mình rồi, không muốn bước ra để đón nhận ánh sáng của sự sống. Không muốn tin vào Lời của Thiên Chúa, không dám mở lòng ra để cho Đức Kitô của Thiên Chúa ngự vào. Nên sự chết vẫn chiếm cứ trong họ, đó chính là ‘cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vẫn đè nặng trên những kẻ không tin’.
Lạy Chúa, Tin, Yêu, Vâng Phục là con đường mà Chúa muốn chúng con theo để trở nên một với người Con Chí Thánh của Ngài. Nhưng chúng con đã có thói quen bất phục, đã từng sống trong ngờ vực lẫn nhau và kinh nghiệm yêu đương lệch lạc đã ăn sâu vào tâm trí của chúng con. Xin ban Thánh Thần của Ngài để biến đổi và giúp chúng con tin, yêu, phó thác trong vâng phục để chúng con được trở nên một với Đức Kitô, Người Con yêu dấu của Ngài trong sự sống vĩnh cửu. Amen.
ӷ
THỨ SÁU TUẦN II MÙA PHỤC SINH – Gio-an 6,1-15
Đức Giêsu Hoá Bánh Ra Nhiều
Vào thế kỷ trước, hai người đàn ông cùng đi trên một chuyến tàu ở Pháp. Người đàn ông lớn tuổi đang đọc Kinh Thánh đoạn Tin Mừng của ngày hôm nay về việc Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều. Nhận thấy điều này, chàng trai trẻ nói, “Tôi thành thật xin lỗi, thưa ngài, nhưng ông có thực sự tin những gì ông đang đọc không?”
“Có”, người đàn ông lới tuổi trả lời, và ông hỏi chàng trai trẻ, “bạn có tin không?” “Không”, chàng trai trẻ đáp. “Tôi là một nhà khoa học và câu chuyện đó đi ngược lại mọi định luật khoa học.”
Lúc này tàu chạy chậm lại. “Đây là trạm của tôi,” chàng trai nói. “Rất vui được nói chuyện với ngài, thưa ông…” “Pasteur,” người đàn ông lớn tuổi nói, “Louis Pasteur.” Và ta biết ông là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất thế giới.
Hôm nay Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu nuôi năm ngàn người đàn ông ăn no không kể số đàn bà và trẻ em chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá. Có lẽ mỗi người chúng ta rất chú trọng đến khía cạnh số nhiều ổ bánh được nhân lên từ năm chiếc bánh và hai con cá, vì đó là việc làm đặc biệt không phải bởi sức riêng của con người. Do đó chúng ta gọi câu chuyện này là phép lạ hoá bánh ra nhiều. Nhưng ở bài tường thuật của Tin Mừng hôm nay có khía cạch khác mà ta cần để ý đó là động lực dẫn Chúa Giêsu đến việc thực hiện phép lạ:
Đầu tiên, Chúa Giêsu nhìn thấy mọi người đang đói khát Lời Chúa. Dân chúng lũ lượt kéo đến để được nghe Ngài giảng. Vì họ đang đói khát Lời Chúa, lương thực hằng sống và nuôi dưỡng tâm linh. Đám đông muốn luôn được lưu lại để được có sự hiện diện của Ngài, để được say sưa lắng nghe một cách kiên nhẫn và chăm chú vơi những lời của Ngài. Khi được thưởng thức những món ăn tinh thần bổ dưỡng thì cái đói về thể lý cũng tìm đến với thời gian. Tinh thần thì mạnh mẽ nhưng thể xác vẫn nặng nề.
Thứ hai, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy cái đói về thể lý của đám đông đang theo Ngài. Ngài đề nghị các môn đệ cho dân chúng ăn. Một con tính nhẩm nhanh và khiến các ông choáng váng về lời đề nghị của Thầy, môn đệ Phi-líp-phê kêu lên cách bất lức: “Có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (c.7). Nhưng trái lại với cái nhìn của Phi-líp-phê, An-rê lại trình thưa với Thầy Giêsu một lượng bánh và cá rất ít ỏi của một em bé. Ngần ấy so với đám đông dân chúng, ông ý thức rằng nó chẳng thấm vào đâu. Tuy nhiên cái có trong tầm tay, mặc dù chẳng là gì nhưng là tất cả những gì có thể vào lúc này ông trình lên với Thầy. Và thật bất ngờ từ những cái nhỏ ấy Chúa Giêsu đã làm nên cái vĩ đại, Ngài đã làm cho bánh hoá nhiều và mọi người đều được no nê, số còn thừa gom lại được mười hai thúng đầy.
Thứ ba, Chúa ban cho các môn đệ cơ hội cộng tác với Ngài. Tin Mừng nói rõ là Chúa Giêsu biết mình sắp làm gì khi Ngài hỏi Phi-líp-phê về việc mua đâu ra bánh cho đám đông dân chúng này ăn? Nhưng ở đây cũng có thể hiểu là lời mời gọi sự cộng tác của các môn đệ. Ngài không đòi hỏi họ cái không thể, cũng như cái ngoài khả năng, ngoài tầm tay của họ, nhưng là những gì ít ỏi, nhỏ nhoi, cái có thể trong tầm tay cùng với lòng đơn sơ chân thành dâng lên cho Ngài, từ sự hào phóng của một em bé dâng lên cho Ngài năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài đã biến đổi thành phép lạ vĩ đại nuôi dưỡng năm ngàn người ăn không kể đàn bà và trẻ em. Theo sự ước lượng cách ngẫu nhiên của đám đông thì ở đâu có 5000 người đàn ông thì phải có tới 7000 người đàn bà và 3000 trẻ em. Như vậy con số ước chừng có thể lên tới 15000 người ăn no nê còn dư thừa mười hai thúng.
Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta là những môn đệ của Chúa, biết quảng đại, hào phóng dâng cho Chúa những gì có thể. Đó không phải là nghĩa vụ hay bổn phận, nhưng là ân huệ mà Ngài ban cho mỗi chúng ta có cơ hội cộng tác với Ngài trong việc quan tâm đến nhu cầu của những người xung quanh. Nhu cầu đói khát là một nhu cầu luôn rất to lớn ở quanh chúng ta, không chỉ có việc đói khát về thể lý, nhưng có rất nhiều người còn đói khát về tinh thần, đói khát Lời Chúa. Thiên Chúa muốn các môn đệ của Ngài là chúng ta biết nhìn đến nhu cầu của người khác, cộng tác cái mình có thể với ơn Chúa để làm no thoả mọi người chúng ta gặp gỡ. Đặc biệt những người còn đang đói khát của ăn thiêng liêng và đang bị ngăn trở để đến với bàn tiệc Thánh Thể của Ngài.
Lạy Chúa xin ban cho con trái tim của Chúa để con biết nhìn đến nhu cầu của mọi người và cho con đôi tay của Chúa để con biết sẻ chia những gì mà con đang có, vật chất và tinh thần cho mọi người cần đến sự trợ giúp của chúng con. Amen.
ӷ
THỨ BẢY TUẦN II MÙA PHỤC SINH – Gio-an 6,16-21
Đi Trên Nước
Franklin D. Roosevelt trong buổi khai mạc nhậm chức vào năm 1933 với tư cách là tân Tổng thống của Hoa Kỳ đã phát biểu những lời nổi tiếng sau đây: “Một điều duy nhất chúng ta phải sợ là sợ chính nỗi sợ.”
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy đây mà, đừng sợ!” (c.20). Chúa Giêsu đã trấn an các Tông Đồ đang hoảng sợ khi thấy Ngài đi trên mặt Biển Hồ mà tới. Vì sao các ông lại hoảng sợ? Thưa có hai lý do:
Thứ nhất, các ông tưởng Thầy là ma. Vì người phàm thì không thể đi trên mặt nước cách dễ dàng như đi trên đất liền. Một bóng người hiện ra giữa lúc biển động và sóng gió, thâm tâm của các môn đệ đã kết nối hai sự kiện lại để thấy đây là một thế lực của quỷ ma hiện đến để có thể nhận chìm các ông đang lúc Thầy Giêsu không ở với các ông.
Thứ hai, các môn đệ nhìn rõ Thầy nhưng không phải là người Thầy hàng ngày cùng ở với các ông mà là Đấng quyền năng, là Thiên Chúa. Và người Do Thái tin rằng, bất cứ ai nhìn thấy Thiên Chúa trực diện, người đó phải chết. Thánh thiện như Mô-sê sau khi ở trên núi xuống đã phải lấy khăn che mặt vì dân Ít-ra-el không thể nhìn vào sự rạng rỡ của khuân mặt ông, thế mà ông cũng chỉ được thấy phía sau lưng của Chúa (x. Xh 33,20-23). Thế nên các ông đã hoảng sợ, nhưng Chúa Giêsu đã trấn an các ông: “Chính Thầy đây mà, đừng sợ!” Thầy là Thiên Chúa, nhưng thầy cũng là con người, một Thiên Chúa làm người để từ nay con người có thể giáp mặt với Thiên Chúa mà không cần phải sợ. Trong bốn sách Tin Mừng ghi lại 15 lần Chúa Giêsu nói với các môn đệ “đừng sợ!” và trong toàn bộ cuốn Kinh Thánh cũng tra cứu được hơn 365 lần câu nói “đừng sợ!”.
Các nhà tâm lý học John B. Watson và Paul Ekman đã lập luận rằng, nỗi sợ là bẩm sinh trong tất cả mọi người. Sợ hãi là một lợi thế phòng thủ và sinh tồn. Nó thường là một phản ứng với một kích động cụ thể. Giống như ví dụ, một người có thể nhìn thấy một con nhện và trải nghiệm sự sợ hãi. Nỗi sợ hãi đóng vai trò là động lực để trốn thoát đến chỗ an toàn. Và tất cả chúng ta đều trải qua những nỗi sợ hãi (thực tế hoặc tưởng tượng), bởi những hạn chế và bất cập trong cuộc sống này. Đó là lý do tại sao xu hướng của chúng ta là luôn luôn lùi bước, do dự hoặc thậm chí chạy trốn khỏi những tình huống khó khăn.
Chúa Giêsu không bao giờ mệt mỏi để trấn an chúng ta đừng sợ hãi. Và không chỉ những lời này, Ngài cầu nguyện cho chúng ta; Ngài hứa sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần; Ngài ban cho chúng ta Bí tích Thánh Thể và hứa sẽ luôn ở bên chúng ta cho đến tận thế; Ngài trao phó chúng ta cho Mẹ của Ngài. Nói cách khác, Chúa Giêsu ở đó để làm dịu những cơn bão trong cuộc sống của chúng ta. Nhưng đôi khi Ngài cho phép cơn bão nổi lên và làm cho chúng ta biết trông cậy vào Ngài.
Câu kết của bài Tin Mừng hôm nay thật hay khi nói: “các ông muốn rước Ngài lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến” (c.21). Thật kỳ diệu khi các ông đang vật lộn với giông tố và sóng gió, thế rồi Chúa Giêsu xuất hiện, chỉ qua một lời trấn an “Thầy đây mà, đừng sợ!” thì thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến. Tác giả Tin Mừng muốn nói với ta điều gì? Có thể hiểu là khi Chúa Giêsu đến, Ngài làm một phép lạ là cho thuyền đến bờ, cất đi hết những khó nhọc vất vả mà các ông đang phải chèo chống vật lộn với sóng gió để các ông được nghỉ ngơi. Hoặc ta có thể hiểu, chính Chúa Giêsu là bến bờ, là nơi định đến của các môn đệ. Khi có Chúa hiện diện thì các ông đã đươc củng cố, không còn sợ hãi bất cứ sóng gió nào, cũng không còn phải chèo chống đi đâu nữa, vì nơi Thầy có Tình yêu, niềm tin, niềm hy vọng.
Tình yêu: Ngài hy sinh tất cả mạng sống mình cho các môn đệ.
Niềm tin: vì Ngài là Thiên Chúa quyền năng, thắng vượt mọi phong ba bão tố của trần gian.
Niềm hy vọng: vì Ngài là bến bờ Hằng Sống, là Đấng Phục Sinh và ban cho những ai trông cậy vào Ngài được sự sống muôn đời.
Vâng, Chúa Giêsu chính là bến bờ, là cùng đích mà mỗi người môn đệ là chúng ta nhắm tới. Ngài sẽ lấy đi mọi nỗi sợ hãi của chúng ta là các môn đệ nếu chúng ta luôn ở trong sự hiện diện của Ngài, ở với Ngài trong cầu nguyện, trong sự tuân giữ Lời Chúa và trong các bí tích, đặc biệt bí tích Thánh Thể. Ngài đang ở đó và kêu gọi chúng ta “đừng sợ!” Mặc dù sóng gió của cuộc đời luôn có đó, biển trần gian có muôn vàn hiểm nguy nhưng nếu ta luôn biết kết hợp với Thiên Chúa trong cầu nguyện và trong việc thực thi Thánh Ý của Ngài, tuân giữ Lời Ngài thì Ngài luôn ở bên chúng ta và nhắc cho ta “Đừng sợ! có Thầy luôn ở với con đây mà.”
Chuyện kể rằng, Một người phụ nữ đã đi dạo dọc bờ sông với đứa con của mình. Đột nhiên đứa trẻ trượt ngã xuống sông. Người mẹ hét lên kinh hoàng. Cô ấy không thể bơi, thêm nữa, cô ấy đang ở giai đoạn cuối của thai kỳ. Cuối cùng, có người đã nghe thấy tiếng cô la hét và lao xuống bờ sông. Bi kịch hoàn toàn là, khi họ bước vào những vùng nước âm u đó để tìm lại đứa trẻ đã chết, họ thấy rằng nước chỉ sâu đến thắt lưng! Người mẹ đó có thể dễ dàng cứu con mình nhưng đã không làm bởi vì thiếu hiểu biết.19
“Sợ hãi là vô dụng. Điều cần thiết là sự tin tưởng.”
Xin Chúa củng cố niềm tin yếu kém của chúng con để trong mọi sóng gió của cuộc đời, chúng con vẫn vững tin rằng Chúa đang ở bên chúng con và có Chúa là thuyền đời của chúng con đã có bến đậu vững vàng bình an. Amen.
ӷ