LỄ THÁNH STÊ-PHA-NÔ TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI – Cv 6, 8-10; 7,54-59; Mát-thêu 10,17-22
Hôm nay chúng ta mừng lễ Thánh Stê-pha-nô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội. Với sự tử đạo của Stê-pha-nô, bắt đầu một danh sách dài các vị tử đạo đã hy sinh mạng sống quý giá của mình vì đức tin vào Chúa Giêsu, đối với họ đức tin quan trọng hơn cuộc sống.
Nhiều vị thánh muốn trở thành những vị tử vì đạo như: Khi Thánh Tê-rê-sa thành Avila lên bảy tuổi, cô đã thuyết phục anh trai mình cùng đi lên vùng đất của người Ma-rốc và xin họ, vì tình yêu của Chúa, hãy chém đầu của chúng tôi. Khi hai anh em đang trên đường đi tới Ma-rốc. Một người chú đã bắt gặp và bắt đem trở về nhà. Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng thì muốn đi đến vùng đất ngoại giáo và muốn được chết tử đạo vì Chúa Kitô.
Stê-pha-nô được chọn là một trong bảy người phó tế tiên khởi của Giáo Hội nhằm phụ giúp các Tông Đồ phân phát thức ăn cho các góa phụ người Hy Lạp trong số các Kitô hữu đầu tiên. Tên của ông có nghĩa là, vương miện của sự chiến thắng. Sau đó, Stê-pha-nô bắt đầu rao giảng Tin Mừng về Nước Trời. Ông đã có thể thuyết giảng cho những người Do Thái nói tiếng Hy Lạp, từ Hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, thuyết giảng một cách mạnh mẽ và can đảm. Nhóm người này là hậu duệ của những người Do-thái nô lệ bị bắt và đưa đến Rô-ma, bởi Pompey vào năm 63 trước công nguyên. Khi sau đó họ bị trục xuất khỏi Rô-ma, một số người đã đến Giê-ru-sa-lem và thành lập một giáo đường ở đó.
Stê-pha-nô có thể là thành viên của một trong những hội đường này. Các Kitô hữu tiên khởi đã không ngay lập tức rời khỏi các phụng vụ thờ phượng của người Do-thái cho đến khi họ bị đàn áp. Đầu tiên những người Do-thái cố gắng bác bỏ luận điệu niềm tin của Stê-pha-nô qua tranh luận, nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông. Họ đã sử dụng các nhân chứng giả, khuấy động mọi người và kéo Stê-pha-nô ra trước tòa công luận. Họ buộc tội ông đã nói chống lại đền thờ. Trong khi Stê-pha-nô đầy ơn Chúa Thánh Thần, mọi người thấy rằng khuôn mặt của ông tỏa sáng giống như khuôn mặt của một thiên sứ. Ông đã có bài diễn thuyết dài và đầy chất khôn ngoan. Sự thất bại của đám đông khiến họ phát cuồng. Họ kéo ông ra khỏi thành phố và ném đá cho đến chết, với sự đồng ý và giúp đỡ của ông Sao-lô.
Chúng ta học được gì từ tính cách qua việc tử đạo của Stê-pha-nô?
Stê-pha-nô là người đầy Thánh Thần. Đó là yêu cầu của một nhà truyền giáo để làm chứng nhân hiệu quả của Chúa Kitô. Chỉ sống trong Chúa thánh thần, đi trong Thần Khí và rao giảng bằng Thần Khí của Thiên Chúa. người ta mới có đủ khôn ngoan chống đỡ lại những sự đối lập bách hại đạo Chúa. Như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Ngài, khi họ bị áp giải tới trước các thượng hội đồng và vua quan: “Vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” (Lc 12,12). Các chứng nhân sống trong Thần Khí và đi trong Thần Khí của Thiên Chúa sẽ trổ sinh những hoa trái như: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” (Gl 5,22-23). Những phẩm chất này không được tạo ra qua sự bột phát mà qua nhiều năm bước đi trong Thánh Thần. Sự viên mãn của Thánh Thần là vấn đề tiến bộ và trưởng thành trong đức tin. Vì thế, là người môn đệ của Chúa, ta phải dấn thân hàng ngày để phục tùng và lệ thuộc vào Thánh Thần của Thiên Chúa qua học hỏi Lời Chúa và cầu nguyện. Khi thực hiện các điều đó, Ngài sẽ trồng hoa trái của Ngài trong trái tim và cuộc sống của chúng ta.
Stê-pha-nô đầy ân sủng. Đó là điều hiển nhiên từ phản ứng của ông đối với những kẻ bắt bớ mình. Lời cầu nguyện của ông trùng khớp với lời Thầy Giêsu trên Thập giá, khi Ngài trút hơi thở cuối cùng. Stê-pha-nô đã không nguyền rủa những kẻ bách hại mình khi họ ném đá để giết chết ông, mà chỉ quỳ gối cầu nguyện cho họ, “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này!” (Cv 7,60). Quả thật, chỉ có một nhân chứng thực sự của Đức Kitô mới có thể thấm nhuần tinh thần tha thứ của Ngài cách sâu sắc trong cuộc sống của mình, ngay cả vào giờ chết. Những lời cuối cùng của ông như những lời của Thầy Giêsu, lời thương xót và tha thứ. Và chắc chắn điều này đã dẫn đến sự chuyển đổi bên trong của Sao-lô sau này.
Thánh Stê-pha-nô đã gợi lên cho chúng ta là những môn đệ của Chúa những lời chất vấn: Thái độ của tôi với những người đang bách hại tôi trong cuộc sống hàng ngày là gì? Làm thế nào để tôi trả lời khi mọi người phản ứng với tôi một cách thô lỗ và xúc phạm tôi cách công khai? Tôi có thể tha thứ cho họ từ trong trái tim mình và cầu nguyện cho họ không?
Thánh Stê-pha-nô đã can đảm tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô bất cứ khi nào có thể, còn tôi thì sao? Stê-pha-nô đã để lại cho chúng ta một ví dụ về chứng nhân kiên cường mạnh mẽ. Cái chết của Ngài là một bước chân đi vào bên kia cánh cửa của sự sống. Vì thế, ngay cả khi đối mặt với sự bắt bớ, ngài đã luôn giữ bình an cho tâm hồn mình dưới chân Chúa. Ta hãy cầu nguyện để ước gì cái chết của mình cũng có thể là một thoáng nhìn về thiên đàng, và những tâm tưởng của ta tại thời điểm chết sẽ giống như thánh Stê-pha-nô.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin nhận lấy linh hồn con trong giờ lâm tử, và vì sự cứu rỗi của mọi người xung quanh, xin giúp con biết tha thứ trước mọi sự bách hại như thánh Stê-pha-nô. Amen.
LỄ THÁNH GIO-AN TÔNG ĐỒ – Gio-an 20,1a.2-8
Ngôi Mộ Trống
Hai ngày sau Giáng Sinh, chúng ta cử hành Lễ Thánh Gio-an thánh sử, tông đồ của Chúa Giêsu là người duy nhất trong số 12 các Tông Đồ không trải qua sự tử đạo, nhưng theo truyền tụng trong Kitô giáo, Gio-an sống tới tuổi già và chết vào khoảng năm 101 sau Công nguyên tại Ê-phê- sô hoặc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Hưởng thọ chín mươi tuổi. Ông là con trai của Dê-bê-đê và bà Sa-lô-mê. Ông là một ngư dân, là em trai của thánh Gia-cô-bê tiền, hai anh em ông được coi là những người con của sấm sét, ông cũng từng là một môn đệ của thánh Gio-an Tẩy Giả và là bạn chài của thánh Phê-rô. Ông là một trong bốn Tông Đồ được Chúa Giêsu kêu gọi đầu tiên và đồng hành khắp mọi nơi với Ngài. Ông đã ngả đầu vào ngực Thầy Giêsu trong bữa tiệc ly. Và là người duy nhất trong số mười hai Tông Đồ đã không từ bỏ Đấng Cứu Thế trong giờ khổ nạn của Ngài, đứng dưới chân thập giá. Chúa Giêsu trong giờ hấp hối đã trao quyền cho ông làm người bảo vệ Đức Mẹ và đưa Bà về nhà. Khi nghe về sự Phục Sinh, ông là người đầu tiên đến ngôi mộ và khi gặp Chúa Phục Sinh tại hồ Ti-bê-ri-át, ông là người đầu tiên nhận ra Ngài.
Có những câu chuyện truyền thống được kể về Thánh Gio-an tác giả sách Tin Mừng thứ tư như: Hoàng đế Dometian đã đưa ông đến Rô-ma, đánh đập, đầu độc và ném vào một vạc dầu sôi nhưng ông đã bước ra không hề hấn gì, và sau đó bị trục xuất đến Pát-mót. Khi Gio-an đang trên đường đi rao giảng ở Châu Á, con tàu của ngài bị đắm trong một cơn bão; tất cả đều tử vong trừ Gio-an đã được đưa lên bờ. Ông được cho là đã chết nhưng 2 tuần sau đó, những cơn sóng đã đưa ông vào bờ sống dưới quyền của đệ tử Prochoros.
Khi Gio-an tố cáo tôn thờ thần tượng là ác quỷ, những người theo Artemis ném đá ông, nhưng thay vì trúng vào ông, những hòn đá lại quay ném ngược lại vào người ném. Ông cầu nguyện trong một ngôi đền của nữ thần; khiến lửa từ trời giết chết 200 người đàn ông tôn thờ ngẫu tượng. Khi nhóm còn lại cầu xin lòng thương xót, ông đã phục hồi sự sống cho 200 người từ cõi chết; tất cả họ đã trở lại và được rửa tội.
Ceonops, một pháp sư, giả vờ làm cho ba người chết sống lại; thực sự đây là những con quỷ đội nốt con người làm cho pháp sư có thể khiến mọi người tránh xa Chúa Kitô. Nhờ cầu nguyện, Gio-an đã khiến pháp sư chết đuối và lũ quỷ biến mất cùng nhiều câu chuyện khác.
Thánh Gio-an được biết đến nhiều hơn với tên gọi “Môn đệ Chúa yêu”, vì sự gần gũi với Ngài. Ông đã viết Tin Mừng thứ 4, ba lá thư, Sách Khải Huyền cũng được gán cho ông. Ba lá thư của ông chứa đầy tinh thần của tình yêu, sự nhân từ và dịu dàng. Và linh đạo của tình yêu này được phản ánh trong truyền thống cũ được bảo tồn bởi Thánh Giê-rô-ni- mô. Thánh nhân đã viết về Gio-an rằng: khi tuổi tác và sự yếu đuối tăng lên lúc sống ở Ê-phê-sô, Gio-an không còn có thể thuyết giảng cho mọi người, ông đã từng được đưa đến hội đường của các tín hữu, và mỗi lần ngài chỉ nói với đàn chiên của mình một câu: “Hỡi những đứa con bé nhỏ của ta, hãy yêu thương nhau”. Khi họ hỏi ngài tại sao luôn lặp lại những từ tương tự, ngài trả lời: “Bởi vì đó là lời của Chúa và anh em chỉ cần giữ điều ấy là đủ rồi”.
“Hãy yêu thương nhau”, đây cũng là thử thách mà Thánh Tông Đồ Gio-an đặt ra cho chúng ta hôm nay, để yêu thương nhau; Nói thì dễ nhưng thực sự không dễ chút nào trong hành động, và đôi khi nó phải trả một cái giá rất đắt, vì một khi ta yêu một ai đó, nếu đó là một tình yêu đích thực, ta sẽ làm mọi thứ tốt nhất cho người ấy, thậm chí phải hy sinh cả mạng sống của chính mình như Đức Giêsu đã thực hiện cũng như hàng triệu người khác đã làm. Cái giá của tình yêu không hề rẻ.
Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu, yêu người như yêu Chúa và yêu nhiều như người môn đệ Chúa yêu, để tình yêu của Chúa được lan rộng cho mọi người. Amen.
LỄ CÁC THÁNH ANH HÀI – Mát-thêu 2,13-18
Hôm nay, Giáo Hội nhớ đến những trẻ em vô tội đã bị Hê-rô-đê giết nhằm xóa bỏ vĩnh viễn sự hiện diện của Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu ngay trong thời thơ ấu của Ngài. Theo như lời khôn ngoan của ba vị đạo sĩ đông phương, vị cứu thế đã được các tiên tri loan báo từ ngàn xưa đã giáng trần trong hình hài một bé thơ. Và Hê-rô-đê cho rằng Ngài là người sẽ đe dọa đến ngai vàng của ông. Sau khi ba nhà đạo sĩ đã không trở lại để báo tin cho Hê-rô-đê về Hài Nhi Cứu Thế, nhưng đã đi qua một con đường khác mà trở về xứ sở của mình thì ông vô cùng tức giận và ra lệnh giết tất cả trẻ em dưới hai tuổi. Nằm ở Bét-lê-hem và các vùng lân cận. Bét-lê-hem không phải là một thành phố lớn, có lẽ dân số bao gồm khoảng một nghìn người. Vì vậy, trẻ sơ sinh nam dưới hai tuổi có thể không quá nhiều nhưng cũng không biết rõ con số là bao nhiêu nhưng điều muốn nói đến là một nỗi kinh hoàng cho dân thành lúc bấy giờ.
Sự việc này cũng chỉ có một mình Tin Mừng của thánh Mát-thêu ghi lại, nhưng câu chuyện hoàn toàn phù hợp với tính cách độc ác của vua Hê-rô-đê. Nơi Hê-rô-đê người ta thấy một người đàn ông quá điên rồ về quyền lực. Ông ta có thể giết bất cứ ai mà ông nghĩ là đối thủ, bao gồm cả vợ và ba đứa con trai của chính ông. Thế nên, ông ta sẽ đi đến bất kỳ cực đoan nào để bảo vệ quyền lực của mình. Và quả thật, nơi ông không có chỗ cho lòng trắc ẩn và trí tuệ trong sự điên loạn sau quyền lực. Trong suốt lịch sử của loài người ta cũng từng thấy những nhân vật như vậy xuất hiện. Có thể là một Hitler hoặc Stalin hoặc bất kỳ nhân vật nào ở bất cứ nơi nào trên thế giới, một khi họ trở nên điên cuồng vì quyền lực, thì cảm xúc của trái tim họ sẽ biến mất hoàn toàn. Hành vi giết người của một bộ tộc điên loạn hoặc một tôn giáo quá khích như IS đối với người khác vẫn còn tràn lan cho đến ngày nay. (Trong đêm mừng Chúa Giáng Sinh năm nay 2019, ở Ni-giê-ri-a phiến quân ISIS đã cắt cổ 11 người theo đạo công giáo). Và đâu đó, những cuộc tàn sát của những người thực dân nhân danh tôn giáo Kitô giáo, hay những cuộc tàn sát những người không theo đạo Hồi bởi những người cai trị Hồi giáo hoặc những vụ hành quyết hàng loạt gần đây đối với các Kitô hữu của ISIS ở Iraq và Syria.
Những kẻ điên rồ vì quyền lực sẽ làm bất cứ điều gì để theo đuổi và duy trì quyền lực. Cuộc sống của những người khác, có thể là của bạn bè hoặc kẻ thù của họ, không có nhiều giá trị đối với họ. Họ cho mình là trung tâm của cuộc sống của mình. Và chỉ có họ mới được phép tồn tại trong cuộc sống của họ. Tuy nhiên, bài học của lịch sử loài người cho ta thấy một thực tế rằng; sự điên rồ như vậy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Những kẻ đã làm mọi thứ trong tầm kiểm soát của họ để bám lấy quyền lực cũng đã chết và biến mất. Những gì chiếm ưu thế và thành công là kế hoạch của Thiên Chúa. Ngài sẽ thực hiện kế hoạch của mình một cách chiến thắng. Những lâu đài được xây dựng trên những xác người luôn tố cáo sự tàn ác của những người độc tài và quyền lực. Họ quên một điều cơ bản rằng sớm hay muộn gì họ cũng sẽ bị vùi xuống lòng đất.
Tuy nhiên, bài học đáng chú ý ở đây là Hê-rô-đê và những nhà độc tài không hoàn toàn biến mất bởi cái chết của họ, nhưng đâu đó vẫn còn sống trong chúng ta và xung quanh chúng ta. Có một chút Hê-rô-đê trong mỗi người chúng ta. Khi ta cảm thấy bị đe dọa, các khu vực an ninh của mình đang bị tấn công và các cơ cấu quyền lực của ta sắp sụp đổ, ta cũng đã sử dụng quá nhiều mánh lới, sảo biện, quảng cáo để duy trì bám víu vào các nấc thang quyền lực của thế gian.
Chúng ta cũng hãy nhớ những khó khăn mà gia đình Thánh Gia phải chịu khi lưu vong đến Ai Cập. Mẹ Ma-ri-a đã vất vả thế nào ngay sau khi Mẹ phải đi một quãng đường dài như vậy từ Bê-lem đến Ai Cập với em bé vừa chào đời trong tay, các Ngài đã phải trải qua nhiều ngày để hoàn tất. Rồi việc các Ngài phải đi bí mật hoàn toàn, tránh tai mắt các binh lính của Hê-rô-đê, thêm nữa là thảm hoạ của người dân đang trở thành người tị nạn hàng năm do chiến tranh giữa các quốc gia và thiên tai. Khi ta ngồi thoải mái trong những căn phòng ấm cúng trong mùa lễ hội này, đừng quên những khó khăn của những người tị nạn trong thời đại của chúng ta. Hãy cầu nguyện để các quốc gia tham chiến có thể ý thức lại và ngừng gây ra bạo lực đối với những người vô tội. Để hòa bình có thể kéo dài trên trái đất, để mọi người vui mừng nghinh đón Đức Vua Bình An của họ.
Lạy Chúa, Hê-rô-đê ngày nay đôi khi lại còn là những người làm cha làm mẹ, đã sẵn sàng giết hại nhưng con nhỏ vô tội của mình. Con số nạo phá thai tăng lên không đếm xuể. Vì máu những trẻ em vô tội, xin Chúa thương xót chúng con. Amen.
NGÀY 29 THÁNG 12 – Lu-ca 2,22-35
Dâng Chúa Giêsu Trong Đền Thờ
Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về việc Dâng Chúa trong đền thờ cũng là bài Tin Mừng đọc vào lễ của ngày 2 tháng 2 sắp tới là ngày lễ Dâng Chúa Giêsu vào đền thờ. Ta có thể dừng lại ở hai điểm để suy gẫm:
Đầu tiên ta thấy Thánh Luca đề cập nhiều lần về ‘Luật’. Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse làm mọi việc theo lề luật. Như hôm nay, Đức Trinh Nữ khiêm tốn tuân phục lề luật để lên đền thờ dâng của lễ thanh tẩy sau khi sinh con trai đầu lòng sau bốn mươi ngày, ngay cả khi Mẹ không cần điều này. Mẹ dâng Con đầu lòng của mình cho Thiên Chúa ngay cả khi không cần, vì Ngài là Con Thiên Chúa vượt trên sự ràng buộc của lề luật mà lại phải đem chuộc lại theo lề luật thì không cần thiết. Nhưng Mẹ đã vẫn ngoan ngoãn làm theo lề luật.
Luật này được Mô-sê đưa ra cho người Do Thái, rằng sau khi sinh con, một người phụ nữ phải tiếp tục ở trong cữ và được xem là ô uế trong bốn mươi ngày, không được xuất hiện trước công chúng. Và số ngày ở trong cữ sẽ dài gấp đôi nếu đứa trẻ là con gái. Sau thời gian ở cữ, người mẹ đã mang đến Đền thờ một con cừu con và một con chim bồ câu non hoặc con chim gáy, như một sự dâng hiến cho Thiên Chúa. Những thứ này được dâng lên làm của lễ cho Thiên Chúa bởi các tư tế để thanh tẩy người mẹ khỏi sự ô uế hợp pháp, đồng thời phục hồi các đặc quyền trước đây của cô. Lễ vật bắt buộc là một con chim bồ câu, còn con cừu thì tùy vào hoàn cảnh giầu nghèo của mỗi người, nên người nghèo có thể thay con cừu thành một con chim bồ câu khác, nghĩa là lễ vật là một đôi chim bồ câu nói nên hoàn cảnh của gia đình đó kinh tế rất eo hẹp. Và đó cũng chính là trường hợp của gia đình Thánh Gia, Thánh Giu-se, Đức Mẹ và Chúa Giêsu.
Luật pháp cũng yêu cầu con trai đầu lòng được dâng lên Thiên Chúa. Sau khi trình diện đứa trẻ cho tư tế đền thờ, đứa trẻ sẽ được chuộc bằng một khoản tiền nhất định và đây cũng là một sự hy sinh đáng kể đối với gia đình nghèo như gia đình Thánh Gia. Thế nhưng Mẹ Ma-ri-a đã tuân thủ chính xác với tất cả các luật này. Mẹ không chỉ tuân theo những điểm cốt yếu của luật pháp, mà còn quan tâm nghiêm ngặt đến tất cả các luật.
Chiêm ngưỡng tấm gương gia đình Thánh Gia, mặc dù họ là những Đấng có thể nói vượt trên lề luật, như có lần Đức Giêsu đã nói với thánh Phê-rô về việc nộp thuế cho triều đình, con cái trong nhà được miễn, thuế chỉ áp dụng cho người ngoài và những người dưới quyền. Thế nhưng, Thánh Gia tuân theo luật pháp đến những chi tiết cuối cùng, còn chúng ta thì sao? Ta luôn bị cám dỗ để tránh né pháp luật. Lạng lách càng giỏi thì càng cho là đẳng cấp, là khôn ngoan. Nhưng Gia Đình Thánh hôm nay đã chỉ ra rằng, ngay cả khi họ không cần tuân thủ luật pháp nhưng họ hết lòng tuân theo nó. Đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa và đem lại bình an cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Tất cả những nước được xem là những nước phát triển trên thế giới, họ đều là những nước mà người dân của họ rất nghiêm minh tuân thủ luật pháp.
Thứ hai là lời sấm của ông Si-mê-on nói với Đức Trinh Nữ Maria rằng trẻ Giêsu sẽ là một dấu hiệu của sự mâu thuẫn. Chúa Giêsu là một dấu hiệu của mâu thuẫn và Ngài gọi những người theo Ngài cũng là dấu hiệu của mâu thuẫn. Điều này đúng như thế nào đối với chúng ta hôm nay? Mỗi ngày trôi qua, đức tin Kitô giáo dường như ngày càng trái ngược với cách thức của thế gian: Sự mâu thuẫn luôn hiện hữu giữa một nền văn hóa của sự sống, của tình yêu so với nền văn hóa của cái chết, của hận thù tranh chấp. Giữa những giá trị thực sự của gia đình so với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa khoái lạc. Giữa chủ nghĩa tương đối dễ dãi so với sự tự do chân thật sẽ giải phóng chúng ta. Theo Chúa Kitô hoặc sống như một Kitô hữu chân chính ngày càng trở nên không phổ biến và phản văn hóa, như ngày nay nhiều người có quan niệm chuyện một vợ một chồng là lạc hậu! Việc theo Chúa Kitô nhất thiết sẽ khiến ta bị tách ra khỏi những người khác. Nhưng thiệt thòi trong việc trung thành tuân giữ lề luật cách nào đó làm cho ta bị giới hạn và bị gò bó, thậm chí bị loại ra khỏi môi trường xã hội của mình. Nhưng thời giờ sẽ đến và sẽ tiết lộ những gì thực sự trong trái tim chúng ta.
Nếu ta quyết định theo Đức Giêsu một cách trung thành, sự giằng co xâu xé của mâu thuẫn không hề vắng bóng nơi ta. Chỉ khi thẳng thắn với chính mình và đưa ra quyết định rõ ràng; chọn Chúa Kitô hoặc chống lại Ngài. Không có sự thay thế thứ ba. Và việc trung thành tuân giữ luật Chúa chính là cơ sở mâu thuẫn giữa mình với thế gian, và khi chúng xẩy đến, ta biết chắc rằng mình đang thuộc về Thiên Chúa. Không có gì ngạc nhiên là con cái Thiên Chúa, tin vào Thiên Chúa sao cứ thua thiệt hơn người khác! Gia đình Thánh gia cũng sống rất khó nghèo cả về quyền lực khi trốn chui trốn nhủi ra nước ngoài trong đêm giá rét ngay từ những ngày đầu tiên được sinh ra. Còn tôi là ai?
Lạy Chúa, xin dạy con biết khiêm tốn và vâng phục lề luật Chúa, vì đó là đường dẫn con về với Chúa và biến đổi con trở nên giống Ngài mỗi ngày một hơn. Amen.
NGÀY 30 THÁNG 12 – Lu-ca 2,36-40
Có một số người khi về già cảm thấy sợ hãi, lo lắng, nhát đảm, bất an và thậm chí còn cay đắng. Nhưng cũng có những người khác khi về già lại tỏ ra duyên dáng, sâu sắc và thành công. Ví dụ như: Miguel Cervantes đã viết tác phẩm ‘Đồng-Ki-Sốt’ khi ông gần bảy mươi tuổi. Noah Webster đã viết từ điển hoành tráng của mình ở tuổi bảy mươi. Socrates đã đưa ra những triết lý khôn ngoan của mình ở tuổi bảy mươi. Clara Barton thành lập Hội chữ thập đỏ Hoa Kỳ lúc năm mươi chín. Benjamin Franklin đã giúp thành lập hiến pháp Hoa Kỳ ở tuổi tám mươi mốt. Benjamin Desraeli trở thành thủ tướng của Anh lần thứ hai lúc bảy mươi. Thomas Edison làm việc bận rộn trong phòng thí nghiệm của mình ở tuổi tám mươi ba. Guiseppe Verdi sáng tác ‘Te Deum’ ở tuổi tám mươi lăm. Michelangelo ở tuổi tám mươi khi ông vẽ một số kiệt tác của mình. Galileo đã thực hiện khám phá vĩ đại nhất của mình khi ông bảy mươi ba tuổi. Và trong bài đọc Phúc Âm hôm nay, chúng ta có bà Anna, người rất tích cực trong đền thờ với tư cách là một tiên tri ngay cả ở tuổi tám mươi tư.
Chúng ta không biết gì về Anna ngoại trừ trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Anna là một góa phụ. Ngay cả khi bà ấy là một góa phụ nhưng đã không tỏ ra cay đắng, bực bội và bất an. Tuy đã cao niên nhưng bà Anna chưa bao giờ ngừng hy vọng. Tuổi già không giết chết niềm hy vọng của bà vào Thiên Chúa.
Không giống như những gì John Powers trong cuốn sách của mình, ‘The Unorigen Sinner và Ice Cream God’, đã kể về một cậu bé tên Conroy, cậu ta đã viết cho Chúa một bức thư và phàn nàn về việc mọi người phải già đi.
Phát ngôn thay cho Chúa, một người bạn trưởng thành viết thư lại cho Conroy và nói rằng: “Tôi thường thấy cách suy nghĩ của bạn khá khó hiểu. Đối với tôi, khoảnh khắc đẹp nhất trên trái đất là ở người già. Họ là hoàng hôn của con người tôi”.
Làm sao có thể đón nhận tuổi già như một hồng ân quý giá?
Cụ bà Anna đã dạy cho ta điều quan trọng cần làm trong đời người nhất là khi về già:
Cụ bà Anna không bao giờ ngừng thờ phượng Chúa, bà dành cả cuộc đời mình ở lại trong đền thờ Thiên Chúa cùng với dân Người. Đó là điều mang đến cho bà tràn đầy năng lực và hạnh phúc và mối phúc lớn nhất là đã được Thiên Chúa tỏ mình ra trong thân hình đơn sơ của Hài Đồng Giêsu, được bồng ẵm lấy Ngài mà ngợi khen Thiên Chúa. Có lẽ trong đời sống đức tin, ai trong chúng ta cũng khao khát gặp được Thiên Chúa, được Ngài tỏ mình và được ôm lấy Ngài hay nói cách khác là được Ngài ôm ấp. Nhưng qua mẫu gương của bà Anna hôm nay nói với ta rằng, Thiên Chúa hằng tỏ mình ra cho ta nơi đền thờ của Ngài đặc biệt qua việc cầu nguyện và cử hành các bí tích. Cụ thể hơn nữa qua bí tích Thánh Thể, chúng ta được ắm lấy Chúa trên tay và còn được rước vào lòng. Nhưng đối với những người có đời sống cầu nguyện và chiêm niệm sâu sắc, người ta cảm nhận được Thiên Chúa tỏ mình và hiện diện trong tâm hồn mỗi khi đón nhận bí tích Thánh. Nhưng với đa số thì Chúa có tỏ mình với họ cũng như không, chưa bước chân ra khỏi nhà thờ thì người ta đã bi bô đủ thứ chuyện tầm phào không cần thiết. Vì sao vậy? thưa vì người ta không nhận ra Chúa đang hiện diện trong tâm hồn mình. Cũng như Tin Mừng hôm nay, Thiên Chúa tỏ mình ngay giữa đền thờ của Ngài, nhưng chỉ có cụ già Si-mê-on và cụ bà Anna nhận ra Chúa.
Cụ bà Anna không bao giờ ngừng thờ phượng, không bao giờ ngừng cầu nguyện, không bao giờ ngừng tin tưởng và hy vọng. Cuối cùng, Thiên Chúa ban thưởng cho Anna bằng cách cho bà thấy Đấng cứu thế được chờ đợi từ lâu, Chúa Giêsu Kitô. Có Chúa là có niềm vui và có tất cả. Và người ta sẽ được thỏa mãn mọi sự mong chờ như cụ Si-mê-on đã xướng lên: “Lạy Chúa giờ đây, xin để tôi tớ Ngài ra đi bình an, vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ, Chúa đã dành sẵn cho muôn dân”.
Và làm thế nào khi ta còn trẻ hoặc đã già đi, ta sẽ trở nên, chín chắn, hiệu quả và bình an hay trở nên cay đắng và buồn thảm? Điều này tùy thuộc vào vị trí của Thiên Chúa mà ta đặt ngài ở đâu trong cuộc đời mình.
Xin cho con luôn biết gặp gỡ và kết hiệp với Chúa trong cầu nguyện và qua các bí tích, cũng như qua những người con gặp gỡ hàng ngày, để ngày kia ra trình diện trước tôn nhan Chúa, con luôn được bình an và vui mừng như cụ già Si-mê-on và cụ An-na. Amen.
NGÀY 31 THÁNG 12 – Gio-an 1,1-18
Ngôi Lời
Hôm nay là ngày cuối cùng của năm dương lịch và chuẩn bị bước sang một năm mới, người ta gởi những thiệp cho nhau với những lời chúc tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất cho những người thân quen của mình. Người ta chúc nhau những may mắn và hạnh phúc hơn năm cũ, làm ăn phát đạt và có nhiều quý nhân phù trợ… nói chung là những gì ước nguyện tốt đẹp nhất có thể. Bên cạnh đó là những cuộc giải trí thâu đêm của những dịp nghỉ tết, người đi du lịch, kẻ đi xem hội xem bắn pháo hoa, người thì đi cầu may cầu lộc…
Phụng vụ của Giáo Hội muốn cho con cái Ngài nhìn thấy một tương lai, sự may mắn đích thực, niềm vui hạnh phúc đích thực và những lời chúc cũng như những khát vọng có thể thành hiện thực, bằng cách mời gọi nhìn vào Chúa Giêsu Hài Đồng, Ngôi Lời, Sự sống và Ánh sáng và trình bày với Ngài niềm vui và hy vọng, đau buồn và thống khổ của chúng ta.
Trước hết, Chúa Giêsu là Ngôi Lời. Thánh Gio-an trình bày về Chúa Giêsu theo lối văn triết lý của người Hy Lạp, đang ảnh hưởng rất lớn trong thời đại của Ngài, và đã giới thiệu cho ta rằng: tự khởi thủy, Chúa Giêsu là Ngôi Lời: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Thánh Gio-an chỉ ra rằng Chúa Giêsu không phải là một phần của thế giới nhưng hiện hữu với Thiên Chúa từ muôn đời ngay cả trước khi tạo ra thời gian. Ngài luôn là Thiên Chúa. Trước đó người ta thường nghĩ về Thiên Chúa như một vị thần rất nghiêm khắc, báo thù và Chúa Giêsu đã đến để thay đổi tâm trạng và thái độ của con người có về Thiên Chúa; từ một Thiên Chúa hay nổi giận thành một Thiên Chúa của tình yêu. Điều này là do Cựu Ước thường trình bày cho chúng ta một Thiên Chúa giận dữ và hủy diệt. Đó là kiến thức của con người bị giới hạn về Thiên Chúa chứ không phải Ngài đã thay đổi. Người ta chỉ có thể nắm bắt và hiểu bản chất của Thiên Chúa rất ít, mà lại bị chi phối bởi trí khôn hạn hẹp của phàm nhân. Chỉ đến khi Chúa Giêsu đến, mới mạc khải cho ta thấy đầy đủ và trọn vẹn những gì về Thiên Chúa, Đấng thường hằng bất biến, Đấng là Tình yêu vĩnh cửu.
Thứ hai, Chúa Giêsu là Sự sống. Ngài đến trong thế gian để ban cho chúng ta sự sống. Cuộc sống mà Ngài mang lấy cách thấp hèn. Cuộc sống này thấp đến mức người ta khó nhận ra rằng Chúa đã đến thế gian cách âm thầm, chỉ có một vài người chăn cừu và ba nhà đạo sĩ tìm đến thăm. Phải chăng Chúa không có cách nào khác? Không phải thế, nhưng Ngài đã chọn cách đơn sơ nghèo hèn và khiêm hạ để làm cho kẻ mạnh thế, quyền lực phải xấu hổ hơn là hình ảnh một đứa trẻ nghèo hèn đáng tội nghiệp! Theo cách này, Chúa Kitô cho thấy bản chất con người là cao quý, cần được giải thoát khỏi cảnh nô lệ của tội lỗi và những thứ phù phiếm của thế gian. Đó là điều quan trọng hơn bất kỳ thứ quyền lực, giầu sang, sa hoa nào ở trần thế.
Thứ ba, Chúa Giêsu là Ánh sáng. Giáng Sinh là thời điểm của ánh sáng. Chúa Kitô là ánh sáng đã xé tan màn đêm u mê của con người trần thế, để mạc khải cho ta biết giá trị cao quý vĩ đại mà Ngài muốn đem đến cho con người, đó là kêu gọi con người tham gia vào đời sống Thần Linh của Thiên Chúa. Ngài đã nhập thể để chúng ta có thể lên thiên đàng. Một ơn huệ vô cùng cao cả đến độ nhiều người đã không thể lĩnh hội được điều này và chính người dân của Ngài đã không chấp nhận Ngài. Nhưng với những người đã chấp nhận Ngài, Tin vào Ngài thì Ngài cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa, (c.12). Thánh A-tha-na-si-ô, trong tác phẩm De Incarnatione (Nhập Thể) 54,3 viết: “Con Thiên Chúa trở thành con người, để chúng ta có thể trở thành Thiên Chúa”. Thánh Tô-ma A-qui-nô trong Opusculum 57,1-4 viết: “Người Con duy nhất của Thiên Chúa, muốn chia sẻ cho chúng ta thiên tính của Ngài, nên Ngài đã mang lấy bản tính của chúng ta, để làm cho chúng ta, có thể tham gia vào con người thần linh của Thiên Chúa”.
Và quả thật, đây không chỉ là ánh sáng thông thường mà Chúa Giêsu Kitô là luồng sáng đã soi sáng, làm sáng bừng cuộc sống và dẫn đường cho con người hướng về Nước Trời. Thế nên, khởi đầu một năm mới không phải là cầu may, hay mong vận may sẽ đến từ những lời chúc bởi những ước mong của trần thế, mà nó sẽ hiện thực một kết quả vĩnh cửu, một hạnh phúc viên mãn trong Chúa Giêsu, Ngôi Lời, Sự sống và Ánh sáng. Ta có thể đến để đón Ngài mỗi ngày để có thể có chung xác tín như Thánh Gio-an là; “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Và ơn cao trọng nhất để ta có thể đánh đổi tất cả đó là Đấng là Vĩnh Cửu đã mang lấy thân xác hữu hạn của con người để cho chúng ta được tham dự vào đời sống vĩnh cửu của Ngài. Vì thế hãy đến và dâng cho Chúa thời gian của năm để nhận lấy thời gian của vĩnh cửu, của bất tử trong phẩm giá người Con Yêu của Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết vâng giữ Lời Chúa, đi trong ánh sáng Thần Linh của Ngài để đạt đến sự sống trong Ngài. Amen.
NGÀY 02 THÁNG 01 – Gio-an 1,19-28
Thánh Gio-an Tẩy Giả Làm Chứng Về Chính Mình
“Bạn là ai?” đó là một câu hỏi để muốn biết về danh tánh của một người, tên tuổi, quê quán và nghề nghiệp. Đôi khi cũng muốn biết hơn về tính tình, thói quen hạnh động và ý thích cá nhân của người đó nữa. Để tìm hiểu về người khác thì ta phải hỏi mới biết, nhất là những người ta gặp lần đầu. Và cho dù họ có nói về mình thì ta cũng chỉ có thể biết về những cái bên ngoài của họ mà thôi. Nhưng câu hỏi dành cho Gio-an hôm nay chắc chắn đi xa hơn việc xác định nhân thân quê quán mà là người ta muốn biết vai trò của ông là gì, xuyên qua những lời nói và việc làm của ông. Trong đời sống tâm linh, nhiều khi chính ta cũng quên mất mình là ai. Có khi nào ta tự đặt câu hỏi: “tôi là ai” chưa? Và mỗi người có lẽ sẽ giật mình về những câu trả lời trong tâm tưởng của mình mà chỉ có riêng ta và Chúa biết!
Trong Tin Mừng hôm nay, một số tư tế và các thầy Lê-vi đã đến gặp Gio-an Tẩy Giả và đặt câu hỏi: “ông là ai?”. Câu hỏi này được hỏi, không phải vì tò mò muốn tìm hiểu nhưng đúng hơn nó hàm chứa đầy sự nghi hoặc. Bởi Gio-an Tẩy Giả là nhân vật đang gây nhiều chú ý nhất lúc bấy giờ. Từ cách ăn mặc cũng khác người ta, dáng vẻ thì gầy gò, khắc khổ, nhưng rất cương trực, có ý thức sâu sắc về nhiệm vụ của mình cách trung thực và kiên quyết. Ông là con trai của tư tế Da-ca-ri-a, nhưng ông không liên quan gì đến Đền thờ. Nhiều người đã đến với ông để lắng nghe những lời giảng dạy. Và ta biết rằng; việc tập hợp nhiều người dân vào thời điểm này rất nguy hiểm, bởi Ít-ra-en nằm dưới sự áp bức và thống trị của Rô- ma, sự tập hợp đông người có thể dễ dàng dẫn đến sự nổi loạn và chính quyền Rô-ma có thể dựa vào cái cớ đó để đàn áp phiến quân, cũng như đè thêm gánh nặng lên vai người dân.
Tuy nhiên, những lo lắng của các tư tế và lê-vi đã đi xa hơn những gì Thánh Gio-an muốn làm. Ngài không phải là người đến để khởi xướng lên một cuộc khởi nghĩa theo kiểu thế gian. Ngài trả lời cách hết sức khiêm tốn, mặc dù lúc dầu sôi lửa bỏng này, mọi người luôn hy vọng chính ông, với một con người cương trực, khôn ngoan và thẳng thắn như vậy chính là vị tiên tri, là đấng Mê-si-a của họ. Và cũng đã xuất hiện khá nhiều Mê-si-a giả trước đó. Gio-an cũng có thể xưng mình là Mê-si-a và chắc chắn ông sẽ có nhiều người ủng hộ. Nhưng với bản tính trung thực, ông đã tự giới thiệu mình chỉ là kẻ dọn đường cho Đấng Thiên Sai.
Khiêm tốn trung thực với chính mình đó là đức tính hết sức cần thiết của người môn đệ Chúa Kitô. Nhưng trong thực tế, ít người trong chúng ta có được đức tính đó! Ví như ta chỉ là một người bình thường, nhưng ai đó coi ta như một người tầm thường thì ta lại thấy khó chịu, ta cần được người khác nâng lên như kẻ vị vọng, tài ba và chức quyền. Có không ít người thích sống ảo với cái danh, cái địa vị mà không bao giờ là của mình. Và Chúa Giêsu cũng đã nói: “Ai đưa mình lên thì sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống thì sẽ được nâng lên”. Quả thật những ai thích danh vọng, những cái không thuộc về mình một cách nào đó muốn được mọi người biết đến, muốn nâng mình lên hơn những gì mình có, và trớ trêu thay, họ càng cố làm cho mọi người phải chú ý đến mình như những nhân vật nổi tiếng thì càng ít người biết đến.
Khiêm nhường còn là một thái độ thiết yếu để thành công trong đời sống tâm linh. Vì khiêm nhường là sự thật, biết thật về mình là một nền tảng vững chắc để ngôi nhà tâm linh có thể xây lên cao. Khiêm nhường cũng không phải là khái niệm trừu tượng, nó đòi hỏi một sự sẵn sàng liên tục để từ chối chính mình và cởi mở với sự hướng dẫn của Thiên Chúa, ngay cả khi nó không giống với các khái niệm định sẵn của riêng một tổ chức xã hội nào.
Khiêm nhường đòi hỏi sự chân thành và trung thực như một đứa trẻ nhỏ, hồn nhiên và chấp nhận cuộc sống rất tự nhiên. Trái lại người lớn thì thường hay phức tạp vấn đề và muốn mang vào mình nhiều cái mặt nạ, để che đậy cho phù hợp với những định kiến của xã hội và cộng đồng. Thực tế có sự nghịch lý ở chỗ, một người khiêm nhường lại được sự tôn trọng từ người khác hơn là người tỏ ra tự hào và mạnh mẽ. Người khiêm nhường không coi tài sản hay thành tựu của mình là của riêng mình mà là một món quà của Thiên Chúa, do đó họ luôn dâng lời cảm tạ về tất cả.
Cuối cùng, trong sách Bhagavad Gita (13,7-8) của Ấn Độ giáo cũng nói về việc thực hành sự khiêm nhường: “Hãy khiêm nhường, không làm hại ai, không yêu sách, ngay thẳng, kiên nhẫn; phục vụ và thực sự vâng lời thầy giáo của bạn, giữ cho tâm trí và thể xác trong sạch, yên bình, kiên định, làm chủ được bản ngã…”
Khiêm nhường đích thực như Thánh Gio-an Tẩy Giả là nhận biết mình là ai cách thẳng thắn và không vòng vo, không tìm những lời tung hô ca ngợi của người đời, nhưng luôn trung thành thi hành thánh ý Thiên Chúa.
Xin thánh Gio-an Tẩy Giả, cầu thay nguyện giúp ta có đủ sức mạnh, ý chí và nghị lực, dám tẩy đi cái giả dối, nhưng cái mặt nạ mà ta đang mang. Để thực sự là người con của Chúa và làm chứng cho Ngài mọi nơi mọi lúc bằng đời sống trung thực của mình.
NGÀY 03 THÁNG 01 – Gio-an 1,29-34
Lời Chứng Của Gio-an Tẩy Giả về Chúa Giêsu
Theo cuốn sách, Cuộc đời của thánh Phan-xi-cô As-si-si, Thánh nhân đã từng mời một tu sĩ trẻ tham gia cùng ngài trong một chuyến đi đến thị trấn để thuyết giảng. Hân hạnh được trao lời mời, vị tu sĩ trẻ vui lòng chấp nhận. Cả ngày, vị tu sĩ trẻ và thánh Phan-xi-cô đi bộ qua các con đường chật hẹp, và các con hẻm, và thậm chí vào vùng ngoại ô. Ngài đã vỗ về nhẹ nhàng lên vai hàng trăm người. Vào cuối ngày, hai người trở về tu viện. Suốt ngày, thánh Phan-xi-cô không hề nói gì với đám đông, ngài cũng không nói chuyện với ai về Phúc Âm. Thất vọng vô cùng, người tu sĩ đồng hành trẻ tuổi của ngài nói: “Con nghĩ chúng ta sẽ vào thị trấn để giảng đạo!”
Thánh Phan-xi-cô trả lời: “Con trai của ta, chúng ta đã rao giảng rồi. Chúng ta đã giảng trong khi chúng ta đang đi bộ. Chúng ta đã được nhiều người nhìn thấy và hành vi của chúng ta được theo dõi chặt chẽ. Không có ích gì khi đi bất cứ chỗ nào để rao giảng trừ khi chúng ta đi giảng khắp nơi!”
Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả về Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay là đáng tin bởi vì trên hết nó là một chứng ngôn sống. Ngài không phải là kẻ đạo đức giả và mọi người biết điều đó. Họ đổ xô đến với Gio- an vì tính trung thực của ông. Ngay cả những người Pha-ri-sêu cũng đến để nhận phép rửa của ông. Lời nói của Gio-an rất mạnh mẽ và được lắng nghe bởi vì ngài đang sống theo những gì mình giảng.
Qua hình ảnh của thánh Gio-an Tẩy Giả, đời sống của một Kitô Hữu thực sự phải noi theo. Ta phải sống những gì mình giảng. Một lời chỉ trích lớn cho Kitô giáo ngày nay là các tín hữu không sống theo những gì họ tuyên tín. Gandhi, một nhà lãnh đạo lớn của Ấn độ đã nói: “Tôi sẽ trở thành Kitô hữu nếu Kitô hữu sống theo những gì họ tin”. Đáng buồn thay, quá nhiều người trong chúng ta không sống theo lời dạy của Chúa Giêsu.
Tại sao chúng ta không công khai hoặc làm chứng cho những gì chúng ta tin là đúng? Ron Hutchcraft6 đã đưa ra lý do tại sao khi ông nói rằng:
- 90% đã thất bại trong việc nỗ lực làm chứng xẩy ra trong quá khứ.
- Họ không biết Thánh
- Họ phó thác việc đó cho các chuyên
- Chúng ta không nên áp đặt niềm tin của mình lên người khác.
Đó là lý do tại sao Đức Giáo hoàng Phao-lô thứ VI gọi việc truyền giáo là “Sứ mệnh thiết yếu của Giáo Hội” khi nói:
Trước hết, Phúc Âm cần phải được rao giảng bằng việc làm chứng. Chẳng hạn một Kitô hữu, hay một số Kitô hữu, khi sống giữa cộng đồng của mình, tỏ ra có khả năng hiểu biết và chấp nhận, biết chia sẻ cuộc sống và thân phận với người khác, biết liên kết nỗ lực với tất cả mọi người để thực hiện những gì cao quý và tốt lành. Ngoài ra, chúng ta còn cho là họ chiếu giãi đức tin của họ, một cách hoàn toàn đơn thành và vẹn tuyền, qua những giá trị xa vượt những giá trị tạm thời, cũng như họ chiếu giãi đức cậy của họ, nơi một cái gì đó không thấy được và là những gì người ta không dám mơ tưởng. Nhờ việc làm chứng không lời này, người Kitô hữu gợi lên những câu hỏi tất yếu nơi tâm trí của những ai thấy cuộc sống của họ: Tại sao họ lại như thế? Tại sao họ sống như vậy? Ðộng lực sống của họ là gì hay là ai? Cách sống của họ giữa chúng ta là gì? Một chứng tá như vậy đã là một việc loan báo âm thầm Tin Mừng và là một việc loan báo rất mãnh lực và hiệu nghiệm.7 (EN số 21).
Làm thế nào để trở thành nhân chứng? Đó chính là cách sống sinh hoạt trong đời sống thường ngày của chúng ta. Như khi ta tham dự thánh lễ hàng ngày; tham gia những tổ chức giải trí với mọi người, mặc dù chúng ta có thể không bao giờ nói về Chúa Kitô, miễn là mọi hành động của ta rõ ràng từ động cơ tôn giáo; tham gia các sinh hoạt hội đoàn, phục vụ với tư cách là thừa tác viên Thánh Thể; hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp cho một khách hàng nghèo khổ; tình nguyện làm người dẫn dắt một người già đi qua đường… Nhân chứng là để ánh sáng của ta tỏa sáng. Là để lòng nhân hậu của Đức Kitô chiếm ngự và phơi bày nơi cuộc sống của ta.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con được biến đổi để trở nên giống Chúa hơn trong lời nói và hành động, để như thánh Phao-lô: “tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi” và mọi hành động của con trở nên nhân chứng của tình yêu Thiên Chúa cho mọi người. Amen.
NGÀY 04 THÁNG 01 – Gio-an 1,35-42
Các Môn Đệ Đầu Tiên
“Đến mà xem” (c. 39) là câu trả lời của Chúa Giêsu khi hai môn đệ của ông Gio-an Tẩy Giả hỏi ‘Thưa Thầy, Thầy ở đâu?’ Đây là lời mời đầu tiên của Chúa Giêsu “đến” với Ngài. Và chỉ một ngày ở bên Chúa Giêsu đã thay đổi cuộc đời họ. Sau đó, Ngài đưa ra lời mời gọi khác cho họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (Mc 1,17) và họ đã rời bỏ tất cả để đi theo Người. Nói cách khác, trước tiên, Ngài mời chúng ta đến gặp và biết Ngài và sau đó đến ở với Ngài để trở nên những người đi mời gọi người khác “đến mà xem”. Ngoài ra Chúa Giêsu còn mời gọi người ta đến với Ngài để được giải thoát khỏi mọi gánh nặng: “Hãy đến với tôi, tất cả những ai đang vất vả gồng gánh nặng nề, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28) Và một lời hứa với những người chấp nhận lời mời của Chúa: “Và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài” (Ga 6,37). Đồng thời Ngài cũng thực hiện những lời kêu gọi riêng tư nữa như: gọi ông Da-Kêu (Lc 19,5), gọi ông La-da-rô bạn của Ngài (Ga 11,43)…
Có ba điều mà chúng ta có thể học được tại sao chúng ta trở thành môn đệ của Chúa Giêsu thông qua lời mời của Ngài để đến với Ngài.
Đầu tiên là, nơi Chúa Giêsu có một sức thu hút các môn đệ. Khi Gio- an Tẩy Giả giới thiệu Đức Kitô cho họ, hai môn đệ của ông và một trong hai là Anrê bị thôi thúc đến gặp Ngài và đi theo Ngài. Trước cả khi nói chuyện với Chúa Giêsu, họ đã bị lôi cuốn bởi sự hiện diện thần bí của Ngài, sức cuốn hút của Ngài tỏa ra, từ ánh mắt và từ con người của Ngài. Quả thật, một chứng nhân về Chúa Kitô phải là người hướng mắt về Ngài, và khi đó họ bắt đầu nhìn thấy, chiêm ngưỡng và tự mình trải nghiệm Chúa Kitô vĩ đại như thế nào. Một khi đã có kinh nghiệm về Chúa Kitô, người ta mới có thể giới thiệu Ngài cho người khác.
Tôi chứng kiến có một số người không phải công giáo, họ vẫn đến với nhà dòng và tham dự phụng vụ cũng như thánh lễ (dĩ nhiên họ không lên rước lễ) và những giờ chầu Thánh Thể họ cũng quỳ cùng chúng tôi để chầu cách sốt sắng và trang nghiêm. Người ta tham dự thánh lễ cũng như các giờ kinh chắc chắn không phải vì muốn lắng nghe bài giảng của các linh mục mà có lẽ vì một số lời chứng về đời sống đức tin của các đan sĩ.
Thứ hai, với câu hỏi: “Thưa thầy, Thầy ở đâu?” Hai môn đệ đang hỏi như thể muốn biết về địa chỉ của Ngài. Nhưng thực sự theo một cách sâu sắc, họ đang muốn hỏi về tất cả những gì liên quan đến con người của Ngài. Thầy là ai trong thế giới này, ý nghĩa và mục đích tồn tại của Thầy ở đây là gì? Chúa Giêsu nói: “Đến mà xem.” Qua câu nói này, Chúa Giêsu mời hai môn đệ đến và nhận biết Ngài, dành thời gian cho Ngài, nghe lời Ngài và kinh nghiệm con người của Ngài. Cũng thế, mỗi ngày Chúa Giêsu cũng mời gọi ta đến, lắng nghe và chiêm ngưỡng Ngài. Càng tham dự thánh lễ và lắng nghe những lời của Ngài, chúng ta càng trở nên gần gũi với Ngài hơn, càng bị lôi cuốn để theo Ngài. Và ta thấy Gio-an Tẩy Giả đã làm thật tốt vai trò của ông là hướng các môn đệ của mình đến với Chúa Giêsu và họ đã tự mình đi gặp và tiếp xúc với Thầy.
Thứ ba, sau khi chúng ta được mời gọi nhận biết Ngài, và cũng được thôi thúc giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác. An-rê không thể giữ bí mật cho riêng mình, sau khi gặp Chúa, ông bắt đầu loan truyền và trở thành một người tuyển dụng cho Chúa Giêsu. Anh ta tìm kiếm anh trai Simon và dẫn đến với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể gọi An-rê là nhà tuyển dụng quan trọng nhất vì ông đã mang Giáo hoàng đầu tiên trong tương lai đến với Chúa Giêsu.
Qua Tin Mừng hôm nay cho thấy, là một người môn đệ của Chúa Kitô ta phải có sứ vụ giới thiệu Ngài cho người khác hay đem người khác đến với Ngài. Nhưng để thực hiện nghĩa vụ của người môn đệ chân chính đích thực thì trước tiên phải đến với Chúa Giêsu, tìm thời gian để ở vơi Ngài, lắng nghe và cảm nhận sâu sắc về Ngài, ta mới có thể trở nên chứng nhân sống động của Chúa cho mọi người.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin Chúa giúp chúng con biết nghe theo tiếng gọi của Chúa, đến với Chúa, lắng nghe và thấm nhuần tình yêu Chúa, cảm nhận và ngụp lặn trong Chúa, để chúng con có thể giới thiệu Chúa cho mọi người chúng con gặp gỡ. Amen.
NGÀY 05 THÁNG 01 – Gio-an 1,43-51
Lời Kêu Gọi Na-tha-na-el
Trong cuốn tự truyện của mình, Mahatma Gandhi đã viết rằng, trong những ngày còn là sinh viên, ông đã đọc các Tin Mừng một cách nghiêm túc và cân nhắc chuyển đổi sang Kitô Giáo. Ông tin rằng trong những lời dạy của Chúa Giêsu, ông có thể tìm ra giải pháp cho hệ thống đẳng cấp đang chia rẽ người dân Ấn Độ.
Vì vậy, một ngày chủ nhật, ông quyết định tham dự các phụng vụ tại một nhà thờ gần đó và nói chuyện với linh mục về việc trở thành một Kitô Hữu. Tuy nhiên, khi ông bước vào thánh đường, ban trật tự đã từ chối không cho ông một chỗ ngồi và đề nghị ông đi thờ phượng với chính đồng bào của mình. Gandhi rời khỏi nhà thờ và không bao giờ trở lại. “Nếu Kitô hữu cũng có sự khác biệt về đẳng cấp,” ông nói, “Tôi cũng có thể vẫn là người theo đạo Hindu”. Định kiến kì thị chủng tộc đó đã không chỉ phản bội Chúa Giêsu mà còn khiến người ta không tin Ngài là Đấng Cứu Thế.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kêu gọi Phi-líp-phê đến ở với Ngài và có kinh nghiệm về Ngài. Ông không thể tự giữ nó cho riêng mình, khi gặp Na-tha-na-el ông đã nói về Chúa Giêsu và kêu gọi Na-tha-na-el đến gặp Ngài để cũng có những trải nghiệm về Chúa Giêsu như mình. Nhưng khi nghe biết về quê quán của Chúa Giêsu, Na-tha-na-el đã hoài nghi và không tin rằng một Đấng Thiên Sai có thể đến từ Na-za-rét. Ông nói: “Từ Na-za-rét, làm sao có cái gì hay được?” Na-za-rét là một ngôi làng lân cận, và một nơi khá tầm thường. Điều này nhắc tôi nhớ lại câu nói: “Ta không thể đánh giá cuốn sách qua bìa của nó!” Nhưng dù sao định kiến và thành kiến của ta thường ngăn mình nhìn thấy vẻ đẹp và nội dung sâu sắc bên trong, cũng như sự vĩ đại và tiềm năng của một con người đang hiện diện trước chúng ta. Và câu chuyện của Gandhi bị đối xử dưới định kiến về phân biệt chủng tộc đã nói nên điều đó. Na-tha-na- el cũng không thoát khỏi cái bẫy của định kiến khi ông phát biểu về quê quán của Chúa Giêsu.
Có lẽ giống như Na-tha-na-el, ta cũng đã từng từ chối người khác vì định kiến, vì quê quán, nơi xuất thân của một người. Vì địa vị xã hội, hay hoàn cảnh hoặc những biểu hiện qua vẻ bên ngoài mà ta không thích, dẫn đến dễ dàng coi thường hoặc thậm chí loại trừ người khác. Nhưng ở đây Phi-líp-phê, người đã được tiếp xúc với Đức Kitô thì khác. Thay vì tranh cãi với Na-tha-na-el, ông đã thực hiện chiến lược khôn ngoan hơn khi mời Na-tha-na-el “đến và xem”. Có nghĩa hãy đến để tự tiếp xúc với Đức Kitô bạn sẽ nhận ra Ngài là ai. Đúng là ‘trăm nghe không bằng một thấy’. Quả thật, đây là bài học tuyệt vời cho ta, nếu cứ loay hoay đi vào vòng tranh luận với người khác hiếm khi chiến thắng họ, mà có thắng về lý lẽ thì cũng chẳng nói lên điều gì căn bản để thay đổi tâm hồn người khác, vấn đề là dẫn họ đến với Đức Giêsu, tạo một cuộc gặp gỡ với Ngài, qua Phúc Âm, qua Lời Ngài, có thể biến đổi cuộc sống của họ mãi mãi.
Na-tha-na-el tìm thấy nơi Đức Giêsu nhiều hơn những gì ông mơ ước và hy vọng, vì Lời Ngài nói đã đụng chạm đến những suy nghĩ và mong muốn sâu thẳm nhất trong trái tim khiến ông phải ngạc nhiên! Thêm nữa, Na-tha-na-el là mẫu người đang khao khát tìm biết về Thiên Chúa, nên ông dễ dàng nhận ra tiếng nói của Ngài. Thiên Chúa đặt trong trái tim mỗi người một khát khao và mong muốn được biết Đấng đã tạo ra mình trong tình yêu và vì tình yêu. Đó là lý do tại sao thánh Âu-gút-ti-nô thành Híp-pô, người đã tìm thấy Thiên Chúa sau nhiều năm lang thang trong sự hoài nghi và bóng tối, đã thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con cho Chúa, nên hồn con vẫn hằng thao thức cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa.”
Na-tha-na-el là bài học lớn về ơn gọi mà Chúa dành cho mỗi người chúng ta, cho dù có nhiều thành kiến, có sự ngu muội thiếu hiểu biết, nền tảng của ta là gì, hay là người như thế nào, chúng ta đều được mời gọi để theo Ngài. Thật là một niềm an ủi khi biết rằng Thiên Chúa kêu gọi ta, Ngài không đòi hỏi quá nhiều bằng cấp và lý lịch, trình độ học vấn và sự xứng đáng của ta. Nhưng Ngài gọi những ai sẵn sàng đi theo Ngài. Vâng, Thiên Chúa gọi không phải vì ta xứng đáng, nhưng để đáp lại tiếng gọi đi theo Ngài đòi hỏi ta phải có tinh thần khao khát và sẵn sàng.
Lạy Chúa, xin mở tai lòng con, để con biết đến với Chúa, lắng nghe được tiếng gọi của Ngài để trung thành vững bước trên con đường theo Chúa. Amen.
NGÀY 06 THÁNG 01 – Mác-cô 1,7-11
Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa
Một điều chắc chắn mà ai cũng biết rằng: “Ta không thể sống để làm hài lòng tất cả mọi người.”
Tin Mừng hôm nay thánh Mác-cô nói về việc Chúa Giêsu chịu phép rửa của ông Gio-an và ta có thể tìm thấy ba hình ảnh quan trọng. Đầu tiên là Chúa Giêsu đứng dưới nước. Thứ hai là chim bồ câu đáp xuống trên Chúa Giêsu. Và thứ ba là tiếng nói từ trời của Chúa Cha. Ba hình ảnh này chỉ về Ba Ngôi của một Thiên Chúa.
Chủ đề Ba Ngôi này về Bí tích Rửa tội của Chúa Giêsu có mặt trong mỗi lễ rửa tội mà mỗi người chúng ta. Trong lễ rửa tội, nước được đổ ra trên người lãnh nhận bí tích ba lần và nói: “T . , tôi rửa tội cho OOBACN nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.”
Nhưng hành động đón nhận Phép Rửa tội của Chúa Giêsu khi Ngài đón nhận phép rửa của Gio-an. Điều này có cần thiết cho Ngài không? Vì phép rửa tội của Thánh Gio-an là một phép rửa tỏ lòng sám hối để được tha thứ tội lỗi (x. Lc 3,3). Điều này có nghĩa là những người đã hối hận về tội lỗi của họ và những người muốn bày tỏ quyết tâm từ bỏ những tội họ đã làm. Ở đây, tại sao Chúa Giêsu, Đấng vô tội, lại tự phục tùng phép rửa của Gio-an? Phép Rửa này dường như không liên quan đến Ngài.
Đối với Thánh Mác-cô, Bí tích Thanh Tẩy của Chúa Giêsu đánh dấu sự khởi đầu của sứ vụ ba năm công khai của Ngài. Ngài đã nâng ý nghĩa của phép rửa của Thánh Gio-an lên hàng Bí Tích để thánh hóa những ai đón nhận phép rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Và cũng là Ngài công khai đảm nhận vai trò của Vị Tiên Tri, người tuyên bố và làm chứng cho sự thật; vai trò của Tư Tế thánh hóa và cầu thay cùng Chúa Cha cho con người; và vai trò Vương Giả giới thiệu vai trò mới và cao quý hơn của một vị vua, nghĩa là trở thành người lãnh đạo không phải để cai trị nhưng là phục vụ cho tất cả mọi người. Khi nhận bí tích rửa tội, ta không chỉ trở thành những người thừa kế, là thành viên của gia đình Chúa, mà còn là những người chia sẻ trong ba chức năng của Chúa Kitô. Được mời gọi trở thành tiên tri, tư tế và Vương Giả của Chúa Kitô.
Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi Thánh Gio-an, Thiên Chúa Cha, tượng trưng cho một tiếng nói phát ra từ trời, nói: “Con là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng.”
Trong khi suy ngẫm về những lời này của Thiên Chúa Cha nói với Con của Ngài là Chúa Giêsu, tôi nhớ câu chuyện được kể bởi Cha. Flor Lagura, SVD trong bài giảng của mình rằng: “Có một linh mục, khi còn là một cậu bé, mẹ cậu đã hỏi rằng khi lớn lên cậu sẽ làm gì? Cậu bé trả lời: “Lớn lên con sẽ trở thành một bác sĩ, một luật sư, một giáo viên và một cố vấn,” tất cả cùng một lúc. Rất ngạc nhiên, người mẹ hỏi cậu: “Làm sao có thể như vậy được?” và cậu bé trả lời: “Bằng cách làm linh mục! Là một linh mục, con có thể chữa lành các linh hồn cùng với thể xác của họ. Là một linh mục, con có thể bảo vệ các quyền đặc biệt là cho người nghèo. Là một linh mục con có thể dạy về Chúa và sự thật của Phúc Âm và đức tin Công giáo. Cuối cùng, với tư cách là một linh mục, con có thể khuyên bảo và an ủi mọi người khi gặp nạn.”8
Chúng ta có biết chuyện gì đã xảy ra với cậu bé này không? Cậu đã trở thành một linh mục và sau đó trở thành Hồng y Jaime Sin, lãnh đạo vĩ đại của Giáo Hội tại Philippines cũng như một nhà phê bình xã hội không ngớt nhưng được kính trọng trong những năm tháng của thiết quân luật.
Cha Lagura tiếp tục rằng khi cuối cùng Chúa gọi Đức Tổng Giám mục rất được yêu mến đến thiên đàng, người Mẹ yêu thương của ngài chắc chắn đón gặp tại cổng và tặng ngài cho Chúa Cha, và nói: “Lạy Chúa, đây là con trai yêu dấu của con, người mà con rất là hài lòng.”
Lạy Chúa, xin giúp con biết trung thành với đường lối huấn lệnh Chúa, bao bọc con trong Máu Thánh của Ngài, để ngày sau hết con cũng được nghe lời tuyên phán của Chúa Cha. “Này là con ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng.” Vì con đã luôn được sống trong Danh Thánh của Ngài. Amen.
NGÀY 07 THÁNG 01 – Gio-an 2,1-11
Tiệc Cưới Tại Ca-na
Hai người đàn ông, trong một chiếc thuyền, gặp một cơn giông bất ngờ. Trong khi một người tha thiết cầu nguyện để được giải thoát, thì người kia lại điên cuồng chèo thuyền để đến nơi an toàn. Chẳng mấy chốc, một trong mái chèo đã chạm vào bờ. Với một tiếng thở dài nhẹ nhõm, anh quay sang đồng đội của mình và nói, “Bây giờ bạn có thể từ bỏ việc cầu nguyện, chúng ta sắp lên bờ”. Thật vậy sao? Thường người ta chỉ cầu xin khi gặp gian nan khẩn cấp và khi thoát khỏi thì cảm thấy không cần nữa.
Khác với Đức Ma-ri-a, khi thiên thần truyền tin rằng Mẹ sẽ mang thai và sinh con trai bởi Chúa Thánh Thần, Mẹ cầu nguyện: “Xin Chúa hãy làm cho Mẹ như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Khi Ma-ri-a đến thăm chị họ Ê-li-za-bét và được thông báo rằng đứa trẻ trong bụng Ê-li-za-bét nhảy lên vì vui sướng, Mẹ cầu nguyện: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1,46). Khi các mục đồng kể với Mẹ và thánh Giu-se những gì thiên thần nói về Chúa Giêsu chào đời, Mẹ đã cầu nguyện và “giữ tất cả những điều này, mà suy gẫm trong lòng.” (Lc 2,19).
Trong Phúc Âm hôm nay, khi gia chủ không còn rượu để đãi khách, phản ứng của Mẹ Ma-ri-a là cầu nguyện. Mẹ cầu xin với Chúa Giêsu, Con của Mẹ giúp đỡ đôi vợ chồng: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3).
Thật ra, Phúc Âm hôm nay, khi Chúa Giêsu biến nước thành rượu trong tiệc cưới tại Ca-na, nói nên tầm quan trọng của lời cầu nguyện, đặc biệt là lời cầu nguyện trong đời sống của cộng đồng Kitô giáo. Vì, nói như Carlo Carretto: “Mức độ đức tin của chúng ta là mức độ của việc cầu nguyện. Sức mạnh của niềm hy vọng của chúng ta là sức mạnh của lời cầu nguyện. Sự ấm áp của đức ái của chúng ta là sự ấm áp của lời cầu nguyện của chúng ta.” Thánh Bô-na-ven-tu-ra cũng nói rằng: “Chúng tôi không thể làm gì trừ khi có sự trợ giúp của thần linh hỗ trợ. Sự trợ giúp thiêng liêng này đã có trong tay cho tất cả những ai tìm kiếm nó với trái tim thực sự khiêm nhường và sùng đạo, là mẹ và nguồn gốc của mọi nỗ lực đi lên của tâm hồn.”
Và Chúa Giêsu, ngay cả khi Ngài chưa sẵn sàng thực hiện yêu cầu của Mẹ mình, vẫn chấp nhận thực hiện yêu cầu đó. Một số người bị sốc khi nghe Chúa Giêsu gọi mẹ mình là “bà”. Nếu ta vẫn có thể nhớ, Chúa Giêsu sử dụng cùng một tiêu đề, một lần nữa, trên thập tự giá khi Ngài trao Mẹ cho sự chăm sóc của Gio-an. Từ “bà” đối với chúng ta là người Việt Nam, nghe có vẻ xa lạ, thô lỗ, thiếu tôn trọng và bất lịch sự ghê gớm. Nhưng đối với Anh ngữ thì từ “Lady” nói lên sự tôn kính. Và giống như thế đối với người Do Thái và ngôn ngữ của Thánh kinh trong Cựu Ước, Thiên Chúa cũng gọi E-và là “Bà, người đàn bà”. Như vậy từ “bà hay người đàn bà” ở đây Kinh Thánh muốn gợi lại, Đức Ma-ri-a là Mẹ của Chúa Giêsu đóng vai trò trung tâm trong lịch sử cứu độ. Và Mẹ là một E-và mới.
Cầu nguyện nói nên sự phụ thuộc của chúng ta vào Thiên Chúa, Đấng là khởi sự và là hoàn tất. Hình thức cầu nguyện này xuất phát từ mong muốn phục vụ vương quốc của Chúa bây giờ và tìm kiếm sự hiện thực hóa vương quốc sắp tới. Giáo lý Giáo Hội Công giáo nhắc nhở chúng ta rằng cầu xin sự tha thứ, cùng với sự khiêm tốn tin tưởng, nên là khởi đầu của một giờ cầu nguyện.
Lời cầu nguyện thường là một lời kêu xin với Thiên Chúa, mong Ngài thực hiện nhu cầu của ta. Khi được chia sẻ tình yêu cứu rỗi của Chúa, chúng ta hiểu rằng thông qua cầu nguyện, ta có thể kêu xin sự giúp đỡ của Chúa trong mọi nhu cầu cần thiết của mình, và bất kể điều đó lớn hay nhỏ.
Lạy Chúa, con người lệ thuộc vào hơi thở để bảo tồn sự sống thế nào, thì niềm tin cũng lệ thuộc vào cầu nguyện thể ấy. Vì ngoài Chúa ra chúng con không làm được gì tốt cho đời sống đức tin của mình. Xin giúp con biết luôn cầu nguyện trong mọi sự để được Chúa trợ giúp và dẫn dắt chúng con trên con đường đến với Chúa. Amen.