THỨ HAI TUẦN IV THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 5,1-20
Sự Chữa Lành Người Bị Quỷ Ám Ở Biển Hồ Ghê-ra-sa
Qua việc trừ quỷ ở Biển Hồ Ghê-nê-sa của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay chúng ta có thể suy ngẫm về ba điều.
- Ác thần mang đến cho chúng ta sự phân rẽ. Ác quỷ là một biểu tượng của sự phân rẽ, tự nội tâm, mỗi khi ta quay lưng lại với Chúa do tội lỗi mà mình đã phạm phải. Tự bên ngoài, những bất hòa trong gia đình, trong cộng đồng và ngoài xã hội… đây thường là những triệu chứng do công việc của ác quỷ. Ma quỷ cám dỗ người ta một cách dễ dàng, nó muốn trở thành những vị thần của con người nên rắt tâm gieo vào lòng họ những tư tưởng rằng: Thiên Chúa nói dối, Ngài hứa ban hạnh phúc nhưng thực tế lại thấy toàn là bất công, áp bức, người bóc lột người. Sự cám dỗ này có thể dẫn người ta đến sự hủy diệt vì không muốn tin vào Thiên Chúa nữa, hay đi tìm một Thiên Chúa nơi trần gian để thoả mãn những vinh hoa phú quý đời này.
- Sức mạnh của ác quỷ phải được khắc phục và không được thương lượng. Khi Chúa Giêsu không hiện diện, ác quỷ lộng hành và không kiểm soát được, tạo ra sự rối loạn lớn và con người dường như bất lực, sức mạnh của ác thần khống chế họ. Ngày nay, do hoàn cảnh, cách này hay cách khác mà có rất nhiều nơi người ta vẫn chưa hề biết Chúa Giêsu Ki-tô, chưa được trải nghiệm ân sủng và lòng thương xót của Ngài. Có rất nhiều lĩnh vực văn hóa và cuộc sống hiện đại vẫn chưa được ánh sáng Phúc âm của Chúa Ki-tô chiếu rọi. Kết quả là sức mạnh của cái ác đã lên ngôi khiến nhiều người chìm ngập trong tội lỗi, tìm kiếm sức mạnh nơi những vũ khí huỷ diệt giết người hàng loạt, cũng như nạo phá thai vô kể.
Nhưng một khi có sức mạnh của Chúa Ki-tô để đối đầu với ác quỷ thì tà thần không thể chống cự được nữa, tội lỗi và sự chết không còn đất dụng võ. Nếu người ta biết đặt tất cả niềm tin và hy vọng vào Chúa Giêsu Ki-tô thì quả thật cái ác và sự chết chóc của tà thần không còn tồn tại nơi trần gian này. Tuy nhiên, trong thực tế, thật buồn khi người ta quá dễ dàng và thường xuyên bị cám dỗ, muốn thỏa hiệp với tội lỗi, với sự dữ và tìm cách hợp lý hóa hành động của mình. Và như vậy sự bình an luôn vắng bóng trong cuộc đời họ. Vì thế, hãy mở lòng mình cho Chúa Giêsu Ki-tô một cơ hội đi vào và cư ngụ trong đó, qua việc lắng nghe và thi hành Lời Chúa, tham dự và rước Chúa trong bí tích Thánh Thể, Ngài sẽ phá hủy và trục xuất sự dữ khỏi cuộc sống và đổ tràn bình an của Ngài trong ta.
- Đức tin vào Chúa Giêsu phải được chia sẻ cho người khác. Người bị quỷ ám đầy khát khao theo Chúa Giêsu sau khi được chữa lành, nhưng thay vào đó Ngài lại trao cho anh ta một nhiệm vụ khác. Anh ta muốn đi với Chúa Giêsu bởi lòng biết ơn vì đã được giải thoát khỏi tội lỗi và cái chết, nhưng Chúa Giêsu ra lệnh cho anh ta ở lại và làm chứng cho sức mạnh và lòng thương xót của Ngài: “Hãy về nhà với gia đình và tường thuật lại cho họ về lòng thương xót của Chúa và những gì Ngài đã làm cho anh.” Đi xa hơn phạm vi gia đình, thông điệp về Chúa Giêsu chiến thắng tội lỗi và đã phá vỡ sự kìm kẹp của ác quỷ, phải được lan rộng đến với dân làng và đến với mọi người. Đó là ý nghĩa của thông điệp mà Chúa muốn nơi những người đã đón nhận hồng ân đức tin và những ơn lành Ngài đã làm cho chúng Hãy ra đi và loan báo cho muôn dân.
Quả thật, đức tin Công giáo mà ta có được là do những chứng nhân của đức tin từ người khác, từ các nhà truyền giáo, từ cha mẹ, linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người không xấu hổ khi chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của họ về Thiên Chúa. Bây giờ là nhiệm vụ của mỗi người tín hữu, để tuyên xưng với những người khác về những gì Chúa đã làm cho mình, về lòng thương xót của Ngài thế nào, về thao thức muốn chia sẻ và sự mong đợi người khác sẽ đến với Chúa Giêsu. Đây là thước đo về niềm tin và lòng mến trong sứ mệnh tông đồ mà Chúa muốn mỗi người môn đệ của Ngài thực hiện.
Xin Chúa luôn ở lại với chúng con, xua trừ đi những ác tâm, ác tà. Biến đổi chúng con thành những chứng nhân anh dũng, biết sống đức tin và giới thiệu Chúa cho mọi ngươi. Amen.
THỨ BA TUẦN IV THƯỜNG NIÊN- Mác-cô 5,21-43
Đức Giêsu Chữa Một Người Bị Rong Huyết Và Cho Con Gái Ông Gia-ia Sống Lại
Gary Thomas trong tập san: Christianity Today, ngày 3 tháng 10 năm 1994, trang 26 thuật lại rằng: Khi George Bush đang là Phó Tổng thống, đại diện cho Hoa Kỳ. Tại tang lễ của cựu lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev. Bush vô cùng xúc động trước hành động quả quyết âm thầm của góa phụ Brezhnev. Bà đứng bất động bên cạnh quan tài trước khi nó được đóng lại và được khiêng đi bởi những người lính, bà đã thực hiện một hành động rất dũng cảm của niềm hy vọng. Bà cúi xuống và làm dấu thánh giá trên ngực chồng. Cử chỉ này được coi là một hành động bất tuân dân sự. Người ta nói rằng, vợ của người đàn ông vô thần có quyền lực thế tục, hy vọng rằng chồng mình đã sai. Bà hy vọng rằng có một cuộc sống khác và cuộc sống đó được đại diện tốt nhất bởi Chúa Giêsu, Đấng đã chết trên thập tự giá, và cũng chính Chúa Giêsu có thể thương xót chồng bà.
Hai nhân vật mà Phúc âm hôm nay đề cập đến đã đến gần Chúa Giêsu và cầu xin Ngài cứu giúp. Ông trưởng hội đường nài xin Chúa Giêsu đến đặt tay lên đứa con đang hấp hối của mình, và người phụ nữ muốn Chúa Giêsu chữa cho bà ấy khỏi bệnh rong huyết đã kéo dài mười hai năm. Động lực nào làm cho họ tìm đến với Chúa Giêsu? Đó là niềm hy vọng có một phép màu hay một lời an ủi trong sự phiền não của họ? Chúa Giêsu cho họ hy vọng, và nhất là cho những người có hoàn cảnh tuyệt vọng, những điều mà nơi con người không thể can thiệp, thì niềm hy vọng nơi Ngài được thắp lên và hướng họ đến Thiên Chúa. Ngài đã ban những lời hy vọng cho họ. Đối với người phụ nữ Ngài nói: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”
Chúa Giêsu cũng trao hy vọng thiêng liêng cho một người cha vừa mất một đứa con yêu dấu. Ông ta rất can đảm để đến với Chúa Giêsu ngay cả khi phải nhận sự khinh miệt của hàng xóm và họ hàng của mình.
Ngay cả những người được thuê than khóc cũng cười nhạo ông ta, vì sự đau buồn của họ không có bất kỳ niềm hy vọng nào. Nhưng Chúa Giêsu đã chứng minh họ sai, Ngài nắm lấy tay cô bé và giải thoát cô khỏi quyền lực của cái chết. Thánh Phê-rô Kim Ngôn, một Giáo Phụ vào thế kỷ thứ 5 đã nhận xét về phép lạ này như sau: “Người đàn ông này là một viên trưởng hội đường và thông thạo luật. Ông chắc chắn đã đọc rằng, trong khi Thiên Chúa tạo ra tất cả muôn vật muôn loài bằng Lời nói của mình, nhưng con người đã được tạo ra bởi bàn tay của Thiên Chúa. Do đó, ông tin tưởng vào Thiên Chúa, tin rằng con gái mình sẽ được tái tạo và phục hồi sự sống bằng chính bàn tay mà ông biết, đã tạo ra con gái của ông, Bàn tay đã đặt lên cô để hình thành cô từ hư vô những gì đã bị diệt vong.”
Hy vọng là một trong ba nhân đức trụ cho đời sống Ki-tô hữu. Ta có quyền và nghĩa vụ để tin vào Thiên Chúa, Người đã yêu thương và kêu gọi ta đến cuộc sống vĩnh cửu, sẽ không bao giờ bỏ rơi những ai hy vọng vào Người. Giáo lý Giáo hội Công giáo số 1813 nói rằng: “Tại Bí tích Rửa tội, Thiên Chúa gieo vào mỗi Ki-tô hữu đức trông cậy của niềm hy vọng.” Hy vọng mà các Ki-tô hữu được trao là một món quà thiêng liêng. Đó không phải là một mong muốn nông cạn của con người mà là một niềm tin chắc chắn rằng, chính Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để thực hiện. Ân sủng của Ngài kêu gọi chúng ta thực hiện qua những hành động của hy vọng, trung thực trong lời nói, tin tưởng vào Thiên Chúa, đó là điều Ngài muốn nơi chúng ta. Ngài mời gọi tất cả mọi người, để làm cho cuộc sống của họ mạnh mẽ hơn và vui mừng hơn bằng cách không bao giờ ngừng hy vọng vào Ngài (GLCG số 1818).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết chạy đến với Chúa với tất cả niềm tin và niềm hy vọng để chúng con thực sự cảm nếm được hạnh phúc của Tin Mừng Chúa ban trong cuộc đời chúng con. Amen.
ӷ
THỨ TƯ TUẦN IV THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 6,1-6
Đức Giêsu về thăm Na-da-rét
Tôi đã đọc câu chuyện trên báo nói về một người phụ nữ đến thăm anh trai ở một ngôi làng kia, nhưng bị cư dân nơi đó nghi ngờ cô mắc bệnh SARS. Tất cả chỉ vì cô ấy kêu chóng mặt và ho. Người dân đã làm gì? Họ đã đưa cô ấy ra khỏi làng ngay lập tức.
Dù sao đi nữa, những lời chỉ trích từ chối thường đến từ những người rất quen thuộc với ta, có thể là một trong những thành viên trong gia đình, người thân hoặc hàng xóm mà ta thường xuyên cận kề. Chúa Giêsu cũng không ngoại lệ. Giống như người phụ nữ bị nghi mắc bệnh SARS, khi trở về quê nhà không chỉ đơn giản là con trai bác thợ mộc mà giờ là một giáo sĩ cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu phải đối mặt với số phận tương tự. Kinh nghiệm của Ngài còn tệ hơn! Ngài không mang bệnh SARS nhưng tất cả những gì Ngài muốn làm là truyền bá Tin Mừng. Trên thực tế, Ngài không lan truyền bất kỳ loại bệnh nào ngoài việc chữa lành cho những người mắc bệnh.
Nói cách khác, những người đồng hương rất thiên vị đối với Ngài. Lý do là, họ biết cha của Ngài là một bác thợ mộc, mẹ và anh em họ hàng của Ngài là láng giềng của họ.
Theo thông lệ của người Do-thái, mỗi tuần trong ngày Sa-bát, Chúa Giêsu sẽ đến hội đường để tham dự phụng vụ. Và đến lúc Ngài lên đọc Kinh Thánh, những người ở quê nhà của Ngài chăm chú lắng nghe trong dịp này, vì họ đã nghe về những phép lạ mà Ngài đã thực hiện ở các thị trấn khác. Mọi người đều trầm trồ và ngạc nhiên về những lời phát ra từ môi miệng Ngài, nhưng rồi sự thân quen gần gũi đã che lấp đi gây phút ngỡ ngàng, hình ảnh của anh thợ mộc nơi họ đã lấn át tất cả, sự nghi ngờ sâm chiếm tâm hồn họ. Hiểu thấu tâm can của họ, Chúa Giêsu đã làm họ giật mình với một lời quở trách rằng: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” Quả thật, Người dân Na-da-rét đã xúc phạm và từ chối lắng nghe những gì Ngài nói. Họ không thể đón nhận được lời rao giảng của một anh thợ mộc, một giáo dân đơn thuần không kinh qua các trường lớp và bằng cấp học vị, và rồi họ khinh thường vì gia đình thân nhân của Ngài cũng không có gì nổi trội khác thường. Đúng là quên quá hóa nhàm hay hóa nhầm lẫn khinh miệt.
Vâng, Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Ngôi Lời Nhập Thể, Ngài đã trở nên một con người thuần tuý đến độ tầm thường giữa những con người tầm thường nhất, để chia sẻ những nỗi yếu hèn của kiếp người. Ngài chịu mọi thử thách về mọi phương diện giống như ta nhưng không phạm tội (x. Dt 4,15). Thế nên, nếu dùng con mắt thể lý, và những dục vọng danh lợi của thế gian để nhìn thì con người sẽ không có cơ hội gặp gỡ được Thiên Chúa, cho dù Ngài đang hiện diện ngay trước mắt và đang nói chuyện với ta. Vậy muốn nhận biết Thiên Chúa trong cuộc đời, điều kiện cần phải có là:
- Một trái tim thuần khiết. “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Chỉ khi nào có trái tim trong sạch mới có thể vượt ra khỏi hoàn cảnh bình thường và tầm thường của cuộc sống, của thế giới xung quanh và nhìn thấy Thiên Chúa. Đức Giám mục Soc Villegas nói rằng: “Chỉ có trái tim thuần khiết mới có thể nhìn thấy công việc của Thiên Chúa ở trong hoa, ở trẻ em đường phố, trong sự giản dị, trong thường lệ ngày qua ngày của cuộc sống.” (x. Sách ‘Chỉ có Chúa Giêsu Luôn là Chúa Giêsu’, 204)
- Cầu nguyện. Chúa Giêsu là mẫu gương của những người tin, khi Ngài luôn cầu nguyện với Chúa Cha, đàm đạo và gặp gỡ Chúa Cha trong cầu nguyện để Ngài có thể vượt qua mọi định kiến của con người và hăng say dấn thân rao giảng Tin Mừng, mặc cho người ta đón nhận hay không. Điều này Ngài dạy cho ta rằng, nếu không sống trong cầu nguyện người ta sẽ dễ bị ngục ngã trước những sóng gió của cuộc đời, của miệng lưỡi người đời và đặc biệt lại còn là của những người thân yêu nhất! Chỉ khi thực sự cầu nguyện với đức tin, tín thác vào Chúa, mới có thể nhận ra khôn mặt của Thiên Chúa giữa những gì bình thường và tầm thường nhất trong của cuộc sống.
Qua Tin Mừng hôm nay, ta tự hỏi, Làm thế nào để tránh những thành kiến mà những người đồng hương của Chúa Giêsu đã vấp phải, hay nếu ta là sứ giả của Chúa bị từ chối, đặc biệt là bởi những người mà chúng ta coi là bạn bè thân thích? Hãy chuẩn bị cho mình một trái tim thuần khiết, và một đời sống câu nguyện tín thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Và hãy nhớ lại những lời từ Thánh Phao-lô: “Đừng để sự ác thắng được mình; nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.” (Rm 12,21).
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết không tìm vinh quang nơi bất cứ phàm nhân nào nhưng biết trung thành trong đường lối và huấn lệnh của Chúa, lấy tình thương mà khoả lấp mọi khó khăn trong cuộc đời. Amen.
ӷ
THỨ NĂM TUẦN IV THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 6,7-13
Đức Giêsu Sai Nhóm Mười Hai Đi Giảng
Một nhà truyền giáo ở New Guinea kể câu chuyện: Một vị cao niên mới trở lại đạo Công Giáo, thường đến truyền giáo hàng ngày tại bệnh viện để đọc Tin Mừng cho bệnh nhân ngoại trú.
Một ngày nọ, người đàn ông gặp khó khăn trong việc đọc chữ. Bác sĩ kiểm tra mắt ông và phát hiện ra ông sắp bị mù. Ngày hôm sau, ông lão không còn xuất hiện tại bệnh viện nữa. Có người nói đã thấy ông ấy đi một mình tới một ngọn đồi. Vài tuần sau, một cậu bé dẫn bác sĩ đến chỗ ông và hỏi tại sao ông không tiếp tục đến bệnh viện nữa?
Ông lão giải thích với bác sĩ rằng: tôi đang học thuộc lòng Tin Mừng trong khi vẫn có thể nhìn thấy. Ngay sau đó, tôi sẽ quay lại bệnh viện, thưa bác sĩ, và tôi sẽ tiếp tục công việc giảng dạy Tin Mừng cho bệnh nhân ngoại trú.
Câu chuyện này như thức tỉnh các môn đệ của Chúa Giêsu là mỗi chúng ta. Làm thế nào để ta vượt qua những trở ngại để có thể tiếp tục chia sẻ Tin Mừng? Đức Ki-tô không chỉ kêu gọi ta theo Ngài mà Ngài còn sai đi. Đây là sứ vụ cần được thành toàn của người môn đệ.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sai mười hai Tông đồ ra đi rao giảng Tin Mừng. Ngài sai các ông đi từng hai người một. Tại sao lại hai người một? Lý do là uy tín. Trong Do Thái giáo, cần có hai nhân chứng để chứng thực về sự thật của một hành động được thực hiện. Các ông được sai đi để làm nhân chứng cho Chúa và Tin Mừng của Ngài. Vì thế, Ngài ban quyền năng cho họ thực hiện những công việc của Ngài, nghĩa là xua đuổi ma quỷ, chữa lành bệnh tật và nói lời của Chúa.
Làm chứng nhân nghĩa là trở nên giống Thầy: “không mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để thắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”. Con Thiên Chúa bỏ Ngai vàng vinh hiển từ trời cao xuống thế để huỷ mình ra không (x. Pl 2,6-7). Điều trước tiên Ngài muốn các môn đệ của mình từ bỏ để trở nên giống Thầy trong mọi phương diện. Đặc biệt trong tinh thần phó thác vào Chúa quan phòng. Bản chất của việc từ bỏ mọi thứ để trở thành hiện thân sống động của Chúa Ki-tô và những gì Ngài đã sống. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20; Lc 9,58). Đây là phương châm bất biến của một người truyền giáo cần luôn ghi nhớ: tin tưởng vào Chúa hơn là vào chính mình hay vào một tổ chức; không rao giảng về chính mình mà chỉ giảng về một mình Chúa và Tin Mừng của Ngài; kết quả của những nỗ lực của mình không chỉ phụ thuộc vào bản thân mà chỉ phụ thuộc vào Thiên Chúa.
Theo Công đồng Vatican II khẳng định, tất cả chúng ta, những người đã được rửa tội, nhờ vào phép thanh tẩy, chúng ta đã là những người truyền giáo của Chúa. Vì Ngài cho ta tham dự trọn vẹn vào sứ vụ tư tế, vương giả và ngôn sứ của Ngài.
Cánh đồng truyền giáo có thể là gia đình của mình, nơi người chồng, người vợ, nơi những đứa con cần được đưa đến với Chúa Ki-tô, giới thiệu một Chúa Ki-tô sống động cho họ. Khu vực truyền giáo có thể là văn phòng làm việc, nơi một ông chủ hoặc các đồng sự. Khu phố nơi ta đang sống, nơi ta được gửi đến để mang lại hòa bình và hiệp nhất cho những người mất niềm tin vào nhau, những người hàng xóm tranh chấp bất hoà.
Hãy là hiện thân của Chúa Ki-tô với cây gậy của niềm tin tín thác vào Thiên Chúa, và đôi dép của tình yêu thương để giới thiệu Chúa Ki-tô cho mọi người.
Cuối cùng, trong xã hội Việt Nam của chúng ta, với 7% là người Công Giáo, nghĩa là cứ một người công giáo thì có tới 15 người chưa nhận biết Chúa Ki-tô, chưa được nghe rao giảng Tin Mừng, và họ chưa gặp được một Chúa Ki-tô sống động qua các môn đệ của Ngài. Ước gì đây là mối bận tâm của chính mỗi người Ki-tô hữu, khi chúng ta đã được Chúa sai đi ngay từ khi đón nhận bí tích thanh tẩy.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con không chỉ giữ vững niềm tin cho mình, nhưng còn biết chu toàn sứ vụ mà Chúa trao cho mỗi chúng con là làm chứng nhân cho Chúa và Tin Mừng của Ngài cho mọi người. Amen.
ӷ
THỨ SÁU TUẦN 4 THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 6,14-29
Cái Chết Của Ông Gio-an Tẩy Giả
Pierre Troubetzkoy đã nói nên vấn nạn về một sự thật nơi con người rằng: “Tại sao con người mong đợi sự cầu nguyện của mình được lắng nghe bởi lòng thương xót trên cao, trong khi anh ta tỏ ra không thương xót những gì ở dưới mình?”
Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện vua Hê-rô-đê chặt đầu Thánh Gio-an Tẩy Giả, mặc dù ông không thực sự muốn, nhưng ông đã hứa với con gái của Hê-rô-đi-a là vợ của người anh trai là Phi-lip-phê mà ông đã chiếm làm vợ của mình. Mặc dù biết mình đang sống trong sự bất chính nhưng ông vẫn bảo vệ cái sĩ diện ảo của mình là lời hứa để rồi, với lời xúi dục của bà Hê-rô-đi-a, cô con gái của bà đã yêu cầu ông chặt đầu Gio-an Tẩy Giả để trên mâm, và ông đã làm như vậy!
Qua đó Tin Mừng cho ta một cái nhìn thoáng qua về hai loại người. Thánh Mác-cô dường như cố tình so sánh hai loại người này. Một mặt, Thánh Gio-an Tẩy giả là người mạnh mẽ, xứng đáng với sự ngưỡng mộ và đáng tin cậy. Ngài không ngại nói ra sự thật, nói một cách trung thực, táo bạo và can đảm mà không sợ hậu quả của việc mình làm. Ngài bị chặt đầu vì không ngại nói thẳng về đời sống vô đạo đức, vô luân lý của vua Hê-rô-đê, kẻ đã cướp vợ của anh trai mình.
Mặt khác, Hê-rô-đê là một kiểu người yếu đuối, nhu nhược và không có lập trường. Phản ứng của ông ta với người khác, với những sự kiện thì bất nhất. Điều đó cho thấy ông có một tính cách rất bất ổn, không vững chắc. Cụ thể là: khi Thánh Gio-an chỉ trích về lối sống vô đạo đức, hẳn ông ta rất tức giận, Nhưng khi nhốt Thánh Gio-an trong tù, ông ta bắt đầu sợ sự ngay thẳng, công chính và thánh thiện của Gio-an.
Trong cuộc sống ngày nay, không thiếu những gương mặt của Hê-rô- đê trong đó có mỗi người chúng ta. Ta thường gặp những nguyên tắc đạo đức luân lý của Ki-tô giáo bị đảo lộn vì những sự sĩ diện ảo, hay sự sợ hãi nhu nhược trước con mắt thế gian, sợ mất uy tín, cũng như sợ phải trả giá đắt cho lập trường về niềm tin của mình; có thể cái giá phải trả là mất đi một số bạn bè, mất công ăn việc làm hoặc bị người khác xem thường. Thế rồi, thay vì đứng về phía Thiên Chúa và lập trường Tin Mừng của Ngài, lên tiếng và bênh đỡ cho sự thật đúng với bản chất của một người Công Giáo, thì ta dễ dàng lờ đi, bỏ qua như không biết, tệ hơn là a dua theo lập trường sai trái của những kẻ cường quyền để cầu an. Hay như Hê-rô-đê, với thói quen sống vô đạo đức nên bưng tai bịt mắt trước những lời nhắc nhở của Thiên Chúa, và ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi, phớt lờ đi tiếng nói của lương tâm.
Có lẽ cuộc đời không cái gì có giá trị mà lại quá dễ dãi có được. để thực sự là một Ki-tô hữu và là một thánh nhân. Cái giá phải trả bằng những hy sinh là không thể tránh khỏi. Ta hãy nghĩ về Thánh Gio-an Tẩy Giả và các vị tử đạo Ki-tô giáo khác. Đó là những tấm gương can đảm và anh dũng, họ đã thắng thế gian và những cám dỗ của thế gian. Cam đảm từ bỏ những danh lợi tạm thời và sẵn sàng đứng lên bênh vực chân lý đức tin. Họ là những người dám từ bỏ để theo con đường của Thầy Giêsu nhằm đạt tới chân lý vẹn toàn và niềm vui vĩnh cửu. họ là những người được ngàn đời ca ngợi do phần thưởng lớn lao mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai anh hùng chiến đấu, dám hy sinh cho chân lý Tin Mừng của Ngài. Và cuối cùng, họ là những tấm gương can đảm mạnh mẽ và bất khuất để chúng ta noi theo.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết noi theo thánh Gio-an Tẩy Giả, trung thành với chân lý đức tin, dám hy sinh từ bỏ vì Chân Lý Tin Mừng để thực sự là một Ki-tô hữu. Amen.
ӷ
THỨ BẢY TUẦN IV THƯỜNG NIÊN – Mác-cô 6,30-34
Sự Trở Về Của Nhóm Mười Hai
Bruno Hagspiel đã kể câu chuyện rằng Thánh Gio-an Tông đồ nuôi một chú chim sẻ và ngài thích chơi với nó hàng giờ. Một ngày nọ, một thợ săn đến thăm ngài và rất ngạc nhiên khi thấy một người nổi tiếng như vậy lại bỏ hàng giờ để chơi với chim sẻ. Anh nghĩ bụng: Lẽ ra ngài có thể sử dụng thời gian đó để làm một việc gì tốt và quan trọng hơn. Vì vậy, anh ta đã hỏi thánh nhân, tại sao ngài lãng phí thời gian? Tại sao lại dành nhiều thời gian cho một con chim sẻ vô dụng như vậy?
Thánh Gio-an ngạc nhiên nhìn anh ta rồi tự hỏi: Tại sao tôi không nên chơi với chim sẻ? Tại sao một người như thợ săn không hiểu điều đó? Vì vậy, ngài hỏi anh ta, Tại sao dây trên cung của bạn không căng?
Đó là điều không thể thực hiện; bạn không thể giữ chặt dây cung mọi lúc nếu không cây cung sẽ mất đi sức căng và trở nên vô dụng khi bắn mũi tên.
Thánh Gio-an sau đó nói với chàng trai trẻ, bạn của tôi, giống như bạn luôn giải phóng sự căng thẳng trên dây cung của mình, vì vậy bạn phải giải phóng sự căng thẳng bên trong bạn là thư giãn. Nếu tôi không thư giãn và giải trí, tôi sẽ không có sức mạnh cho bất kỳ công việc tuyệt vời nào. Tôi thậm chí sẽ không có sức mạnh để làm những gì tôi phải làm, những gì cần thiết và đòi hỏi sự tập trung hoàn toàn của tôi.
Tin Mừng hôm nay kẻ lại rằng; người ta kẻ lui người tới quá đông đến độ các môn đệ không có thời giờ để nghỉ ngơi ăn uống nữa! Và người ta luôn chú ý đến các ngài, đến mức mà Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài khó có thời gian dành cho mình.
Vì vậy, để có một bữa ăn ngon và làm mới lại mối liên kết giữa các môn đệ và Thầy, Chúa Giêsu nói họ đi ‘đến một nơi vắng vẻ’, nơi mà có ít người lui tới để thầy trò có thể chia sẻ cũng như nghỉ ngơi. Vì các ông cần phục hồi sức khỏe thể chất và tinh thần để có thể sẵn sàng cho các nhiệm vụ trong tương lai. Và trên hết, ở nơi vắng vẻ, không có phiền nhiễu. Ở đó, trong thinh lặng, Thiên Chúa có thể nói với trái tim con người và uốn nắn nó theo cách của Ngài.
Quả thật, tĩnh lặng rất quan trọng đối với sức khỏe của tinh thần và thể lý, trí tuệ và tâm linh. Cuộc sống của con người trong thời đại ngày nay có quá nhiều công việc. Người ta không có thời gian cũng không có cơ hội yên tĩnh. Nhưng chỉ khi nào người ta tĩnh lặng, âm thầm đặt mình thong dong trước sự hiện diện của Thiên Chúa, người ta mới có cơ hội khám phá cuộc sống của mình.
Hơn ai hết, Chúa Giêsu biết sự cần thiết của tĩnh lặng. Vì chính Ngài thực hành điều đó khi Ngài đã thường xuyên đi đến một nơi vắng vẻ để cầu nguyện, hiệp thông mật thiết với Chúa Cha. Đó là lý do tại sao Ngài dạy các môn đệ của Ngài cũng làm như vậy. Và đồng thời Ngài cũng dạy cho mỗi người chúng ta hãy tìm nơi thinh lặng để thư giãn. Để có thể làm mới lại con người của mình, cho thân xác được nghỉ ngơi và tâm hồn kín múc được nguồn năng lượng tích cực của sự sống, khi kết hiệp mật thiết với Đấng hằng nói với tâm hồn ta qua thinh lặng. Đó là cách Chúa Giêsu đã thực hiện để cân bằng công việc với sự nghỉ ngơi thư giãn cho các môn đệ của Ngài. Ngài khuyến khích họ làm công việc truyền giáo nhưng cũng cho phép họ có cơ hội rút lui, hồi phục, có thời gian cho bản thân, có một chút tĩnh lặng và bình yên.
Ước gì mỗi người chúng ta biết áp dụng lời dạy của Chúa Giêsu, để cân bằng trong cuộc sống giữa ồn ào và náo nhiệt này. Tôi có tìm thấy thời gian để ở một mình với Chúa và với những suy tư của chính mình không? Mỗi ngày tôi có thể dành riêng ra ít phút để sống âm thầm với Thiên Chúa trong chính nội tâm của mình không? Hãy đặt mình trước sự hiện diện của Chúa, nhìn lại để phát triển hay sửa đổi và làm mới lại đời sống đức tin của mình. Nếu không tự tìm cho mình khoảng thời gian tĩnh lặng đó, thì cũng đồng nghĩa với việc ta đang dậm chân tại chỗ, có cái vỏ mà không có ruột. Có thể là Ki-tô Hữu nhưng không phải là môn đệ của Chúa Giêsu. Vì đây là cách Chúa Giêsu đã làm và đã dạy cho các môn đệ của Ngài: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Amen.
ӷ