THỨ HAI TUẦN VI MÙA PHỤC SINH – Gio-an 15,26-16,4
Làm Chứng Nhân Của Chúa
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói về việc trở nên chứng nhân của Chúa giữa thế gian. Và Ngài mạc khải cho các môn đệ biết, công việc làm chứng nhân của Chúa không phải là làm một mình mà có Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần luôn đồng hành với chúng ta trên con đường làm chứng cho sư thật về ơn cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.
- Chúa Thánh Thần là nhân chứng: Ngài là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Ngài là chứng nhân Thần Linh về công cuộc nhập thể làm người, chịu treo trên cây khổ giá, chết và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Ngài đến để làm chứng về Chúa Kitô. Ngài sẽ làm chứng bằng cách nào?
Quả thật, Ngài không xuất hiện như Chúa Giêsu để rao giảng vì Ngài không mặc xác phàm để nói chuyện với con người, nhưng Ngài hoạt động bằng tác động nơi tâm hồn của mỗi con người, mở miệng người nói và mở tai người nghe. Ngài được Chúa Cha sai đến để ở cùng các chứng nhân của Chúa Giêsu luôn mãi. Không chỉ ở cùng mà Chúa Giêsu còn cho ta biết, Chúa Thánh Thần luôn ở giữa và ở trong các nhân chứng của Ngài (Ga 14,16-17). Chúa Thánh Thần sẽ làm chứng xuyên qua những thành quả công việc của các môn đệ Chúa Kitô.
Ngài tác động bên trong để nhắc nhở các ông nhớ lại Lời Chúa đã nói và những việc Chúa đã làm. Đồng thời giúp mở tai cho những người thành tâm thiện chí muốn nghe và hiểu lời các Tông Đồ rao giảng. Ngài tác động bên ngoài là những điềm thiêng dấu lạ đi kèm với lời rao giảng của các ông, để thuyết phục người nghe thêm lòng xác tín và thúc đẩy họ đón nhận đức tin.
Thêm nữa, Ngài là Thần Khí sự thật nên giúp các môn đệ của Chúa đi đúng đường lối của sự thật mà Thiên Chúa muốn họ bước theo. Khi còn ở thế gian, Chúa Giêsu đã khẳng định với các môn đệ của Ngài rằng: “không có Thầy các con không làm gì được” (Ga 15,5). Và sau khi Ngài về trời, Chúa Thánh Thần được sai đến để thay chỗ của Ngài. Nên ta cũng có thể khẳng định: “Không có Chúa Thánh Thần chúng ta không làm gì được”.
Nếu không có sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, hoặc người môn đệ không sống trong Chúa Thánh Thần; rất có thể khởi đầu họ là nhân chứng của Chúa Kitô nhưng kết quả lại là nô lệ cho chính mình và cái tôi của mình! Thế nên Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ các tín hữu Ga-lát rằng: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước. Chúng ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ghanh tị nhau.” (Gl 5,25-26).
- Chúng ta là nhân chứng của Chúa Kitô: làm nhân chứng của Chúa Kitô là bổn phận của các Kitô hữu. Họ là những nhân chứng hữu hình của Chúa Kitô dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Nhưng điều kiện trước tiên mà Chúa Giêsu yêu cầu người chứng nhân của Ngài phải có đó là: “Anh em cũng làm chứng vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu” (Ga 15,27).
Quả thật, một nhân chứng phải là người biết rõ mình đang làm chứng về điều gì. Vì thế, làm sao chúng ta có thể làm chứng về Chúa Giêsu nếu chúng ta không biết Ngài, không tiếp xúc với Ngài và chưa bao giờ ở với Ngài. Có lẽ không ít người trong chúng ta thắc mắc rằng, Chúa Giêsu đã lên trời cách đây hơn hai ngàn năm rồi, làm sao ta biết Ngài và ở với Ngài được, đó là chuyện của các Tông Đồ xưa thôi! Thưa không hẳn thế, vì Lời Chúa Giêsu vẫn tiếp tục kêu mời mỗi người trong chúng ta:
Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (Ga 15,9-10.12).
Ở với Chúa chính là học biết về Ngài, tuân giữ lời Ngài và thực hiện giới răn yêu thương của Ngài. Khi thực hiện ở lại với Chúa như vậy, chúng ta đã trở thành những chứng nhân của Chúa giữa lòng nhân loại rồi. Vì khi ở lại với Chúa trong Lời Ngài, cho Ngài cơ hội được sống trong ta qua hành động yêu thương bác ái. Đó là lúc ta giới thiệu Đức Kitô cho mọi người cách sống động nhất.
Trong tập 1, sách Chuyện Hay Đông Tây có viết về câu chuyện của một thương gia giàu có xin nhập đạo, khi được hỏi lý do ông đáp:
Nhờ gương một công nhân của tôi. Đôi lúc tôi nổi nóng, quát mắng, nhưng anh không hề tỏ ra giận ghét tôi, dù tôi biết anh rất đau khổ. Có khi tôi đối xử thô bạo với anh, anh không bao giờ thốt nửa lời. Thái độ của anh làm tôi, dù cấp trên, đem lòng cảm phục. Sự thực, anh chẳng bao giờ nói với tôi về đạo, nhưng đời sống đạo của anh đã chinh phục tôi. Giờ tôi không còn nghi ngờ gì nữa và tôi hy vọng Chúa Giêsu Kitô sẽ ban cho tôi sự sống đời đời. (Trang 131).
Quả thật làm gương sáng về việc sống đạo của mình chính là làm nhân chứng của Chúa cho tha nhân cách hữu hiệu nhất. Có ý kiến cho rằng: ‘Một nhân chứng tốt giống như một biển chỉ dẫn. Nó không quan trọng cho dù đó là già, trẻ, đẹp, xấu; nó phải chỉ đúng hướng và có thể hiểu được’. Đúng vậy, chúng ta là nhân chứng của Chúa Kitô, phải là dấu chỉ cho người ta biết về Ngài bằng đời sống của mình.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con trở nên chứng nhân của Chúa bằng việc luôn ở lại trong Chúa qua việc học hỏi thực hành lời Chúa. Chăm chỉ trong cầu nguyện và thờ phượng, để được kết hợp với Chúa và được thấm nhuần tinh thần của Chúa. Biết mở rộng tấm lòng để đón nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần, để Ngài hướng dẫn chúng con biết sống sao cho xứng đáng là nhân chứng của Chúa cho trần gian. Amen.
ӷ
THỨ BA TUẦN VI MÙA PHỤC SINH – Gio-an 16,5-11
Đấng Bảo Trợ Sẽ Đến
Sắp tới lễ Thăng thiên của Chúa Giêsu lên trời, phụng vụ cho ta đọc bài Tin Mừng của Thánh Gio-an như ghi lại những lời trăng trối của Ngài trước khi chia tay các môn đệ: “Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ chứng mình rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về việc xét xử” (c.7-8). Đây là những lời Chúa Giêsu đã nói trước biến cố khổ nạn, sự chết và sự sống lại của Ngài. Ngài biết mình sắp từ bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, nên đã hứa cho các môn đệ món quà quý giá nhất có thể để ở lại với họ. Đó chính là lời hứa ban Chúa Thánh Thần. Đấng mà các Tông Đồ đã nhận được trong ngày lễ ngũ tuần. Khi các ông tập trung cầu nguyện và Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên các ông, biến đổi và làm cho các ông nên mạnh mẽ, can trường.
Chúng ta cùng nhau suy niệm về ba vai trò của Chúa Thánh Thần như Chúa Giêsu đã đề cập trong Tin Mừng hôm nay:
- Chúa Thánh Thần chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi. Chúa Giêsu cho thấy việc chứng minh, vạch rõ về sai lầm và tội lỗi không phải là Ngài đến để kết án tội nhân, mà tội lỗi thực sự là từ chối tin vào Chúa Giêsu. Ngài đến để chứng mình sự sai lầm của thế gian nghĩa là tạo cho họ thêm cơ hội đến với Chúa Giêsu Kitô bằng lòng tin để được tẩy sạch, được tha thứ. Là người công giáo, những người đã được đón nhận Chúa Thánh Thần luôn được Ngài nhắc nhở về tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa đặc biệt qua bí tích hoà giải. Ngài giúp chúng ta biết phó thác vào lòng thương xót và ân sủng của Ngài.
Thánh Âu-gút-ti-nô trong Lời tự thuật của của Ngài nói về tội lỗi, mà tội lỗi nảy sinh khi những lợi ích nhỏ được theo đuổi, như thể chúng là những mục đích quan trọng nhất trong cuộc sống. Nếu tiền bạc, tình cảm hoặc quyền thế được tìm kiếm theo cách không cân xứng, thần tượng hoá, thì tội lỗi xảy ra. Và tội lỗi đó được phóng đại khi đối với những mục tiêu nhỏ hơn này, chúng ta từ chối theo đuổi những mục tiêu cao nhất và mục tiêu cuối cùng nhất. Vì vậy, khi chúng ta tự hỏi tại sao, trong một tình huống nhất định, chúng ta đã phạm tội, câu trả lời thường là một trong hai điều: Hoặc là chúng tôi muốn có được thứ gì đó mà chúng tôi đã không có, hoặc chúng tôi sợ mất đi thứ gì đó chúng tôi đã đang sở hữu.
- Chúa Thánh Thần minh chứng cho chúng ta về sự công chính của Chúa Kitô. Thế gian cho Ngài là tội nhân mà đã giết đi, nhưng thực tế Ngài đã sống lại và về cùng Chúa Về mặt thể chất, chúng ta không thấy Chúa Giêsu nữa. Ngài ở bên hữu của Chúa Cha. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng, ngày nay Ngài vẫn hiện diện với chúng ta nhiều hơn cả khi Ngài còn rảo bước dọc theo những đường lối đầy bụi bặm của Palestine. Ngài vẫn tiếp tục hướng dẫn đời sống của chúng ta về thiên đàng. Ngài không bao giờ để các môn đệ cô đơn, mà luôn ở bên họ. Vì qua quyền năng của Chúa Thánh Thần thánh hoá đã làm cho Chúa Giêsu tiếp tục ở lại với chúng ta dưới hình bánh và rượu trong bí tích Thánh Thể. Đây là một sự hiện diện thực sự, mặc dù chúng ta không có Chúa Kitô theo cách mà Ngài đã xuất hiện hơn hai ngàn năm trước. Nhưng đây lại là cách làm cho chúng ta tăng thêm niềm tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Bí tích tuyệt hảo và phúc lành này. Và chính Ngài là sự công chính của chúng ta.
- Chúa Thánh Thần minh chứng về việc xét xử. Ngày chung thẩm, tất cả chúng ta sẽ đứng trước toà phán xét của Thiên Chúa. Phán quyết của Chúa thì rất công bằng và không hề sai sót. Phán xét của Thiên Chúa là để thưởng công chứ không phải xét nét tội lỗi để luận phạt. Là một người tin yêu, trung thành tuân giữ giới răn và đường lối của Thiên Chúa thì sẽ được bình an và hân hoan vui mừng. Phán xét ấy ngay ở thế gian đã xẩy ra với các hối nhân, làm cho người ta được hoà giải với Thiên Chúa bằng quyền năng tha tội của Chúa Thánh Thần. Ai đã từng vào toà cáo giải sau khi phạm tội, được nghe linh mục đọc về công thức tha tội:
Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hoà thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Thiên Chúa dùng tác vụ của hội thánh mà ban cho ông (bà, anh, chị, con) ơn tha thứ và bình an. Vậy tôi tha tội cho ông (bà, anh, chị, con) nhân danh Cha + và Con và Thánh Thần.
Điều này cho thấy không phải linh mục tha tội mà chính Chúa Thánh Thần tha tội. Thế nên, Chúa Thánh Thần đến để minh chứng về việc xét xử của Thiên Chúa là làm cho chúng ta tìm thấy sự bình an, niềm vui và sự hòa giải thực sự với Thiên Chúa. Ai trong chúng ta đã từng lãnh nhận bí tích hoà giải thì cảm nghiệm rất rõ Đấng Bào Chữa mà Chúa Giêsu gởi đến hoạt động cách rất rõ ràng trong tâm hồn hối nhân, Ngài xoá đi gánh nặng tội lỗi trong tâm hồn, ban sự bình an sâu thẳm và niềm vui.
Tóm lại, Chúa Thánh thần tới để minh chứng về ơn cứu độ cho những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô. Ai không tin thì tự sự không tin đó đã kết án họ. Ngài đến để làm cho Chúa Giêsu hiện diện với con người ở giữa chúng ta cách cụ thể, qua việc thánh hoá và biến đổi bánh rựu thành Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Và Ngài đến xét xử là để thưởng công và tha thứ, mang bình an và niềm vui cho những người tin yêu và đón nhận Ngài.
Điều quan trọng là, chúng ta có cho phép Chúa Thánh Thần ngự trị tự do trong cuộc sống của mình, để Ngài có thể giải thoát chúng ta khỏi sự kìm kẹp của tội lỗi và khiến chúng ta bùng cháy với ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa không? Amen.
ӷ
THỨ TƯ TUẦN VI MÙA PHỤC SINH – Gio-an 16,12-15
Thần Chân Lý
Chuyện kể rằng, có một người quen cãi bướng và dường như không bao giờ chịu khuất phục ai. Có một lần đang trang cãi, Lincoln nói: Thôi, ông hãy cho biết một con bò có bao nhiêu chân? Tất nhiên là bốn, ông ta đã trả lời một cách hằn học. Ngay lập tức, Lincoln đồng ý, nhưng Lincoln nói tiếp: Bây giờ giả sử người ta gọi cái đuôi con bò là một chân; Con bò sẽ có bao nhiêu chân? Tất nhiên là năm, câu trả lời rất tự tin. Bây giờ Lincoln nói: đó là điểm mà bạn đã sai, vì việc gọi đuôi của một con bò là một chân không làm cho nó trở thành một chân. Quả thật, người ta không thể biến đổi một sự thật hiển nhiên bởi gọi khác tên của nó.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài về vai trò quan trọng và đặc biệt của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội sau Lễ Thăng Thiên. Đó là, “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật trọn vẹn.” (c.13). Trong phiên toà kết án Đức Giêsu, Phi-la-tô hỏi Ngài: “Vậy ông là vua sao? Ngài trả lời: ‘Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” Ông Phi-la-tô nói với Người: “Sự thật là gì?” (Ga 18,37-38).
Chúng ta biết rằng, Chúa Giêsu đã từng nói về mình: “Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14,6). Như vậy câu hỏi ‘sự thật là gì?’ của Phi-la-tô cũng là câu thắc mắc của nhiều người trong chúng ta đã được giải đáp; Sự thật chính là Chúa Giêsu Kitô. Vì vậy, khi Thần Khí đến, Ngài sẽ dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu Kitô cách trọn vẹn. Điều này cho thấy, các môn đệ khi sống với Chúa Giêsu ba năm nhưng cũng không thực sự biết rõ về Ngài, cái biết của các ông còn rất giới hạn và chủ quan. Chỉ khi Chúa Thánh Thần đến, các ông mới được hiểu cách rõ ràng hơn về Chúa Giêsu. Vì Chúa Thánh Thần đến không phải để giới thiệu về chính Ngài mà là để tôn vinh Chúa Giêsu (c.14).
Như vậy, Chúa Giêsu cho ta thấy vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống của các Kitô hữu. Ngài không phải là một giáo sư dạy những điều mới, nhưng Ngài giống như một gia sư, người sẽ giải thích những điều của chính Chúa Giêsu Kitô. Chúa Thánh Thần không nói về chính mình hay uy quyền của chính mình, giống như Chúa Giêsu đã không dạy giáo lý của chính mình mà chỉ mạc khải về Chúa Cha và chia sẻ vinh quang của Chúa Cha. Đáng chú ý là Chúa Thánh Thần không có một giáo lý cụ thể hoặc riêng biệt để dạy. Chúa Thánh Thần chỉ đến để nhắc nhở các môn đệ về mạc khải của Chúa Cha trong Chúa Giêsu và để đảm bảo sự hiểu biết đúng đắn về mạc khải này.
Đức Thánh Cha Phao-lô VI trong tông thư Dominum et Vivificantem của ngài cũng nói: Chúa Thánh Thần sẽ giúp người ta hiểu ý nghĩa chính xác của nội dung thông điệp của Đức Kitô; Ngài sẽ đảm bảo tính liên tục và bản sắc của sự hiểu biết… Cùng một sự thật mà các Tông đồ đã nghe từ Thầy của họ.” như Chúa Giêsu đã tiên báo: “Chúa Thánh thần sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy để loan báo cho anh em.” (c.13-14).
Như vậy, vai trò của Chúa Thánh Thần đến chỉ để nhắc nhở và làm cho sáng tỏ về mạc khải của Chúa Cha trong Chúa Giêsu đúng theo sự thật về bản chất của Mạc khải.
Cuối cùng, ta có thể kết luận rằng, là Kitô hữu, chúng ta phải cảnh giác chống lại tinh thần không trung thực. Không ai sống ngoài sự thật có thể tự xưng là môn đệ của Chúa Kitô. Những sự giả dối cho dù nhỏ bé trong cuộc sống của chúng ta hoàn toàn phá hủy tác động của ‘Thần Khí Sự Thật’ trong tâm hồn của mình. Đấng Cứu Độ của chúng ta không bao giờ lên tiếng mạnh mẽ chống lại bất cứ điều gì như Ngài đã làm chống lại sự công bình giả tạo của các nhà lãnh đạo trong thời đại của Ngài.
Qua Lời Chúa hôm nay, chúng ta có thể tự vấn lương tâm mình rằng, tôi đã thực sự nghe theo sự hướng dẫn của Thần Khí Sự Thật chưa? Có bao nhiêu điều tôi đã làm gần đây chỉ để được người khác khen ngợi? Có bao nhiêu điều tốt tôi đã làm mà chỉ có một mình Chúa biết? Tôi có khả năng đứng vững trước niềm tin của mình khi đối mặt với sự hiểu lầm hay chế giễu không?
Lạy Chúa Thánh Thần là Thần Khí sự thật, chúng con là những người yếu đuối và hay mang vào mình rất nhiều bộ mặt lạ để che đậy và bưng bít, thậm chí đã hơn một lần chối từ sự thật, che dấu đức tin của mình trước mặt người đời. Xin Ngài ngự đến trong tâm hồn và sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con, để chúng con thực sự sống đúng với phẩm giá của người Kitô hữu, sống và yêu mến sự thật vì chính Chúa là Sự Thật và là Đấng chân thật. Amen.
ӷ
THỨ NĂM TUẦN VI MÙA PHỤC SINH – Gio-an 16,16-20
Nỗi Đau Buồn Sẽ Trở Thành Niềm Vui
Tin Mừng hôm nay tiếp nối cuộc nói chuyện của Chúa Giêsu với các môn đệ của Ngài trong Bữa Tiệc Ly, Ngài nói với họ về những gì sắp xảy ra. Câu nói của Chúa Giêsu ‘ít lâu nữa’, cụm từ này được sử dụng bảy lần trong đoạn văn ngắn này. Ý muốn diễn tả một cái gì đó sắp xảy ra, nhưng các môn đệ đã không hiểu biết gì. Điều này gây nên một sự hoang mang sợ hãi. Vì chúng có thể ám chỉ rằng có điều gì đó liên quan đến cái chết. Vì vậy, các môn đệ cảm thấy rất bối rối và các ông đã tự hỏi với nhau: Thầy lặp đi lặp lại cụng từ ‘ít lâu nữa’ nghĩa là gì? “Ít lâu nữa anh em sẽ không thấy Thầy, rồi ít lâu nữa anh em sẽ lại thấy Thầy và Thầy đến cùng Chúa Cha…”
Nhìn thấy và không nhìn thấy rồi lại nhìn thấy trong một ít lâu nữa ngụ ý trong một thời gian ngắn. Đối với chúng ta ngày nay, đủ rõ ràng rằng, Chúa Giêsu đang đề cập đến đau khổ và cái chết sắp tới và sự Phục Sinh của Ngài. Nhưng về phía các Tông Đồ xưa thì rất hoang mang và lo sợ. Chúa Giêsu biết rõ các ông muốn hỏi Người về ý nghĩa của lời tiên báo sắp xẩy ra là gì, nhưng Ngài vẫn không giải thích một cách rõ ràng hơn mà còn cảnh báo thêm “Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng.” Biến cố vượt qua của Chúa Giêsu, sẽ khiến các môn đệ sầu thương tan tác, bỏ chạy thoát thân mỗi người một ngả. Quả là một kinh nghiệm đau thương và đẫm nước mắt trong khoảnh khắc thời gian ngắn của ba ngày lễ vượt qua. Tất cả niềm tin của họ vào Đức Giêsu, Đấng Thiên Sai và Đấng Cứu Rỗi đều biến thành tro bụi. Trong đó, sẽ có những người khác vui mừng, đó là cơ quan quyền lực của Do-thái giáo thời bấy giờ, vì họ đã thành công trong âm mưu bắt và giết Đức Giêsu.
Tuy nhiên, Ngài cũng tiên báo thêm cho các môn đệ rằng họ không phải lo buồn quá lâu vì nỗi buồn ấy sẽ sớm qua đi và sẽ trở thành niềm vui với bình minh của Phục Sinh. Lời tiên báo của Chúa Giêsu cũng ngụ ý cách nào đó rằng, các môn đệ sẽ chia sẻ Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu khi tất cả những hy vọng và kỳ vọng của họ bị tan biến thành tro bụi – chỉ là để được hồi sinh với nhận thức rằng Thầy của họ vẫn sống; là Chúa và là Vua vĩnh cửu.
Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm sâu sắc về cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa liên quan đến cuộc đời của các môn đệ khi ngài viết thư cho môn đệ Ti-mô-thê: “Đây là lời đáng tin cậy: Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người. (2Tm 2,11-12).
Qua đây giúp ta một xác tín rằng: tất cả những sầu buồn đau khổ của chúng ta có thể được chuyển thành niềm vui khi hoàn toàn kết hiệp với Chúa Giêsu, Chúa của chúng ta và chịu đau khổ với Ngài, cho Ngài, vì Tin Mừng của Ngài và vì lợi ích của tất cả anh chị em mình.
Cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có phần khuôn mẫu theo những gì Chúa Giêsu nói, ‘ít lâu nữa’, có những khoảnh khắc sống đức tin cách mạnh mẽ và đời sống cầu nguyện gắn bó với Chúa thật nồng nàn. Nhưng rồi đôi khi lại thấy trống vắng, hời hợt và khô khan nguội lạnh như thể Thiên Chúa vắng bóng trong cuộc đời. Đó cũng là đêm tối của tâm hồn, sự trống vắng trong cầu nguyện. Nhưng nếu chúng ta kiên trì cầu nguyện và nếu chúng ta tiếp tục sống cuộc sống Kitô hữu một cách tốt nhất có thể, thì sẽ đến lúc gặp lại được sự hiện diện của Chúa Giêsu. Đó là sự an ủi trong cầu nguyện. Những sự khô khan trống vắng và an ủi xen kẽ này là sự cộng hưởng tạo nên kết cấu của đời sống đức tin Kitô hữu của chúng ta. Những điều đó cũng có nghĩa là làm cho chúng ta không ngừng phát triển trong đức tin và lòng mến.
Lạy Chúa, xin giúp con biết đón nhận cả niềm vui và nỗi buồn sẩy ra trong đời sống. Và soi sáng cho con biết lợi dụng mọi biến cố đó, để tham gia kết hiệp với cuộc tử nạn và Phục Sinh của Ngài, để được Chúa biến đổi mỗi ngày nên giống Chúa hơn trong đau khổ và sẽ cùng vui hưởng vinh quang Phục Sinh muôn đời với Ngài. Amen.
ӷ
THỨ SÁU TUẦN VI MÙA PHỤC SINH – Gio-an 16,20-23
Niềm Vui Của Các Môn Đệ
Tác giả tâm linh Jean Catoir trong cuốn sách của mình, tựa đề là: ‘Tận hưởng Chúa. Hướng dẫn tới Chiêm Niệm’ đã khẳng định: “Chúng ta đã được tạo ra cho hạnh phúc và chúng ta là tạo vật duy nhất có khả năng cười…” Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo cũng dạy rằng, mục đích tối hậu của con người là sống hạnh phúc với Chúa ở đời này và cả ở đời sống vĩnh cửu mai sau. Để đạt được niềm vui và hạnh phúc trong Chúa chúng ta phải đào tạo mình để học hiểu về Ngài hơn. Vì ‘vô tri bất mộ,’ và nói như Thánh Tô-ma A-qui-nô, tận cùng của học biết về Thiên Chúa đó là chiêm niệm; được hiểu như là một niềm vui sướng trong sự thụ hưởng Thiên Chúa.
Cuộc sống của con người được đan xen bởi những nỗi buồn và niềm vui. Nhưng niềm vui bao giờ cũng bao la rộng lớn hơn nỗi buồn, ta thử nhắm mắt lại và hồi tưởng lại một ngày sống của mình thì thấy niềm vui nhiều hơn nỗi buồn rất nhiều. Nhưng oái oăm thay đa số người ta lại thích dừng lại ở những biến cố, những giây phút buồn phiền để gậm nhấm nó hơn là niềm vui. Có lẽ niềm vui là đương nhiên nên hoá ‘tầm thường’ còn nỗi buồn là cái gì hiếm hoi nên người ta thích lưu trữ nó thì phải! Ví dụ, một người cả đời vui vẻ với tôi, nhưng chỉ một lần nào đó lỡ lời, hoặc hành động làm cho tôi buồn thì dường như tôi không thể xoá nó khỏi tâm trí.
Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói với các môn đệ về nỗi buồn và niềm vui của các ngài. Nỗi buồn không thể tránh trong cuộc đời, nhưng nó không phải là chấm tận, mà dường như nó làm cho người ta ý thức hơn về niềm vui, hay làm cho niềm vui tăng gấp bội. Có lẽ suốt ba năm rong ruổi chia vui sẻ buồn với Thầy Giêsu, các môn đệ đã không bao giờ cảm được sự vui sướng như lúc gặp lại Thầy sau biến cố vượt qua. Vì các ông gặp lại vẫn con người Giêsu đó, nhưng đã thoát thai ra từ tận cùng của nỗi buồn là cái chết và bây giờ Ngài là Đấng Phục Sinh, là con người bất tử. Niềm vui vỡ oà và bao trùm tất cả đến độ Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy sẽ gặp lại anh em và lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.” (c.22).
Một niềm vui nội tại, sâu thẳm đến độ người ta sẵn sàng bước lên giàn hoả thiêu, hay nộp mình cho thú dữ ăn thịt, hoặc cùng chịu đóng đinh vào thập giá với Thầy, hay bị chặt đầu, bị thắt cổ cho chết, bị phanh thây thành trăm mảnh người ta vẫn không kêu ca. Và thậm chí có vị còn tiến ra pháp trường với lòng đầy vui sướng khi vừa đi vừa hát ca ngợi khen Thiên Chúa. Niềm vui ấy không giống như những niềm vui của thế gian ban tặng vì niềm vui ấy có tên gọi là “Giêsu Kitô Phục Sinh.” Vâng, Chúa Giêsu Phục Sinh chính là niềm vui bất tận của người tín hữu, không có gì thay thế được.
Ông tổ của chủ nghĩa vô thần đã cho rằng: “Tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện gây mê hoặc con người.” Phát biểu điều này, Kác-mác ám chỉ những người sống trong niềm tin tôn giáo chỉ là những con người yếu đuối, không dám chống lại các thế lực áp bức, nên tự ru ngủ mình bởi một thứ nhân đức chịu vậy, để vẽ ra một thứ phần thưởng, một niềm vui hạnh phúc ở đời sau. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, từ những kẻ không có niềm tin, cho đến những kẻ theo đuổi chủ nghĩa hưởng thụ, hoặc những kẻ giầu có chạy theo tiền bạc, cũng như những người theo đuổi danh vọng và quyền lực. Tất cả đều không đạt được niềm vui tối hậu của đời mình, thậm chí còn rơi vào bất hạnh.
- Voltaire là một dạng người vô tín rõ rệt nhất. Đã để lại câu nói: “Tôi ước mình chưa bao giờ được sinh ”
- Lord Byron sống một cuộc sống tiện nghi thoải mái mà nhiều người mơ ước. Nhưng anh ta đã viết: “Loài côn trùng, gây thối mục và đau buồn là nỗi cô đơn của tôi.”
- Jay Gould, triệu phú người Mỹ, có rất nhiều tiền. Khi sắp chết, anh ta nói: “Tôi cho rằng tôi là người đàn ông khốn khổ nhất trên trái đất.”
- Lord Beaconsfield thật thú vị về những chia sẻ của ông về địa vị và danh tiếng. Ông viết: “Tuổi trẻ là một sai lầm; tuổi trưởng thành là một cuộc đấu tranh; tuổi già là một sự tiếc nuối.
– Alexander Đại Đế đã chinh phục thế giới được biết đến vào thời của ông. Sau các cuộc viễn chính toàn thắng, ông đã bật khóc trong lều tạm của mình và nói: “không còn thế giới nào để chinh phục nữa.”
Điểm qua những nhân vật nổi tiếng này với những đại diện cho nhiều góc độ của những ước vọng và tham vọng của con người để thấy rằng tất cả đều đi vào ngõ cụt và đáng buồn khi họ lấy vật chất, hay cái tôi của mình làm trung tâm để phấn đấu. Vậy đâu là niềm vui thực sự được tìm thấy? Đối với chúng ta là những người có niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô thì câu trả lời rất đơn giản, chỉ trong Chúa Kitô. Vâng, “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn. Ơn cứu độ của tôi bởi Người mà đến” (Tv 62,2). Cũng trong Thánh vịnh 62 này, câu 6 lặp lại: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn. Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến.”
Cùng với Thánh Âu-gút-ti-nô chúng ta dâng lên Chúa lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con cho Chúa, nên hồn con vẫn còn thao thức cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa.” Niềm hy vọng và ơn cứu độ của con chính là Chúa. Ngài là niềm vui không ai có thể lấy đi được của mỗi chúng con. Amen.
ӷ
THỨ BẨY TUẦN VI MÙA PHỤC SINH – Gio-an 16,23-28
Cầu Xin Nhân Danh Chúa Kitô
Là người Kitô hữu, nếu chúng ta đã từng tham gia các giờ phụng vụ, đặc biệt là phụng vụ trong Thánh lễ. Các lời nguyện của Giáo Hội đều được theo một khuân mẫu mà Chúa Giêsu đã dạy trong bài Tin Mừng hôm nay đó là: Nội dung của Lời nguyện trước tiên là cầu xin với Thiên Chúa Cha. Nhưng đến cuối lời cầu nguyện thường là: “Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con.” Điều này nói lên rằng, khi chúng ta cầu xin điều gì thì chúng ta chuyển Lời cầu lên Chúa Cha qua Người Con Chí Thánh của Ngài là Chúa Giêsu Kitô. Đấng luôn làm trạng sư bênh đỡ mọi khiếm khuyết của chúng ta trước mặt Thiên Chúa Cha.
Hôm nay, Chúa Giêsu khuyến khích các môn đệ hãy mạnh dạn và can đảm mà kêu xin cùng Chúa Cha: “Thật, Thầy bảo thật anh em: Anh em mà xin Chúa Cha điều gì , thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn.” (c.23).
Lý do Chúa Giêsu khuyến khích các môn đệ xin trực tiếp với Chúa Cha vì Ngài muốn cho các môn đệ của Ngài biết rằng chính Chúa Cha yêu mến họ vì họ yêu mến và tin vào Chúa Con, Đấng Chúa Cha đã sai đến thế gian. Nhưng nay Ngài lại trở về cùng Chúa Cha, trong Ngôi vị Thiên Chúa, Ngài không còn cầu xin nữa: “Thầy không nói với anh em là Thầy sẽ cầu xin Chúa Cha cho anh em”. Nhưng Ngài cho phép chúng ta nhân danh Ngài để cầu xin.
Đó là Danh Cực Thánh và quyền uy mà Thánh Phao-lô đã diễn tả: “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2,10-11). Danh mà “Dân cư tận chân trời góc biển sẽ đến hát mừng Danh Thánh Chúa” (Tb 13,13). Nhà Vịnh gia cũng tuyên xưng: “Vì thế giữa muôn dân, con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng Danh Thánh Chúa” (Tv 18,50). Danh mà muôn dân nước phải ca khen: “Danh Thánh Chúa gần xa truyền tụng, tiếng ngợi khen Ngài khắp cõi lừng vang” (Tv 48,11). Vì Lòng nhân hậu của Ngài: “Ca tụng Chúa đi vì Chúa nhân hậu, đàn hát mừng Danh Thánh vì Danh Thánh ngọt ngào.” (Tv 135,3).
Trong nghi thức Phụng vụ, Lời cầu nguyện Thánh Thể Giáo Hội đã khai thác triệt để mô hình cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu mà cầu xin cùng Chúa Cha, ‘Chính nhờ Người (Chúa Giêsu), với Người và trong Người, và mọi vinh quang đều quy về Chúa là Cha Toàn năng, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần.’ Tất cả lời cầu nguyện của chúng ta đều có hình mẫu của Chúa Ba Ngôi.
Tuy nhiên, việc cầu nguyện trực tiếp với Chúa Cha trong Danh Chúa Giêsu không có nghĩa là cấm đoán một hình thức cầu nguyện với bất kỳ Đấng nào khác ngoài Chúa Cha. Theo truyền thống Công giáo, chúng ta cảm thấy thoải mái khi cầu nguyện với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria, thánh cả Giuse và các thánh, nhưng luôn luôn biết rằng Chúa Cha là đích đến cuối cùng của mọi lời cầu nguyện. Có thể ví mọi lời chuyển cầu khác giống như các dòng suối, tất cả đều tìm đường chảy vào đại dương thương xót của Chúa Cha.
Liên quan đến vấn đề này, David Jeremiah trong Lời cầu nguyện của ông, trong tác phẩm ‘Cuộc phiêu lưu vĩ đại’ đã kể rằng:
khi John F. Kennedy là Tổng thống Hoa Kỳ, tạp chí Life (Sự Sống) đã công bố những bức ảnh của các con ông, John Jr. và Caroline, đang chơi với đồ chơi của chúng trên sàn của Phòng Bầu dục. Những hình ảnh đó chiếm được cảm tình của người dân Mỹ vì kể từ trước tới giờ chưa hề có cảnh này xẩy ra trong toà bạch ốc. Tại sao? David Jeremiah nghĩ rằng đó là một chiếc cầu vì nó thu hẹp khoảng cách giữa hai suy nghĩ: Kennedy là Tổng thống Hoa Kỳ, nhưng ông cũng là một người cha. Ông ta nắm giữ quyền lực chính trị tối thượng trong Thế giới Tự do, nhưng đang chơi dưới chân ông ta là hai đứa trẻ gọi ông là Bố. Và ta biết ngoài những đứa trẻ con của vị tổng thống đương nhiệm thì không con của ai có thể ở đó. Nhưng những đứa trẻ của vị tổng thống được chơi ở đây vì ông là cha của chúng. Ông không chỉ là Tổng thống Hoa Kỳ; Ông cũng là cha của chúng. (trang 89-90).
Theo cùng một cách, Thiên Chúa vừa là Cha của chúng ta vừa là Thiên Chúa vinh quang. Chúng ta có thể tự tin tiếp cận Ngài khi cầu nguyện vì chúng ta là những đứa con yêu dấu của Ngài, nhưng chúng ta không bao giờ được quên rằng Ngài cũng là Chủ Tể của vũ trụ.
Có một giai thoại kể rằng: Một người đàn ông qua đời và về thiên đàng. Thánh Phê-rô dắt đi và chỉ cho anh ta những quang cảnh xung quanh. Một lúc sau đi ngang qua một nhà kho lớn, và người đàn ông hỏi thăm có những gì bên trong. Thánh Phê-rô nói: “Ồ, bạn sẽ không muốn thấy điều đó”. Sự tò mò của người đàn ông được khơi dậy và anh ta yêu cầu cho anh nhìn vào bên trong. Thánh Phê-rô mở cửa và họ thấy một nhà kho chứa đầy những điều tuyệt vời, xếp chồng lên nhau tới xà nhà.
Người đàn ông thắc mắc “Tại sao Ngài không muốn tôi thấy điều này?”. “Tất cả đều có vẻ tuyệt vời!” Vâng, rất tốt, Thánh Phê-rô nói, “Tôi nghĩ rằng nó có thể làm cho bạn buồn. Bạn thấy đấy, đó là tất cả những điều Chúa đã sẵn sàng để ban cho bạn, nếu bạn đã chỉ đơn giản xin Ngài khi cầu nguyện.
Chúa cũng biết chúng ta đang ở đâu. Và vì vậy, chúng ta hãy đặt mình vào tay Ngài, tập trung vào việc học biết ý muốn của Ngài cho cuộc sống của chúng ta và Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ hay quên chúng ta.
Lạy Cha Hằng Hữu, chúng con là những tạo vật đầy bẩn nhơ và không dám kêu cầu lên Cha. Nhưng nhờ Máu cực Thánh của Chúa Giêsu Con Cha đã thanh tẩy và cho chúng con biết rằng Cha luôn yêu thương chúng con trên hết mọi sự và sẵn sàng nghe lời kêu xin của chúng con. Xin cho chúng con biết nhận ra tình yêu của Cha dành cho mỗi chúng con, để mỗi ngày chúng con được gần Cha và yêu mến Cha nhiều hơn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.
ӷ